8 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA VIỆC CHO TRẺ LÀM QUEN VỚI CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC .... Thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
********************
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA VIỆC CHO TRẺ LÀM QUEN VỚI CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON KHU VỰC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, em luôn nhận được sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của Thạc sĩ Trịnh Thị Xinh – Giảng viên tổ Tâm lý – giáo dục học Tiểu học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Trịnh Thị Xinh cùng toàn thể các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học đã giúp em hoàn thành khoá luận này Với điều kiện thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức còn hạn chế nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô cùng các bạn đọc để em tiếp tục hoàn thiện quá trình học tập và giảng dạy sau này
Em xin chân thành cảm ơn!
HÀ NỘI, Tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Thanh Tâm
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số
liệu và kết quả nghiên cứu trong khoá luận là hoàn toàn trung thực Đề tài này chƣa đƣợc công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác
Trang 4MỤC LỤC
A PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
8 Phương pháp nghiên cứu 4
9 Kế hoạch nghiên cứu 4
10 Nội dung 5
B PHẦN II: NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA VIỆC CHO TRẺ LÀM QUEN VỚI CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC 8
1 1 Một số vấn đề về đạo đức và giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo 8
1.1.1 Khái niệm về giáo dục 8
1.1.2 Khái niệm về đạo đức 8
1.1.3 Khái niệm về giáo dục đạo đức 9
1.1.4 Khái niệm về giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn 9
1.2 Một số vấn đề về trẻ em mẫu giáo 9
1.2.1 Khái niệm trẻ em 9
1.2.2 Khái niệm trẻ em mẫu giáo 9
1.3 Một số vấn đề về tác phẩm văn học 10
1.3.1 Khái niệm về tác phẩm văn học 10
1.3.2 Khái niệm về tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo lớn 10
1.4 Một số đặc điểm tâm sinh lí của trẻ mẫu giáo lớn 11
1.4.1: Đặc điểm sinh lí 11
1.4.2 Đặc điểm tâm lí 14
1.5 Ý nghĩa của các tác phẩm văn học đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn 14
Trang 51.6 Các tác phẩm văn học với việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo 18
1.6.1 Những nét đặc trưng cơ bản của tác phẩm văn học dành cho trẻ mẫu giáo 18
1.6.2 Cách thức tổ chức cho trẻ mẫu giáo làm quen với các tác phẩm văn học 25
1.6.3 Các tác phẩm văn học với việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn 26
1.7 Giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học 28
1.7.1 Nội dung giáo dục đạo đức thông qua tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo 28
1.7.2 Phương pháp giáo dục đạo đức thông qua tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo 31
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC 37
CHO TRẺ MẪU GIÁO THÔNG QUA VIỆC CHO TRẺ LÀM QUEN VỚI CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON KHU VỰC BÌNH XUYÊN – VĨNH PHÚC 37
2.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên 37
2.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về vai trò của tác phẩm văn học đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ (5 – 6 tuổi) 39
2.3 Thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học ở một số trường mầm non khu vực Bình Xuyên – Vĩnh Phúc 40
2.4 Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học 41
2.5 Thực trạng sử dụng các phương pháp tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với các tác phẩm văn học ở một số trường mầm non khu vực Bình Xuyên – Vĩnh Phúc 43
2.6 Thực trạng việc sử dụng các hình thức giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc cho trẻ làm quen vói các tác phẩm văn học ở một số trường mầm non khu vực Bình Xuyên – Vĩnh Phúc 45
2.7 Thực trạng việc khai thác tác dụng của tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua đó để giáo dục đạo đức cho trẻ em các trường mầm non khu vực Bình Xuyên – Vĩnh phúc 47
2.8 Thực trạng kết quả giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học ở một số trường mầm non khu vực Bình Xuyên – Vĩnh Phúc 48
2.9 Kết quả thu được qua phỏng vấn 51 CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
Trang 6LÀM QUEN VỚI CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON
KHU VỰC BÌNH XUYÊN – VĨNH PHÚC 55
3.1 Nguyên nhân 55
3.2 Giải pháp 57
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
PHỤ LỤC 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 7đó mới mong làm được những điều phi thường Người cũng đã từng nói: “kẻ
có tài mà không có đức là kẻ vô dụng, kẻ có đức mà không có tài thì làm việc
gì cũng khó”
Thật vậy, đức và tài phải luôn đi liền với nhau, song cái đức lại là cái cần phải có trước và được hình thành trước Đạo đức là cái gốc trong nhân cách toàn diện của mỗi con người Từ xưa đến nay, vai trò của đạo đức đã được nhiều nhà giáo dục, nhà triết gia quan tâm và khẳng định: “Đạo đức như gốc của cây, ngọn nguồn của cuộc sống, có sức mạnh mới gánh được nặng và
đi được xa” Tất cả chúng ta muốn trở thành người công dân có ích thì trước hết đều phải học cách làm người, học cách rèn luyện tu dưỡng phẩm chất đạo đức cho bản thân mình
Vậy, giáo dục đạo đức là nội dung quan trọng trong giáo dục nhân cách con người phát triển toàn diện Chính vì vậy mà việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong trường mầm non là rất cần thiết
1.2 Cơ sở thực tiễn:
Về mặt thực tiễn của kết quả rèn luyện giáo dục con người, ông cha ta
đã đúc kết thành kinh nghiệm:
“Uốn cây từ thủa còn non
Dạy con từ thủa con còn ngây thơ”
Trang 8Rõ ràng về lý luận cũng như thực tiễn, không phải hôm nay mà từ lâu người ta đã khẳng định vai trò của giáo dục, tác động to lớn của giáo dục trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách
Trong những năm gần đây, ngành giáo dục mầm non đã có những cải tiến nội dung, chương trình chăm sóc giáo dục trẻ Cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn trên thực tế mới chỉ dừng lại ở việc giúp trẻ thuộc và hiểu nội dung bài thơ, câu chuyện Còn việc gợi lên những tình cảm, xúc cảm ở trẻ giúp trẻ cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên, của tâm hồn con người thì còn hạn chế Để làm được điều đó, đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ văn hóa
Từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học ở một số trường mầm non khu vực Bình Xuyên – Vĩnh Phúc”
để làm đề tài nghiên cứu khóa luận
Nguyễn văn Tuân “sự hình thành các giá trị đạo đức ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” Đại Học Sư Phạm Hà Nội năm 1997
Môn Thị Xuyến “nghiên cứu mức độ lĩnh hội một số kinh nghiệm đạo đức quy tắc hành vi qua hình ảnh của trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi” Đại Học Sư Phạm Hà Nội năm 1998
Đào thị Mi “Văn Học thiếu nhi với giáo dục đạo đức cho trẻ tuổi mầm non” Đại Học Sư Phạm Hà Nội năm 2000
Trang 9“Tìm hiểu việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo thông qua các tiết học cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học”
Tạp chí (số 4-2008) có bài giáo dục đạo đức cho trẻ lứa tuổi mầm non của TS Tạ Ngọc Thanh cũng đề cập việc hình thành đạo đức cho trẻ, những yếu tố tác động đến việc hình thành đó và một số cách thực hiện
Còn rất nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề này nhưng chưa có tác giả nào
đề cập cụ thể đến thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học ở một số trường mầm non khu vực Bình Xuyên – Vĩnh Phúc
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm phát hiện ra thực trạng giáo dục đạo đức
cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn
học ở một số trường mầm non khu vực Bình Xuyên – Vĩnh Phúc, và nguyên
nhân dẫn đến thực trạng Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục thực trạng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho trẻ em mẫu giáo lớn
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng: Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn
thông qua việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học ở một số trường
mầm non khu vực Bình Xuyên – Vĩnh Phúc
Khách thể nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu của đề tài này là 100 trẻ mẫu giáo lớn, trong đó: 50 trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non Hoa Lan – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc, 50 trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non Hoa Mai – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc
5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Do phạm vi có hạn nên phạm vi nghiên cứu của đề tài này chỉ dừng lại
ở việc tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua
Trang 10việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học ở một số trường mầm non
khu vực Bình Xuyên – Vĩnh Phúc
6 Giả thuyết khoa học
Thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc cho
trẻ làm quen với các tác phẩm văn học ở một số trường mầm non khu vực Bình Xuyên – Vĩnh Phúc là chưa tốt Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng đó là do cơ sở vật chất của trường chưa đảm bảo, trình độ giáo viên còn chưa cao, sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường còn thiếu chặt chẽ, giáo viên chưa khai thác hết khả năng giáo dục đạo đức của các tác phẩm văn học và hình thức tổ chức giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học là chưa hợp lý
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận
- Tìm hiểu thực trạng
- Tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất giải pháp
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (giành cho giáo viên)
- Phương pháp phỏng vấn (phỏng vấn giáo viên và học sinh)
- Phương pháp thống kê toán học
9 Kế hoạch nghiên cứu
11/12/2014: Nhận đề tài và hoàn thành đề cương
12/01/2014: Tìm hiểu cơ sở lí luận
02/04/2014: Tìm hiểu thực trạng
05/2014: Hoàn thành đề tài nghiên cứu và bảo vệ
Trang 111.1 Một số vấn đề về đạo đức và giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo
1.1.1 Khái niệm về giáo dục
1.1.2 Khái niệm về đạo đức
1.1.3 Khái niệm về giáo dục đạo đức
1.1.4 Khái niệm về giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn
1.2 Một số vấn đề về trẻ em mẫu giáo
1.2.1 Khái niệm trẻ em
1.2.2 Khái niệm trẻ em mẫu giáo
1.3 Một số vấn đề về tác phẩm văn học
1.3.1 Khái niệm về tác phẩm văn học
1.3.2 Khái niệm về tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo lớn
1.4 Một số đặc điểm tâm, sinh lí của trẻ mẫu giáo lớn
1.4.1 Đặc điển tâm lí
1.4.2 Đặc điểm sinh lí
1.5 Ý nghĩa của các tác phẩm văn học đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn
1.6 Các tác phẩm văn học với việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo
1.6.1 Những nét đặc trƣng cơ bản của tác phẩm văn học dành cho trẻ mẫu giáo
1.6.2 Hình thức tổ chức cho trẻ mẫu giáo làm quen với các tác phẩm văn học 1.6.3 Các tác phẩm văn học với việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn
Trang 121.7 Giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học 1.7.1 Nội dung giáo dục đạo đức thông qua tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo
1.7.2 Phương pháp giáo dục đạo đức thông qua tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO THÔNG QUA VIỆC CHO TRẺ LÀM QUEN VỚI CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON KHU VỰC BÌNH XUYÊN – VĨNH PHÚC
2.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên
2.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về vai trò của tác phẩm văn học đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ (5 – 6 tuổi)
2.3 Thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học ở một số trường mầm non khu vực Bình Xuyên – Vĩnh Phúc
2.4 Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học
2.5 Thực trạng sử dụng các phương pháp tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với các tác phẩm văn học ở một số trường mầm non khu vực Bình Xuyên – Vĩnh Phúc
2.6 Thực trạng việc sử dụng các hình thức giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc cho trẻ làm quen vói các tác phẩm văn học ở một số trường mầm non khu vực Bình Xuyên – Vĩnh Phúc
2.7 Thực trạng việc khai thác tác dụng của tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua đó để giáo dục đạo đức cho trẻ em các trường mầm non khu vực Bình Xuyên – Vĩnh Phúc
Trang 132.8 Thực trạng kết quả giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học ở một số trường mầm non khu vực Bình Xuyên – Vĩnh Phúc
CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA VIỆC CHO TRẺ LÀM QUEN VỚI CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON KHU VỰC BÌNH XUYÊN – VĨNH PHÚC
3.1 Nguyên nhân
3.2 Giải pháp
Trang 14B PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA VIỆC CHO TRẺ LÀM QUEN VỚI
CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC
1 1 Một số vấn đề về đạo đức và giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo
1.1.1 Khái niệm về giáo dục
Giáo dục ở đây được hiểu theo hai nghĩa: rộng và hẹp
Giáo dục ( theo nghĩa rộng – nghĩa xã hội học ) là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người
Giáo dục ( theo nghĩa hẹp ) là bộ phận của quá trình sư phạm ( quá trình giáo dục ) là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, những hành vi và thái quen cư xử đúng đắn trong
xã hội thuộc các lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lao động và học tập, thẩm mỹ, vệ sinh,
1.1.2 Khái niệm về đạo đức
Đạo đức là một tổ hợp những nguyên tắc hay là những quy tắc, những
tiêu chuẩn sinh hoạt chung trong xã hội nhằm điều chỉnh sự ứng xử của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống, đảm bảo cho xã hội một trật tự nhất định cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của nó
Đạo đức được sinh ra từ nhu cầu của xã hội, điều hòa và thống nhất các mâu thuẫn giữa lợi ích chung và lợi ích riêng Để giải quyết các mâu thuẫn
đó, xã hội đề ra các yêu cấu dưới dạng chuẩn mực giá trị, được mọi người công nhận và được củng cố bằng sức mạnh của phong tục, tập quán, dư luận, lương tâm…
Trang 151.1.3 Khái niệm về giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm giúp cho trẻ có những hiểu biết về các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội
mà trẻ đang sống Từ đó hình thành cho trẻ những phẩm chất đạo đức, những nét tính cách của con người Việt Nam mới
1.1.4 Khái niệm về giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn
Giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn là quá trình tác động có mục
đích, có kế hoạch của nhà giáo dục nhằm giúp cho tre em có những nét tính cách, phẩm chất đạo và bồi dưỡng cho các em những tiêu chuẩn và quy tắc hành vi quy định thái độ của chúng đối với nhau, đối với gia đình, đối với người khác, đối với nhà nước và tổ quốc
1.2 Một số vấn đề về trẻ em mẫu giáo
1.2.1 Khái niệm trẻ em
Có quan niệm cho rằng trẻ em là “người lớn thu nhỏ lại”, sự khác nhau
về (cơ thể, tư tưởng, tình cảm) chỉ tầm cỡ, kích thước chứ không khác nhau
về chất Theo J.J.Rutxo (1712 – 1778) trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại và người lớn không phải lúc nào cũng có thể hiểu được trí tuệ, nguyện vọng và tình cảm độc đáo của trẻ vì có những cách nhìn, suy nghĩ và cảm nhận riêng
Tâm lí học duy vật biện chứng khẳng định: Trẻ em là đứa trẻ nó vận động, phát triển theo quy luật riêng của trẻ Ngay từ khi ra đời là một con người, có nhu cầu giao tiếp với người lớn Sự khác biệt giữa trẻ và người lớn
là về chất
1.2.2 Khái niệm trẻ em mẫu giáo
Trẻ em mẫu giáo là những đứa trẻ ở giai đoạn từ 3 tuổi đến 6 tuổi Từ
lúc lọt lòng cho đến 6 tuổi nói chung và trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi) nói riêng là một quãng đời có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình phát triển chung của
Trang 16trẻ L.N Toonxtooi đã nhận định khi nhấn mạnh ý nghĩa của thời kỳ đó rằng:
“Tất cả những cái gì mà đứa trẻ sẽ có sau này khi trở thành người lớn đều thu
nhận được trong thời thơ ấu Trong quãng đời còn lại những cái mà nó thu nhận được chỉ đáng một phần trăm những thứ đó mà thôi”
Chính vì vậy, các nhà giáo dục (các bậc cha mẹ, các cô giáo) cần phải quan tâm đáp ứng nhu cầu phát triển cuae trẻ về mọi mặt và không hề phạm phải những sai lầm trong giáo dục Đặc biệt là giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo
1.3 Một số vấn đề về tác phẩm văn học
1.3.1 Khái niệm về tác phẩm văn học
Văn học là một loại hình nghệ thuật, nó là một bộ phận hoạt đọng tinh thần cơ bản làm nên sự phong phú của nhân cách, đặc biệt làm nảy sinh tư tưởng, tình cảm, trí tưởng tượng, niềm tin và hành động nhân đạo của con người trong môi trường xã hội và tự nhiên
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, phản ánh cuộc sống bằng hình tượng, là nguồn suois quan trọng của tri thức, kinh nghiệm sống của nhân loại mà con người cần tiếp thu và phát triển
Như vậy tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ, kết quả của tiến trình lao động nghệ thuật (hoạt động sáng tác) của cá nhân, nhà văn hoặc kết quả của sự nỗ lực sáng tác tập thể
1.3.2 Khái niệm về tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo lớn
Qua tìm hiểu các tài liệu tôi đưa ra khái niệm tác phẩm văn học cho trẻ
mẫu giáo lớn như sau:
Tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo lớn là các tác phẩm văn học có giá
trị nhân văn và ý nghĩa sâu sắc trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo Các tác phẩm văn học nói về thế giới loài vật, cỏ cây, hoa lá, mọi hiện tượng thiên nhiên, vũ trụ mà trẻ nhìn thấy được, cũng nói về những gì gần gũi trong
Trang 17môi trường sống của trẻ như: làng quê, cánh đồng, dòng sông, phiên chợ, lớp học, khu phố Qua tác phẩm văn học trẻ bắt đầu nhận ra trong xã hội những mối quan hệ, những tình cảm gia đình, tình bạn, tình cô cháu Trẻ cũng dần nhận ra có một xã hội ràng buộc con người với nhau trong lịch sử đấu tranh cách mạng, trong tình làng nghĩa xóm Tác phẩm văn học còn đề cập đến những lực lượng siêu nhiên như: Thần linh, ông bụt, cô tiên, phù thủy, quỷ sứ
và cả những phép màu còn tồn đọng trong tâm thức dân tộc
1.4 Một số đặc điểm tâm sinh lí của trẻ mẫu giáo lớn
1.4.1: Đặc điểm sinh lí
Trẻ lứa tuổi này đã sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp sinh hoạt hằng ngày Trẻ nắm vững được ngữ âm và ngữ điệu trong khi sử dụng tiếng mẹ đẻ Trẻ cũng đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếp Trẻ thường sử dụng ngữ điệu êm ái để biểu thị tình cảm yêu thương trìu mến đối với người thân và những người xung quanh Ngược lại khi giận giữ trẻ lại sử dụng ngữ điệu thô và mạnh
Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn tích lũy được khá phong phú
Vì vậy trẻ mẫu giáo lớn đã có thể hiểu được phần lớn các nội dung câu chuyện mà trẻ được nghe và thể hiện chúng khá sinh động khi tham gia các tiết kể lại chuyện hay đóng kịch Trẻ hiểu được nội dung nên dễ dàng tiếp nhận các bài học rút ra từ câu chuyện cũng như tự mình hiểu được trong câu chuyện nhân vật nào đáng khen, nhân vật nào đáng chê Đáng khen, đáng chê
ở điểm nào, cần học tập ai, phê bình ai
Khi mới bước vào tuổi mẫu giáo, trẻ chưa biết gì mấy về bản thân mình Nhưng đến cuối tuổi mẫu giáo trẻ mới hiểu được mình là người như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình ra sao,
và tại sao mình có hành động này hay hành động khác Ý thức bản ngã hay
Trang 18sự tự ý thức được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá về thành công hay thất bại của mình, về những ưu điểm hay khuyết điểm của bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực
Để đánh giá bản thân một cách đúng đắn, đần tiên đứa trẻ phải học cách đánh giá người khác và nghe những người xung quanh đánh giá về mình như thế nào
Thoạt đầu sự đánh giá của trẻ về người khác ( cử chỉ, phẩm chất ) còn phụ thuộc nhiều vào tình cảm của nó đối với người này Trẻ mẫu giáo thường lĩnh hội những chuẩn mực và quy tắc hành vi như là những thước đo để đánh giá người khác và đánh giá bản thân Nhưng do tình cảm còn chi phối mạnh nên không cho phép nó dùng thước đo ấy để đánh giá hành vi của những người khác cũng như của chính mình một cách khách quan Đến tuổi mẫu giáo lớn, trẻ mới nắm được kĩ năng so sánh mình với người khác, điều này là
cơ sở để tự đánh giá một cách đúng đắn hơn và cũng là cơ sở để trẻ noi gương những người tốt, việc tốt
Ở tuổi mẫu giáo lớn, sự tự ý thức còn thể hirnj rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ Ở tuổi này trẻ không những nhận ra mình là trai hay giái mà còn biết rõ ràng nếu mình là trai hay gái thì hành vi phải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình Ở đây tấm gương của người lớn tác động rất mạnh đến trẻ
Vì thế, giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn đã dễ dàng hơn rất nhiều
vì trẻ đã lớn hơn, hiểu biết hơn, ý thức và tự ý thức cũng phát triển Trẻ không còn phụ thuộc nhiều vào người khác nữa , trẻ đã biết tự suy nghĩ về hành động của bản thân cũng như của người khác và đánh giá chúng một cách khá chính xác
Ở tuổi mẫu giáo lớn việc đặt mục đích cho hành đọng và lập kế hoạch
để thực hiện hành động thường được thể hiện rất rõ nét Điều đó thúc đẩy các
Trang 19hành động định hướng bên trong ( tức là quá trình tâm lí ) phát triển mang tính chủ định rõ ràng
Trẻ mẫu giáo lớn là thời kì trẻ đang phát tiến vào bước ngoặt với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo Hoạt động vui chơi vốn giữ vai trò chủ đạo trong suốt thời kì mẫu giáo, nay những yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh để tiến tới giữ vị trí chủ đạo ở giai đoạn sau bước ngoặt 6 tuổi
Bước ngoặt 6 tuổi là một sự kiện quan trọng khiến các nhà giáo dục cần phải quan tâm, một mặt là để giúp trẻ hoàn thiện những thanh tựu phát triển tâm lí trong suốt thời kì mẫu giáo, mặt khác là tích cực chuẩn bị cho trẻ
có đủ điều kiện để làm quen dần với hoạt động học tập và cuộc sông ở trường phổ thông
Một mặt quan trọng của trình độ chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lí cho việc học tập là làm sao cho trình độ phát triển ý trí của trẻ đủ sức để có thể điều chỉnh hành vi của mình tuân theo nội quy của nhà trường và thực hiện những yêu cầu của giáo viên hay của tập thể lớp đề ra, tự giác tuân theo quy định nơi công cộng
Những hoạt động như quan sát, trí nhớ, tư duy cần phải được đạt tới một mức độ nhất định để có thể lĩnh hội các tri thức khoa học một cách dễ dàng
Cuối cùng, trình độ chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lí cho việc học tập ở trường phổ thông bao gồm những phẩm chất của nhân cách giúp trẻ nhanh chóng gia nhập vào tập thể lớp, tìm được vị trí của mình trong tập thể đó, có ý thức trách nhiệm khi tham gia vào hoạt động chung Đó là những động cơ xã hội của hành vi, là cách ứng xử với người xung quanh, là kĩ năng xá lập và duy trì những mối quan hệ qua lại lẫn nhau với các bạn cùng lứa tuổi
Chính vì thế khi giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn người ta đã chú
ý để giáo dục trẻ các quy tắc, lễ nghi, phép lịch sự cần có cũng như trang bị
Trang 20cho trẻ một số kĩ năng cần thiết Để trẻ tự tin bước vào một môi trường mới với hoạt động chủ đạo mới
1.4.2 Đặc điểm tâm lí
Trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn sự phát triển diễn ra chậm hơn so với giai đoạn trước Cụ thể như: về số lượng cân nặng tăng khoảng 15,7kg; về chất lượng thì có sự thay đổi rõ rệt
Về hệ thần kinh, trẻ mẫu giáo lớn có cường độ và tính linh hoạt của các quá trình thần kinh tăng rõ rệt Trẻ có thể tập trung chú ý vào một đối tượng nhất định trong thời gian 15-20 phút Cùng với đó là vai trò của hệ thống tín hiệu ngày càng tăng, tư duy ngày càng tăng, ngôn ngữ bên trong xuất hiện Chức năng khái quát hóa của từ đã có bước nhảy vọt gần như ở người lớn, ở chỗ sự khái quát hóa được thể hiện theo hoạt động với đồ vật Vì vậy mà tư duy trực quan hành động vẫn giữ vai trò quan trọng trong thần kinh cấp cao của trẻ Trẻ lứa tuổi này đã có thể học đọc và học viết Ngoài ra, do số lần ngủ trong ngày và thời gian ngủ của trẻ giảm xuống còn 11 giờ trong ngày
Về hệ vận động, trẻ 5-6 tuổi có sự phối hợp vận động của nhiều nhóm
cơ như người lớn Còn việc tiếp thu những thói quen vận động còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng cơ thể trẻ, nhất là luyện tập phù hợp
Về hệ tuần hoàn, thành phần máu của trẻ 5-6 tuổi cũng f cầutăng lên và biến đổi về chất: huyết sắc tố: 80-90%, hồng cầu 4,5-5 triệu đơn vị, bạch cầu: 7-10 nghìn, tiểu cầu 200-300 nghìn Ngoài ra, tần số co bóp của tim cũng tăng lên từ 80-110 lần trong phút
Về hệ hô hấp, nhịp thở của trẻ giảm dần, cơ quan phát âm của trẻ phát triển và hoàn thiện làm cho ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển
1.5 Ý nghĩa của các tác phẩm văn học đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn
Trang 21Giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo thông qua các tác phẩm văn học có
ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách trẻ
em
Từ xa xưa ông cha ta đã từng tâm niệm: “ Văn dĩ tải đạo”, với chức
năng này, trong các phương pháp tạo ra ý niệm, tình cảm, đạo đức văn học có một vị thế đặc biệt
Bác Hồ của chúng ta khi sinh thời đã rất quan tâm đến việc giáo dục đạo
đức cho tuổi thơ, Bác đã dạy các cháu thiếu niên nhi đồng: “ Yêu Tổ quốc,
yêu đồng bào, Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”.Đây chính là nội dung, nền
tảng đạo đức chân chính của con người ở mỗi thời đại, nó đòi hỏi sự nghiệp “
trồng người” của chúng ta phải hướng tới
Những quan niệm giáo dục đạo đức truyền thống ấy đã được đưa vào những tác phẩm văn học và được trẻ em rất yêu thích Vì vậy, chúng ta cần đọc và kể cho trẻ nghe những tác phẩm văn chương có giá trị đích thực, chứa đựng những nội dung giáo dục đạo đức cao cả, phù hợp với lứa tuổi mà tâm hồn tình cảm đang trong như suối tận nguồn Ở trường mẫu giáo, khi tiếp xúc với tác phẩm văn học qua nghe, đọc, kể diễn cảm và sự dẫn dắt của cô giáo, những ấn tượng nghệ thuật mà trẻ thu nhận được sẽ hình thành ở các em những phẩm chất đạo đức bền vững Không ai có thể phủ nhận vai trò của cái
đẹp trong giáo dục đạo đức bởi “ thông qua cái đẹp vươn tới nhân tính” –
(V.G.Bbielinxki, nhà nghiên cứu văn học Nga thế kỉ XIX ) Vì vậy cái đẹp phải được coi là phương pháp cơ bản nhàm khơi gợi những tình cảm đạo đức cho trẻ
Ngôn ngữ thể hiện cái tinh hoa của dân tộc, của Tổ quốc Từ ngôn ngữ toàn dân, bằng sức sáng tạo của người nghệ sĩ, vẻ đẹp lóng lánh của ngôn ngữ nghệ thuật đã truyền đến cho các em tình yêu Tổ quốc, yêu tiếng mẹ đẻ
Trang 22Qua vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước những hành động tình cảm cao quý của con người thể hiên trong tác phẩm giáo dục trẻ tình yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, ý thức giữ gìn bảo vệ cây xanh, có cách đối xử hiền từ với mọi sinh vật trên trái đất, xác lập hành vi, thái độ của con người đối với các hiện tượng của đời sống Bảo vệ thiên nhiên, chinh phục tự nhiên là một trong những vấn
đề sống còn của thời đại chúng ta và mai sau, nó trở thành đạo đức của ngày hôm nay Về những vấn đề này, chúng ta có thể thấy rất nhiều trong những áng ca dao, những bài thơ, những đoạn văn, những câu chuyện dành cho trẻ Tình yêu thiên nhiên vốn là khởi điểm của tình yêu đất nước Trong kí
ức của người bình dân, tình yêu Tổ Quốc gắn với quê hương, gắn với một làng quê và cảnh vật gần gũi, thân thương Đất nước – Tổ quốc – Quê hương
là những cánh cò bay trên đòng lúa mênh mông
Dạy trẻ yêu quê hương, đất nước là yêu mái nhà dân tộc gainr dị, đậm hồn quê, có ấn tượng về ngôi nhà truyền thống dân tộc, có ý thức về truyền thống thơ ca dân gian
Giáo dục tình cảm cho con người là một trong những vấn đề quan trọng trong việc hình thành phát triển nhân cách toàn diện với sự phong phú về mặt tinh thần Vẻ đẹp trong tính cách con người được biểu hiện dưới nhiều khía cạnh trong tác phẩm Những tác phẩm viết về đề tài gia đình đã dạy trẻ biết yêu thương ông bà, cha mẹ, anh em Bài thơ “Mẹ ốm” – Trần Đăng Khoa,
“Làm anh” – Phan Thị Thanh Nhàn, Truyện “Tích chu”, “Ba cô gái”,
“Bông hoa cúc trắng” hình thành ở các em tình cảm thắm thiết mẹ con, anh
em, bà cháu Yêu con người, yêu nhân dân là yêu những người sống quanh ta
Câu chuyện “Bác gấu đen và hai chú thỏ”, “Đôi bạn tốt” đã giáo dục trẻ lòng biết ơn và kính yêu vị lãnh tụ như bài thơ: “ Ảnh Bác” – Trần Đăng Khoa, những người anh hùng có công với đất nước cả trong quá khứ “Ông gióng; Sự
tích hồ gươm” và hiện tại “Chú giải phóng quân” – Cẩm Thơ Việc đọc và kể
Trang 23lại tác phẩm có nghệ thuật của cô giáo về những chiến công anh hùng của
những chú bộ đội làm cho trẻ suy nghĩ, tưởng tượng và ước mơ Bài thơ “Hạt
gạo làng ta” – Trần Đăng Khoa đã dạy trẻ lòng biết ơn, kính trọng những
người lao động, yêu quý, trân trọng những thành quả lao động được chắt chiu
từ những giọt mồ hôi
Tuổi ấu thơ các em chưa có ý thức rõ rệt về tình yêu Tổ Quốc, lí tưởng nhưng những tình cảm giản dị tưởng như nhỏ bé này lại là những tình cảm có tính nhân loại, nó sẽ tạo ra tiền đề cho xu hướng tư tưởng của nhân cách
Có rất nhiều bài học đạo đức khác nữa trong những trang văn học dành cho trẻ mẫu giáo, mà chúng ta không thể kể hết được Trong số đó truyện cổ tích là một thể loại văn học tự sự dân gian được trẻ em khắp nơi trên thế giới yêu thích và được nhân dân lao động ngàn xưa coi là một công cụ rất hữu hiệu để giáo dục đạo đức cho trẻ nhỏ Ngay từ khi ra đời, truyện cổ tích đã mang trong mình sứ mạng vẻ vang, là một phương tiện để giáo dục, đặc biệt
để giáo dục đạo đức cho trẻ Để thực hiện chức năng giáo huấn, truyện cổ tích luôn thiên về những vấn đề đạo đức Nó mang nội dung luân lí, đạo đức, triết học rất rõ ràng Vì vậy những bài học đạo đức ở đây trở nên sâu sắc Mọi sự vật hiện tượng đều có mối quan hệ nhân quả: “Gieo gió gặt bão”, “Ở hiền gặp lành” Qua những hình tượng trong truyện cổ tích, trẻ em nhận thức được những khái niệm đầu tiên về sự công bằng và sự bất công về nền văn hóa của dân tộc mình
Các tác giả dân gian nhìn hiện thực từ góc độ đạo đức, vì vậy xung đột của truyện là xung đột thuộc phạm trù đạo đức đối lập thiện ác, tốt xấu, trung thực xảo quyệt, ích kỉ, vị tha Truyện cổ tích giới thiệu cái thiện và cái ác theo cách đơn giản và dễ hiểu đối với trẻ Cô bé mồ côi tốt bụng và chăm làm,
mụ dì ghẻ độc ác, tham lam Cái tôt được đền đáp, cái ác bị trả giá Trong quá trình nghe truyện, trẻ em đã tự vận động chính bản thân mình trong mọi bình
Trang 24diện, đem cái tốt để chống chọi với cái ác Đây chính là điểm đặc biệt làm ý nghĩa giáo dục của truyện cổ tích thêm một chất lượng mới cao hơn Thế giới của truyện cổ tích chan hòa ánh sáng của lòng nhân ái, của tình thương, ước
mơ, hi vọng của niềm tin vào chân lí “chính nghĩa thắng gian tà” Điều này
làm nên sức sống trường tồn mãnh liệt của truyện cổ tích và nó thực sự hấp dẫn với trẻ
Đối với trẻ mẫu giáo lớn thì sự quan tâm tới tác phẩm văn học sẽ giúp trẻ hiểu được nội dung tác phẩm, các nhân vật trong tác phẩm trở nên gần gũi
dễ hiểu hơn Sự cảm thông với nhân vật, sự lo lắng cho số phận các nhân vật của trẻ đã mang đặc điểm cá tính hơn Sự hồi hộp, lo lắng này trẻ em đã nếm trải ngay cả trong sự kiện đời sống hàng ngày Hiện tượng này là có quy luật Trong khi lo lắng và suy nghĩ về những gì diễn ra trong tác phẩm, trẻ em suy nghĩ đánh giá về hiện thực chúng đang sống, trẻ học cách so sánh, đối chiếu những sự kiện cuộc sống đơn giản, dễ hiểu với sự thể hiện trong các hình
tượng nghệ thuật
Chính vì vậy các tác phẩm văn học dành cho trẻ mẫu giáo có vai trò và
ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn
1.6 Các tác phẩm văn học với việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo
1.6.1 Những nét đặc trưng cơ bản của tác phẩm văn học dành cho trẻ mẫu giáo
Văn học thiếu nhi nằm trong nghệ thuật sáng tác văn học nói chung, vì
thế nó cũng mang đầy đủ những đặc điểm của nghệ thuật ngôn từ Nhưng do đối tượng phục vụ chủ yếu là trẻ em nên nó có những đặc điểm được nhấn mạnh
Trước hết tính giáo dục được coi là một trong những đặc trưng cơ bản nhất của văn học dành cho thiếu nhi Văn học thiếu nhi có vai trò vô cùng to lớn trong việc giáo dục toàn bộ nhân cách trẻ em, cả về đạo đức, trí tuệ và
Trang 25thẩm mĩ Nhà văn Tô Hoài người có nhiều kinh ngiệm trong sáng tác cho các
em đã khẳng đinh tầm quan trọng của chức năng này: “ Nội dung một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi bao giờ cũng quán triệt vấn đề xây dựng đức tính con người Nói thì thừa, cần nhắc lại và thật giản dị, một tác phẩm chân chính và có giá trị đối với tuổi thơ là một tác phẩm tham dự mạnh mẽ vào sự nghiệp nên người của bạn đọc ấy.”
Để thực hiện tốt chức năng giáo dục, tác phẩm văn học phải thực sự là người bạn đồng hành, người đối thoại đối với các em Nhà văn không thể nói với các em bằng những lời giáo thuyết khô khan mà phải bằng hình tượng nghệ thuật, bằng ngôn ngữ giản dị, trong sáng để khơi gợi, dẫn dắt các em tìm hiểu và khám phá thế giới các em phải biết phân biệt cái hay cái dở; cái cao quý, cái thấp hèn trong cuộc sống Văn học phải mang lại cho trẻ thơ cái đẹp, cái cao quý, cái chân thiện Tuy nhiên, cũng không nên cực đoan chức năng giáo dục dành cho thiếu nhi Không nên nghĩ rằng sau khi đọc một tác phẩm
là ngay lập tức các em có thể trở thành người tốt hay xấu Những ảnh hưởng của văn học tới các em là một quá trình lâu dài và bền bỉ Nó tác động một cách từ từ nhưng giá trị nhân văn của nó thì có thể tạo nên sức mạnh, ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành phát triển của con người
Nếu tính giáo dục là một đặc trưng có tính chất sống còn của văn học thiếu nhi thì khả năng khơi gợi, kích thích trí tưởng tượng, sáng tạo của trẻ cũng là một đặc điểm không thể thiếu trong văn học viết cho các em Hơn bất
cứ loại hình nghệ thuật nào, sáng tác văn học thiếu nhi phải đặc biệt quan tâm tới đặc điểm tâm lí của lứa tuổi thiếu nhi Chính điều này cũng làm nên sự khác biệt giữa văn học thiếu nhi và văn học cho người lớn Tuổi thơ hồn nhiên ngây thơ, tâm hồn trong sáng, dạt dào cảm xúc và trí tưởng tượng phong phú Các em cảm nhận bằng cái nhìn “ vật ngã đồng nhất”, bầu bạn với hết thảy vạn vật xung quanh Chính vì vậy mà tưởng tượng là một yếu tố
Trang 26không thể thiếu trong các tác phẩm văn học viết cho các em Muốn vậy, nhà văn viết cho các em phải thực sự hòa nhập với cuộc sống của trẻ thơ, hiểu và sống hết mình với tuổi thơ mới có thể tạo ra được sự cộng hưởng với trẻ thơ trong sáng tác
Văn học viết cho trẻ em lứa tuổi mầm non do đối tượng phục vụ chủ yếu là những “ bạn đọc” còn chưa biết đọc, biết viết nên ngoài những tiêu chí chung của văn học nó còn có những đặc điểm được nhấn mạnh, phù hợp với tâm sinh lí đặc thù của lứa tuổi này Có thể kể ra một số đặc trưng cơ bản sau: Hồn nhiên và ngây thơ vốn là bản tính của trẻ thơ và những sáng tác của các em thực sự cuốn hút người đọc chính bởi sự hồn nhiên, ngây thơ, trong trẻo của các em Ví dụ:
Hôm nay trời nắng chang chang
Mèo con đi học chẳng mang thứ gì Chỉ mang một cái bút chì
Và mang một mẩu bánh mì con con
( Phan Thị Vàng Anh)
Người lớn muốn viết cho các em phải học được sự hồn nhiên, ngây thơ
ấy thì tác phẩm mới hi vọng đem lại sự thành công Tất nhiên không phải là
sự hồn nhiên theo kiểu “ cưa sừng làm nghé”, kiểu cố tình làm ra vẻ ngây thơ ( trở thanh ngây ngô ) mà phải thực sự hiểu để có thể hóa thân sống cùng con trẻ
Trang 27khen nhiều hơn, Truyện thường có kết cấu theo kiểu đối lập, tương phản rất
rõ ràng, giúp trẻ dễ nắm được cốt truyện, dễ hiểu nội dung, ý nghĩa của câu chuyện và có thể kể lại một cách dễ dàng Ví dụ: Chú dê đen, Ai đáng khen nhiều hơn, Ba cô gái, Bác Gấu đen và hai chú Thỏ
Dạng phổ biến viết cho các em là thể thơ 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, rất gần với đồng dao, một thể loại văn học dân gian phù hợp với trẻ thơ, câu thơ ngắn vui nhộn; các em vừa đọc, vừa chơi, dễ thuộc, dễ nhớ Ví dụ:
Cây dây leo
Bé tí teo
Ở trong nhà Lại bò ra Ngoài cửa sổ
Và nghển cổ Lên trời cao Hỏi: “ Vì sao?”
Cây trả lời:
Ra ngoài trời Cho dễ thở
( Xuân Tửu – Cây dây leo)
Giàu hình ảnh, vần điệu và nhạc điệu:
Những hình ảnh đẹp, rực rỡ cùng với vần điệu và nhạc điệu vui tươi làm cho tác phẩm thêm sinh động, có sức hấp dẫn và lôi cuốn sự chú ý của các em Có thể nói vần là một yếu tố không thể thiếu trong thơ viết cho các
em ( điều này rất khác với thơ viết cho người lớn, nhiều khi vần không phải là yếu tố quan trọng ) Thơ không chỉ có vần mà còn phải có cách gieo vần thật phù hợp với sự tiếp nhận của các em Ví dụ:
Trang 28Bắp cải xanh Xanh man mát
Lá cải sắp Sắp còng tròn Búp cải con Nằm ngủ giữa
( Phạm Hổ - Bắp cải xanh )
Chữ cuối của câu thứ nhất ( Xanh ) được lặp lại trong chữ đầu của câu thứ hai; chữ cuối của câu thứ ba ( Sắp ) được lặp lại ở chữ đầu của câu thứ tư gợi lên hình dáng của cây bắp cải với những lá xanh xen kẽ, cuộn vòng tròn Bài thơ “ Mời vào” của Võ Quảng như một hoạt cảnh vui không chỉ vì
sự xuất hiện ngộ nghĩnh của các nhân vật cùng với các sự kiện mà còn bởi sự kết hợp của các thanh trắc, thanh bằng tạo nên nhạc tính của bài:
Cốc, cốc, cốc!
Ai gọi đó?
Tôi là thỏ Nếu là thỏ Cho xem tai
Cốc, cốc, cốc!
Ai gọi đó?
Tôi là nai
Thật là nai Cho xem gạc
Sử dụng từ ngữ chọn lọc, trong sáng, dễ hiểu
Đặc biệt là có nhiều từ tượng hình, tượng thanh, nhiều động từ, tính từ miêu tả, tính từ chỉ màu sắc tạo nên sắc thái vui tươi, vừa khêu gợi, kích
Trang 29thích trí tưởng tượng, sáng tạo của trẻ, vừa tác động mạnh đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của trẻ Ví dụ:
Rung rinh trước gió
( Thu Hà – Hoa kết trái )
Nhờ hàng loạt tính từ miêu tả ( chói chang, nho nhỏ, xinh xinh ), các từ tượng hình ( đốm lửa, rung rinh ) và các tính từ chỉ màu sắc ( tim tím, vàng vàng,
đỏ, trắng tinh ), bài thơ đã vẽ lên một bức tranh thật sinh động về mảnh vườn, giúp trẻ có thể hình dung về các loài hoa với những màu sắc và hình dáng rất
cụ thể
Yếu tố truyện trong thơ và yếu tố thơ trong truyện:
Đây cũng là một đặc điểm khá nổi bật trong sáng tác cho trẻ em lứa tuổi mầm
non Khác với thơ viết cho người lớn, hầu hết là thơ tâm trạng, bao gồm hệ thống những cảm xúc, nỗi niềm, suy tưởng thơ cho các em có thể “ kể” lại
được Ngoài những truyện thơ như: Mèo đi câu cá, Nàng tiên ốc, Bồ câu và
ngan những bài thơ ngắn cũng đều kể lại một sự việc, một hiện tượng, ví dụ: Chú bò tìm bạn, Dán hoa tặng mẹ, Chiếc cầu mới, Bướm em hỏi chị, Mời vào, Chiếc xe chữa cháy trích dẫn bài thơ:
Mặt trời rúc bụi tre Buổi chiều về nghe mát
Bò ra sông uống nước
Trang 30Thấy bóng mình, ngỡ ai
Bò chào: “ Kìa anh bạn Lại gặp anh ở đây!”
Nước đang nằm nhìn mây Nghe bò cười nhoẻn miệng Bóng bò chợt tan biến
Bò tưởng bạn đi dâu
Cứ ngoái trước nhìn sau
“ Ậm ò ” tìm gọi mãi
( Phạm Hổ- Chú bò tìm bạn )
Bài thơ là một câu chuyện nhỏ Câu chuyện kể rằng có một chú bò khi
ra sông uống nước và thấy bóng mình dưới dòng nước trong xanh đã nhầm tưởng là có một anh chàng bò nào khác cũng ra sông uống nước như mình Bò cất tiếng chào, mặt nước rung rinh xao động làm bóng của bò tan biến Bò
ngạc nhiên không hiểu người bạn kia đã đi đâu nên cứ “ ậm ò” gọi mãi
Nếu yếu tố truyện trong thơ giúp các em có thể nhanh chóng nắm bắt được tác phẩm để từ đó liên hệ, phát hiện và cảm nhận được vử đẹp của thiên nhiên và cuộc sống, thì yếu tố thơ trong truyện lại như một chất xúc tác làm cho câu chuyện có thêm sức lôi cuốn, hấp dẫn mạnh mẽ.Mỗi câu chuyện viết cho các em là những bài học nhẹ nhàng mà sâu sắc Chất thơ của truyện sẽ làm cho những bài học ấy không bị khô khan, cứng nhắc Những truyện như:
Hoa Mào gà, Chú Đỗ con, Bồ Nông có hiếu, Giọng hát chim Sơn Ca, Cây gạo, Giọt nước Tí Xíu chẳng khác gì những bài thơ bằng văn xuôi, những bài
thơ ca ngợi cuộc sống, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và ca ngợi những tình cảm cao đẹp của con người Cùng với chất thơ bay bổng, ý nghĩa của câu chuyện có thể sẽ còn theo các em mãi trong cuộc đời
Ý nghĩa giáo dục nhẹ nhàng mà sâu lắng
Trang 31Một trong những chức năng cơ bản của văn học là chức năng giáo dục
Là loại hình nghệ thuật ngôn từ, văn học có khả năng tác động mạnh mẽ đến tâm hồn và nhận thức của cong người Nhất là lứa tuổi mầm non, văn học đặc biệt là thơ ca càng có sự tác động nhanh nhạy Tuy nhiên, lứa tuổi này chỉ có
thể “ đọc” tác phẩm văn học một cách gián tiếp, tư duy logic lại chưa phát
triển nên hầu như chưa có khả năng suy luận, phán đoán Chính vì thế, mỗi một tác phẩm văn học phải đem đến cho trẻ m,ột ý nghĩa giáo dục cụ thể, rõ ràng
1.6.2 Cách thức tổ chức cho trẻ mẫu giáo làm quen với các tác phẩm văn học
Trẻ mẫu giáo chưa đọc và chưa viết được Trẻ đến lớp với tâm hồn đón đợi hướng về cô giáo Cô là cầu nối trẻ với tác phẩm phương pháp đọc và kể tác phẩm có nghệ thuật được coi là phương pháp chủ đạo Đọc có sự sáng tạo của cá nhân làm cho tác phẩm văn học vốn là những kí hiệu thẩm mĩ sống dạy, cất tiếng nói Cô giáo cần sử dụng mọi sắc thái của giọng mình cùng với các hình thức biểu hiện khác tạo cho tác phẩm một bức tranh âm thanh tương ứng Đòi hỏi sự trung thành với tác phẩm, truyền đạt thông tin đầy đủ, chính xác Ở đây đòi hỏi sự hiểu biết mọi thành tố nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm Phải đọc đúng giọng điệu, âm hưởng, sắc thái của tác phẩm cũng có nghĩa trước hết phải đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm Phương pháp đọc, kể tác phẩm có nghệ thuật đòi hỏi mức độ cao hơn đọc diễn cảm vì đã đi vào bản chất nghệ thuật của tác phẩm, người kể có thể pha trộn ngôn ngữ tác phẩm và ngôn ngữ của mình bằng sự cảm thụ riêng có thể tô đậm ý chính, tình tiết hay, hình ảnh đẹp với những cách trình bày khác nhau nên kể bằng giọng thủ thỉ, chậm hơn đọc, truyền cảm cùng với việc trình bày tác phẩm một cách khéo léo để cho trẻ cảm thụ tác phẩm một cách hiệu quả nhất
Trang 32Khi trình bày một tác phẩm nghệ thuật, giáo viên phải chuẩn bị kĩ lưỡng tác phẩm nghĩa là phải hiểu nội dung , chủ đề tư tưởng của tác phẩm, phải xâm nhập vào tác phẩm, truyền đạt được những suy nghĩ và tình cảm của tác giả tới trẻ thơ Nhiệm vụ của người đọc, người kể là giúp người nghe nhìn thấy cái đã nghe làm cho những bức tranh và hình ảnh tương ứng nổi lên chân thực và đạp vào mắt, gợi lên những tình cảm và cảm xú chân thực
Trong giờ kể chuyện hay đọc thơ cho trẻ cô giáo có thể sử dụng các phương tiện khác nhau để hỗ trợ cho bài giảng của mình: trnh ảnh, rối tay, các hình cắt trên bìa để trẻ tiếp thu bài học một cách tốt nhất Với các câu chuyện để tập cho trẻ kể lại thì cô kể nhiều lần sau đó cô dùng các bức tranh minh họa để tập cho trẻ kể lại được chính xác hơn, với các bài thơ, thường trình bày bằng giọng đọc của cô, cô và trẻ đàm thoại ngắn gọn hoặc cô dùng tranh có liên quan đến nội dung bài thơ để dẫn dắt trẻ vào nội dung bài thơ Thường là cô đọc trước, trẻ đọc theo cô đến khi thuộc bài thơ Nhìn chung, dù đọc hay kể tác phẩm giáo viên cũng phải nắm vững tác phẩm, tốt nhất là thuộc tác phẩm Những bài thơ, văn viết cho các em trước tuổi đi học thường khong dài và cũng dễ nhớ nên việc truyền đạt đúng từ ngữ khi kể sẽ giữ được phong cách và tính toàn vẹn của bài Vì vậy, phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học đã có những bước cải tiến đáng kể vượt qua giai đoạn kinh nghiệm thuần túy để xây dựng trên một cơ sở lý thuyết khoa học của tâm
lí học và giáo dục học hiện đại
1.6.3 Các tác phẩm văn học với việc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn
Văn học có vai trò to lớn không gì có thể thay thế được trong việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ Việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học từ lâu đã được đặt ra như một nội dung, một phương tiện vô cùng quan trọng trong chương trình giáo dục trẻ
Trang 33- Tác phẩm văn học có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành những tri thức và chuẩn mực đạo đức cho trẻ
Những nhân vật, hành động của nhân vật trong truyện tác động vào tâm hồn trẻ Từ đó hình thành ở trẻ những khái niệm đạo đức, những quy tắc phải thực hiện cho đúng khi tiếp xúc với người khác, nhất là với người trên hay có thể gọi là cách ứng xử của một người đối với những người xung quanh theo các chuẩn mực đã được người lớn quy định như: Gặp người lớn phải biết chào hỏi lễ phép, ai cho gì thì biết cảm ơn, biết xin lỗi khi làm phiền người khác
Ví dụ: Truyện: Ba cô gái; Cáo, thỏ và gà trống; Bác gấu đen và hai
chú thỏ; Ai đáng khen nhiều hơn
- Tác phẩm văn học góp phần hình thành niềm tin, tình cảm đạo đức cho trẻ Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo có đời sống tình cảm phát triển mạnh mẽ Trẻ rất giàu xúc cảm và tình cảm mà các tác phẩm văn học ở lứa tuổi này lại chứa chan lòng nhân ái của người viết muốn gửi đến các em Lòng nhân ái được thể hiện trong tác phẩm đó không phải là những gì quá cao siêu mà được biểu hiện rất cụ thể, rất đời thường, gần gũi với trẻ thơ Đó là tình yêu thương giữa con người với con người, là sự gắn bó chia sẻ trong gia đình khi hạnh phúc cũng như khi ốm đau, hoạn nạn, là sự cảm thông giúp đỡ những người gặp khó khăn
Ví dụ: Trong truyện Bông hoa cúc trắng, chính sự hiếu thảo của cô bé
trong truyện đã làm nên điều kì diệu, đó là mẹ em bé đã được cứu sống Cô bé như là một tấm gương sáng về đạo đức và có tác động đến tình yêu thương của trẻ đối với cha mẹ đến niềm tin, tình cảm đạo đức của trẻ Cô quyết vượt qua tất cả để tìm được người thầy thuốc chữa beenhj cho mẹ khỏe lại và sống với cô bé
- Tác phẩm văn học còn giúp hình thành những hành vi, thói quen hành vi đạo đức cho trẻ
Trang 34Trong bài thơ: Em luôn nhẹ nhàng của tác giả Phạm Mai Chi – Hoàng
Dân sưu tầm Trích dẫn:
Cô giáo dạy em Nhẹ nhang khi nói Nhẹ nhàng đi lại Nhẹ nhàng hát ca Mỗi khi vào nhà Nhẹ nhàng gõ cửa Nhẹ nhàng cất giữ
Đồ dùng đồ chơi Bài thơ nêu lên hàng loạt những hành vi ứng xử cần có ở trẻ trong cuộc sống hàng ngày, những hành vi mà trẻ cầ phải thực hiện thường xuyên, mọi lúc mọi nơi, những hành vi phù hợp với chuẩn mực xã hội Bài thơ dạy trẻ cách nói năng đến đi lại, ca hát, tất cả cần phải lịch sự và nhẹ nhàng Khi về nhà hoặc vào nhà ai gõ cửa nhưng nhẹ nhàng mới là đáng khen Khi chơi xong cũng phải nhẹ nhàng cất đồ chơi
1.7 Giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua các tác phẩm văn học
1.7.1 Nội dung giáo dục đạo đức thông qua tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo
Giáo dục lòng nhân ái (tình thương) và những nhân tố sơ đẳng của lòng yêu nước:
Được sống trong tình thương yêu (được mọi người yêu mến và yêu mến mọi người) là hạnh phúc của trẻ thơ Giáo dục tình thương yêu cũng đồng thời đáp ứng mọi nhu cầu sống của trẻ Tình thương yêu cũng chính là gốc đạo đức của con người Chính vì vậy, giáo dục lòng nhân ái cần được coi
là nhiệm vụ trung tâm của công tác giáo dục đạo đức cho trẻ
Trang 35Giáo dục lòng nhân ái cho trẻ bao gồm những nội dung cơ bản sau: + Giáo dục tình yêu gia đình: trẻ biết yêu quý những người thân trong gia đình như: Ông bà, bố mẹ, anh chi em Cần giúp cho trẻ hiểu mọi người trong gia đình đều gắn bó với nhau trong tình ruột thịt, cần thường xuyên sống hòa thuận và quan tâm chăm sóc lẫn nhau Trong gia đình ai cũng làm việc và học hành, đó là những việc làm nghiêm túc có ích cho gia đình và xã hội, cần được tôn trọng và không được quấy rầy, vòi vĩnh khi bố mẹ đang làm việc, anh chị đang học
+ Giáo dục tình thương yêu và thái độ quan tâm đối với mọi người gần gũi xung quanh
Yêu mến và sẵn sàng giúp đỡ cô giáo và các bạn trong lớp, kính trọng
và quan tâm giúp đỡ người già yếu, yêu mến, nhường nhịn và chăm sóc các
em nhỏ, niềm nở với mọi người
+ Giáo dục tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống yêu cây cỏ, chim muông, các loài súc vật có ý thức bảo vệ thiên nhiên không hành hạ, làm đau đớn các sinh vật
+ Cùng với việc giáo dục lòng nhân ái, cần chú ý từng bước nhẹ nhàng hình thành những nhân tố sơ đẳng tạo nên nền tảng ban đầu cho việc giáo dục lòng yêu nước thực sự, có ý thức sau này khi trẻ đủ khôn lớn Giáo dục tình yêu quê hương đất nước cho trẻ mẫu giáo, nghĩa là giáo dục trẻ biết gia đình, làng xóm, khu phố mình ở, yêu cảnh vật, cây cối, hoa cỏ, làm giàu đẹp cho quê hương mình
+ Trẻ mẫu giáo cần giáo dục trẻ tình yêu đối với Bác Hồ, Biết lá cờ Tổ quốc, có hiểu biết sơ đẳng về quốc kì, quốc ca, về thủ đô, về các miền của tổ quốc, quan tâm đến những ngày hội, ngày lễ lớn hoặc những sự kiện quan trọng trong nước hay ở địa phương, những danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử ở địa phương, những truyền thuyết lịch sử, những biến đổi tích cực