1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ 4 5 tuổi thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non ngô quyền vĩnh yên vĩnh phúc (2014)

65 369 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 911,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng việc thực hiện các nội dung giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non Ngô Quyền – TP.Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc .... Có rất nhiều các hoạt

Trang 1

THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH

Ở TRƯỜNG MẦM NON NGÔ QUYỀN –

VĨNH YÊN – VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục học

Người hướng dẫn khoa học Th.S NGÔ THỊ TRANG

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo cô giáo trường ĐHSP Hà Nội

2, các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khoá luận tốt nghiệp

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – ThS.NGÔ THỊ TRANG – người đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo em trong quá trình học

tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá luận này

Qua đây, em xin gửi tới Ban giám hiệu và các cô giáo trường mầm non Ngô Quyền cùng các bạn sinh viên trong khoa Giáo dục Tiểu học lời cảm ơn chân thành nhất

Với điều kiện thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức còn hạn chế, chắc chắn đề tài của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để đề tài của em thực sự

có chất lượng và hữu ích

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

liệu và kết quả nghiên cứu trong khoá luận là hoàn toàn trung thực Đề tài này chưa được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4

5 Giả thuyết khoa học 4

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Kế hoạch nghiên cứu 6

PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH Ở TRƯỜNG MẦM NON 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.2 Đặc điểm tăng trưởng, phát triển của trẻ Mẫu giáo nhỡ 8

1.2.1 Đặc điểm sinh lí 8

1.2.2 Đặc điểm tâm lí 9

1.3 Một số vấn đề về thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ cho trẻ Mẫu giáo nhỡ 11 1.3.1 Khái niệm về thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ 11

1.3.2 Con đường và phương tiện giáo dục thẩm mỹ 13

1.3.3 Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ Mẫu giáo nhỡ 15

1.4 Hoạt động tạo hình ở trường mầm non với việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ Mẫu giáo nhỡ 21

1.4.1 Một số vấn đề về hoạt động tạo hình ở trường mầm non 21

1.4.2 Đặc điểm hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo nhỡ ở trường mầm non 25

Trang 5

1.4.3 Các hình thức tổ chức cho trẻ Mẫu giáo nhỡ trong hoạt động tạo hình ở trường mầm non 27 1.4.4 Vai trò của hoạt động tạo hình đối với việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ 29 1.4.5 Ý nghĩa của hoạt động tạo hình với việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ 30

CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH Ở TRƯỜNG MẦM NON NGÔ QUYỀN - TP.VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC

31 2.1 Một số nét về khách thể nghiên cứu 31 2.2 Thực trạng về việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non Ngô Quyền – Vĩnh Yên – Vĩnh phúc 32 2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên trường Mầm non Ngô Quyền – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc về vai trò của việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tạo hình 33 2.2.2 Thực trạng việc thực hiện các nội dung giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non Ngô Quyền –

TP.Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc 34 2.2.3 Thực trạng việc sử dụng các phương pháp tổ chức nhằm giáo dục thẩm

mỹ cho trẻ Mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non Ngô Quyền - TP.Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 34 2.2.4 Thực trạng việc phối hợp giữa giáo viên và gia đình trẻ trong vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tạo hình 40

CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ

Trang 6

THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH Ở TRƯỜNG MẦM NON

NGÔ QUYỀN - TP.VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC 44

3.1 Nguyên nhân 44

3.2 Giải pháp 45

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

PHỤ LỤC……… 53

Trang 7

Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Vì vậy chăm lo, giáo dục trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non là một việc làm cần thiết và vô cùng quan trọng

Nổi cộm trong vấn đề giáo dục trẻ mầm non mà chúng ta không thể không nhắc đến đó là vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho trẻ

Giáo dục thẩm mỹ là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch của giáo viên đến trẻ nhằm hình thành ở trẻ văn hóa thẩm mỹ Giúp trẻ cảm thụ cái đẹp, phát hiện cái đẹp, rung động trước cái đẹp, biết vận dụng và sáng tạo cái đẹp

Với mỗi trẻ em nói chung, trẻ mầm non nói riêng đều có tâm hồn nhạy cảm với thế giới xung quanh, thế giới xung quanh chứa đựng bao điều mới lạ hấp dẫn Trẻ thường tỏ ra dễ xúc cảm với cảnh vật xung quanh, trẻ dễ bị cuốn hút trước cảnh vật có nhiều màu sắc, hay một bông hoa đẹp, bức tranh sinh động, đồ chơi ngộ nghĩnh,…Với đặc điểm như vậy nên năng khiếu nghệ thuật thường được nảy sinh ngay từ tuổi ấu thơ Vì vậy việc giáo dục thẩm mỹ cần được bồi dưỡng ngay từ tuổi mẫu giáo để ươm trồng những tài năng nghệ thuật cho tương lai

Trang 8

Trong điều 21,22, Luật Giáo Dục (2005) đã xác định nhiệm vụ và mục tiêu của giáo dục mầm non: “ Giáo dục mầm non thực hiện nuôi dưỡng , chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi”, “ Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ về thể chất, tinh thần, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1”

Ở trẻ mẫu giáo nhỡ, mặt thẩm mỹ phát triển nhanh nhất Bởi đặc trưng tâm lý của giai đoạn này được biểu hiện ở tính hình tượng, tính dễ xúc cảm và tính đồng cảm Hơn thế nữa, bản thân sự phát triển thẩm mỹ dễ kéo theo sự phát triển của các mặt khác như đạo đức, trí tuệ và cả thể chất Do vậy giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ là một việc làm không thể chậm trễ

Có rất nhiều các hoạt động để thông qua đó giáo dục thẩm mỹ cho trẻ như hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, âm nhạc,tạo hình, hoạt động vui chơi,… Tuy nhiên việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ sẽ trở nên dễ dàng

và hiệu quả khi được thực hiện thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non

Tổ chức hoạt động tạo hình ở trường mầm non sẽ giúp cung cấp cho trẻ những trải nghiệm, những kiến thức mới về tự nhiên, xã hội, qua đó giáo dục cái đẹp, cái thiện cho trẻ Đây là tiền đề quan trọng trong chương trình giáo dục toàn diện trẻ Hơn nữa, giai đoạn trẻ 4-5 tuổi được coi là thời kỳ phát cảm của những cảm xúc thẩm mỹ Chính vì vậy mà việc tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ 4-5 tuổi thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non là một việc làm vô cùng cần thiết

1.2 Cơ sở thực tiễn

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên, đặt nền móng cho sự phát triển

về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ Nhưng hiện nay bậc học này vẫn chưa dược coi trọng đúng mức và trên thực tế đang gặp nhiều khó khăn

Trang 9

Theo các chuyên gia trong ngành giáo dục thì trẻ được tiếp cận với bậc học mầm non càng sớm, càng thúc đẩy quá trình học tập và phát triển ở các giai đọan tiếp theo

Trong việc giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non thì giáo dục thẩm mỹ chiếm một vị trí quan trọng không thể thiếu Chân – thiện – mỹ là ba mốc quan trọng trên bước đường hoàn thiện nhân cách cho trẻ

Nói đến giáo dục thẩm mỹ ta thường liên tưởng ngay đến bản sắc dân tộc, đến thuần phong mỹ tục của người Việt Nam Giáo dục thẩm mỹ thực chất là hình thành chủ thể thẩm mỹ, để trở thành chủ thể thẩm mỹ đòi hỏi phải

có thời gian và phải trải qua một quá trình giáo dục

Trẻ mầm non ham thích được hoạt động tạo hình theo ý của trẻ để tạo

ra sản phẩm mà trẻ yêu thích Để tạo ra được một sản phẩm đẹp trước hết trẻ phải hiểu được cái đẹp, có tình cảm với nó và có kỹ năng tạo ra nó thì trẻ mới hoàn thành sản phẩm đó được Vì thế mà hoạt động tạo hình như một thứ ngôn ngữ riêng để trẻ biểu lộ tình cảm, tiếng nói của mình với mọi người xung quanh

Ở trường Mầm non từ nhiều năm nay, hoạt động tạo hình là một môn học chính, bao gồm nhiều hoạt động như: vẽ, nặn, cắt, xé dán Đây là m

ột môn học rất được quan tâm và chú trọng

Thực tế cho thấy trong những năm gần đây, giáo dục thẩm mỹ thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non đã có những chuyển biến tích cực,

đã có sự lồng ghép phù hợp nội dung giáo dục thẩm mỹ trong các tiết học Cùng với sự nhận thức về môn học này, trẻ đã có khả năng phân biệt được cái đẹp trong cử chỉ, trong lời ăn tiếng nói, đáng chú ý hơn nữa là trẻ biết yêu quý cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp

Tuy nhiên hiện nay, ở hầu hết các trường mầm non, nhận thức của giáo viên vẫn còn hạn chế, trong giảng dạy còn dập khuân, máy móc các hình thức,

Trang 10

chưa linh hoạt vận dụng các phương pháp phù hợp nên kết quả giáo dục thẩm

mỹ chưa cao

Xuất phát từ những lý do trên mà tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “ Tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ 4-5 tuổi thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non Ngô Quyền – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc”

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu đề tài này, nhằm đánh giá thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tạo hình ở trường Mầm non Ngô Quyền – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc; tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhất để nâng cao việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ Thông qua đó còn giúp giáo viên trau dồi những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, phục vụ cho công tác giảng dạy sau này

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt

động tạo hình ở trường mầm non Ngô Quyền - TP Vĩnh Yên - Vĩnh phúc

- Khách thể nghiên cứu:

Hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo nhỡ

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ trong trường mầm non có thể thực hiện bằng nhiều con đường và ở nhiều mức độ khác nhau Nhưng do thời gian

và điều kiện có hạn nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ xin dừng lại ở việc tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non Ngô Quyền - TP Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc

5 Giả thuyết khoa học

Hoạt động tạo hình là một hoạt động quan trọng trong nội dung giáo dục mầm non Nó có tác dụng to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân

Trang 11

cách cho trẻ, cả về trí tuệ, đạo đức và đặc biệt là về thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ tại trường Mầm non Ngô Quyền Nhận thức đúng ý nghĩa của hoạt động tạo hình trong việc giáo dục trẻ sẽ làm hiệu quả của giáo dục toàn diện nói chung và giáo dục thẩm mỹ nói riêng được nâng cao

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc giáo dục thẩm mỹ và hoạt động tạo hình cho trẻ mẫu giáo nhỡ ở trường mầm non Ngô Quyền – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc

- Tiến hành điều tra thực trạng, tình hình giáo dục trẻ theo nội dung giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non Ngô Quyền - TP Vĩnh Yên - Vĩnh phúc

- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non Ngô Quyền - TP Vĩnh Yên - Vĩnh phúc

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Tôi sử dụng phương pháp này

nhằm định hướng các bước nghiên cứu cụ thể, vạch ra con đường tiếp cận đối tượng, chỉ đạo việc lựa chọn các phương pháp nghiên cứu cụ thể để khám phá đặc điểm quy luật phát triển của đối tượng nghiên cứu Từ đó, xây dựng hệ thống hóa các khái niệm công cụ cho việc nghiên cứu và xử lí các tư liệu khoa học thu thập được thành những kết luận khoa học, lí thuyết khoa học mang tính khái quát về đặc điểm của trẻ, tìm hiểu về thực trạng giáo dục thẩm mỹ thông qua hoạt động tạo hình, các vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Phương pháp quan sát: Tôi sử dụng phương pháp này để tìm hiểu

hoạt động của trẻ, phương pháp tổ chức của giáo viên qua giờ học tạo hình

Trang 12

- Phương pháp khảo sát, điều tra thực tiễn: Tôi tiến hành điều tra

giáo viên, và phụ huynh với hàng loạt các câu hỏi được trình bày dưới dạng đóng hoặc mở nhằm xác định nhận thức, thái độ của họ về việc giáo dục thẩm

mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non

Quá trình điều tra bằng phiếu hỏi được tiến hành theo một trình tự nhất định, bắt đầu từ việc xây dựng kế hoạch, thiết kế mẫu phiếu điều tra, chọn mẫu điều tra, tiến hành điều tra và cuối cùng là xử lí kết quả điều tra

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tôi chủ động tác động vào trẻ

để chứng minh giả thuyết ban đầu của mình về giáo dục thẩm mỹ thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Phương pháp này được tôi tiến

hành theo một trình tự nhất định: Trước hết, phát hiện những kinh nghiệm giáo dục điển hình trong thực tiễn thông qua việc tổng kết các chuyên đề, chương trình giáo dục hàng năm; xem báo cáo, trao đổi trực tiếp Sau đó, lặp lại kinh nghiệm giáo dục vào điều kiện thực tiễn và phân tích kết quả Cuối cùng, sử dụng kinh nghiệm sau khi đã kiểm tra trong điều kiện của trường

Từ những lý thuyết tìm hiểu được tôi tiến hành điều tra ở thực tiễn để thấy được thực trạng và đưa ra những biện pháp nhằm thay đổi nó

- Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê: Tôi sử

dụng các công thức thống kê để đánh giá kết quả nghiên cứu

8 Kế hoạch nghiên cứu

12/2013 – 1/2014: Nhận đề tài và hoàn thành đề cương

1 – 2/2014: Tìm hiểu cơ sở lí luận

3 – 4/2014: Tìm hiểu thực trạng

5/2014: Hoàn thành đề tài nghiên cứu và bảo vệ

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH

Ở TRƯỜNG MẦM NON

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Giáo dục thẩm mỹ là vấn đề được quan tâm và chú ý của toàn xã hội Cái đẹp luôn được coi trọng và đặt lên hàng đầu Do vậy đã có rất nhiều những quan điểm về cái đẹp, nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như:

Heraklite (540 - 480 TCN) - nhà triết học, nhà mỹ học lỗi lạc thời Hy

Lạp cổ đại Ông nói: “Con khỉ đẹp nhất cũng là xấu so với loài người; và con

người hoàn thiện nhất khi so với thần thánh cũng chỉ như một con khỉ”.

Arixtôt nhà triết học và mỹ học Hy Lạp cổ đại thì cho rằng: cái đẹp có các thuộc tính như sự cân xứng, sự hài hòa, trật tự, số lượng, chất lượng…với Baumgacten (Giáo sư người Đức) cho rằng: cái hoàn mỹ là cơ sở của cái đẹp,

sự hoàn mỹ là nhận thức thuần túy bao gồm có lý tính và ý chí, do đó sự hoàn

mỹ là sự thống nhất của Chân - Thiện - Mỹ

C.Mac, F.Ănghen trong tuyển tập,T1, NXB Sự thật, Hà Nội (1980) đã đưa ra quan điểm về cái đẹp: Cái đẹp không chỉ là thước đo hoạt động của con người mà là cái chuẩn để chỉ phẩm chất người

L.X.Vưgotxki (1896-1955), trí tưởng tượng và sáng tạo ở lứa tuổi thiếu nhi NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1985 Ông đã nhấn mạnh sự ảnh hưởng qua lại của tư duy và tưởng tượng trong hoạt động sáng tạo và khẳng định rằng tưởng tượng có vai trò rất lớn đối với hoạt động sáng tạo và là một thành phần không thể thiếu của tư duy sáng tạo

N.K Krupxkaia về giáo dục Mẫu giáo, 1973-TR208 “ Cứ để các em làm con tàu mà các em đi bằng những chiếc ghế, cứ để các em dựng ngôi nhà

Trang 14

bằng các mẩu gỗ vụn Trong quá trình trẻ chơi trẻ khắc phục khó khăn, nhận biết những cái xung quanh mà tìm ra lối thoát”

Các công trình nghiên cứu về tâm lý học khẳng định: “Tính hình tượng, tính

dễ cảm xúc và tính đồng cảm tạo nên đặc trưng ở lứa tuổi mẫu giáo” (A.V.Daparojets)

Ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về thẩm mỹ nói chung và việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nói riêng như: +“ Thẩm mỹ học đại cương” của tác giả Tào Văn Ân_Trường Đại học Cần Thơ Ông đề cập đến đối tượng của mỹ học, mối quan hệ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực, xác định những yếu tố của ý thức thẩm mỹ, các phạm trù cơ bản của mỹ học

+“Giáo dục cái đẹp cho trẻ thơ”, NXB Giáo Dục, HN (1989) của tác

giả Nguyễn Ánh Tuyết đã nói đến vấn đề giáo dục cho trẻ lòng yêu cái đẹp và

năng lực tạo ra cái đẹp

Và nhiều công trình nghiên cứu khác…

1.2 Đặc điểm tăng trưởng, phát triển của trẻ Mẫu giáo nhỡ

1.2.1 Đặc điểm sinh lí

Chế độ sinh hoạt của trẻ ở độ tuổi này phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm sinh lí của trẻ Trong tất cả các hoạt động, trẻ học mà chơi, chơi mà học với tâm lí thoải mái, không gò ép sẽ đem lại hiệu quả giáo dục cao Tuy nhiên khi tiến hành bất cứ hoạt động nào cho trẻ, giáo viên cần nắm rõ đặc điểm sinh lí của trẻ nói chung và của từng trẻ nói riêng để có những phương pháp, hình thức dạy học phù hợp

Thời kì này, các giác quan của trẻ phát triển Trẻ nhận biết và gọi chính xác tên một số màu, thích nghe âm phát ra của những từ ăn vần với nhau, trẻ nhớ được các phần của câu chuyện, có sự tập trung khi hoàn thành trò chơi ghép hình đơn giản

Trang 15

Trẻ mẫu giáo nhỡ công năng tuần hoàn của trẻ phát triển, mỗi phút tim của trẻ đập 100 nhịp Hoạt động với tần số lớn nên trẻ rất mệt, vì thế trong hoạt động không nên để trẻ vận động quá sức hoặc quá hưng phấn sẽ không tốt cho sức khỏe của trẻ

Ngoài việc chú ý đến hoạt động của trẻ thì ở trường còn thực hiện việc chăm sóc cho trẻ Bữa ăn trưa của trẻ diễn ra ở trường, thức ăn được chế biến phù hợp với hệ tiêu hóa của trẻ Trẻ mẫu giáo nhỡ hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện, trẻ chưa hấp thụ được thức ăn như người lớn Vì thế cần tránh cho trẻ

ăn đồ cứng, phải tập cho trẻ thói quen ăn hết xuất, không làm rơi cơm ra ngoài

Trẻ 4 tuổi đang ở giai đoạn răng sữa nên việc vệ sinh răng miệng rất quan trọng để đảm bảo cho hàm răng chắc khỏe vĩnh viễn sau này Cần giáo dục trẻ thói quen vệ sinh răng miệng

Bước sang tuổi thứ tư nên sinh lí trẻ đã có sự biến đổi rõ rệt so với giai đoạn trước Trẻ ham thích tìm hiểu nhưng cũng rất nhanh chán Vì thế giáo viên cần nắm rõ để có chế độ chăm sóc hợp lý, tổ chức các hoạt động khám phá khoa học, khám phá thế giới xung quanh

1.2.2 Đặc điểm tâm lí

Ở lứa tuổi mẫu giáo nhỡ, nhiều phẩm chất chú ý có chủ định phát triển nhanh do sự phát triển của ngôn ngữ và tư duy Sức tập trung chú ý của trẻ cao, trẻ có thể vẽ, nặn một thời gian khá dài

Ngôn ngữ của trẻ mang tính chất hoàn cảnh, tình huống Nghĩa là ngôn ngữ của trẻ gắn liền với sự vật, hoàn cảnh, con người, hiện tượng đang xảy ra trước mắt trẻ

Cuối 4 tuổi, ngôn ngữ của trẻ đã bắt đầu biết nối kết giữa tình huống hiện tại với quá khứ thành một “văn cảnh” Vốn từ của trẻ tăng lên không chỉ

Trang 16

số lượng từ mà điều quan trọng là trẻ lĩnh hội được các cấu trúc ngữ pháp đơn giản

Trẻ mẫu giáo nhỡ đã hình thành được những cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ điệu, âm tiết… Tuy nhiên dưới tác động của cảm xúc trẻ có thể nghe nhầm, phát âm nhầm Dưới sự hướng dẫn của cô giáo, đặc biệt trong hoạt động vui chơi, tạo hình, các tiết kể chuyện, tham quan,… trẻ lĩnh hội được nhiều từ mới và ý nghĩa sử dụng của chúng, đây là tiền đề quan trọng giúp trẻ hoạt động sau này

Khả năng quan sát của trẻ được phát triển không chỉ số lượng đồ vật

mà cả các chi tiết, dấu hiệu thuộc tính, màu sắc… Bắt đầu xuất hiện khả năng kiểm tra độ chính xác của tri giác bằng cách hành động thao tác lắp ráp, vặn mở… phù hợp với nhiệm vụ yêu cầu Các loại tri giác nhìn, nghe, sờ mó… phát triển ở độ tinh nhạy Việc tổ chức tri giác, hướng dẫn quan sát, nhận xét của cô giáo, cha mẹ giúp trẻ phát triển tính mục đích, kế hoạch

Trí nhớ không chủ định của trẻ mẫu giáo nhỡ ở các dạng hoạt động phát triển khác nhau và tốc độ phát triển rất nhanh Ở độ tuổi này, các loại trí nhớ: hình ảnh, vận động, từ ngữ đều được phát triển tuy ở mức độ khác nhau nhưng đều được hình thành và tham gia tích cực trong các hoạt động vui chơi, lao động, tạo hình… ở trẻ

Ở trẻ mẫu giáo nhỡ, các loại tư duy đều được phát triển nhưng mức độ khác nhau Cùng với sự hoàn thiện hoạt động vui chơi và sự phát triển các hoạt động khác (vẽ, nặn, kể chuyện, đi dạo,…) vốn biểu tượng của trẻ mẫu giáo nhỡ được giàu lên thêm nhiều, chức năng ký hiệu phát triển mạnh, lòng ham hiểu biết và hứng thú nhận thức tăng lên rõ rệt Đó là điều kiện thuận lợi cho tư duy trực quan – hình tượng phát triển và đây cũng là thời điểm kiểu tư duy đó phát triển mạnh mẽ nhất, nhưng chất lượng khác với trẻ 3 tuổi ở chỗ

Trang 17

trẻ bắt đầu biết suy nghĩ xem xét nhiệm vụ hoạt động, phương pháp và phương tiện giải quyết nhiệm vụ tư duy

Nhờ có sự phát triển ngôn ngữ, trẻ ở lứa tuổi này đã xuất hiện loại tư duy trừu tượng

Nhờ có sự phát triển các hoạt động tạo hình mà khả năng tưởng tượng của trẻ được nâng lên.Tranh vẽ của trẻ vừa gần với hiện thực hơn, vừa mang tính chủ quan cảm xúc rõ nét hơn

Độ phong phú của các hình ảnh tưởng tượng cao nhờ có sự nhận thức được màu sắc trong thiên nhiên và qua các tiết nghệ thuật tạo hình.Trẻ có thể

xé dán các mẫu hình, truyện cổ tích, biết bố cục… những chủ đề gần gũi thân quen đối với trẻ… nếu được thầy cô giáo, cha mẹ hướng dẫn chu đáo

Việc hướng dẫn tổ chức các tiết học tạo hình, vẽ, nặn, cho trẻ tham quan các di tích, danh lam thắng cảnh… rất cần thiết cho sự tưởng tượng của trẻ

Ở lứa tuổi này đã bắt đầu hình thành quan hệ phụ thuộc theo thứ bậc của các động cơ, được gọi là hệ thống thứ bậc các động cơ Đó là một cấu tạo tâm lý mới trong sự phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo

1.3 Một số vấn đề về thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ cho trẻ Mẫu giáo nhỡ 1.3.1 Khái niệm về thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ

Trang 18

ý niệm chung được thâm nhập vào các hiện tượng cụ thể mà tạo thành vẻ đẹp Ông cho rằng cái đẹp có tính chất vĩnh cửu trong mọi thời gian, mọi địa điểm, mọi ý nghĩa Theo Mác: “Cái đẹp không chỉ là thước đo hoạt động của con người mà còn là cái chuẩn để chỉ phẩm chất người” Mác viết: “Súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước đo giống loài nó, còn con người thì có thể áp dụng thước đo và thích dụng cho mọi đối tượng Do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp” ( C.Mac Ănghen Tuyển tập, T1, NXB Sự thật, Hà Nội 1980, trang 19)

Như vậy, cái đẹp gắn bó với bản chất sáng tạo của con người, gắn với quá trình hoàn thiện, hoàn mỹ Hay cái đẹp là sự hài hòa, sự cân đối trong đời sống vật chất lẫn tinh thần

1.3.1.2 Khái niệm về giáo dục thẩm mỹ

Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện đối với trẻ và cần được tiến hành ngay từ lứa tuổi mẫu giáo

Theo quan điểm của Mỹ học Mac – Lenin, giáo dục thẩm mỹ có thể hiểu theo hai nghĩa:

Nghĩa hẹp: Giáo dục thẩm mỹ là quá trình giáo dục có tính trường quy

về cái đẹp, giáo dục con người biết cảm thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp

Nghĩa rộng: Giáo dục thẩm mỹ là quá trình giáo dục và tự giáo dục nhằm phát huy mọi năng lực của con người theo quy luật của cái đẹp, trong

đó có việc bồi dưỡng nhận thức, thị hiếu thẩm mỹ và lí tưởng thẩm mỹ của con người Xây dựng những tình cảm mạnh mẽ để con người có thể phân biệt rạch ròi giữa cái đẹp – cái xấu, cái cao cả - cái thấp hèn

Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ em với tư cách là một môn khoa học để giáo dục trẻ và đây được hiểu như một khái niệm rộng, trong đó chủ yếu là giáo dục thái độ thẩm mỹ của trẻ đối với thiên nhiên, đời sống xã hội, lao động, sinh hoạt và nghệ thuật Nhiệm vụ của giáo dục thẩm mỹ là hình thành ở trẻ

Trang 19

các quan hệ thẩm mỹ đối với hiện thực, thúc đẩy trẻ hoạt động sáng tạo theo quy luật của cái đẹp Một cách đơn giản cũng có thể hiểu được cái đẹp trong hiện thực, trong thiên nhiên, trong lao động sinh hoạt, trong các mối quan hệ

và hành vi của con người, trong nghệ thuật, phát triển các quan điểm thị hiếu, tình cảm, nhu cầu và năng lực xây dựng cái đẹp một cách tích cực và sáng tạo

Giáo dục thẩm mỹ là một quá trình tác động có hệ thống và có mục đích vào nhân cách của cá nhân nhằm phát triển năng lực cảm thụ và nhận biết cái đẹp trong nghệ thuật, trong tự nhiên và trong đời sống xã hội

Giáo dục thẩm mỹ trong trường mầm non là quá trình giáo dục nhằm hình thành ở trẻ những nhận thức đúng đắn về cái đẹp trong tự nhiên, đời sống xã hội và trong nghệ thuật, phát triển năng lực cảm thụ đánh giá và sáng tạo cái đẹp

1.3.2 Con đường và phương tiện giáo dục thẩm mỹ

1.3.2.1 Con đường giáo dục thẩm mỹ

Lứa tuổi mẫu giáo nhỡ là lứa tuổi ngập tràn xúc cảm, phát triển trí tò

mò, trí tưởng tượng bay bổng và khả năng liên tưởng mạnh Vì vậy, đây là giai đoạn tối ưu để giáo dục thẩm mỹ cho trẻ

Giáo dục thẩm mỹ được thực hiện thông qua những con đường như dạy – học các môn học; thông qua lao động sản xuất; hoạt động tự giáo dục của người được giáo dục và thông qua việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa

1.3.2.2 Phương tiện giáo dục thẩm mỹ

Những phương tiện cơ bản để giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo là vẻ đẹp của hoàn cảnh xung quanh, là cái đẹp trong cuộc sống, lao động trong thiên nhiên, trong các tác phẩm nghệ thuật, trong hoạt động tạo hình của trẻ, trong ngày hội và các trò chơi giải trí

Vẻ đẹp của hoàn cảnh xung quanh trẻ em (Vẻ đẹp trong sinh hoạt hàng ngày)

Trang 20

Vẻ đẹp của hoàn cảnh xung quanh trẻ em, những bức tường của ngôi nhà thân yêu, những đồ vật xung quanh trẻ có tác động lớn đến trẻ từ những năm đầu Đồ đạc, tiện nghi trong nhà, sự kết hợp hài hòa màu sắc, các bức tranh treo tường, những phù điêu và tượng trang trí, phong cách trang trí phòng ở, tất cả những cái đó đều để lại những ấn tượng sâu sắc, được phản ánh trong trí nhớ và trong ý thức của trẻ nhỏ

Vẻ đẹp của hoàn cảnh có ảnh hưởng hàng ngày đến trẻ, tác động thường xuyên đến trẻ và khó nhận ra, song là phương tiện rất quan trọng để giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo Cần phải tạo điều kiện cho nơi ở và sinh hoạt của trẻ có vẻ đẹp tươi vui, hấp dẫn và mang tính thẩm mỹ cao

Những ấn tượng từ cuộc sống xung quanh trẻ

Nguồn gốc của sự cảm thụ và những xúc cảm thẩm mỹ chính là cuộc sống Cô giáo cần sử dụng những ấn tượng từ cuộc sống xung quanh như một trong những phương tiện của mỹ dục Điều này được phản ánh rất cụ thể trong trò chơi của trẻ

Trong các hội, ngày lễ, trong những cuộc thao diễn thể dục thể thao, cảnh trí tấp nập của đường phố, cờ, hoa cũng để lại cho trẻ những ấn tượng sâu sắc

Cuộc sống quanh trẻ còn là những đường phố, những đài kỷ niệm các

di tích lịch sử, các quảng trường lịch sử, đều là những nhân tố tích cực góp phần giáo dục thẩm mỹ cho trẻ

Thiên nhiên của quê hương, đất nước

Đây là một phương tiện mạnh mẽ để giáo dục thẩm mỹ, vẻ đẹp thiên nhiên trong thời thơ ấu được cảm thụ rất sâu sắc và trong sáng, nó được giữ lại trong tình cảm, tư tưởng và giữ lại mãi mãi trong suốt cuộc đời

Cô giáo phải biết mở ra cho trẻ thế giới tự nhiên, dạy cho trẻ biết nhìn

vẻ đẹp của buổi bình minh, màu sắc của buổi hoàng hôn, biết lắng nghe tiếng

Trang 21

chim hót, tiếng lá rơi xào xạc,… qua các buổi tham quan, dạo chơi, làm cho trẻ yêu mến cảnh đẹp của thiên nhiên, của quê hương, đất nước

Nghệ thuật

Đây là một phương tiện toàn diện và vô tận để giáo dục thẩm mỹ Có rất nhiều loại hình nghệ thuật phù hợp với trẻ như văn học, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, điện ảnh Mỗi loại hình nghệ thuật phản ánh một cách độc đáo cuộc sống và có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến sự phát triển trí tuệ và tình cảm của trẻ

Cần tổ chức cho trẻ tham gia các hoạt động nghệ thuật như hát, múa,

vẽ, kể chuyện, đọc thơ để nâng cao hứng thú và phát triển mầm mống của năng khiếu nghệ thuật

1.3.3 Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ Mẫu giáo nhỡ

1.3.3.1 Ý nghĩa của việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ

Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện đối với thế hệ trẻ và cần được tiến hành ngay từ lứa tuổi mẫu giáo

Do những đặc điểm phát triển tâm lý ở lứa tuổi này mà trẻ mẫu giáo là thời kỳ

“hoàng kim” của giáo dục thẩm mỹ

Hầu hết trẻ thơ đều có một tâm hồn nhạy cảm Đối với các em, thế giới xung quanh chứa đựng bao điều mới lạ, hấp dẫn Trẻ thơ thường tỏ ra dễ xúc cảm đối với người và cảnh vật xung quanh Tính hình tượng đang phát triển mạnh mẽ, hầu như chi phối mọi hoạt động tâm lý của trẻ

Giáo dục thẩm mỹ là một khái niệm rộng, trong đó chủ yếu là giáo dục thái độ thẩm mỹ đối với thiên nhiên, lao động đời sống xã hội, sinh hoạt và nghệ thuật Bởi vậy thẩm mỹ thuộc phạm trù quan hệ, đánh giá Khi có quan

hệ đến đối tượng thẩm mỹ, cá nhân bộc lộ thái độ của mình qua sự đánh giá Thái độ trong tâm lý được lý giải như là một mối liên hệ giữa con người với hiện thực Tất nhiên thái độ phản ánh cả tập hợp, động cơ, tình cảm, ý thức

Trang 22

Thái độ thẩm mỹ của trẻ đối với thế giới xung quanh là một hệ thống hoàn chỉnh của những mối liên hệ cá nhân, có chọn lọc của trẻ với những phẩm chất mỹ học của xung quanh Thái độ thẩm mỹ của trẻ bao gồm phản ứng xúc cảm của trẻ đối với cái tuyệt vời, cái đẹp, những xúc cảm lành mạnh; hoạt động sáng tạo của trẻ, nguyện vọng biến đổi xung quanh vừa sức mình, cũng như đánh giá những sự kết hợp đẹp đẽ, hài hòa về màu sắc, âm thanh,…

Giáo dục nghệ thuật là một bộ phận quan trọng của giáo dục thẩm mỹ Tuy nhiên, việc nhận thức nghệ thuật rất đa dạng và độc đáo đến mức

nó được tách ra trong hệ thống giáo dục thẩm mỹ như một bộ phận riêng biệt của nó Giáo dục trẻ bằng các phương tiện nghệ thuật là đối tượng của giáo dục nghệ thuật, một bộ phận quan trọng của giáo dục thẩm mỹ

Giáo dục thẩm mỹ có mối liên hệ mật thiết với giáo dục đạo đức và giáo dục trí tuệ Cảm xúc thẩm mỹ không những được xây dựng trên cơ sở cảm thụ cái đẹp mà còn trên cơ sở hiểu biết sâu sắc nội dung tư tưởng của tác phẩm nghệ thuật Những cảm xúc thẩm mỹ có ảnh hưởng lớn đến bộ mặt đạo đức của con người và làm cho tính cách của con người thêm cao thượng Cảm xúc thẩm mỹ làm phong phú thêm cuộc sống của trẻ, góp phần giáo dục tính lạc quan, yêu đời của các em, khêu gợi ở các em tính tích cực sáng tạo và ảnh hưởng đến việc hình thành mối quan hệ của các em với cuộc sống và những người xung quanh Giáo dục thẩm mỹ làm cho sự tự giác được sắc bén hơn, giúp cho việc hiểu cái đã tự giác được sâu sắc hơn và góp phần phát triển năng lực nhận thức của con người

Giáo dục thẩm mỹ có liên hệ trực tiếp với giáo dục lao động và thể dục Bản thân lao động được tổ chức tốt là một phương tiện giáo dục thẩm mỹ Toàn bộ vẻ đẹp của hoàn cảnh và sự tổ chức quá trình lao động có tác dụng nâng năng suất lao động Sức khỏe và phát triển thể lực tốt, tư thế đẹp bao giờ cũng gây ra cảm giác đẹp mặt và các tác dụng thẩm mỹ đến sự phát triển

Trang 23

chung về mặt tinh thần của con người Vẻ đẹp của các thao tác, các vận động, của nhịp điệu kích thích hứng thú của trẻ đối với việc tập thể dục và thể thao

Với tất cả những ý nghĩa trên, giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận của giáo dục XHCN, góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách phát triển toàn diện Giáo dục thẩm mỹ cần được tiến hành ngay từ lứa tuổi mẫu giáo Các hình tượng nghệ thuật tác động vô cùng mạnh mẽ đến trẻ em Bởi vì trẻ, cảm thụ nhờ tư duy trực quan hình tượng, nhờ tính dễ xúc cảm và nhờ mối quan hệ tích cực của trẻ mẫu giáo đối với hiện thực xung quanh

1.3.3.2 Nội dung giáo dục thẩm mỹ cho trẻ Mẫu giáo nhỡ

Phát triển tri giác, tình cảm và khái niệm thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ

Giáo dục thẩm mỹ bắt đầu từ sự phát triển năng lực tri giác cái đẹp, cảm thụ cái đẹp, hiểu cái đẹp theo cách người ta thường nói về nghệ thuật

Theo quan điểm của Mỹ học Mác – Lênin sự tri giác cái đẹp được hiểu

là quá trình cảm thụ cái đẹp mà kết quả của nó là những rung cảm thẩm mỹ, những tình cảm thẩm mỹ

Cơ sở của sự tri giác cái đẹp là nhận thức cảm tính cụ thể về mặt thẩm

mỹ Nhìn và nghe là cơ sở đầy đủ về phương diện tâm lí, sinh lí để tri giác cái đẹp Từ “đẹp” sớm đi vào cuộc sống của trẻ Trẻ say sưa lắng nghe bài hát, sớm bị lôi cuốn một cách vô thức vào những gì sống động, sặc sỡ, hấp dẫn, Song đó chưa phải là tình cảm thẩm mỹ mà chỉ là sự biểu hiện ra của hứng thú nhận thức Cô giáo cần làm cho trẻ chú ý đến những sự vật, hiện tượng của tự nhiên, đến những hành vi của con người, dạy cho các em biết nhìn ra

và phát triển được cái đẹp trong đời sống, trong thiên nhiên, lao động, trong hành vi và hành động của con người, dạy cho các em biết nhìn nhận về phương diện thẩm mỹ đối với thế giới xung quanh

Tri giác thẩm mỹ bao giờ cũng có liên quan chặt chẽ với cảm xúc và tình cảm thẩm mỹ Với trẻ em, đặc điểm của tình cảm thẩm mỹ là niềm vui vô

Trang 24

tư, là cảm xúc tâm hồn trong sáng xuất hiện khi thấy cái đẹp Tình cảm thẩm

mỹ giữ vai trò rất to lớn trong việc đánh giá các sự vật, hiện tượng khác nhau, trong việc rèn luyện thị hiếu thẩm mỹ sau này cho trẻ

Giáo viên cũng có nhiệm vụ dẫn dắt trẻ đi tìm sự tri giác cái đẹp, cảm xúc đối với nó đến chỗ hiểu và hình thành các khái niệm, các nhận xét và đánh giá thẩm mỹ

Phát triển các năng lực nghệ thuật sáng tạo của trẻ

Nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng hình tượng sinh động, cụ thể, gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng, tình cảm (Từ điển Tiếng Việt – NXB – KHXH 1994) Bởi vậy, giáo dục nghệ thuật cho trẻ là một quá trình khó khăn và phức tạp

Đặc điểm sáng tạo của trẻ thể hiện ở chỗ trong hoạt động trẻ thực hiện một cách có chủ định, biết phối hợp các tri thức về ấn tượng của mình ở tính chân thực cao khi thể hiện tình cảm và tư tưởng,… Hơn nữa đặc điểm tâm lý được thể hiện rất rõ trong hoạt động vui chơi của trẻ Trong trò chơi, trẻ bắt chước những hoạt động của người lớn, trẻ biết thể hiện bằng hình ảnh những

ấn tượng lấy trong thế giới xung quanh

Óc tưởng tượng sáng tạo của trẻ cũng được thể hiện ở chỗ các em thường kết hợp có ý thức các chủ đề khác nhau Các em lấy tư tưởng từ chuyện cổ tích hay những câu chuyện trong cuộc sống, phim ảnh, từ các vở diễn trên sân khấu,… Các em phối hợp các tri thức, ấn tượng và thống nhất chúng trong một cái hoàn chỉnh Thường các em mô tả những cái có thể không có trong thực tế (trò chơi trên cung trăng, ước mơ bay lên những vì sao), song tính chân thực của trẻ trong trò chơi vẫn thể hiện rõ nhất

Tính sáng tạo cũng thể hiện trong các hình thức nghệ thuật khác: vẽ, nặn, ca hát, kể chuyện Trẻ thỏa mãn nhu cầu của mình trong việc thể hiện có hiệu quả, bằng hình tượng các ấn tượng của mình Chính ở đây bắt đầu nảy

Trang 25

sinh ra chủ định sau đó tìm phương tiện thực hiện và trẻ biết phối hợp các ấn tượng của mình thu được

Ở tuổi mẫu giáo nhỡ đã có mầm mống của tính sáng tạo, chúng thể hiện

ở sự phát triển năng lực xây dựng các chủ định và thực hiện nó; ở kỹ năng phối hợp các tri thức, khái niệm của mình ở việc truyền đạt chân thực tư tưởng, tình cảm, cảm xúc

Hình thành những cơ sở của thị hiếu thẩm mỹ

Sự cảm thụ cái đẹp có liên hệ mật thiết đến năng lực đánh giá cái đẹp một cách đúng đắn Thị hiếu thẩm mỹ của con người luôn được biểu hiện ở sự phán đoán đánh giá

Cần dạy cho trẻ phân biệt được cái đẹp với cái không đẹp, cái thô kệch

và cái xấu xí Giáo dục cho các em năng lực trình bày lí do tại sao lại thích bức tranh này, bài hát này, tại sao lại thấy đẹp, tại sao lại thấy không đẹp,…

Hình thành cơ sở của thị hiếu thẩm mỹ thông qua việc tìm hiểu các tác phẩm cổ điển của thiếu nhi, tìm hiểu âm nhạc, hội họa Trẻ học cách nhận biết, yêu mến các tác phẩm nghệ thuật chân chính

Dạy trẻ biết nhận ra và cảm thụ cái đẹp trong cuộc sống xung quanh và biết bảo vệ nó

Tóm lại, nghiên cứu các nội dung cơ bản của giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ cho thấy chúng có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành nhân cách của trẻ, đồng thời cũng thấy được quá trình giáo dục thẩm mỹ rất phức tạp, nhiều hình, nhiều vẻ và đòi hỏi ở nhà giáo dục một vốn tri thức và kỹ năng văn hóa thẩm mỹ nhất định

1.3.3.3 Phương pháp giáo dục thẩm mỹ cho trẻ Mẫu giáo nhỡ

Các phương pháp giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ không chỉ nhằm hình thành thái độ thẩm mỹ đối với thế giới tự nhiên, xã hội, đối tượng thẩm mỹ mà còn đối với cả quá trình dạy nghệ thuật

Trang 26

Các phương pháp giáo dục thẩm mỹ có mối liên hệ với các nhiệm vụ và bản chất của giáo dục thẩm mỹ Những phương pháp giáo dục thẩm mỹ phải nhằm làm thế nào trên cơ sở những ấn tượng đã thu được kích thích trẻ tích cực suy nghĩ, cảm xúc, tưởng tượng và hoạt động Tư duy và cảm xúc của trẻ mẫu giáo còn mang tính chất cảm xúc Cụ thể, do đó, cơ sở của phương pháp tác động đến trẻ là kết hợp tính trực quan và ngôn ngữ

Hệ thống phương pháp được sử dụng quen thuộc được phân loại trên cơ sở nguồn cung cấp tri thức Các nhóm phương pháp:

1) Nhóm các phương pháp dùng lời: giải thích, trò chuyện, chỉ dẫn, đọc, kể 2) Nhóm các phương pháp trực quan: Quan sát, sử dụng các đồ dùng trực quan

3) Nhóm các phương pháp thực hành (hay thực tiễn) luyện tập

4) Nhóm các phương pháp dùng trò chơi

Các phương pháp này được sử dụng trong sự phối hợp thống nhất với nhau

Hệ thống phương pháp giáo dục thẩm mỹ được xây dựng trên cơ sở mục đích

và nhiệm vụ của giáo dục thẩm mỹ, do N.A.Vetlugina đề ra một bước phát triển mới, có tác dụng tích cực trong giáo dục thẩm mỹ:

1) Phương pháp kích thích trạng thái cùng xúc cảm, nhạy cảm với cái đẹp và lên án cái xấu trong thế giới xung quanh

2) Phương pháp thuyết phục trong quá trình hình thành cảm thụ thẩm mỹ, hình thành những sở thích đầu tiên

3) Phương pháp luyện tập trong những hành động thực tiễn nhằm làm cho trẻ biến đổi vừa sức mình những phẩm chất mỹ học của xung quanh, hoàn thiện văn hóa – hành vi của mình

4) Phương pháp dùng những hoàn cảnh phải tìm kiếm để kích thích những hành động sáng tạo và thực tiễn

Trang 27

Về phương diện cảm thụ thẩm mỹ, sự khác biệt cá nhân rất lớn và bộc lộ ngay từ lứa tuổi mẫu giáo Bởi vậy phương pháp giáo dục thẩm mỹ phải được xác định tùy theo đặc điểm lứa tuổi và cá nhân của trẻ

Mặt khác quan điểm tổng hợp đòi hỏi phải thiết lập mối quan hệ qua lại giữa các phương pháp và biện pháp giáo dục thẩm mỹ có tính đến những điều kiện sư phạm, các nhân tố của quá trình sư phạm nhằm đem lại một kết quả tối ưu

1.4 Hoạt động tạo hình ở trường mầm non với việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ Mẫu giáo nhỡ

1.4.1 Một số vấn đề về hoạt động tạo hình ở trường mầm non

1.4.1.1 Khái niệm chung về hoạt động tạo hình ở trường mầm non

Trong Từ điển Tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê đã giải thích tạo hình là tạo ra các hình thể bằng đường nét, màu sắc, hình khối

Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm đạt được một mục đích nhất định trong đời sống xã hội

Từ hai khái niệm trên, tác giả Nguyễn Thị Yến Phương trong luận án tiến sĩ của mình đã đưa ra khái niệm “Hoạt động tạo hình” như sau:

Hoạt động tạo hình là một hoạt động nhận thức đặc biệt mang tính sáng tạo, nó phản ánh hiện thực cuộc sống bằng những hình tượng nghệ thuật, trong đó con người không chỉ khám phá và lĩnh hội thế giới mà còn cải tạo nó

theo quy luật của cái đẹp, gửi gắm vào đó tình cảm và tâm hồn người nghệ sĩ

Hoạt động tạo hình là một trong những hoạt động của con người để tạo

ra các sản phẩm có hình thể và có màu sắc đẹp, đem lại khoái cảm thẩm mỹ cho người xem - nhận ra cái đẹp và cảm xúc trước cái đẹp

Trong trường mầm non, hoạt động tạo hình được xếp trong chương trình học tập của trẻ

Trang 28

Nội dung của hoạt động tạo hình trong trường mầm non bao gồm các hoạt động sau:

* Vẽ

- Hoạt động vẽ nói chung: Hoạt động vẽ ( lứa tuổi mầm non) là hoạt

động tạo ra sản phẩm trên mặt phẳng giấy bằng các chất liệu khác nhau Ở hoạt động này, trẻ phải quan sát đối tượng, nhận xét thông qua ước lượng bằng mắt về hình dáng, tỉ lệ,… và diễn tả lại trên nền giấy bằng cảm nhận riêng của mình Vì thế bài vẽ của trẻ chỉ diễn tả được “ hao hao” với mẫu thực Màu sắc của bài thường tươi sáng, có thể là như thực hoặc vẽ màu theo

Trong trường mầm non, chúng ta dạy trẻ thể hiện tranh từ những mảnh giấy màu dán trên nền giấy, được gọi là tranh xé dán, cắt dán

Thể loại xé dán, cắt dán cũng giống như thể loại vẽ

Ở thể loại vẽ, cũng như cắt, xé dán theo ý, mục đích của giờ dạy là: + Kiểm tra khả năng của trẻ, qua đó cô giáo có định hướng cho nhiệm

vụ đào tạo tiếp theo

+ Củng cố kiến thức, kỹ năng đã học

+ Phát triển khả năng sáng tạo, tính độc lập, tự chủ trong công việc

Trang 29

Vì vậy, ở các giờ học theo ý thích, cô giáo phải vận dụng nhiều phương pháp khác nhau để cung cấp biểu tượng ( nội dung cần thể hiện) cho trẻ, càng phong phú càng tốt, giúp trẻ nhớ lại những kỹ năng đã học, giúp trẻ thực hiện những kỹ năng còn mới so với trẻ nhưng cần thiết cho việc thực hiện nội dung trẻ tự chọn.Vì vậy, cô giáo phải có kiến thức về tạo hình, về cuộc sống, phải biết cách gây sự hưng phấn và thích thú ở trẻ đối với giờ học

* Nặn

Đặc thù của hoạt động nặn trong hoạt động tạo hình là thể hiện bằng khối Nặn là một dạng điêu khắc nhưng sử dụng bằng nguyên liệu mềm, dẻo.Có thể dễ dàng tác động bằng tay, vì vậy phù hợp với trẻ mẫu giáo

Tính dẻo mềm của nguyên liệu và tính chất khối của vật thể hiện cho phép trẻ nắm được một số kỹ năng dễ hơn vẽ ( ví dụ trong thể hiện động tác) Sự thể hiện mối quan hệ không gian giữa các vật trong hoạt động nặn cũng rất đơn giản, các vật được đặt cạnh nhau hoặc gần nhau theo ý muốn, viễn cảnh không gian trong hoạt động nặn không được đặt ra

Trong họa động nặn, phương tiện chủ yếu là hình dạng khối

Trang 30

- Bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ để hình thành cho trẻ tình yêu đối với vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống con người và nghệ thuật

- Hình thành ở trẻ những kỹ năng, kỹ xảo tạo hình, năng lực quan sát và ước mơ sáng tạo

* Trò chơi xây dựng

- Trò chơi xây dựng là trò chơi biểu hiện khả năng tạo hình nhiều nhất Chỉ cần những mẩu gỗ hay nhựa với các hình dạng và màu sắc khác nhau trẻ

có thể lắp ráp, xây dựng những công trình kiến trúc đẹp đẽ

- Ngoài gỗ và nhựa ra, vật liệu xây dựng còn bao gồm nhiều thứ khác như bao diêm, hộp giấy, nắp chai,… đặc biệt là những vật liệu từ thiên nhiên như vỏ nghêu, sò, ốc, hến,…Với con mắt của trẻ thơ tất cả các vật liệu ấy trong phút chốc đều có thể biến thành “ công trình xây dựng” lí thú Trong những công trình này sáng kiến của trẻ được bộc lọ rõ nét.Việc hướng dẫn của người lớn sẽ giúp trẻ có thể hình thành ý đồ xây dựng rõ ràng, biết chọn vật liệu phù hợp, đẹp mắt, pha trộn màu sắc hài hoà Tránh áp đặt một cách cứng nhắc các mẫu có sẵn buộc các cháu phải làm theo

1.4.1.2 Nguồn gốc, bản chất của hoạt động tạo hình

Trong các công trình nghiên cứu về bản chất hoạt động tạo hình của trẻ, L.X.Vưgôtxki đã khẳng định rằng , sự lĩnh hội kĩ năng ký hiệu là một hoạt động cơ bản và chung nhất của con người, phân biệt con người với con vật về mặt tâm lý Ông đã nhấn mạnh nguồn gốc xã hội của ký hiệu và vai trò của ký hiệu như một phương tiện giao tiếp, phát triển xã hôị

Các nhà tâm lý học duy vật biện chứng đã khẳng định rằng, hoạt động tạo hình của trẻ em là một hoạt động tổng hợp khá phức tạp Qua hoạt động

đó trẻ bộc lộ một nhân cách đang được hình thành Sự phát triển hoạt động tạo hình chính là một khía cạnh của sự phát triển tâm lý trẻ em Nghĩa là nó cũng diễn ra thông qua sự lĩnh hội của đứa trẻ những phẩm chất, năng lực tâm

Trang 31

lý đặc trưng cho con người mà những phẩmchất, năng lực này đã được đúc kết trong lịch sử phát triển của loài người và được in dấu trong nền văn hoá vật chất và tinh thần của xã hội Như vậy, hoạt động tạo hình của trẻ em là một hoạt động có ngồn gốc xã hội, mang bản chất xã hội rõ rệt

Nếu hiểu theo nghĩa rộng, hoạt động tạo hình của trẻ em được xem như một quá trình lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội

Khi xét ở phạm vi hẹp - trong các hoạt động đa dạng của lứa tuổi mầm non, hoạt động tạo hình được coi là một hoạt động mang tính sáng tạo nghệ thuật Đó là một quá trình phản ánh những ấn tượng từ cuộc sống xã hội, là quá trình thể hiện những suy nghĩ, tình cảm của trẻ đối với thế giới xung quanh bằng các phương tiện, chất liệu nghệ thuật thông qua các hình tượng mang tính nghệ thuật

Xem xét nguồn gốc tạo hình của trẻ em, nhiều nhà nghiên cứu (J.Piaget, G.H.Luquet, L.X.Vưgôtxki,…) đã khẳng định rằng, cội nguồn của sự phát triển hoạt động tạo hình chính là sự bắt chước, là sự hình thành và phát triển chức năng ký hiệu

1.4.2 Đặc điểm hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo nhỡ ở trường mầm non

Hoạt động tạo hình của trẻ nhỏ chưa phải là một hoạt động sáng tạo nghệ thuật thực thụ Quá trình hoạt động và sản phẩm hoạt động tạo hình của trẻ thể hiện các đặc điểm của một nhân cách đang được hình thành Hoạt động tạo hình của trẻ em không nhằm mục đích tạo nên những sản phẩm phục vụ

xã hội, cải tạo thế giới hiện thực xung quanh Mục đích và kết quả to lớn nhất của quá trình hoạt động chính là sự biến đổi, phát triển của chính bản thân chủ thể hoạt động (trẻ em)

Trẻ mẫu giáo nhỡ đã bắt đầu hiểu được chức năng thẩm mỹ của các đường nét, các hình dạng Ở tuổi này, trẻ đã có khả năng phân biệt và học

Trang 32

điều chỉnh đường nét để vẽ nhiều loại hình hình học có quan hệ gần gũi với nhau như hình tròn Ờ hình ovan, hình vuông Ờ hình chữ nhật, các dạng hình tam giác như cây, nhà, ô tô, con vật,Ầ Khả năng này tạo điều kiện cho trẻ dễ dàng mở rộng phạm vi các đối tượng miêu tả tự chọn Tuy nhiên các hình vẽ của trẻ mẫu giáo nhỡ còn mang nặng tắnh lắp ráp và còn gần gũi với các hình hình học cơ bản Trong hoạt động tạo hình, trẻ rất dễ tiếp thu và hình thành các khuôn mẫu sơ đồ Ộ đông cứngỢ

Cùng với cách vẽ Ộmàu không bắt chướcỢ, trẻ mẫu giáo nhỡ đã bắt đầu tập sử dụng Ộmàu bắt chướcỢ Ờ nghĩa là vẽ màu tương ứng với màu của mọi vật trong hiện thực Trong quá trình học vẽ, trẻ bắt đầu nhận biết, phân biệt màu sắc thật của một số đồ vật, hoa quả như một dấu hiệu bắt buộc, như nét đặc thù của mọi vật và vẽ các hình bằng những màu Ộquy định bắt buộcỢ đó

mà không cần quan tâm tới sự biến đổi màu sắc rất sinh động do đặc điểm chiếu sáng, đặc điểm thời gian, không gian trong hiện thực

Trẻ mẫu giáo nhỡ, tri giác không gian và tư duy không gian phát triển giúp trẻ ở độ tuổi này có thể liên hệ giữa không gian ba chiều của khung cảnh hiện thực với không gian hai chiều trên tờ giấy vẽ, trẻ tập sắp xếp các hình ảnh, trong đó đã phân biệt đối tượng miêu tả chắnh trên nền của các thành phần thứ yếu Từ sự thể hiện nhịp điệu của sự lặp đi, lặp lại các yếu tố giống nhau, trẻ bắt đầu quan sát và làm quen với cách sắp xếp theo nhịp xen kẽ giữa các yếu tố khác nhau: từ xen kẽ chắnh xác đều đặn kiểu hoa văn trang trắ tới

sự xen kẽ nhưng không theo trình tự chặt chẽ, gần gũi với hiện thực sinh động

Ngày đăng: 16/04/2018, 15:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w