1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÂN TÍCH CÁC MÔ HÌNH QUẢN LÝ ĐA DẠNG SINH HỌC ÁP DỤNG TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

73 211 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nội dung cơ bản được tập trung nghiên cứu đối với mô hình quản lý của từng quốc gia bao gồm tổng quan về mô hình quản lý đa dạng sinh học quản lý tập trung, quản lý phi tập trung, qu

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG CỤC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC

DỰ ÁN KHẮC PHỤC TRỞ NGẠI NHẰM TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CÁC KHU BẢO TỒN VIỆT NAM (PA)

PHÂN TÍCH CÁC MÔ HÌNH QUẢN LÝ

ĐA DẠNG SINH HỌC ÁP DỤNG TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

Năm 2014

Trang 2

MỤC LỤC

Lời giới thiệu 8

1 Giới thiệu chung 7

2 Phương pháp nghiên cứu 8

3 Các phát hiện chính 12

3.1 Cấu trúc quản lý đa dạng sinh học 12

3.2 Quản lý về lâm nghiệp 17

3.3 Quản lý khu bảo tồn 17

3.4 So sánh quản lý lâm nghiệp và khu bảo tồn 18

3.5 Hợp tác quốc tế 20

3.6 Quản lý động vật hoang dã 21

3.7 Quản lý các nguồn gen 21

3.8 Các nguồn tài chính 22

4 Thảo luận về những phát hiện chính 26

5 Kết luận và kiến nghị 29

6 Tài liệu tham khảo 31

7 Phụ lục 33

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BTĐDSH Bảo tồn đa dạng sinh học

CLQG Chiến lược quốc gia

CBD Công ước Đa dạng sinh học

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

GEF Quỹ Môi trường Toàn cầu

NNPTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Các mô hình quản lý đa dạng sinh học

Bảng 2: Mô hình quản lý đa dạng sinh học trên thế giới

Hình 4: So sánh quản lý đa dạng sinh học, lâm nghiệp và khu

bảo tồn ở cấp Bộ tại các nước

Trang 5

LỜI GIỚI THIỆU

Hệ thống tổ chức quản lý đa dạng sinh học phù hợp là một trong những yếu tố then chốt để quản lý đa dạng sinh học Do vậy, báo cáo này sẽ tập trung phân tích và nghiên cứu các mô hình quản lý đa dạng sinh học của một số nước trên thế giới để hiểu được các cấu trúc và tính hiệu quả của các cấu trúc quản lý khác nhau từ đó đưa ra những

đề xuất áp dụng cho Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung vào 40 quốc gia, bao gồm các quốc gia

có nền kinh tế phát triển và đang phát triển, các khu vực địa lý khác nhau và các mức độ đa dạng sinh học khác nhau trên khắp các châu lục Các nội dung cơ bản được tập trung nghiên cứu đối với mô hình quản lý của từng quốc gia bao gồm tổng quan về mô hình quản lý đa dạng sinh học (quản lý tập trung, quản lý phi tập trung, quản lý phân cấp), cơ cấu tổ chức quản lý ngành lâm nghiệp, các khu bảo tồn, động vật hoang dã, nguồn gen, hợp tác quốc tế về đa dạng sinh học và các chức năng quản lý khác liên quan đến đa dạng sinh học

Một số phát hiện chính trong báo cáo bao gồm: mô hình quản lý đa dạng sinh học phổ biến nhất là phân cấp (chiếm 52,5% mẫu nghiên cứu); hơn một nửa số nước được nghiên cứu trong báo cáo quản lý rừng và bảo tồn đa dạng sinh học trong cùng một Bộ (58%); 90% số nước được nghiên cứu quản lý các khu bảo tồn và đa dạng sinh học trong cùng một Bộ Mô hình tổ chức quản lý động vật hoang dã, nguồn gen và các nguồn tài chính rất khác nhau ở các quốc gia được nghiên cứu

Nghiên cứu này chỉ ra rằng các khu bảo tồn và đa dạng sinh học được quản lý hiệu quả nhất khi được đặt trong cùng một Bộ, do về bản chất chúng có những mối liên kết không thể tách rời Dựa vào những phân tích của nghiên cứu này, báo cáo đề xuất một trong những thay đổi hiệu quả nhất để Việt Nam có thể tăng cường quản lý đa dạng sinh học một cách tổng thể là hợp nhất hệ thống quản lý các khu bảo tồn và

Trang 6

hệ thống quản lý đa dạng sinh học vào cùng một Bộ

Nghiên cứu cũng khuyến nghị nên tìm hiểu, học hỏi các biện pháp thích ứng đã được áp dụng thành công hay các cơ chế tài chính mới được sử dụng tại các quốc gia khác, chẳng hạn như cải cách tài chính môi trường, tạo nguồn lực cho một quỹ ủy thác đa dạng sinh học cụ thể, và các biện pháp để tăng cường sự tham gia vào các hoạt động bảo tồn của khối tư nhân và cộng đồng

Đây là báo cáo độc lập của nhóm nghiên cứu trong khuôn khổ dự

án Khắc phục trở ngại nhằm tăng cường hiệu quả quản lý các khu bảo tồn ở Việt Nam (Dự án PA), không phản ánh quan điểm của Cục Bảo tồn đa dạng sinh học

Trang 7

1 Giới thiệu chung

Hiện nay, trách nhiệm quản lý nhà nước về đa dạng sinh học của Việt Nam nằm trong rất nhiều bộ, ngành Cục Bảo tồn đa dạng sinh học (Cục BTĐDSH) - Tổng cục Môi trường (TCMT) thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TNMT), chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý về đa dạng sinh học ở cấp quốc gia Cơ quan này có trách nhiệm xây dựng chính sách và pháp luật về đa dạng sinh học; quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học; bảo tồn hệ sinh thái, loài và nguồn gen; quan trắc và báo cáo về đa dạng sinh học; và là đầu mối quốc gia của nhiều công ước quốc tế về

đa dạng sinh học1

Một số cơ quan khác cũng có trách nhiệm quản lý nhà nước về đa dạng sinh học chuyên ngành ở cấp quốc gia trực thuộc Bộ Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn (Bộ NNPTNT), như Vụ Bảo tồn thiên nhiên và Cục Kiểm lâm thuộc Tổng cục Lâm nghiệp, Vụ Bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản của Tổng cục Thủy sản

Ở cấp tỉnh, các Sở Tài nguyên và Môi trường (Sở TNMT) và các

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Sở NNPTNT) là các cơ quan chịu trách nhiệm triển khai các chính sách và kế hoạch quốc gia về đa dạng sinh học

Hiện nay, không có một hệ thống quản lý thống nhất cho các khu bảo tồn ở Việt Nam, Bộ NNPTNT quản lý hệ thống rừng đặc dụng, hệ sinh thái biển và vùng nước nội địa, trong khi Bộ TNMT quản lý đất ngập nước Bộ NNPTNT cũng chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp sáu vườn quốc gia, các khu bảo tồn còn lại được quản lý bởi các Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện, Sở NNPTNT hay Chi cục Kiểm lâm

Hệ thống quản lý đa dạng sinh học này có rất nhiều bất cập như các cơ quan quản lý có lực lượng còn mỏng, chưa được đào tạo bài bản về nghiệp vụ chuyên môn; hệ thống văn bản chính sách và pháp luật chưa đồng bộ; chưa huy động được sự tham gia của cộng đồng;

1 Quyết định số: 44/QĐ-TCMT của Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi

trường ban hành ngày 21 tháng 11 năm 2008, quy định chức năng, trách nhiệm, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Bảo tồn đa dạng sinh học

Trang 8

quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học ở cấp tỉnh và quốc gia chưa được thực hiện hiệu quả; và đầu tư cho bảo tồn đa dạng sinh học còn rất hạn chế2

Với nỗ lực giải quyết vấn đề này, báo cáo tập trung vào phân tích các mô hình quản lý nhà nước về đa dạng sinh học được áp dụng ở một số quốc gia trên thế giới nhằm tìm hiểu các cấu trúc quản lý và hiệu quả của các cấu trúc này, từ đó đề xuất giải pháp/mô hình phù hợp cho Việt Nam

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào 40 quốc gia, các quốc gia này được lựa chọn để đại diện cho:

 Các khu vực địa lý trên tất cả các châu lục;

 Các cấp độ đa dạng sinh học, từ các nước có cấp độ đa dạng sinh học rất cao đến những nước có cấp độ đa dạng sinh học thấp, dựa trên Bảng chỉ số tiềm năng đa dạng sinh học của GEF (0 = không có tiềm năng về đa dạng sinh học, và 100 = tiềm năng về đa dạng sinh học cao nhất)3

4

Tình trạng phát triển theo phân loại các nước của Ngân hàng Thế giới, Nhóm các nước và các nước cho vay, Ngân hàng thế giới, 2013, http://data.worldbank.org/about/country-classifications/country-and-lending-groups, xem ngày 6 tháng 8 năm 2013

Trang 9

Số thứ

tự Tên nước Tình trạng phát triển

Chỉ số tiềm năng đa dạng sinh học

9 Cam-pu-chia Đang phát triển/thu nhập thấp 3,48

10 Nê-pan Đang phát triển/thu nhập thấp 2,14

11 Pa-kít-tan Đang phát triển/thu nhập dưới

trung bình

4,88

Châu Đại Dương

12 Sa-moa Đang phát triển/thu nhập dưới

Trang 10

Số thứ

tự Tên nước Tình trạng phát triển

Chỉ số tiềm năng đa dạng sinh học

Trang 11

Số thứ

tự Tên nước Tình trạng phát triển

Chỉ số tiềm năng đa dạng sinh học

Châu Phi

32 Nam Phi Đang phát triển/thu nhập dưới

trung bình

20,74

33 Kê-ni-a Đang phát triển/Thu nhập thấp 8,88

34 Ni-giê-ri-a Đang phát triển/thu nhập dưới

 Quản lý đa dạng sinh học;

 Quản lý rừng;

 Quản lý các khu bảo tồn;

 Đầu mối quốc gia của các công ước quốc tế về đa dạng sinh học;

 Quy hoạch, quan trắc và báo cáo đa dạng sinh học;

 Quản lý động vật hoang dã;

Trang 12

 Quản lý nguồn gen;

 Các nguồn tài chính cho đa dạng sinh học

Những thông tin trên sau đó được phân tích dựa vào tình hình thực hiện của từng nước trong việc đáp ứng mục tiêu của các chiến lược và kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học để xác định tính hiệu quả của hệ thống quản lý của nước đó

3 Các phát hiện chính

3.1 Mô hình quản lý đa dạng sinh học

Mô hình quản lý đa dạng sinh học được phân tích thông qua công tác lập quy hoạch, thực hiện quan trắc, báo cáo, quản lý động vật hoang dã, quản lý nguồn gen và hợp tác quốc tế

Có thể thấy rằng ba loại mô hình quản lý đa dạng sinh học chính thường được áp dụng ở các quốc gia khác nhau trên thế giới đó là quản lý phân cấp, quản lý tập trung và quản lý phi tập trung, được xác định như sau:

 Quản lý phân cấp: là quản lý hành chính phân cấp từ trên xuống dưới, với cơ quan quản lý cấp trên nằm ở cấp liên bang/cấp quốc gia,

cơ quan quản lý bên dưới là cấp bang/tỉnh và địa phương;

 Quản lý tập trung: là một cơ quan đầu mối quốc gia chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ về bảo tồn và quản lý đa dạng sinh học;

 Quản lý phi tập trung: đa dạng sinh học được quản lý bởi nhiều

cơ quan cấp quốc gia, các quyết định được đưa ra bởi các nhóm khác nhau hoặc ở các cấp độ khác nhau

Bảng 1: Các mô hình quản lý đa dạng sinh học

Quản lý

phân cấp

 Quản lý từ trên xuống bằng

một cơ quan ở cấp quốc gia

 Các cơ quan cấp tỉnh, địa

phương bên dưới

Trang 13

Trong số 40 quốc gia được nghiên cứu thì 21 quốc gia (52,5%) áp dụng mô hình quản lý đa dạng sinh học tập trung, 13 quốc gia (32,5%)

áp dụng mô hình quản lý phi tập trung và 6 quốc gia (15%) có mô hình quản lý phân cấp Những phát hiện này được thể hiện trong Bảng 2

Bảng 2: Mô hình quản lý đa dạng sinh học trên thế giới

Trang 14

Phân cấp Phi tập trung Tập trung

Bra-xin Ê-cu-a-đo Cô-lôm-bi-a Ni-giê-ri-a

Ai Cập Ma-đa-gát-xơ-ca Cộng hoà dân chủ Công gô

Ga-na a) Mô hình quản lý phân cấp

Mô hình quản lý phân cấp được áp dụng ở các nước có đa dạng sinh học rất cao Các quốc gia khác như Ca-na-đa, Ma-lai-xi-a và Pa-kít-tan

có đặc điểm riêng biệt theo từng bang/tỉnh cũng áp dụng phương pháp quản lý này Đây là mô hình quản lý phức tạp và không được áp dụng phổ biến

Ở các nước này, phân cấp việc quản lý, xây dựng quy hoạch tổng thể, chính sách, hợp tác quốc tế và báo cáo đa dạng sinh học thuộc trách nhiệm của cấp liên bang/quốc gia Cấp bang và địa phương quản

lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch bảo tồn và quan trắc trong khuôn khổ của từng bang/địa phương này, và báo cáo cho cấp liên bang/quốc gia

Ưu điểm chính của mô hình quản lý phân cấp là nó cho phép mỗi tiểu bang/tỉnh có thể quản lý đa dạng sinh học theo đặc điểm riêng của mình về địa lý, văn hóa và sinh thái đồng thời vẫn bám sát những kế hoạch và mục tiêu chung của quốc gia Mê-hi-cô là quốc gia rất thành công trong việc áp dụng mô hình quản lý này

Tuy nhiên, nhược điểm chính của mô hình trên là sự quan liêu của

bộ máy quản lý, có nghĩa là việc ra quyết định và thông tin liên lạc

Trang 15

thường bị chậm Do đó, việc đối phó với khủng hoảng hoặc thay đổi ở các nước này cũng có thể bị chậm hoặc gián đoạn Điều này cũng đồng nghĩa rằng một bang hoặc tỉnh có thể hoạt động vì lợi ích riêng của họ chứ không phải vì lợi ích chung của quốc gia hay đa đạng sinh học b) Mô hình quản lý tập trung

21 quốc gia áp dụng mô hình quản lý tập trung có cơ quan quản lý chuyên trách nằm trong Bộ Môi trường chịu trách nhiệm quản lý tất cả các hoạt động liên quan tới bảo tồn đa dạng sinh học, từ việc quy hoạch cho tới quan trắc và báo cáo, quản lý động vật hoang dã, nguồn gen và hợp tác quốc tế

Trong cấu trúc quản lý này, vai trò và trách nhiệm được quy định rất rõ ràng, cơ quan chịu trách nhiệm ban hành văn bản pháp luật về đa dạng sinh học cũng được giao nhiệm vụ trực tiếp xây dựng và thực hiện Chiến lược và Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học Đây là mô hình tập trung tất cả các quyền hạn và việc ra quyết định, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách chung, việc kiểm soát và điều phối các hoạt động đa dạng sinh học cũng dễ dàng hơn Nhược điểm chính của mô hình này là cơ quan trung ương có thể bị thiếu những thông tin thực tế về hiện trạng đa dạng sinh học và các vấn đề xảy ra ở địa phương Ở các nước lớn, mô hình tập trung này cũng gây ra sự quan liêu và vận hành chậm chạp

Có thể thấy rằng, mô hình quản lý tập trung phù hợp nhất đối với các nước nhỏ và đa dạng sinh học thấp hơn như Sinh-ga-po và Gha-

na Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các quốc gia siêu đa dạng sinh học như Trung Quốc hay Brazil cũng áp dụng mô hình quản lý này Brazil kết hợp các yếu tố tập trung và phi tập trung trong mô hình quản lý Các lĩnh vực đa dạng sinh học, lâm nghiệp và các khu bảo tồn được quản

lý tập trung bởi Ban Thư ký đa dạng sinh học và lâm nghiệp, thuộc Bộ Môi trường; trong khi ba ủy ban được phân cấp quản lý đa dạng sinh học, lâm nghiệp và khu bảo tồn có trách nhiệm thực hiện các kế hoạch và chính sách có liên quan

Trang 16

c) Mô hình quản lý phi tập trung

Có 13 trong số 40 quốc gia áp dụng mô hình quản lý phân quyền được nghiên cứu Ưu điểm của mô hình quản lý phi tập trung là việc ra quyết định sẽ mang lại hiệu quả cao hơn và cho phép ứng phó/đáp ứng tốt hơn với điều kiện của địa phương, do đó mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng địa phương Ngược lại, nhược điểm của mô hình này là khó khăn trong việc nhất quán các chính sách và thẩm quyền giữa các cơ quan liên quan không rõ ràng, có sự chồng chéo, trùng lặp về quyền hạn, chức năng giữa các đơn vị

Đức và một số quốc gia có mô hình quản lý đa dạng sinh học khá phức tạp: một số cơ quan cùng chịu trách nhiệm về một khía cạnh của quản lý đa dạng sinh học, bao gồm cả quy hoạch, quan trắc và các công ước quốc tế

Pêru có mô hình quản lý phi tập trung khá thú vị: Peru đặt mục tiêu phục hồi toàn bộ các thành phần đa dạng sinh học và trở thành quốc gia bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học tốt nhất vì nhân dân vào năm 2021 Để hướng tới mục tiêu này, Peru đã cải cách mô hình quản lý đa dạng sinh học vào năm 2009, trong đó hai đơn vị khác nhau thuộc Bộ Môi trường chịu trách nhiệm quản lý đa dạng sinh học và các khu bảo tồn

3.2 Quản lý về lâm nghiệp

Trong số 40 quốc gia được nghiên cứu, có 23 nước quản lý lâm nghiệp và đa dạng sinh học được đặt trong cùng Bộ Môi trường, chiếm hơn một nửa số mẫu nghiên cứu Hơn nữa, có 7 trong số 23 quốc gia này, quản lý lâm nghiệp và đa dạng sinh học trong cùng một cơ quan/đơn vị của Bộ Môi trường Xem kết quả ở Hình 1

Qatar và Sinh-ga-po là một ngoại lệ trong phần này vì 2 quốc gia này không có tài nguyên rừng vì vậy không có cơ quan quản lý rừng

Trang 17

Hình 1: So sánh quản lý rừng và đa dạng sinh học

68% Quản lý cùng đơn vi/cơ quan

Quản lý khác đơn vị cơ quan

3.3 Quản lý khu bảo tồn

Ở phần lớn các nước trong nghiên cứu này (92,5%), quản lý đa

dạng sinh học và các khu bảo tồn trong cùng một Bộ Ngoại trừ

Canada, In-đô-nê-xi-a, Kê-ny-a và Qatar là các nước quản lý hai mảng

này ở các Bộ khác nhau

Đến tháng 10 năm 2014, In-đô-nê-xi-a cũng đã cải cách mô hình

quản lý của mình bằng cách sáp nhập Bộ Môi trường và Bộ Lâm nghiệp

Trang 18

thành Bộ Môi trường và Lâm nghiệp, theo đó, đa dạng sinh học và khu

bảo tồn được quản lý chung bởi một Bộ

Trong số 37 quốc gia có quản lý đa dạng sinh học và khu bảo tồn

trong cùng một Bộ thì 18 nước (chiếm 49% của nhóm nước này và

chiếm 45% tổng số mẫu nghiên cứu) có một cơ quan/đơn vị trong Bộ

quản lý cả đa dạng sinh học và khu bảo tồn Xem Hình 2 dưới đây

Hình 2: So sánh quản lý đa dạng sinh học và khu bảo tồn ở

cấp Bộ tại các nước

90%

8%

Quản lý cùng một Bộ Quản lý khác Bộ

3.4 So sánh quản lý lâm nghiệp và khu bảo tồn

Khi so sánh lĩnh vực quản lý lâm nghiệp và khu bảo tồn, có 24

nước (chiếm 63%) có hai mảng này được quản lý trong cùng một Bộ;

trong số đó có 17 nước được quản lý bởi Bộ Môi trường, 4 nước được

quản lý bởi Bộ Lâm nghiệp, 1 nước được quản lý bởi Bộ Nông nghiệp,

1 nước được quản lý bởi Bộ Biến đổi khí hậu và 1 nước được quản lý

bởi Bộ Đất và Tài nguyên Thiên nhiên Ngoài ra, trong số 24 nước này,

Trang 19

thì có 6 nước quản lý lâm nghiệp và khu bảo tồn trong cùng một đơn vị trực thuộc Bộ

Qatar và Sinh-ga-po không được tính vào so sánh này vì quốc gia này không có cơ quan quản lý rừng

Hình 3: So sánh quản lý rừng và khu bảo tồn

ở cấp bộ tại các nước

Ngoài ra, so sánh này còn cho thấy ở 22 quốc gia trong các mẫu nghiên cứu này (chiếm 55%) Bộ Môi trường được giao quản lý cả ba mảng đa dạng sinh học, lâm nghiệp và khu bảo tồn

Hơn nữa, có 4 quốc gia (Đan Mạch, Bra-xin, Ai Cập, Gha-na) việc quản lý cả ba mảng này được giao cho cùng một cơ quan/đơn vị của một Bộ, trong khi 06 nước khác lại có ba cơ quan chuyên trách quản lý riêng từng lĩnh vực này trong một Bộ Xem Hình 4

63%

37%

Quản lý cùng một … Quản lý khác Bộ

Trang 20

Hình 4: So sánh quản lý đa dạng sinh học, lâm nghiệp

và khu bảo tồn ở cấp Bộ tại các nước

ĐDSH &

Lâm nghiệp

&KBT

Khác Bộ

Cùng Bộ và cơ quan/đơn vị Cùng Bộ

3.5 Hợp tác quốc tế

Tại 30 quốc gia đã nghiên cứu (chiếm 75%), Bộ chịu trách nhiệm là

đầu mối quốc gia về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ĐDSH chính là Bộ

được giao quản lý đa dạng sinh học 23 nước trong số này có cơ quan

đầu mối quốc gia về hợp tác quốc tế ĐDSH chính là cơ quan chịu trách

nhiệm quản lý đa dạng sinh học thuộc Bộ đó

Tại 10 quốc gia còn lại, đầu mối quốc gia về hợp tác quốc tế trong

lĩnh vực ĐDSH thường được giao cho Bộ chịu trách nhiệm quản lý về

công tác ngoại giao hay quan hệ quốc tế Tuy nhiên, ở 8 trong số 10

quốc gia này, có cơ quan quản lý trực tiếp về đa dạng sinh học giữ

nhiệm vụ như đầu mối thứ hai, việc này cho thấy rằng các cơ quan

quản lý đa dạng sinh học vẫn tham gia trực tiếp và có trách nhiệm về

Trang 21

 10 quốc gia (chiếm 25%) có cơ quan chịu trách nhiệm quản lý cả

đa dạng sinh học và khu bảo tồn cũng đồng thời chịu trách nhiệm về quản lý động vật hoang dã

 6 quốc gia (chiếm 15%) có cơ quan chuyên trách về quản lý động vật hoang dã nằm trong Bộ Môi trường, tách biệt với quản lý đa dạng sinh học, lâm nghiệp và khu bảo tồn Năm trong số sáu nước này có giá trị đa dạng sinh học rất cao (Bra-xin, Mê-hi-cô, Úc, Ấn Độ

và Phi-líp-pin), Nhật Bản là một ngoại lệ trong trường hợp này

 Ở In-đô-nê-xia và Sinh-ga-po, trách nhiệm quản lý động vật hoang dã được chia sẻ giữa hai cơ quan/đơn vị Tại In-đô-nê-xi-a, một đơn vị chịu trách nhiệm về đa dạng sinh học và một đơn vị chịu trách nhiệm về các khu bảo tồn trên cạn cùng chia sẻ trách nhiệm quản lý động vật hoang dã Còn tại Sinh-ga-po, lĩnh vực này được chia sẻ quản

lý bởi cơ quan quản lý khu bảo tồn và cơ quan nông nghiệp và thú y

 Ở Ni-giê-ri-a và Peru, cơ quan quản lý rừng đồng thời chịu trách nhiệm về quản lý động vật hoang dã

3.7 Quản lý các nguồn gen

Có sự khác biệt rất lớn trong việc quản lý các nguồn gen:

 Ở 8 quốc gia (chiếm 20%), cơ quan quản lý đa dạng sinh học đồng thời là cơ quan quản lý các nguồn gen

 Ở 10 quốc gia khác (chiếm 25%), nguồn gen không được quản lý tập trung bởi một cơ quan hoặc tổ chức ở cấp trung ương mà được quản lý bởi các cơ quan/đơn vị tương ứng khác nhau Ví dụ, cơ quan

Trang 22

chịu trách nhiệm quản lý rừng sẽ quản lý các nguồn gen về rừng; cơ quan chịu trách nhiệm về động vật hoang dã sẽ quản lý các nguồn gen

về động vật hoang dã; cơ quan quản lý nông nghiệp sẽ quản lý các nguồn gen về cây trồng, v.v Trường hợp đáng chú ý là Trung tâm cây

và giống cây trồng Thái Bình Dương (CePaCT) - ngân hàng tế bào gốc,

là nơi bảo tồn nguồn gen thực vật nông nghiệp của khu vực Nam Thái Bình Dương Lợi ích chính của sự hợp tác khu vực này là việc quản lý tập trung nhằm sử dụng tốt hơn các nguồn tài nguyên khan hiếm

 9 quốc gia (chiếm 22,5%) có cơ quan/đơn vị chuyên trách về quản lý nguồn gen Những đơn vị này phần lớn nằm trong các cơ quan chịu trách nhiệm về quản lý đa dạng sinh học Cũng giống như CePaCT, ngân hàng gen Bắc Âu là một cơ sở đa quốc gia chịu trách nhiệm quản lý nguồn gen của Đan Mạch, Phần Lan, Ai-xơ-len, Na Uy, Thuỵ Điển, các đảo Greenland, Faroe và Aland Ttuy nhiên, Ngân hàng gen Bắc Âu lại quản lý tập trung tất cả các nguồn gen của các quốc gia thành viên Cơ quan này được quản lý bởi Hội đồng Bộ trưởng các nước Bắc Âu, một cơ quan liên chính phủ có đại diện cấp Bộ trưởng của từng quốc gia/vùng lãnh thổ

 Tại 4 quốc gia (chiếm 10%), Bộ Nông nghiệp chịu trách nhiệm quản lý nguồn gen

 Ở 2 quốc gia (chiếm 5%), quản lý nguồn gen là trách nhiệm của

cơ quan quản lý các khu bảo tồn

 Trong 5 quốc gia (chiếm 12,5%) nguồn gen được quản lý bởi một cơ quan chịu trách nhiệm về quản lý cả về đa dạng sinh học và khu bảo tồn

 Tại Nam Phi, nguồn gen được quản lý bởi một cơ quan quản lý các chương trình chung về môi trường trực thuộc Bộ Môi trường, cơ quan này tách biệt với các cơ quan/đơn vị quản lý về đa dạng sinh học, lâm nghiệp và khu bảo tồn

 Tại Ma-lai-xi-a, cơ quan quản lý nguồn gen cũng đồng thời chịu trách nhiệm quản lý cả 2 lĩnh vực đa dạng sinh học và lâm nghiệp

3.8 Các nguồn tài chính

Nghiên cứu này chỉ ra rằng có rất nhiều nguồn tài chính và cơ chế tài chính hỗ trợ cho quản lý đa dạng sinh học Tuy nhiên, nhìn chung đa dạng sinh học vẫn chưa được đầu tư đầy đủ

Nhiều nước phát triển như Hoa Kỳ, Ca-na-đa Úc, Niu Di-lân, Đan

Trang 23

Mạch, Nhật Bản và Đức không chỉ cung cấp kinh phí cho các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học trong nước mà còn tài trợ cho các hoạt động bảo tồn của các nước khác thông qua các khoản viện trợ song phương

và đa phương Đặc biệt, Nhật Bản và Đức nhận thấy tác động của việc

họ tiêu thụ sản phẩm đa dạng sinh học của các nước khác và coi đây là vấn đề cần giải quyết, nằm trong kế hoạch và chính sách của họ a) Các cơ chế tài chính được áp dụng ở các nước trong nhóm mẫu nghiên cứu:

 Các quỹ uỷ thác về bảo tồn/đa dạng sinh học: phần lớn các quốc gia đã thiết lập một hoặc vài quỹ ủy thác Các quỹ này hoạt động theo phương thức vừa vận động tài trợ vừa tài trợ (dưới dạng các dự án) để

hỗ trợ các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học Tại các nước đang phát triển, quỹ ủy thác chủ yếu là đồng tài trợ của chính phủ và các nhà tài trợ song phương hoặc đa phương quốc tế Ở các nước phát triển, quỹ

ủy thác có xu hướng được tài trợ bởi kết hợp của các cơ quan chính phủ, tư nhân và các cơ quan từ thiện Công ước Đa dạng sinh học nhấn mạnh rằng các quỹ ủy thác hiệu quả nhất là các quỹ chỉ tập trung vào đa dạng sinh học với các nguồn doanh thu ổn định từ trong và ngoài nước, chứ không phải là quỹ môi trường nói chung;

 Thuế và phí khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, ví dụ như thủy điện hay nhiệt điện, khai thác lâm nghiệp, du lịch, khai thác khoáng sản, thủy sản… được phân bổ trở lại vào các hoạt động bảo tồn

đa dạng sinh học Các khoản tiền phạt đối với các hành động vi phạm pháp luật, làm nguy hại đến đa dạng sinh học và môi trường được phân

bổ trực tiếp cho các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học;

 Giảm thiểu các loại thuế và trách nhiệm cho các hoạt động nghiên cứu khoa học về đa dạng sinh học;

 Phí dịch vụ môi trường/chi trả dịch vụ hệ sinh thái: đưa ra những

ưu đãi cho nông dân và các chủ đất nhằm khuyến khích quản lý đất đai của họ theo hướng cung cấp một số loại dịch vụ sinh thái mà có thể vượt ra khỏi nghĩa vụ pháp lý của họ Ví dụ, các dịch vụ hệ sinh thái bao gồm các hoạt động giảm thiểu biến đổi khí hậu, các dịch vụ lưu vực sông, bảo tồn đa dạng sinh học, điều tiết chất lượng không khí, điều tiết xói mòn, làm sạch nguồn nước, xử lý chất thải, v.v…;

 Đáo nợ bằng đầu tư cho các hoạt động bảo tồn Nợ quốc tế của nhiều quốc gia đang phát triển có thể được miễn trừ nếu quốc gia đó

Trang 24

đầu tư vào các giải pháp để bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học

Ví dụ, tháng 7/2013, Mỹ đã đồng ý miễn trừ khoản nợ 31,8 triệu đô-la

Mỹ cho Phi-líp-pin với điều kiện khoản kinh phí này phải được dùng để tạo dựng Quỹ bảo tồn nhiệt đới thứ hai;

 Tài trợ quốc tế - viện trợ song phương và đa phương Nhiều quốc gia đang phát triển phụ thuộc nặng nề vào các khoản tài trợ quốc tế cho hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học;

 Khuyến khích đầu tư từ khu vực tư nhân như các khoản vay lãi suất thấp dành cho các dự án về đa dạng sinh học hoặc giảm lãi suất cho các công ty có các hoạt động bảo vệ môi trường tốt;

 Không khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư vào các hoạt động

mà sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới bảo tồn đa dạng sinh học bằng việc quy định mức thuế cao cho các hoạt động này;

 Một phần của thuế sử dụng đất có thể được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học;

 Hệ thống tín chỉ hấp thụ các-bon/hệ thống bồi hoàn đa dạng sinh học Tại Úc, hệ thống bồi hoàn đa dạng sinh học khá phát triển Ví dụ như sáng kiến Các-bon Farming Initiative (CFI) đã tạo ra các cơ hội để kiếm được “các khoản tín dụng các-bon” thông qua việc tham gia các

dự án hấp thụ và dự trữ các-bon như trồng rừng, tái phủ xanh, phục hồi

hệ sinh thái đồng cỏ, bảo vệ rừng bản địa có nguy cơ bị phá hủy và các hoạt động để tránh phát thải khí các-bon, chẳng hạn như cải thiện quản

lý đất đai, các hoạt động xử lý chất thải và nông nghiệp;

 Phân bổ các nguồn ngân sách hiện có cho các Bộ liên quan như

Bộ Môi trường, Nông nghiệp, Tài nguyên thiên nhiên, v.v…

b) Một số ví dụ về cơ chế tài chính tại một số quốc gia cụ thể:

 Tại I-ran, giá đất và lãi suất cho vay thấp được ưu đãi cho các chủ đất muốn trồng các loài cây đa mục đích;

 Tại Gha-na, Quỹ Đầu tư cộng đồng cung cấp các khoản vay lãi suất thấp để khuyến khích các hoạt động sinh kế thay thế cho các sinh

kế về lâm nghiệp;

 U-ru-guay thành lập quỹ học bổng quốc gia thúc đẩy và tạo ra nguồn lực và năng lực trong các ngành liên quan đến đa dạng sinh học;

Trang 25

 Tại Qatar, một phần phí thu được từ việc cấp giấy phép săn bắn

và đánh bắt cá được dùng tài trợ cho các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học;

 Tại Malaysia, một ví dụ về một sáng kiến tư nhân là chương trình

tự nguyện đền bù của hãng hàng không Malaysia Airlines Hành khách

có thể tự nguyện đóng góp để bù đắp lượng khí thải các-bon của các chuyến bay của họ, sau đó số tiền được chuyển vào một quỹ ủy thác cho các dự án bảo vệ rừng nhiệt đới được quản lý bởi Viện nghiên cứu lâm nghiệp, một cơ quan đại diện của Bộ Tài nguyên và Môi trường c) Một số ví dụ về ngân sách và chi phí cho đa dạng sinh học

 Chính phủ Niu Di-lân chi 55 triệu đô la Niu Di-lân mỗi năm trong giai đoạn 5 năm vừa qua;

 Chính phủ Úc đã lập một Quỹ Đa dạng sinh học, quỹ này sẽ đầu

tư 964 triệu đô la Úc cho các dự án về đa dạng sinh học trong giai đoạn

 Co-lom-bi-a đã dành 0,42% GDP cho hoạt động bảo vệ môi trường năm 2007

 Thái Lan ước tính chi phí cho các hoạt động nằm trong Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học là 280 triệu đô la Mỹ;

 Tây Ban Nha ước tính chi phí triển khai Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh là 750 triệu Euro;

 Ấn Độ đã chi hơn 268 triệu đô la Mỹ cho 14 dự án đa dạng sinh học trong hơn 20 năm (do GEF tài trợ cộng đồng và vốn đối ứng từ Chính phủ Ấn Độ);

 Cộng hòa Dân chủ Công-gô đã lập kế hoạch cho 18 dự án bảo tồn đa dạng sinh học trị giá 19 triệu USD

Trang 26

 Quần đảo Solomon đã đề xuất 13 dự án đa dạng sinh học trị giá khoảng 1 triệu USD

 Hai cơ quan chịu trách nhiệm về quản lý đa dạng sinh học của Hoa Kỳ là Cơ quan quản lý cá và động vật hoang dã Hoa Kỳ và Cục Địa chất Hoa Kỳ đã yêu cầu ngân sách cho năm 2013 lần lượt là 2,3 tỉ đô la

Mỹ và 1,1 tỉ đô la Mỹ

4 Thảo luận về những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra rằng trong khi tồn tại ba mô hình quản lý chính

về đa dạng sinh học (quản lý phân cấp, quản lý tập trung, quản lý phi tập trung) thì nhìn chung, trong cấu trúc quản lý không nhất thiết phải phân chia rõ ràng vai trò quản lý đa dạng sinh học như thế nào và khi

đó trách nhiệm sẽ được chia cho các Bộ, các cơ quan hoặc cả hệ thống quản lý

a) Quản lý các khu bảo tồn

Ở Việt Nam hiện nay, Bộ NNPTNT quản lý lâm nghiệp và phần lớn các khu bảo tồn trong khi đa dạng sinh học lại do Bộ TNMT quản lý So sánh loại hình này trong số 40 nước được nghiên cứu thì 42,5% các nước quản lý đa dạng sinh học và tài nguyên rừng trong hai Bộ khác nhau, tuy nhiên chỉ có 10% quản lý đa dạng sinh học và khu bảo tồn ở các Bộ khác nhau

Một điểm thú vị rất đáng lưu ý là trong 3 quốc gia áp dụng mô hình quản lý tách biệt đa dạng sinh học với khu bảo tồn: Qatar là một trường hợp duy nhất và khác biệt vì mức độ đa dạng sinh học rất hạn chế, không

có nguồn tài nguyên rừng Ca-na-đa thì có một hệ thống quản lý phân cấp đối với các khu bảo tồn và không có cơ quan quản lý đa dạng sinh học rõ ràng Ke-ny-a phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn lực để quản lý

đa dạng sinh học bao gồm thiếu tài chính, nhân sự, khoa học kỹ thuật

và công nghệ

Quản lý hiệu quả các khu bảo tồn là vấn đề then chốt để bảo tồn

đa dạng sinh học Qua nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia nói trên cho thấy đã có bằng chứng xác đáng để đề xuất Việt Nam nên quản lý khu bảo tồn và đa dạng sinh học trong cùng một Bộ thì sẽ hiệu quả hơn Đề xuất này được ủng hộ bởi thực tế là 92,5% các nước được nghiên cứu đều áp dụng cấu trúc quản lý này

b) Cấu trúc tổng thể

Trang 27

Thực tế cho thấy rằng, các nước quản lý tất cả các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong cùng một Bộ, hoặc thậm chí còn trong cùng một cơ quan/đơn vị trong Bộ thì thường có phương thức bảo tồn

đa dạng sinh học thành công và hiệu quả hơn

Ví dụ, các nước Mỹ La tinh và vùng Caribe luôn nổi tiếng đi đầu trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu đồng thời cũng có mức

độ đa dạng sinh học cao nhất để bảo tồn5 Nghiên cứu các mô hình quản

lý được áp dụng ở Mê-hi-cô, Cốt-ta Ri-ca, Bra-xin và E-cua-do cho thấy rằng tất cả những nước này đều quản lý đa dạng sinh học, lâm nghiệp và khu bảo tồn trong cùng một Bộ Bra-xin thậm chí còn quản lý cả ba lĩnh vực này tại cùng một cơ quan/đơn vị trong Bộ đó Trong khi đó, Mê-hi-cô lại có các Ủy ban quốc gia chuyên trách quản lý từng ngành với một hệ thống ngành dọc ở cấp địa phương và bang bên dưới

Ngoài ra, thành công của năm quốc gia trong việc quản lý tốt nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong khi chỉ được xếp hạng là các nước có nền kinh tế đang phát triển cho thấy rằng dù nguồn lực tài chính là quan trọng, nhưng chỉ tài chính thôi vẫn không đủ Quản lý khu bảo tồn hiệu quả và huy động các hành động của công chúng cùng chung tay bảo tồn đa dạng sinh học là rất cần thiết6

Một số bài học mà Việt Nam có thể học hỏi từ các nước Mỹ Latinh

là áp dụng một loạt các phương thức tài trợ và các công cụ sáng tạo phù hợp với điều kiện địa phương; sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ trong việc định hướng các chương trình và chính sách về đa dạng sinh học; khơi gợi nguồn cảm hứng và huy động hành động của cộng đồng bằng cách đưa ra các mục tiêu và chỉ tiêu rõ ràng, thực tế và đem lại các kết quả minh bạch và dễ dàng giám sát7

c) Quản lý nguồn tài chính

Nhiều nguồn tài chính khác nhau được sử dụng tại các quốc gia

đã được nghiên cứu, Công ước về Đa dạng sinh học nhấn mạnh rằng

Trang 28

các nguồn ngân sách chính đối với đa dạng sinh học trên toàn thế giới

là từ các Bộ ngành, các quỹ ủy thác và các chương trình tài trợ Đối với các quỹ ủy thác, Công ước đa dạng sinh học cho rằng các quỹ ủy thác đa dạng sinh học hiệu quả hơn trong việc phân bổ các nguồn lực tài chính cho các nhu cầu đa dạng sinh học so với các quỹ môi trường nói chung - khi mà lĩnh vực đa dạng sinh học là một trong những ưu tiên về môi trường nhằm cạnh tranh sự tài trợ

Cũng theo Công ước đa dạng sinh học, một số cơ chế tài chính mới hiện đang được áp dụng tại nhiều quốc gia, đặc biệt là: chi trả dịch

vụ hệ sinh thái; chương trình đảo nợ; cải cách tài chính môi trường để giới thiệu các sáng kiến về thuế và các hoạt động khuyến khích/không khuyến khích “thân thiện” với lĩnh vực đa dạng sinh học; hỗ trợ thị trường cho các sản phẩm xanh/sản phẩm mang tính bền vững; và quan

hệ đối tác kinh doanh đa dạng sinh học

Ngân hàng Thế giới cũng thấy rằng cách tiếp cận tốt nhất để quản

lý tài chính hiệu quả là đa dạng hóa các nguồn tài trợ và các công cụ thích ứng phù hợp với hoàn cảnh địa phương

Dựa trên những thông tin trên và thực tế là một trong những trở ngại lớn nhất của Việt Nam để bảo tồn đa dạng sinh học là việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tình hình ở Việt Nam

có thể được cải thiện tốt bởi một loạt các cải cách tài chính như việc tăng thuế và lệ phí trên tất cả các hình thức khai thác tài nguyên thiên nhiên, tăng mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm liên quan đến môi trường và đa dạng sinh học Số tiền thu được có thể được chuyển trực tiếp vào một quỹ ủy thác về đa dạng sinh học Việt Nam cũng có thể đưa ra một loạt các hoạt động khuyến khích/không khuyến khích về tài chính đối với khối tư nhân, chẳng hạn như cấp các khoản vay lãi suất thấp cho doanh nghiệp tham gia vào các dự án đa dạng sinh học, giảm lãi suất cho các doanh nghiệp thực hiện xuất sắc công tác bảo vệ môi trường, hoặc đánh thuế cao đối với hoạt động ảnh hưởng đến môi trường Đẩy mạnh quan hệ đối tác kinh doanh đa dạng sinh học có thể cung cấp các nguồn lực từ khối tư nhân để đạt được mục tiêu bảo tồn

đa dạng sinh học, đồng thời gắn kết cộng đồng với các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học Ví dụ, có thể tư nhân hóa việc quản lý động Thiên đường tại Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng,

Trang 29

Ngoài ra còn có hai sáng kiến đáng chú ý tại I-ran và Ga-na có thể được phù hợp với tình hình của Việt Nam: các khoản vay lãi suất thấp, đất giá rẻ cho chủ sở hữu đất tại I-ran muốn trồng nhiều loại cây; và các khoản vay lãi suất thấp để khuyến khích thay thế sinh kế từ lâm nghiệp

ở Ga-na

Thách thức đối với Việt Nam trong việc cải cách cơ chế tài chính là tạo ra được sự cân bằng giữa các mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học với nhu cầu thu hút đầu tư nước ngoài

d) Các khía cạnh khác trong công tác quản lý đa dạng sinh học Xét về các khía cạnh khác của quản lý đa dạng sinh học, Việt Nam khá thuận lợi so các với các nước đã nghiên cứu Cơ quan chịu trách nhiệm quản lý đa dạng sinh học cũng chịu trách nhiệm quản lý về các nguồn gen; trong khi động vật hoang dã (phần lớn) được quản lý bởi chính cơ quan/đơn vị quản lý các khu bảo tồn Cấu trúc hệ thống quản

lý động vật hoang dã của Việt Nam giống với 17.5% các nước được nghiên cứu, mặc dù phần lớn các nước thuộc nghiên cứu này quản lý động vật hoang dã và đa dạng sinh học cùng với nhau (32,5%)

Vấn đề quản lý nguồn gen được nghiên cứu liên quan đến vấn đề tiếp cận hợp tác mang tính khu vực tại khu vực Nam Thái Bình Dương

và Bắc Âu Cả hai khu vực này đều thiết lập các cơ sở quản lý và chia

sẻ nguồn gen với sự nỗ lực của các quốc gia thành viên Đặc biệt, đối với trường hợp Nam Thái Bình Dương, tiết kiệm được nguồn tài chính khan hiếm và các nguồn lực khác Việt Nam đã xây dựng một số sáng kiến bảo tồn xuyên biên giới với Lào và Campuchia, nhưng để việc hợp tác này có hiệu quả hơn thì cần mở rộng kết hợp các lĩnh vực khác của việc bảo tồn đa dạng sinh học như bảo tồn nguồn gen, áp dụng mô hình tại 2 khu vực Nam Thái Bình Dương và Bắc Âu

5 Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu này chỉ ra rằng đa phần các nước trên thế giới áp dụng mô hình trong đó các khu bảo tồn và đa dạng sinh học được đặt trong sự quản lý của cùng một Bộ, do về bản chất chúng có những mối liên kết không thể tách rời Dựa vào những phân tích của nghiên cứu này, báo cáo đề xuất một trong những thay đổi hiệu quả nhất để Việt Nam có thể tăng cường quản lý đa dạng sinh học một cách tổng thể là hợp nhất hệ thống quản lý các khu bảo tồn và hệ thống quản lý đa dạng

Trang 30

sinh học vào cùng một Bộ

Đối với nội dung cụ thể, báo cáo có kiến nghị như sau:

a) Quản lý các Khu bảo tồn và đa dạng sinh học

Thiết lập một hệ thống quản lý khu bảo tồn thống nhất trực thuộc cùng một Bộ là một việc cần thiết Theo đó, các trách nhiệm quản lý về

đa dạng sinh học cũng cần xem xét được hợp nhất như vậy sẽ giúp tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực quản lý bảo tồn Việc này còn giúp củng cố hệ thống quản lý đa dạng sinh học của Việt Nam và khiến

nó phù hợp với xu thế của các nước khác cũng như phù hợp với những điển hình quốc tế hiện nay

b) Cấu trúc tổng thể

Cũng có thể lập luận rằng một hệ thống quản lý tập trung đa dạng sinh học, các khu bảo tồn và lâm nghiệp tại một Bộ có thể tạo ra một cách tiếp cận chiến lược hơn để cân bằng giữa bảo tồn và sử dụng bền vững các tài nguyên sinh học Các đơn vị trực thuộc ở cấp tỉnh và địa phương chịu trách nhiệm thực hiện, quan trắc và báo cáo (theo mô hình của Mê-hi-cô, Bra-xin) Điều này cho phép quản lý hiệu quả hơn các loại địa hình, văn hóa và hệ sinh thái rất đa dạng của Việt Nam Đề xuất này cũng được ủng hộ thông qua phân tích các cấu trúc quản lý tập trung được áp dụng bởi các nước Mỹ La tinh trong nghiên cứu này, những quốc gia được công nhận là đi đầu trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học Do đó, Việt Nam nên cân nhắc áp dụng cấu trúc này c) Các nguồn tài chính

Nhằm tăng các nguồn tài chính cho bảo tồn đa dạng sinh học, Việt Nam cần nghiên cứu khả năng áp dụng các sáng kiến đã được áp dụng thành công tại các quốc gia khác Các cơ chế thích hợp nhất cần chú ý xem xét bao gồm việc tăng thuế và lệ phí đối với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên và tăng mức phạt đối với các hành vi vi phạm/làm nguy hại tới môi trường, và chuyển số tiền đó vào một quỹ ủy thác đa dạng sinh học cụ thể

Để tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học, Việt Nam cần xem xét đẩy mạnh quan hệ đối tác kinh doanh đa dạng sinh học và đưa ra các khoản vay lãi suất thấp

và giảm lãi suất cho các doanh nghiệp tham gia các dự án đa dạng sinh học hoặc thực hiện xuất sắc việc bảo vệ môi trường, hoặc đánh thuế

Trang 31

cao đối với các doanh nghiệp thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường yếu kém

Cuối cùng, Việt Nam cũng cần đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng trong bảo tồn đa dạng sinh học bằng cách phát triển ưu đãi về tài chính để khuyến khích các sinh kế thay thế việc khai thác tài nguyên thiên nhiên

6 Tài liệu tham khảo

Các nước và nhóm cho vay, Ngân hàng Thế giới, 2013,

lending-groups, xem ngày 6 tháng 8 năm 2013

http://data.worldbank.org/about/country-classifications/country-and-Quyết định số: 44/QĐ-TCMT của Tổng cục Môi trường, Bộ Tài

nguyên và Môi trường ban hành ngày 21 tháng 11 năm 2008, quy định chức năng, trách nhiệm, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Bảo tồn

đa dạng sinh học

Mở rộng Tài chính cho Bảo tồn đa dạng sinh học: Kinh nghiệm từ các nước Mỹ Latinh và Caribe, 2012, Ngân hàng Thế giới, Washington DC

Cơ chế và nguồn tài chính, Công nước về đa dạng sinh học, 2013,

http://www.cbd.int/financial/, xem ngày 29 tháng 7 ngày 2 tháng 8 năm 2013

Chỉ số lợi ích đa dạng sinh học của GEF, Chỉ số Mundi, 2008,

http://www.indexmundi.com/facts/indicators/ER.BDV.TOTL.XQ/rankings, xem ngày 6 tháng 8 năm 2013

Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn tới năm 2030 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội, Việt Nam Báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước Đa dạng sinh học của Việt Nam lần thứ 4, công bố năm 2008 tại Hà Nội

Convention on Biological Diversity, 2013, South America: Financial

Planning for Biodiversity

Convention on Biological Diversity, 2012, State of Financing for

Biodiversity: Draft Global Monitoring Report 2012 on the Strategy for Resource Mobilization Under the Convention

Methodology Determinations, Clean Energy Regulator: Các-bon

Farming Initiative, 2013, bon-Farming-Initiative/planning-a-CFI-project/methodology-

http://www.cleanenergyregulator.gov.au/Các-determinations/Pages/Default.aspx, viewed on 27 August, 2013

Trang 32

Mongabay.com, July 26, 2013, “U.S signs $32M debt-for-nature swap to protect rainforests in the Philippines”,

http://news.mongabay.com/2013/0726-philippines-dfns-usaid.html, viewed 27 August, 2013

Trang 33

7 Phụ lục: Dữ liệu nghiên cứu của 40 quốc gia

Hợp tác quốc tế

Quy hoạch

đa dạng sinh học

Quản lý động vật hoang dã

Nguồn gen

Báo cáo

đa dạng sinh học

Quan trắc đa dạng sinh học

Các nguồn tài chính Phi-líp-pin

Bộ Tài nguyên

và Môi trường

Bộ Tài nguyên và Môi trường

Bộ Tài nguyên và Môi trường

Không quản lý tập trung;

các cơ quản tự quản lý nguồn gen của mình Ví dụ: Cục quản lý rừng quản

lý nguồn gen về rừng

Bộ Tài nguyên và Môi trường

Bộ Tài nguyên

và Môi trường

Kinh phí năm 2007

là 13,73 triệu đô la

Mỹ (chiếm 4% tổng kinh phí của Bộ TNMT) [nhìn chung vẫn thiếu kinh phí - trang 76 của Báo cáo quốc gia lần thứ 4 gửi cho CBD] Tổng kinh phí của KHHĐ và CLQG ước tính là 92,213 triệu đô la Mỹ Đảo

nợ bằng đầu tư cho các hoạt động bảo tồn với chính phủ Mỹ trị giá 31,8 triệu đô la Mỹ

Cục quản lý khu bảo tồn và động vật hoang

Cục quản

lý khu bảo tồn và động vật hoang

Cục quản

lý khu bảo tồn và động vật hoang dã

Cục quản

lý khu bảo tồn và động vật hoang dã

Cục quản

lý khu bảo tồn

và động vật hoang dã

Phòng quản lý đa dạng sinh học

Phòng tài nguyên động vật hoang dã

Phòng quản lý đa dạng sinh học

Phòng quản lý

đa dạng sinh học

Trang 34

đa dạng sinh học

động vật hoang dã

sinh học

trắc đa dạng sinh học

Bộ Môi trường

Bộ Môi trường

Bộ Môi trường (Tổng cục bảo tồn đa dạng sinh học)

Không quản lý tập trung;

các cơ quan/ đơn

vị tự quản

lý nguồn gen của mình

Bộ Môi trường

Bộ Môi trường

Năm 2007: 0,69 Đô

la Mỹ/ha cho rừng bảo tồn; 0,90-9 Đô

la Mỹ cho quản lý KBT (đề xuất dự án của GEF); KHHĐ

và CL ĐDSH của In-đô-nê-xia lần thứ nhất (1987-88) nêu

rõ 34,4 Đô la Mỹ/năm/km 2 cho KBT, 122 triệu Đô

la Mỹ cho các đề xuất dự án, thường phụ thuộc vào các nhà tài trợ và các công ty tư nhân

bờ biển và đảo nhỏ)

Tổng cục bảo tồn đa dạng sinh học

Bộ Lâm nghiệp (Tổng cục Bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên)

Tổng cục bảo tồn đa dạng sinh học

Tổng cục bảo tồn

đa dạng sinh học

Trang 35

Hợp tác quốc tế

Quy hoạch đa dạng sinh học

Quản lý động vật hoang dã

Nguồn gen

Báo cáo

đa dạng sinh học

Quan trắc đa dạng sinh học

Các nguồn tài chính

Bộ Tài nguyên

và Môi trường

Bộ Tài nguyên

và Môi trường

Bộ Tài nguyên và Môi trường

Không quản

lý tập trung;

các cơ quan/đơn vị

tự quản lý nguồn gen của mình

Bộ Tài nguyên

và Môi trường

Bộ Tài nguyên

và Môi trường

Kế hoạch hành động và chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học dự tính kinh phí là 280.627.000 Đô la

Mỹ, một số quỹ lấy nguồn từ thuế sở hữu đất, các khoản vay lãi suất thấp cho khu vực kinh

tế tư nhân cho các

dự án đa dạng sinh học

Văn phòng Chính sách và Quy hoạch về Tài nguyên

và Môi trường

Văn phòng Chính sách và Quy hoạch về Tài nguyên

và Môi trường

Cục quản

lý các vườn quốc gia, bảo tồn thực vật và động vật hoang dã

Văn phòng Chính sách và Quy hoạch về Tài nguyên

và Môi trường

Nhiều cơ quan chịu trách nhiệm

Phòng đa

dạng sinh

học

Phòng đa dạng sinh học

Phòng đa dạng sinh học

Phòng

đa dạng sinh học

Trang 36

Hợp tác quốc tế

Quy hoạch

đa dạng sinh học

Quản lý động vật hoang dã

Nguồn gen

Báo cáo

đa dạng sinh học

Quan trắc đa dạng sinh học

Các nguồn tài chính Nhật Bản

Bộ Ngoại giao

Bộ Môi trường

Bộ Môi trường

Không quản

lý tập trung;

các cơ quan/đơn vị

tự quản lý nguồn gen của mình

Bộ Môi trường

Bộ Môi trường

Một loạt những thông lệ tốt nhất như đánh thuế bảo

vệ môi trường ở cấp quốc gia và địa phương; hệ thống tín chỉ hấp thụ các- bon; thúc đẩy và khuyến khích bảo

vệ môi trường ở các nước đang phát triển; chi trả dịch vụ hệ sinh thái; chứng chỉ các sản phẩm xanh; đưa ra các ưu đãi lãi suất thấp cho các công ty có các hoạt động bảo vệ môi trường xuất sắc

Vụ Hợp tác Quốc tế

Vụ Bảo tồn thiên nhiên

Vụ Bảo tồn thiên nhiên

Vụ Bảo tồn thiên nhiên

Vụ Bảo tồn thiên nhiên

Phòng Môi trường toàn cầu

Phòng Chính sách Bảo tồn

Phòng quản lý động vật hoang dã

Phòng Chính sách Bảo tồn

Nhiều phòng ban khác nhau

Ngày đăng: 16/04/2018, 11:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w