Trạm Y tế xã có trách nhiệm tiếp nhận, điều tra, xác minh thông tin vàbáo cáo số liệu bệnh truyền nhiễm được ghi nhận trên địa bàn cho Trung tâm Y tếhuyện, quận, thị xã, thành phố trực t
Trang 1BÁO CÁO KHOA HỌC
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO BỆNH
TRUYỀN NHIỄM THEO THÔNG TƯ BYT TẠI HUYỆN VIỆT YÊN VÀ HUYỆN TÂN YÊN,
54/2015/TT-TỈNH BẮC GIANG NĂM 2016
HÀ NỘI, 2017.
Trang 2MỤC LỤC
2 Tình hình bệnh dịch nguy hiểm và mới nổi, tái nổi trên thế giới và tại Việt
3 Một số hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm trên thế giới 7
4 Hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam 8
5 Thực trạng hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm 20
Trang 310 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 38
Trang 4CNTT Công nghệ thông tin
CDC Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ
EWARS Phần mềm đáp ứng và cảnh báo sớm
TTYTDP Trung tâm Y tế dự phòng
VAHIP Dự án Phòng chống dịch cúm gia cầm, cúm ở người và dự
phòng đại dịch ở Việt NamVSDT Vệ sinh dịch tễ
Trang 5hình các BTN đang có nguy cơ bùng phát, bên cạnh đó tại huyện Tân Yên tình hìnhBTN có ổn định hơn nhưng đây là huyện miền Núi và giáp với tỉnh Thái Nguyên,cách Thành phố Hà Nội (30 km), cửa ngõ vào thủ đô nên tiềm ẩn nhiều BTN do vấn
đề dân di biến động Do đó, nghiên cứu “Đánh giá hoạt động báo cáo bệnh truyền
nhiễm theo Thông tư 54/2015/TT-BYT tại huyện Việt Yên và huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang” là rất cần thiết và giúp cho Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế đưa ra các
giải pháp và triển khai có hiểu quả trên toàn quốc từ đầu năm 2017
Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng
và định tính Thông tin của đối tượng nghiên cứu được thu thập từ các báo cáo(1665 báo cáo tuần, tháng và 341 báo cáo trường hợp bệnh), nghiên cứu định lượng(37 đơn vị) và nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu tại 6 đơn vị) Số liệu được nhậpbằng chương trình Excel, epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 Kếtquả nghiên cứu cho thấy, 100% đơn vị đã bố trí khoa/phòng riêng và các BVĐKhuyện đều phân công cho Phòng Kế hoạch tổng hợp làm đầu mối báo cáo BTN, tuynhiên các bệnh viện/phòng khám tư nhân chưa tham gia báo cáo BTN theo quyđịnh Bên cạnh đó, các đơn vị chưa báo cáo BTN đầy đủ và đúng hạn, như: TYT xãbáo cáo đúng hạn là 53% (báo cáo tuần), 56% (báo cáo tháng) và báo cáo đầy đủmới đạt 64% (báo cáo tuần), 100% (báo cáo tháng); BVĐK huyện có 72% ca bệnhbáo cáo trường hợp bệnh 24 giờ đúng hạn (100% báo cáo trường hợp bệnh 48 giờđầy đủ); TTYT huyện chưa thực hiện phản hồi thông tin cho TYT xã theo quy định
Một số kiến nghị được đưa ra như: bổ sung máy tính cho hoạt động báo cáoBTN, tăng cường sự chỉ đạo của Bộ Y tế và Sở Y tế trong việc nâng tỷ lệ báo cáođầy đủ, đúng hạn và phản hồi thông tin theo đúng quy định Bên cạnh đó, sự thamgia của Bệnh viện/phòng khám tư nhân trong công tác báo cáo BTN là rất cần thiết
để công tác dự báo, phòng chống dịch bệnh đạt hiệu quả cao nhất
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây toàn thế giới phải liên tục đương đầu với sự xuất hiệncủa hàng loạt các bệnh dịch truyền nhiễm nguy hiểm Đã có trên 30 loại bệnh mớixuất hiện hoặc mới nổi lên, quay trở lại trong những thập kỷ qua, gần đây nhất là vụđại dịch cúm do vi rút cúm A/H1N1 đã có thể đẩy nhân loại vào thảm cảnh của các
vụ đại dịch cúm trước đây với hàng trăm triệu ca mắc và hàng triệu người tử vong,nếu cộng đồng quốc tế không có những phản ứng phòng chống rất sớm và quyếtliệt Ngoài ra sự rình rập thường xuyên của các chủng tác nhân vi sinh mới như cúmA/H7N9, cúm A/H8N10, các vi rút Nipah, Hendra, Marburg, Ebola, MERS-CoV…
là những lời cảnh báo tới nguy cơ tới sức khỏe và an ninh y tế toàn cầu Một nền anninh sức khỏe thực sự chỉ có thể có trên cơ sở một hệ thống giám sát, cảnh báo vàđáp ứng y tế hiệu quả và có trách nhiệm Trước thực trạng trên, Cục Y tế dự phòng– Bộ Y tế đã xây dựng và đang triển khai phần mềm báo cáo bệnh truyền nhiễmtrực tuyến trên toàn quốc với mục đích nhập, xử lý và báo cáo số liệu bệnh truyềnnhiễm qua mạng internet trong tất cả các đơn vị y tế dự phòng từ tuyến huyện đếnCục Y tế dự phòng tuân theo các quy định của Thông tư 48/TT-BYT ngày31/12/2012 của Bộ Y tế Tuy nhiên, các số liệu báo cáo chủ yếu là số tổng hợp vềmắc, chết theo địa phương, chưa báo cáo từng ca bệnh cũng như chưa có đầy đủ cácđịnh nghĩa ca bệnh nên khó khăn cho việc thống kê báo cáo dịch tễ học bệnh truyềnnhiễm Bên cạnh đó, việc báo cáo bệnh truyền nhiễm chủ yếu là do các đơn vị y tế
dự phòng thực hiện, các cơ sở điều trị chưa chủ động báo cáo nên hàng tuần, hàngtháng, các đơn vị y tế dự phòng phải sang trực tiếp cơ sở điều trị để thu thập số liệu
và báo cáo Do đó, Cục Y tế dự phòng đã phối hợp với Cục Quản lý Khám, chữabệnh và các đơn vị liên quan đã hoàn thành sửa đổi Thông tư 48/2010/TT-BYT theohướng báo cáo từng ca bệnh qua phần mềm trực tuyến để có thể phân tích được cácđặc điểm dịch tễ của dịch bệnh, qua đó đề xuất các biện pháp phòng chống dịch phùhợp, kịp thời và ngày 28/12/2015, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 54/2015/TT-BYT(thay thế Thông tư 48/2010/TT-BYT) Đặc biệt là việc các cơ sở điều trị sẽ nhập số
Trang 7liệu trực tiếp vào phần mềm báo cáo bệnh truyền nhiễm theo đúng quy định củaThông tư 54/2015/TT-BYT.
Phiên bản mới của phần mềm báo cáo bệnh truyền nhiễm đã được xây dựng đểđáp ứng với các quy định của Thông tư 54/2015/TT-BYT và sẵn sàng cho việc tiếnhành triển khai Trước khi chính thức triển khai Thông tư 54/2015/TT-BYT trêntoàn quốc từ đầu năm 2017 để nâng cao hệ thống báo cáo, pháp hiện kịp thời cácdịch bệnh truyền nhiễm, tỉnh Bắc Giang là tỉnh đầu tiên trên toàn quốc được Tổchức Y tế thế giới và Cục Y tế dự phòng lựa chọn triển khai Thông tư 54/2015/TT-BYT và sử dụng phần mềm báo cáo bệnh truyền nhiễm cho các đơn vi y tế thuộctỉnh Bắc Giang
Theo báo cáo của Trung tâm Y tế Việt Yên thì tình hình các bệnh truyền nhiễmđang có nguy cơ bùng phát, hệ thống báo cáo còn chế, bên cạnh đó tại huyện TânYên tình hình bệnh truyền nhiễm có ổn định hơn nhưng đây là tỉnh đang phát triểnkinh tế với sự xuất hiện của nhiều nhà máy, khu công nghiệp và huyện Tân Yêngiáp với tỉnh Thái Nguyên, và đây là huyện đặc trưng là miền Núi gần Thành phố
Hà Nội (30 km), cửa ngõ vào thủ đô nên tiềm ẩn nhiều bệnh truyền nhiễm do vấn đềdân di biến động Do đó, huyện Việt Yên và huyện Tân Yên được lựa chọn để tiếnhành đánh giá hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm theo Thông tư 54/2015/TT-BYT là rất cần thiết trong việc tìm ra các rào cản, khó khăn của hệ thống báo cáobệnh truyền nhiễm tại các đơn vị y tế tại 02 huyện này Bài học kinh nghiệm đượcrút ra tại 02 đơn vị này sẽ giúp cho hệ thống báo cáo bệnh truyền nhiễm theo Thông
tư 54/2015/TT-BYT triển khai tốt trên toàn tỉnh Bắc Giang và trên toàn quốc khi hệthống báo cáo theo Thông tư 54/2015/TT-BYT chính thức có hiệu lực từ đầu năm2017
Trang 8MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm theo Thông tư54/2015/TT-BYT tại huyện Việt Yên và huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
2 Đánh giá chất lượng báo cáo số liệu (tính đầy đủ và tính đúng hạn) của hoạtđộng báo cáo bệnh truyền nhiễm theo Thông tư 54/2015/TT-BYT tại huyện ViệtYên và huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
1.1 Nội dung thông tin báo cáo là nội dung thông tin được cán bộ y tế nhập
đầy đủ vào báo cáo trực tuyến
1.2 Quy trình thông tin báo cáo là thời gian cán bộ y tế nhập trực tiếp vào
báo cáo trực tuyến kịp thời, đúng thời gian theo quy định
1.3 Bệnh truyền nhiễm là bệnh lây truyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ người
hoặc từ động vật sang người do tác nhân gây bệnh truyền nhiễm
1.4 Các bệnh truyền nhiễm mới nổi là tên chung cho các bệnh truyền nhiễm
mà mới được ghi nhận và xếp loại trong thời gian gần đây
1.5 Báo cáo dựa vào ca bệnh là giám sát bệnh bằng cách thu thập dữ liệu
đặc hiệu về từng ca bệnh
1.6 Phản hồi thông tin là gửi báo cáo định kỳ về kết quả phân tích số liệu
giám sát tới tất cả các tuyến của hệ thống giám sát Từ đó các tuyến có thể nắmđược xu hướng của dịch cũng như các hoạt động cần triển khai
1.7 Báo cáo trực tuyến là Báo cáo trực tiếp vào hệ thống báo cáo thông qua
đường truyền internet, đồng thời lưu hồ sơ bệnh án đối với báo cáo trường hợp bệnhhoặc báo cáo bằng văn bản đối với các loại báo cáo khác tại đơn vị báo cáo
2 Tình hình bệnh dịch nguy hiểm và mới nổi, tái nổi trên thế giới và tại Việt Nam
2.1 Trên thế giới
Trang 10BTN tiếp tục xảy ra, lưu hành ở một số quốc gia trên thế giới như: bệnh Taychân miệng, Cúm A (H5N1), Cúm A (H1N1), Sốt xuất huyết, E.Coli (ERHEC), Tả,
Vi rút bại liệt, Sốt xuất huyết Tây sông Nile , gây ảnh hưởng không nhỏ tới kinh tế
xã hội, du lịch và sức khỏe Một số bệnh đáng chú ý trong năm 2016 [12] gồm:
Sốt xuất huyết: Theo số liệu năm 2016 [12] của Tổ chức Y tế thế giới (WHO),
tình hình dịch sốt xuất huyết vẫn diễn biến phức tạp tại khu vực Đông Nam Á vàTây Thái Bình Dương Các nước trong khu vực Đông Nam Á và Tây Thái BìnhDương tiếp tục ghi nhận số mắc tăng Các nước có tỷ lệ mắc/100.000 dân cao làMalaysia, Singapore Tại khu vực châu Mỹ La - tinh, các nước có tỷ lệ mắc/100.000dân cao nhất tại Brazil, Mexico
Bệnh do vi rút Zika: Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ngày
17/11/2016 [12], có 81quốc gia và vùng lãnh thổ thông báo có sự lưu hành hoặc lâytruyền vi rút Zika Ngày 18/11/2016 [12], Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã thôngbáo nhiễm vi rút Zika không còn là sự kiện y tế công cộng khẩn cấp gây quan ngạiquốc tế
Bệnh tay chân miệng: Theo số liệu năm 2016 [12] của WHO, bệnh tay chân
miệng vẫn ghi nhận tại một số quốc gia trong khu vực (Sing-ga-po: 36.684; MaCao: 2.940; Nhật Bản: 45.628)
Với diễn biến phức tạp, có nhiều bệnh lây truyền từ động vật, một số bệnh giatăng số mắc và tử vong, gây ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế, xã hội và sức khỏenhân dân, các nước trên thế giới đang tiếp tục đầu tư cho hệ thống báo cáo bệnhtruyền nhiễm để có thể giám sát, phát hiện nhanh chóng và kịp thời, giúp công tácphòng ngừa dịch bệnh đạt hiệu quả
2.2 Tại Việt Nam
Các BTN mới nổi và tái nổi tiếp tục diễn biến phức tạp, có nguy cơ bùng phátthành đại dịch Đó là các bệnh thuộc 4 nhóm sau: 1) Nhóm bệnh đường hô hấp:Rubella, Cúm A (H5N1), Cúm A (H1N1), Viêm màng não do não mô cầu, Sởi; 2)Nhóm bệnh đường tiêu hóa: bệnh TCM, bệnh Tả, bệnh Thương hàn, bệnh Than;
Trang 113)Nhóm bệnh do véc tơ truyền: bệnh Sốt xuất huyết, bệnh Sốt rét, bệnh Viêm nãoNhật Bản; 4) Nhóm bệnh lây truyền từ động vật sang người: bệnh Dại, Than vàbệnh liên cầu lợn ở người Một số bệnh đáng chú ý gồm:
Thương hàn: Trong tháng 12 năm 2016 [12] ghi nhận 141 trường hợp mắc.
Tích lũy từ đầu năm đến nay cả nước ghi nhận 469 trường hợp mắc, không tử vong
So với cùng kỳ 2015 (650/0) số mắc giảm 27,8%
Sốt xuất huyết: Trong tháng 12 năm 2016 [12] ghi nhận 9.946 trường hợp
mắc, 06 trường hợp tử vong Từ đầu năm đến nay, cả nước ghi nhận 106.256 trườnghợp mắc tại 56 tỉnh, thành phố, 36 trường hợp tử vong, so với cùng kỳ 2015 (99.783trường hợp mắc/50 tử vong) số mắc tăng 6,5%, tử vong giảm 14 trường hợp
Viêm não vi rút: Trong tháng 12 năm 2016 [12] ghi nhận 152 trường hợp mắc,
10 trường hợp tử vong Tích lũy từ đầu năm đến nay, cả nước ghi nhận 962 trườnghợp mắc, trong đó có 34 trường hợp tử vong So với cùng kỳ năm 2015 (1083/32)
số mắc giảm 11,2%, tử vong tăng 02 trường hợp
Viêm màng não do não mô cầu: Trong tháng 12 năm 2016 [12] ghi nhận 06
trường hợp mắc, không tử vong Tích lũy từ đầu năm đến nay cả nước ghi nhận 59trường hợp mắc, 4 trường hợp tử vong So với cùng kỳ năm 2015 (120/4) số mắcgiảm 55,8%
Tay chân miệng: Trong tháng 12 năm 2016 [12] ghi nhận 5.026 trường hợp
mắc, ghi nhận 01 trường hợp tử vong So với cùng kỳ năm 2015 (57.039 trường hợpmắc/6 tử vong), số mắc giảm 16,8%, tử vong giảm 05 trường hợp
Bệnh do vi rút Zika: Trong tháng 12 năm 2016 [12] ghi nhận 84 trường hợp
mắc, không tử vong Tích lũy từ đầu năm đến nay cả nước ghi nhận 152 trường hợpmắc tại tại TP Hồ Chí Minh (131), Bình Dương (7), Bà Rịa Vũng Tàu (2), Đắk Lắk(2), Khánh Hòa (6), Phú Yên (01), Long An (1), Tây Ninh (1), Đồng Nai (1) trongtổng số 4.299 mẫu xét nghiệm vi rút Zika, trong đó ghi nhận 01 trường hợp trẻ đầunhỏ nhiều khả năng liên quan đến vi rút Zika
Trang 12Tóm lại, hiện nay bệnh dịch nguy hiểm và mới nổi có diễn biến phức tạp, một
số yếu tố tạo tiền đề thuận lợi cho BTN diễn biến phức tạp: biến đổi khí hậu, ônhiễm môi trường, sự thích nghi và biến đổi của mầm bệnh, sự gia tăng dân số, thayđổi hành vi lối sống, nguyên nhân phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế Vìvậy, việc xây dựng, cải thiện hệ thống báo cáo bệnh truyền nhiễm là hết sức cầnthiết, giúp phát hiện dịch sớm, kịp thời, nâng cao công tác dự báo dịch cũng nhưviệc lập kế hoạch chủ động phòng chống dịch Đây đang là mối quan tâm của Chínhphủ và ngành y tế trong thế kỷ XXI
3 Một số hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm trên thế giới
3.1 Tại Trung Quốc, hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm được triển khai
từ tuyến trung ương đến địa phương Việc giám sát và báo cáo bệnh truyền nhiễmphải thực hiện theo luật phòng chống bệnh truyền nhiễm của Trung Quốc Hiện tạiTrung Quốc có 39 bệnh dịch phải báo cáo [19] Hoạt động báo cáo bệnh truyềnnhiễm tại bệnh viện là chủ yếu, tất cả các thông tin liên quan đến ca bệnh đều đượcbáo cáo sang Trung tâm Y tế cùng cấp, thời gian báo cáo đối với bệnh nhóm A đặcbiệt nguy hiểm phải báo cáo trong vòng 2 giờ, các bệnh nhóm B báo cáo trong vòng
24 giờ [19] Hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm được triển khai thông qua phầnmềm trực tuyến với hệ thống đường truyền riêng biệt, máy chủ đặt tại trụ sở Bộ Y tếTrung quốc Hệ thống báo cáo trực tuyến đã phủ được đến 100% các huyện trêntoàn lãnh thổ Trung Quốc, khoảng 70% các bệnh viện tham gia vào hệ thống báocáo trực tuyến này Có khoảng 60% số xã có hệ thống báo cáo trực tuyến Hệ thốngbáo cáo trực tuyến giảm thời gian báo cáo từ khoảng 7 ngày xuống còn khoảng 1ngày [19] Tất cả các cơ sở y tế từ tuyến huyện cử cán bộ trực tiếp tham gia vào hệthống báo cáo trực tuyến tối thiểu ở tuyến huyện là 2 cán bộ kể cả các bệnh viện 3.2 Tại Thái Lan, hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm hoạt động rất tốt nhờ
sự chỉ đạo điều hành thống nhất của Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của các bộ,ngành, địa phương trong công tác dự phòng các bệnh truyền nhiễm Hệ thống thôngtin quản lý và cơ sở dữ liệu phục vụ công tác phòng chống dịch được quan tâm đầu
tư đáng kể, xây dựng và đưa vào hoạt động trang thông tin điện tử phục vụ công tác
Trang 13phòng chống dịch, liên kết với các trang thông tin điện tử quốc tế khác như: WHO,CDC…và của các đơn vị liên quan trong quốc gia nhằm cập nhật và chia sẻ thôngtin Hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm bằng phần mềm trực tuyến được duy trì
ổn định, có ưu điểm là dễ dàng cho việc cập nhật thông tin, số liệu, nhận, gửi, thôngtin cho cộng đồng và tiết kiệm thời gian, các cấp quản lý có thể nhận thông tin cậpnhật thường xuyên mọi thời điểm, mọi nơi Hệ thống này được áp dụng cho các đơn
vị y tế từ cấp Trung ương đến cơ sở Do đó giảm được thời gian vận chuyển mẫubệnh phẩm từ 46 giờ xuống còn 22 giờ, thời gian cho kết quả xét nghiêm khẳngđịnh trung bình là 15 giờ, trường hợp khẩn cấp cho kết quả trong vòng 4 giờ [20].3.3 Từ việc triển khai hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm tại Trung Quốc vàThái Lan, một số kinh nghiệm có thể rút ra cho Việt Nam như sau:
a) Việc xây dựng hệ thống báo cáo bệnh truyền nhiễm trực tuyến là rất cần thiết
và đáp ứng nhanh việc cảnh báo, đáp ứng dịch và giảm được thời gian giám sát, báocáo bệnh truyền nhiễm từ tuyến xã đến tuyến Trung ương
b) Có cán bộ chuyên trách thực hiện hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm trựctuyến và thực hiện đào tạo cho các cán bộ tham gia vào công tác báo cáo bệnhtruyền nhiễm trực tuyến
c) Có một công ty chuyên bảo hành, bảo dưỡng và nâng cấp sửa chữa mạng trựctuyến đảm bảo tính liên tục của mạng
d) Việc báo cáo bệnh truyền nhiễm được thực hiện cả ở khối điều trị và cần cóbiểu mẫu chung cho việc báo cáo bệnh truyền nhiễm ở tất cả các tuyến và các cơ sởđiều trị kể cả y tế tư nhân
e) Bước đầu Việt Nam cần xây dựng thí điểm tại một số địa phương về báo cáobệnh truyền nhiễm trực tuyến, từ đó rút ra những kinh nghiệp thực tế để triển khaitrên phạm vi toàn quốc
Trang 144 Hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam
Báo cáo bệnh truyền nhiễm là quá trình thu thạ ̂p, phân tích, giải thích các sốliệu về sức khỏe, bệnh tật một cách có hệ thống và phổ biến các số liệu này tới cácđơn vị liên quan với các mục đích của báo cáo nhằm:
- Phát hiện dịch sớm, kể cả dịch tản phát
- Thông báo dịch nhanh và triển khai các biện pháp chống dịch kịp thời
- Xác định sự phân bố của bệnh truyền nhiễm theo từng vùng địa lý
- Xác định cơ cấu của bệnh truyền nhiễm trong cộng đồng
- Mô tả và theo dõi tình hình bệnh truyền nhiễm
- Phát hiện được quy luật phát sinh, chu kỳ bùng nổ dịch
- Giúp cho công tác dự báo dịch và việc lập kế hoạch chủ đọ ̂ng phòng chốngdịch và lựa chọn bệnh ưu tiên trong từng thời kỳ một cách khoa học và phù hợp.Hệ thống báo cáo bệnh truyền nhiễm gây dịch của Việt Nam hiện nay hoạtđộng theo “Luật phòng chống BTN” của Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 2, số03/2007/QH12 ngày 21/11/2007 [1] và Thông tư số 54/2015/QĐ-BYT ngày28/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế [6] Đây là một hệ thống hoạt động thườngxuyên và thống nhất trên toàn quốc từ tuyến xã/phường lên đến tuyến Trung ương.Hệ thống giám sát phải có nhiệm vụ giám sát phát hiện sớm và báo cáo tất cả 42bệnh truyền nhiễm trong danh mục, theo các hình thức được quy định dưới đây:
4.1 Các trường hợp phải thông tin báo cáo
4.1.1 Khi phát hiện người mắc bệnh truyền nhiễm quy định tại Phụ lục 1 banhành kèm theo Thông tư này
4.1.2 Khi phát hiện ổ dịch bệnh truyền nhiễm, khi ổ dịch bệnh truyền nhiễmđang hoạt động và khi ổ dịch bệnh truyền nhiễm chấm dứt hoạt động
4.1.3 Khi triển khai các hoạt động phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm
Trang 154.1.4 Khi có yêu cầu báo cáo để phục vụ công tác giám sát, kiểm tra, chỉ đạophòng chống dịch bệnh truyền nhiễm của cấp trên.
4.2 Nguyên tắc báo cáo
4.2.1 Nội dung thông tin báo cáo, khai báo bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm phảibảo đảm tính trung thực, đầy đủ và kịp thời Đơn vị báo cáo chịu trách nhiệm về nộidung báo cáo
4.2.2 Việc thông tin, báo cáo phải bảo đảm đúng trình tự, thủ tục, thẩmquyền và theo đúng các biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư này
4.2.3 Trường hợp đã thực hiện báo cáo trực tuyến thì không phải báo cáobằng văn bản, nhưng phải lưu đầy đủ hồ sơ tại đơn vị theo quy định tại Khoản 1Điều 3 của Thông tư này
4.3 Hình thức thông tin báo cáo
4.3.1 Báo cáo trực tuyến: Báo cáo trực tiếp vào hệ thống báo cáo thông quađường truyền internet, đồng thời lưu hồ sơ bệnh án đối với báo cáo trường hợp bệnhhoặc báo cáo bằng văn bản đối với các loại báo cáo khác tại đơn vị báo cáo
4.3.2 Báo cáo bằng văn bản: Trường hợp không thực hiện được báo cáo trựctuyến, các đơn vị thực hiện báo cáo bằng văn bản gửi theo đường công văn, fax, thưđiện tử
4.3.3 Hình thức khác: Trong trường hợp khẩn cấp có thể gọi điện thoại hoặcbáo cáo trực tiếp và trong thời hạn 24 giờ phải thực hiện báo cáo trực tuyến hoặcbáo cáo bằng văn bản
4.4 Nội dung thông tin báo cáo
4.4.1 Số liệu thống kê mắc bệnh truyền nhiễm được xác định theo ngày khởiphát của bệnh nhân
4.4.2 Báo cáo trường hợp bệnh: Danh mục các bệnh truyền nhiễm phải báocáo trường hợp bệnh theo quy định tại Mục 1, Mục 2 Phụ lục 1 ban hành kèm theoThông tư này (bao gồm các trường hợp có chẩn đoán lâm sàng, các trường hợp cóxác định của phòng xét nghiệm, các trường hợp điều trị nội trú, ngoại trú và cáctrường hợp được phát hiện tại cộng đồng) Nội dung báo cáo trường hợp bệnh thựchiện theo quy định tại Biểu mẫu 1 Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này
Trang 164.4.3 Báo cáo tuần: Nội dung báo cáo tuần thực hiện theo quy định tại Biểumẫu 2 Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này Số liệu báo cáo tuần được tínhtrong 07 ngày, từ 00h00 ngày thứ Hai đến 24h00 ngày Chủ nhật của tuần báo cáo 4.4.4 Báo cáo tháng: Nội dung báo cáo tháng thực hiện theo quy định tại Biểumẫu 3 và Biểu mẫu 4 Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này Danh mục bệnhphải báo cáo tháng theo quy định tại Mục 3 Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tưnày Số liệu báo cáo tháng được tính từ 00h00 ngày đầu tiên đến 24h00 ngày cuốicùng của tháng báo cáo
4.4.5 Báo cáo năm: Nội dung báo cáo năm thực hiện theo quy định tại Biểumẫu 5 và Biểu mẫu 6 Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này Số liệu báo cáonăm được tính từ 00h00 ngày đầu tiên đến 24h00 ngày cuối cùng của năm báo cáo 4.4.6 Báo cáo ổ dịch (bao gồm báo cáo phát hiện ổ dịch bệnh truyền nhiễm,báo cáo ổ dịch bệnh truyền nhiễm đang hoạt động và báo cáo kết thúc ổ dịch): Nộidung báo cáo ổ dịch thực hiện theo quy định tại Biểu mẫu 7, Biểu mẫu 8, Biểu mẫu
9 Phụ lục 2 ban hành kèm theo Thông tư này Số liệu báo cáo mỗi ngày được tính từ00h00 đến 24h00 của ngày báo cáo
4.4.7 Báo cáo đột xuất: Nội dung và số liệu báo cáo đột xuất thực hiện theoyêu cầu của cơ quan cấp trên cho từng công việc cụ thể
4.5 Quy trình thông tin báo cáo
Quy trình thông tin báo cáo được thực hiện theo sơ đồ tổ chức hệ thống thôngtin báo cáo bệnh truyền nhiễm quy định tại Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tưnày, cụ thể như sau:
4.5.1 Đơn vị y tế cơ quan, phòng khám tư nhân, các cơ sở chẩn đoán, bác sĩgia đình và nhân viên y tế thôn bản khi phát hiện người nghi ngờ mắc bệnh truyềnnhiễm trong danh mục bệnh được quy định tại Mục 1, Mục 2, Mục 3 Phụ lục 1 banhành kèm theo Thông tư này, có trách nhiệm thông báo ngay cho Trạm Y tế xã,phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là Trạm Y tế xã) trên địa bàn sở tại để thực hiệnviệc điều tra, xác minh, thông tin báo cáo và khai báo bệnh, dịch bệnh truyền nhiễmtheo quy định
Trang 174.5.2 Trạm Y tế xã có trách nhiệm tiếp nhận, điều tra, xác minh thông tin vàbáo cáo số liệu bệnh truyền nhiễm được ghi nhận trên địa bàn cho Trung tâm Y tếhuyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi tắt là Trung tâm Y tếhuyện) theo thời gian như sau:
a) Báo cáo trường hợp bệnh: Hoàn thành báo cáo trong vòng 24 giờ hoặc 48giờ kể từ khi có chẩn đoán theo danh mục bệnh truyền nhiễm được quy định tạiMục 1, Mục 2 Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này;
b) Báo cáo tuần: Hoàn thành báo cáo trước 14h00 thứ Ba tuần kế tiếp;
c) Báo cáo tháng: Hoàn thành báo cáo trước ngày 05 của tháng kế tiếp;
d) Cập nhật thông tin của báo cáo trường hợp bệnh và báo cáo tháng: Khi nhậnđược danh sách các trường hợp bệnh lưu trú trên địa bàn được khám, chữa bệnh ởnơi khác do Trung tâm Y tế huyện cung cấp, Trạm Y tế xã có trách nhiệm điều tra,xác minh thông tin Nếu phát hiện những sai lệch thông tin hoặc không xác minhđược địa chỉ người bệnh, Trạm Y tế xã có trách nhiệm báo cáo cho Trung tâm Y tếhuyện trong vòng 24 giờ để thực hiện việc cập nhật thông tin
4.5.3 Bệnh viện đa khoa huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sauđây gọi tắt là bệnh viện huyện) có trách nhiệm báo cáo, cập nhật thông tin bệnhtruyền nhiễm tại đơn vị mình cho Trung tâm Y tế huyện theo thời gian như sau:a) Báo cáo trường hợp bệnh: Hoàn thành báo cáo trong vòng 24 giờ hoặc 48giờ kể từ khi có chẩn đoán theo danh mục bệnh truyền nhiễm được quy định tạiMục 1, Mục 2 Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này;
b) Báo cáo tháng: Hoàn thành báo cáo trước ngày 05 của tháng kế tiếp Danhmục các bệnh truyền nhiễm phải báo cáo tháng theo quy định tại Mục 3 Phụ lục 1ban hành kèm theo Thông tư này;
c) Cập nhật thông tin của báo cáo trường hợp bệnh và báo cáo tháng: Trongvòng 24 giờ kể từ khi có những thay đổi chẩn đoán, có chẩn đoán xác định phòngxét nghiệm, khi bệnh nhân ra viện, chuyển viện hay tử vong hoặc có thay đổi thôngtin cá nhân
4.5.4 Bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương(sau đây gọi tắt là bệnh viện tuyến tỉnh), bệnh viện tư nhân có trách nhiệm báo cáo,
Trang 18cập nhật thông tin bệnh truyền nhiễm tại đơn vị mình cho Trung tâm Y tế dự phòngtỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Trung tâm Y tế dự phòngtỉnh) và báo cáo, cập nhật thông tin về bệnh sốt rét, bệnh do ký sinh trùng, côn trùngcho Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đâygọi tắt là Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh) theo thời gian như sau:
a) Báo cáo trường hợp bệnh: Hoàn thành báo cáo trong vòng 24 giờ hoặc 48giờ kể từ khi có chẩn đoán theo danh mục bệnh truyền nhiễm được quy định tạiMục 1, Mục 2 Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này;
b) Báo cáo tháng: Hoàn thành báo cáo trước ngày 05 của tháng kế tiếp Danhmục các bệnh truyền nhiễm phải báo cáo tháng theo quy định tại Mục 3 Phụ lục 1ban hành kèm theo Thông tư này;
c) Cập nhật thông tin của báo cáo trường hợp bệnh và báo cáo tháng: Trongvòng 24 giờ kể từ khi có những thay đổi chẩn đoán, có chẩn đoán xác định phòngxét nghiệm, khi bệnh nhân ra viện, chuyển viện hay tử vong hoặc có thay đổi thôngtin cá nhân
4.5.5 Bệnh viện tuyến trung ương, bệnh viện và Trung tâm Y tế thuộc các Bộ,ngành có trách nhiệm thực hiện báo cáo, cập nhật thông tin bệnh truyền nhiễm tạiđơn vị mình cho các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur, Viện Sốt rét - Ký sinhtrùng - Côn trùng và Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Phòng chống sốt réttỉnh theo thời gian như sau:
a) Báo cáo trường hợp bệnh: Hoàn thành báo cáo trong vòng 24 giờ hoặc 48giờ kể từ khi trường hợp bệnh có chẩn đoán theo danh mục bệnh truyền nhiễm đượcquy định cụ thể tại Mục 1, Mục 2 Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này;
b) Báo cáo tháng: Hoàn thành báo cáo trước ngày 05 của tháng kế tiếp Danhmục các bệnh truyền nhiễm phải báo cáo tháng theo quy định tại Mục 3 Phụ lục 1ban hành kèm theo Thông tư này;
c) Cập nhật thông tin của báo cáo trường hợp bệnh và báo cáo tháng: Trongvòng 24 giờ kể từ khi có những thay đổi chẩn đoán, có chẩn đoán xác định phòngxét nghiệm, khi bệnh nhân ra viện, chuyển viện hay tử vong hoặc có thay đổi thôngtin cá nhân
Trang 194.5.6 Trung tâm Y tế huyện có trách nhiệm tổng hợp số liệu bệnh truyềnnhiễm từ Trạm Y tế xã, Bệnh viện huyện và thực hiện báo cáo, cập nhật thông tincho Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh theo thờigian như sau:
a) Báo cáo trường hợp bệnh: Hoàn thành báo cáo trong vòng 24 giờ kể từ khinhận được báo cáo của Trạm Y tế xã và Bệnh viện huyện;
b) Báo cáo tuần: Hoàn thành báo cáo các hoạt động phòng chống dịch tuần củaTrạm Y tế xã và Trung tâm Y tế huyện trước 14h00 ngày thứ Tư của tuần kế tiếp;c) Báo cáo tháng: Hoàn thành báo cáo trước ngày 10 của tháng kế tiếp từ danhsách người bệnh nhận được từ Trạm Y tế xã, Bệnh viện huyện, Trung tâm Y tế dựphòng tỉnh;
d) Báo cáo năm: Hoàn thành báo cáo trước ngày 10 tháng 01 của năm kế tiếp;đ) Cập nhật thông tin của báo cáo trường hợp bệnh và báo cáo tháng: Trongvòng 24 giờ kể từ khi nhận được phản hồi của Trạm Y tế xã về việc sai lệch thôngtin cá nhân của trường hợp bệnh thì Trung tâm Y tế huyện có trách nhiệm cập nhậtthông tin vào hệ thống báo cáo Trong trường hợp không xác minh được địa chỉngười bệnh, Trung tâm Y tế huyện có trách nhiệm phối hợp với Bệnh viện huyện đểxác minh lại thông tin nếu trường hợp đó do Bệnh viện huyện báo cáo hoặc báo cáocho Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh nếu các trường hợp đó do các cơ sở khám chữabệnh tuyến tỉnh hoặc tuyến trung ương báo cáo;
e) Báo cáo ổ dịch: Thực hiện báo cáo ổ dịch ngay sau khi phát hiện, đảm bảokhông muộn hơn 24 giờ kể từ khi phát hiện ổ dịch Sau đó thực hiện báo cáo cậpnhật tình hình ổ dịch hàng ngày (trước 10h00) cho đến khi ổ dịch chấm dứt hoạtđộng và thực hiện báo cáo kết thúc ổ dịch trong vòng 48 giờ kể từ khi ổ dịch chấmdứt hoạt động
g) Phản hồi thông tin: Trước 10h00 hàng ngày, Trung tâm Y tế huyện có tráchnhiệm gửi cho Trạm Y tế xã danh sách các trường hợp bệnh trên địa bàn xã đượcbáo cáo trong hệ thống báo cáo trực tuyến của Bộ Y tế để thực hiện công tác điềutra, xác minh và phòng, chống dịch
Trang 203.5.7 Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh cótrách nhiệm thực hiện báo cáo, cập nhật thông tin cho các Viện Vệ sinh dịch tễ,Viện Pasteur, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng theo quy trình và thời giannhư sau:
a) Báo cáo tuần: Hoàn thành báo cáo hoạt động phòng chống dịch tuần củađơn vị mình trước 14h00 của thứ Tư tuần kế tiếp;
b) Báo cáo tháng: Khi nhận được danh sách người mắc bệnh truyền nhiễmphải báo cáo tháng từ các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur, các Bệnh viện tuyếntrung ương, Bệnh viện tuyến tỉnh, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh có trách nhiệmtổng hợp và gửi cho Trung tâm Y tế huyện trước ngày 08 của tháng kế tiếp để thựchiện công tác báo cáo tháng;
c) Báo cáo năm: Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Phòng chống sốtrét tỉnh có trách nhiệm tổng hợp và báo cáo năm bằng văn bản cho Viện Vệ sinhdịch tễ, Viện Pasteur hoặc Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng phụ trách khuvực (đối với bệnh sốt rét, bệnh do ký sinh trùng, côn trùng) trước ngày 15 tháng 01của năm kế tiếp;
d) Cập nhật thông tin của báo cáo trường hợp bệnh và báo cáo tháng: Khi nhậnđược kết quả xét nghiệm của các mẫu bệnh phẩm từ các Viện Vệ sinh dịch tễ, ViệnPasteur, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng, trong vòng 24 giờ, Trung tâm Y tế
dự phòng tỉnh, Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh có trách nhiệm là đầu mối phốihợp với các đơn vị liên quan để thực hiện việc cập nhật thông tin theo quy định.Trong trường hợp không xác minh được địa chỉ của các trường hợp bệnh, trongvòng 24 giờ, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh cótrách nhiệm là đầu mối phối hợp với các đơn vị liên quan để xác minh lại thông tin
và thực hiện việc cập nhật thông tin theo quy định
4.5.8 Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh thựchiện hoạt động kiểm dịch y tế có trách nhiệm thực hiện báo cáo trường hợp nghingờ, mắc bệnh truyền nhiễm phát hiện tại khu vực cửa khẩu cho các Viện Vệ sinhdịch tễ, Viện Pasteur, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng, Trung tâm Y tế dựphòng tỉnh, Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh
Trang 214.5.9 Các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur, Viện Sốt rét Ký sinh trùng Côn trùng có trách nhiệm thực hiện báo cáo cho Bộ Y tế (Cục Y tế dự phòng) theoquy trình và thời gian như sau:
-a) Báo cáo tuần: Hoàn thành trước 14h00 của thứ Tư của tuần kế tiếp;
b) Báo cáo tháng: Khi nhận được danh sách người mắc bệnh truyền nhiễm cầnbáo cáo tháng từ các Bệnh viện tuyến trung ương, Bệnh viện và Trung tâm Y tếthuộc các Bộ, ngành, các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur có trách nhiệm tổnghợp và gửi danh sách cho Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh trước ngày 07 của tháng kếtiếp;
c) Báo cáo năm: Các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur, Viện Sốt rét - Kýsinh trùng - Côn trùng có trách nhiệm cùng với Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh,Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh và các đơn vị liên quan tiến hành rà soát, thốngnhất số liệu để thực hiện báo cáo năm bằng văn bản cho Bộ Y tế (Cục Y tế dựphòng, Cục Quản lý khám chữa bệnh) trước ngày 31 tháng 01 của năm kế tiếp;d) Cập nhật thông tin báo cáo trường hợp bệnh và báo cáo tháng: Các Viện Vệsinh dịch tễ, Viện Pasteur, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng có trách nhiệmphối hợp với các đơn vị liên quan để xác minh lại thông tin các trường hợp bệnhđược điều trị tại Bệnh viện tuyến trung ương, Bệnh viện và Trung tâm Y tế thuộccác Bộ, ngành khi địa phương không xác minh được địa chỉ của các trường hợpbệnh này và chỉ đạo Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Phòng chống sốt réttỉnh thực hiện việc cập nhật thông tin theo quy định
4.5.10 Phòng Y tế các huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và Sở Y
tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Sở Y tế) có tráchnhiệm tổng hợp số liệu bệnh truyền nhiễm trên địa bàn từ hệ thống báo cáo trựctuyến của Bộ Y tế để chỉ đạo công tác phòng chống dịch trên địa bàn
4.6 Trách nhiệm khai báo dịch bệnh truyền nhiễm
Tại địa phương đang có dịch bệnh, người mắc bệnh truyền nhiễm hoặc nghingờ mắc bệnh truyền nhiễm, người phát hiện trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm cótrách nhiệm thực hiện việc khai báo dịch cho nhân viên y tế thôn, bản, trạm y tế xã
Trang 22hoặc cơ quan y tế gần nhất trong vòng 24 giờ kể từ khi phát hiện theo quy định tạiKhoản 1 Điều 47 Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm.
4.7 Trách nhiệm báo cáo dịch bệnh truyền nhiễm
Ngay sau khi tiếp nhận thông tin về bệnh dịch từ người dân hoặc tự phát hiệncác trường hợp mắc bệnh dịch hoặc nghi ngờ mắc bệnh dịch truyền nhiễm, các cơ
sở y tế phải báo cáo cho cơ quan y tế dự phòng để điều tra, xác minh trong vòng 24giờ Trường hợp xác định thông tin đó là chính xác, cơ quan y tế dự phòng phải báocáo cho cơ quan quản lý nhà nước về y tế nơi xảy ra dịch quy định tại Khoản 2 Điều
47 Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm và báo cáo vào hệ thống báo cáo trựctuyến của Bộ Y tế theo các quy định của Thông tư này
- Là đơn vị đầu mối quản lý, lưu trữ cơ sở dữ liệu bệnh truyền nhiễm;
- Là cơ quan duy nhất được Bộ trưởng Bộ Y tế ủy quyền thông báo quốc tế vềbệnh truyền nhiễm
c) Các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côntrùng:
- Hướng dẫn đơn vị y tế dự phòng của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương thuộc địa bàn phụ trách thực hiện Thông tư này;
Trang 23- Chỉ đạo chuyên môn, kỹ thuật, tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá việcthông tin báo cáo và khai báo bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm tại các đơn vị ở cáctuyến thuộc khu vực phụ trách.
d) Bệnh viện tuyến trung ương: Bố trí người làm chuyên trách, trang thiết bị,kinh phí để thực hiện công tác thông tin báo cáo và khai báo bệnh, dịch bệnh truyềnnhiễm Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị y tế dự phòng trong việc lấy mẫu bệnhphẩm, chia sẻ mẫu bệnh phẩm hoặc chủng tác nhân gây bệnh để chẩn đoán xác định.4.8.2 Trách nhiệm của cơ quan y tế thuộc các Bộ, ngành, bệnh viện tư nhân:a) Bố trí cán bộ, trang thiết bị, kinh phí để thực hiện công tác thông tin báo cáo
và khai báo bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm
b) Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị y tế dự phòng tại địa phương sở tại trongviệc lấy mẫu bệnh phẩm, chia sẻ mẫu bệnh phẩm hoặc chủng tác nhân gây bệnh đểchẩn đoán xác định
4.8.3 Trách nhiệm của Sở Y tế và các đơn vị y tế địa phương:
a) Sở Y tế: Chỉ đạo và tổ chức thực hiện Thông tư trên địa bàn quản lý; chịutrách nhiệm theo dõi, kiểm tra và đôn đốc các đơn vị thực hiện Tham mưu cho Ủyban nhân dân tỉnh, thành phố để bố trí kinh phí cho các đơn vị triển khai và duy trìthực hiện công tác thông tin báo cáo và khai báo bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm.b) Các đơn vị y tế địa phương: Có trách nhiệm bố trí cán bộ chuyên trách,trang thiết bị, kinh phí để thực hiện công tác thông tin báo cáo và khai báo bệnh,dịch BTN
4.9 Điều khoản chuyển tiếp
Đối với các tỉnh triển khai mô hình Trung tâm Kiểm soát bệnh tật quy định tạiThông tư liên tịch số 51/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 11/12/2015 của Bộ trưởng Bộ
Y tế và Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Sở Y tế thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
và Phòng Y tế thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thìđơn vị triển khai mô hình Trung tâm Kiểm soát bệnh tật là đơn vị thay thế Trungtâm Y tế dự phòng tỉnh thực hiện báo cáo theo quy định của Thông tư này
Trang 24Sơ đồ 1: tổ chức hệ thống thông tin, báo cáo BTN hiện nay
Ghi chú: Kênh báo cáo trực tuyến
Kênh báo cáo không trực tuyến (nếu không thực hiện được báo cáo trực tuyến)
(nguồn: được sử dụng theo Thông tư 54/2015/TT-BYT)
5 Thực trạng hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm.
5.1 Yếu tố kỹ thuật
Phòng chống bệnh truyền nhiễm là một nhiệm vụ trọng tâm của công tácYTDP ở nước ta Công tác này đòi hỏi cần phải có một hệ thống thông tin báo cáocác bệnh dịch nhanh chóng, chính xác và kịp thời Tuy nhiên, công tác giám sát và
Trung tâm Y tế huyện
Trang 25phòng chống bệnh truyền nhiễm chưa đạt được kết quả mong muốn do hệ thốnggiám sát bệnh truyền nhiễm còn thụ động và chưa đạt hiệu quả Các báo cáo bệnhtruyền nhiễm hiện nay chủ yếu qua công văn giấy tờ Việc ứng dụng CNTT trongviệc tổng hợp, thống kê, báo cáo còn nhiều hạn chế Do vậy, việc thu thập và xử lýthông tin về các ca bệnh còn gặp nhiều khó khăn.
Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đã điều tra kết hợp phương pháp định lượng
và định tính được thực hiện tại cấp trung ương (Cục YTDP, Cục QLKCB, Vụ phápchế, Vụ KHTC), các viện VSDT/ Pasteur (NIHE, HCM, Nha Trang, Tây Nguyên),
BV Bệnh nhiệt đới Quốc gia, 17/63 tỉnh thuộc 7 vùng địa lý (Hà Nội, Bắc Giang,Lào Cai, Hà Nam, Thái Bình, Ninh Bình, Nghệ An, Thừa thiên Huế, Quảng Nam,Khánh Hoà, Đăk Nông, Kon Tum, Bình Dương, Tây Ninh, Cần Thơ, Vĩnh Long vàSóc Trăng) và tất cả các huyện thuộc 17 tỉnh Kết quả điều tra cho thấy: Trong tổng
số 187 TTYT quận huyện, chỉ có 32,6% TTYT đủ cơ sở làm việc 92,5% được cấpđiện đầy đủ, 68,4% có đủ nước máy, 92,5% có kết nối internet [2] Từ 80% đến100% cán bộ được điều tra biết về hệ thống cảnh báo sớm và đáp ứng nhanh mặcdầu thuật ngữ này còn xa lạ với đông đảo cán bộ Y tế tuyến cơ sở Cũng trong năm2008-2009, để phục vụ cho hoạt động cảnh báo sớm, đáp ứng nhanh và chạy phầnmềm quản lý số liệu EWARS, nhiều tỉnh, huyện được tiếp nhận các trang thiết bịcần thiết Theo kết quả đánh giá: 95,2% đơn vị có máy tính, 85% có máy in, 89,4%
có điện thoại phục vụ hệ thống giám sát, 92,5% đơn vị đã kết nối Internet Đây làthuận lợi về cơ sở vật chất góp phần để phần mềm quản lý dữ liệu EWARS triểnkhai trên diện rộng Tuy nhiên chỉ có 49,3% có máy Fax và 7,5% có máy bộ đàm[2] Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nhận thấy phần mềm quản lý số liệu bệnhtruyền nhiễm còn một số điểm yếu như: chưa có chức năng đồng bộ dữ liệu lênmạng Internet, chưa đưa ra được cảnh báo….Tuy nhiên đây là bước khởi đầu xâydựng hệ thống báo cáo bệnh truyền nhiễm để phục vụ cho hoạt động cảnh báo sớm,đáp ứng nhanh cho ngành y tế tại Việt Nam
Nhằm mục đích nâng cao chất lượng hệ thống báo cáo BTN trên cơ sở hoànthiện hệ thống báo cáo hiện có và khắc phục những khiếm khuyết đã được vạch ra,năm 2010, Cục Y tế dự phòng – Bộ Y tế dự phòng đã ban hành Thông tư
Đơn vị y tế
Cơ quan Nhân viên Y tế thôn bản
Phòng khám tư nhân,
cơ sở chẩn đoán, Bác sỹ gia đình
Trang 2648/2010/TT-BYT về việc hướng dẫn chế độ khai báo bệnh truyền nhiễm và đẩymạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào việc nâng cao chất lượng của hệ thống báocáo bệnh truyền nhiễm 100% đơn vị báo cáo BTN tuyến huyện trở lên đã gửi báocáo BTN bằng E-mail [11] Bước đầu đề xuất triển khai phần mềm “ báo cáo BTNbằng phần mềm trực tuyến” do Cục YTDP, thông qua dự án Hỗ trợ phát triển hệthống YTDP (ADB-47) xây dựng, triển khai thí điểm tại 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội,Thái Bình, Yên Bái, Bình Định, Đắc Lắc, Bình Dương và Đồng Tháp Tuy nhiên,vẫn còn một số hạn chế của phần mềm trực tuyến và của hệ thống báo cáo BTNnhư: Người dùng tuyến Tỉnh gặp khó khăn trong việc bổ sung và chỉnh sửa số liệu;Người dùng bắt buộc phải nhập và hoàn thiện báo cáo tại 1 thời điểm do không cótính năng lưu báo cáo tạm thời; Chức năng kết xuất báo cáo biểu đồ tiêu đề chưađúng với mẫu hiện tại đang được áp dụng; Danh sách các đơn vị hành chính trongphần mềm sắp xếp theo trật tự khác so với báo cáo giấy hiện đang sử dụng; biểumẫu nhập liệu không có giá trị cộng dồn nên khó khăn cho việc kiểm tra tính chínhxác của số liệu; Số liệu luôn phải cập nhật, chỉnh sửa do phải thu thập số liệu do hệđiều trị gửi lên, dẫn đến tình trạng báo cáo không đúng hạn; Mẫu báo cáo của phầnmềm chưa có chức năng Freeze (giữ dòng tiêu đề) gây khó khăn khi nhập liệu; Báocáo tuần và tháng khi kết xuất sang định dạng Excel phải mất nhiều thời gian chỉnhsửa để có thể in đủ trên khổ giấy A4; cơ chế sao lưu và phục hồi dữ liệu ở mức cảnước không cho phép sao lưu/phục hồi số liệu ở cho 1 đơn vị; cơ sở dữ liệu chomodule bản đồ của phần mềm chưa được cập nhật; chưa có báo cáo về tỷ lệmắc/chết trên 100.000 dân [16].
5.2 Yếu tố tổ chức
Để công tác phòng chống dịch bệnh được tổ chức kịp thời, hạn chế, giảm thiểu
sự lây lan dịch bệnh trong cộng đồng, hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm đượccác đơn vị y tế từ tuyến Trung ương đến tuyến cơ sở rất chú ý và quan tâm, trong đóvấn đề tổ chức nhân sự, tổ chức bố trí trang thiết bị cho các cơ sở y tế và nhân viên
y tế rất được quan tâm
Trang 27Ngay từ năm 2008, Trung tâm Nghiên cứu Sức khoẻ Cộng đồng và Phòngchống Chấn thương (CCHIP) đã thực hiện “Xây dựng và áp dụng thí điểm mô hìnhbáo cáo bệnh truyền nhiễm” với mục tiêu cụ thể của hoạt động: (i) Xây dựng môhình và hướng dẫn áp dụng thí điểm mô hình hệ thống báo cáo bệnh truyền nhiễmqua mạng Internet, (ii) Đánh giá kết quả thí điểm áp dụng mô hình báo cáo bệnhtruyền nhiễm qua mạng Internet, (iii) Lập kế hoạch chi tiết nhân rộng mô hình báocáo bệnh truyền nhiễm qua mạng Internet Dựa trên những kết quả đánh giá cơ sở(baseline) tại 8 tỉnh dự án VAHIP, Trung tâm CCHIP đã xây dựng tài liệu kỹ thuậthướng dẫn việc triển khai mô hình báo cáo bệnh truyền nhiễm Tài liệu được hoànthiện theo ý kiến của các chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực báo cáo bệnh truyềnnhiễm Mô hình được áp dụng thí điểm tại 6 đơn vị tuyến trung ương (4 viện VSDT
và pasteurs, BV bệnh nhiệt đới TƯ và BV nhi TƯ), 11 đơn vị tuyến tỉnh và 16 cơ sởtuyến huyện thuộc, 8 TYT xã và 53 thôn/bản/ấp thuộc 2 tỉnh (Thái Bình và LongAn) Kết quả thí điểm mô hình cho thấy những kết quả tích cực trong việc tăngcường khả năng phát hiện sớm, đáp ứng nhanh của hệ thống báo cáo bệnh truyềnnhiễm Cụ thể: Làm tăng một số chỉ tiêu hoàn thiện cơ cấu, tổ chức nhân lực theohướng chuyên trách hóa hệ thống báo cáo bệnh truyền nhiễm tại tuyến và cơ sởgiám sát: Tỷ lệ cơ sở có đơn vị/nhân viên GS thường trực và có bảng mô tả chứctrách nhiệm vụ, yêu cầu chất lượng của đơn vị/nhân viên GS từ tuyến huyện trở lên
là 91,6%, tăng 2,2 lần so với trước thí điểm Tại TT.YTDP tỉnh, Viện khu vực là100% Tại các BV công tư là 80% Tỷ lệ xã thí điểm tổ chức được hệ thống CTVgiám sát tại cộng đồng (CBS), đặc biệt cho cúm gia cầm là 100%, Hệ thống CTVbước đầu hoạt động có hiệu quả Tỷ lệ đơn vị cơ động đáp ứng nhanh được tổ chức
và hoạt động theo đúng quy định của mô hình, đặc biệt đối với cúm gia cầm là100% các thí điểm Tỉnh Long An triển khai diễn tập phối hợp lực lượng chống dịchcúm A(H5N1) với 7 nội dung hoạt động giám sát và đáp ứng PCD tại hai huyện thíđiểm [11]
Từ năm 2010 đến năm 2014, Bộ Y tế thông qua Dự án Hỗ trợ Y tế dự phòng(ADB47) và Dự án sẵn sàng ứng phó đại dịch cúm (VAHIP) đã cung cấp máy tính
và hỗ trợ kết nối internet cho các đơn vị triển khai thí điểm ứng dụng công nghệ
Trang 28thông tin vào công tác báo cáo bệnh truyền nhiễm Tuy nhiên việc trang bị máy tínhchưa được đồng đều do kinh phí của các Dự án trên cho hoạt động là hạn chế, cụthể: Dự án ADB 47 chỉ cấp máy tính cho tuyến huyện cho 47 tỉnh, thành phố thuộc
Dự án và Dự án VAHIP chỉ cấp máy tính đến cho tuyến xã của 8 tỉnh, thành phốthuộc Dự án
Đường truyền Internet tại các trung tâm y tế huyện hầu hết đều sử dụng góiADSL MegaVNN 4096Kbps/512Kbps và truy cập cho toàn đơn vị Tại 91 đơn vịtuyến huyện triển khai thử nghiệm đều có máy tính kết nối internet, và được ưu tiên
sử dụng cho hệ thống báo cáo bệnh truyền nhiễm [11]
Từ năm 2002 đến nay, Bộ Y tế đã 03 lần ban hành các Quyết định và Thông
tư chỉ đạo nhằm tăng cường, nâng cao năng lực của hệ thống báo cáo bệnh truyềnnhiễm tại Việt Nam Lần thứ nhất, năm 2002, Bộ Y tế ban hành Quyết định4880/2002/QĐ-BYT; tiếp đó để nâng cao hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm,Thông tư 48/2010/TT-BYT đã được ra đời vào năm 2010 Đến nay, để tiếp cận vàtheo kịp với các nước trên thế giới, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 54/2015/TT-BYTvào năm 2015 về việc hướng dẫn chế độ, khai báo, thông tin và báo cáo bệnh truyềnnhiễm
Bên cạnh việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và bố trí nhân sự chohoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm thì công tác đào tạo cán bộ để nâng cao kiếnthức về cảnh báo sớm và đáp ứng nhanh các tình huống dịch bệnh có thể xảy ra tạiđịa phương Khoảng 70% % cán bộ được tập huấn về cảnh báo sớm, đáp ứngnhanh 42,7% được tập huấn về dịch tễ học, 10,6% được tập huấn về hệ thống quản
lý dẫn liệu EWARS và 21,6% được tập huấn về kiểm soát lây nhiễm [2] Có 100%
số tỉnh và 40,7% số huyện đánh giá đã tổ chức diễn tập cho các đội phản ứng nhanh.Tỉnh có tỷ lệ huyện đã diễn tập cao là Thừa Thiên- Huế (88,9%), Thái Bình (75%),Quảng Nam (72,2%), Hà Nội( 62,7%), Tây Ninh (66,7%) Có 4 tỉnh chưa tổ chứcdiễn tập ở tuyến huyện là Bắc Giang, Khánh Hoà, Bình Dương, Vĩnh Long [2].Kết quả thí điểm mô hình báo cáo bệnh truyền nhiễm do Dự án VAHIP triểnkhai năm 2010 cho thấy những kết quả tích cực trong việc tăng cường khả năng
Trang 29phát hiện sớm, đáp ứng nhanh của hệ thống GSBTN, cụ thể như: Làm thay đổitrong nhận thức và thái độ của cán bộ lãnh đạo và người trực tiếp làm công tácGSBTN: Tỷ lệ % người biết định nghĩa về ca bệnh cúm gia cầm H5N1 từ 66,6% lên100%; Tỷ lệ người người có nhận thức và thái độ đúng về vai trò và cơ sở pháp lýcủa GSBTN từ 77,7% lên 100% [13]
Năm 2012, để nâng cao khả năng sử dụng phần mềm trực tuyến vào công tácbáo cáo bệnh truyền nhiễm, Cục Y tế dự phòng – Bộ Y tế đã phối hợp với các đơn
vị liên quan thực hiện 08 lớp tập huấn cho 11 tỉnh/ TP: Yên Bái, Hà Nội, Thái Bình,Bình Định, Bình Dương và Đắk Lắk từ tháng 3 đến tháng 7/2012 cho 290 cán bộ y
tế [16] Tuy nhiên vẫn còn một số khó khăn trong công tác cán bộ như: cán bộ đitập huấn về chưa phổ biến, hướng dẫn cho cán bộ liên quan khi không có mặt ở cơquan, dẫn đến chậm trễ trong công tác báo cáo bệnh truyền nhiễm hoặc có đơn vị cửcán bộ đi tập huấn chưa phù hợp khi tham gia tập huấn, đào tạo
Nhằm tăng cường năng lực của Chính phủ Việt Nam trong việc xác định, dựphòng và kiểm soát bệnh truyền nhiễm, Dự án sáng kiến cúm gia cầm và đại dịch(USAID/APII) được triển khai mô hình can thiệp được thí điểm từ tháng 3 đếntháng 9/2011 tại 123 xã thuộc 5 tỉnh (Hưng Yên, Hà Nam, Quảng Trị, Cần Thơ vàKiên Giang) nhằm phát hiện kịp thời, báo cáo và đáp ứng những ca bệnh có thể gâydịch trên gia cầm và trên người Mô hình sử dụng hệ thống cộng tác viên y tế và thú
y cấp thôn bản, liên kết với hệ thống giám sát dịch quốc gia ở mỗi ngành Đánh giáđộc lập được thực hiện trong tháng 4/2012 tại 6 huyện thuộc 3 tỉnh Hưng Yên,Quảng Trị và Cần Thơ Số liệu được thu thập theo 5 cách: (i) Xem xét các số liệudịch tễ học sẵn có, (ii) điều tra cộng tác viên, (iii) Điều tra hộ gia đình, (iv) phỏngvấn sâu các hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi dịch cúm gia cầm, và (v) phỏng vấn sâucác bên liên quan ngành thú y và y tế tại các cấp (xã, huyện, tỉnh) Một số kết quảcho thấy: Tỷ lệ cộng tác viên nhớ được những bệnh phải được giám sát thì còn thấp
ở Cần Thơ và Hưng Yên (28-55%) nhưng các cộng tác viên tuyến tỉnh Quảng Trịthì có kiến thức tốt (khoảng 70%) Tỷ lệ cộng tác viên cho biết là bệnh tả phải đượcbáo cáo ngay lập tức thì còn thấp ở tất cả các tỉnh, chỉ từ 18-45% Cán bộ y tế xã ở
Trang 30một số tỉnh lưu ý rằng các cộng tác viên gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa tiêuchảy và bệnh tả, và do đó các ca bệnh tiêu chảy (nặng hơn là bệnh tả) cần được báocáo để họ có thể điều tra ca bệnh [13] Tỷ lệ cộng tác viên sử dụng yếu tố dịch tễhọc để phân biệt ca bệnh nghi ngờ cúm A(H5N1) và bệnh giống như cúm thì cònthấp, chỉ từ 10-39% [13] ở 6 huyện Vấn đề này sẽ tác động lên việc thực thi hệthống, đưa ra những khung thời gian báo cáo khác nhau cho 2 bệnh.
Nhìn chung, hệ thống báo cáo bệnh truyền nhiễm sẽ được cải thiện hơn khicác cán bộ y tế nắm vững các kiến thức về dịch tễ học, định nghĩa trường hợp bệnhtruyền nhiễm và các ứng dụng của công nghệ thông tin
5 3 Chất lượng báo cáo (tính đúng hạn và tính đầy đủ) số liệu của hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm.
Chất lượng của hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm là nền tảng cho việcphòng chống dịch bệnh truyền nhiễm Theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới vàTrung tâm Kiểm soát bệnh dịch Hoa Kỳ, bất kỳ hoạt động báo cáo bệnh truyềnnhiễm nào cũng có tổ chức, cấu trúc, chức năng tương tự nhau Các hướng dẫn đánhgiá báo cáo bệnh truyền nhiễm được Trung tâm Kiểm soát bệnh dịch Hoa Kỳ pháttriển từ năm 1988
Tại Việt Nam, các nghiên cứu đánh giá báo cáo bệnh truyền nhiễm mới được
đề cập gần đây Nghiên cứu năm 2002 cho thấy việc triển khai hoạt động báo cáobệnh truyền nhiễm không dễ thực hiện (25%-58%) và không đơn giản (37%-59%)[14] Hiện nay phần lớn các ca bệnh được báo cáo tại tuyến xã, huyện chỉ dựa vàodấu hiệu lâm sàng Chính vì vậy, Tổ chức Y tế thế giới và các quốc gia cần tậptrung nhiều nguồn lực cải thiện hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm, đặc biệt đốivới những nước đang phát triển có nguồn lực hạn chế như Việt Nam
Từ năm 2010 đến nay, hệ thống báo cáo bệnh truyền nhiễm được triển khaitheo Thông tư 48/2010/TT-BYT và từ năm 2012 áp dụng triển khai thí điểm phầnmềm báo cáo bệnh truyền nhiễm tại 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Thái Bình, BìnhDương, Bình Định, Đắc Lắc, Yên Bái, Đồng Tháp và tính đến hết tháng 12/2012 có
Trang 3167% báo cáo qua phần mềm trùng khớp với báo cáo bằng văn bản, 33 % các báocáo chưa khớp số liệu [16] Từ năm 2014, phần mềm báo cáo bệnh truyền nhiễmtriển khai chính thức trên toàn quốc, chất lượng báo cáo đã được cải thiện hơn: tínhđến hết tháng 12/2016 có 80% báo cáo qua phần mềm trùng khớp với báo cáo bằngvăn bản, 45 % các báo cáo chưa khớp với báo cáo bằng văn bản [18] và có 85% báocáo được báo cáo đúng hạn theo quy định
Đặc biệt, lần đầu tiên từ trước tới nay, việc ứng dụng phần mềm báo cáo bệnhtruyền nhiễm đã mở ra cho tuyến xã từ năm 2012 với sự thí điểm tại 8 tỉnh, thànhphố: Hà Nội, Thái Bình, Lạng Sơn, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Long An, TiềnGiang và Đồng Tháp Một số kết quả được của hoạt động báo cáo như sau:
Biểu đồ 1: Kết quả các xã điểm nhập đầy đủ báo cáo tuần năm 2012
(nguồn: Báo cáo đánh giá kết quả thử nghiệm phần mềm báo cáo bệnh truyền nhiễm tại
các xã điểm, Dự án VAHIP, 2014)
Trang 32Biểu đồ 2: Kết quả các xã điểm nhập đầy đủ báo cáo tuần năm 2013 đến tuần
17/2014
(nguồn: Báo cáo đánh giá kết quả thử nghiệm phần mềm báo cáo bệnh truyền nhiễm tại
các xã điểm, Dự án VAHIP, 2014)
Biểu đồ 3: Kết quả các xã điểm nhập đầy đủ báo cáo tháng năm 2012
(nguồn: Báo cáo đánh giá kết quả thử nghiệm phần mềm báo cáo bệnh truyền nhiễm tại
các xã điểm, Dự án VAHIP, 2014)
Trang 33Biểu đồ 4: Kết quả các xã điểm nhập đầy đủ báo cáo tháng năm 2013 đến tháng
và phản ứng kịp thời để phòng chống dịch bệnh hiệu quả Do đó, việc cải thiện chấtlượng hoạt động báo cáo bệnh truyền nhiễm là rất cần thiết và Bộ Y tế đã ban hànhThông tư 54/2015/TT-BYT ngày 28/12/2015 để cải thiện chất lượng hoạt động báocáo bệnh truyền nhiễm và việc chọn tỉnh Bắc Giang là tỉnh đầu tiên của cả nước đểtriển khai là rất cần thiết
Trang 346 Khung lý thuyết
Nội dung hoạt động đánh giá theo Thông tư 54/2015/TT-BYT:
Đánh giá nội dung thông tin báo cáo (tính đầy đủ): Số lượng các báo cáo(báo cáo trường hợp bệnh, báo cáo tuần, báo cáo tháng) được các đơn vị nhậptrực tiếp vào phần mềm theo quy định trong Thông tư
Đánh giá quy trình thông tin báo cáo (tính đúng hạn): các đơn vị nhập,cập nhật số liệu theo thời gian đã được quy định trong Thông tư
7 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Huyện Việt Yên là huyện trung du nằm ở phía nam và cách tỉnh lị Bắc Giang
10 km, gồm 19 xã, thị trấn Trong những năm gần đây, Việt Yên có nhiều doanhnghiệp của Trung ương, nước ngoài và của tỉnh đóng trên địa bàn như sản xuất vậtliệu xây dựng, may, chế biên phân bón, giấy, bia, nước giải khát , đặc biệt còn cóKCN đầu tiên của tỉnh với nhiều dự án đầu tư đang được thực hiện
Các yếu tố
kỹ thuật
- Phần mềm báo cáo BTN
- Báo cáo trường hợp bệnh
- Báo cáo tuần
- Báo cáo tháng
Quy trình thông tin báo cáo (tính đúng hạn)
- Thời gian Trạm
Y tế xã báo cáo
- Thời gian Trung tâm Y tế huyện báo cáo
- Thời gian Bệnh viện đa khoa báo cáo
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG
BÁO CÁO BTN
CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO SỐ LIỆU CỦA HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO BTN
Trang 35Huyện Tân Yên là huyện miền núi, cách huyện Sóc Sơn – Hà Nội 30 km, cácthành phố Thái Nguyên cách 40 km Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triểnmạnh Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 30%/năm.
Quá trình triển khai thí điểm Thông tư 54/2015/TT-BYT tại tỉnh Bắc Giangđạt được như sau:
Ngày 30/3/2016: Cục Y tế dự phòng phê duyệt kế hoạch triển khai thí điểmThông tư 54 tại Bắc Giang;
Ngày 8/4/2016: Sở Y tế Bắc Giang phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiệnThông tư 54 cho các đơn vị y tế trên địa bàn tại kế hoạch số 51/KH-SYT;
7 2 Tổ chức hội thảo
Tổ chức hội thảo phổ biến Thông tư 54/2015/TT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế
và triển khai thí điểm phần mềm, cụ thể như sau:
- Thời gian: 1 ngày, ngày 11/4/2016
- Địa điểm: TP Bắc Giang
- Thành phần: Lãnh đạo đơn vị và cán bộ có khả năng sử dụng máy tính đượcphân công chuyên trách báo cáo bệnh truyền nhiễm, trong đó: tuyến tỉnh: Sở Y tếBắc Giang, Trung tâm YTDP Bắc Giang, Bệnh viện đa khoa Bắc Giang, Bệnh việnSản nhi Bắc Giang, Bệnh viện Y học cổ truyền Bắc Giang; tuyến huyện và tươngđương: Trung tâm Y tế, Bệnh viện đa khoa, Phòng Y tế; Bệnh viện Bộ/ngành (4 đơnvị): Bệnh viện 110 - Cơ sở 2, Dĩnh Trì, TP Bắc Giang; Phòng khám đa khoa Giao
Trang 36thông vận tải Bắc Giang; Phòng khám đa khoa Giao thông vận tải Bắc Giang - Cơ sở
2, thị trấn Kép - Lạng Giang; Bệnh viện tư nhân (2 đơn vị): Bệnh viện đa khoa SôngThương và Phòng khám đa khoa - BV Y học cổ truyền LanQ; Phòng khám đa khoakhu vực (4 đơn vị): Lục Ngạn, Tân Sơn, Mai Sưu, Mỏ Trạng; Phòng khám đa khoa(10 đơn vị): Tân Mỹ, Bích Động, Tân Dân, Uyên Sơn, Anh Quất, Bố Hạ, Bảo Minh,Ngọc Thiện, 108 Hùng Cường, Hà Nội - Bắc Giang
7 3 Tổ chức tập huấn
Tập huấn hướng dẫn sử dụng phần mềm (2 lớp), cụ thể như sau:
- Thời gian: 2 ngày, ngày 12-13/4/2016
- Địa điểm: TP Bắc Giang
+ Thành phần: Mỗi đơn vị cử cán bộ có khả năng sử dụng máy tính được phâncông chuyên trách báo cáo bệnh truyền nhiễm, cụ thể như sau: Sở Y tế Bắc Giang,Trung tâm YTDP Bắc Giang, Bệnh viện đa khoa Bắc Giang, Bệnh viện Sản nhi BắcGiang, Bệnh viện Y học cổ truyền Bắc Giang; tuyến huyện và tương đương: Trungtâm Y tế, Bệnh viện đa khoa, Phòng Y tế; Bệnh viện Bộ/ngành (4 đơn vị): Bệnh viện
110 - Cơ sở 2, Dĩnh Trì, TP Bắc Giang; Phòng khám đa khoa Giao thông vận tải BắcGiang; Phòng khám đa khoa Giao thông vận tải Bắc Giang - Cơ sở 2, thị trấn Kép -Lạng Giang; Bệnh viện tư nhân (2 đơn vị): Bệnh viện đa khoa Sông Thương vàPhòng khám đa khoa - BV Y học cổ truyền LanQ; Phòng khám đa khoa khu vực (4đơn vị): Lục Ngạn, Tân Sơn, Mai Sưu, Mỏ Trạng; Phòng khám đa khoa (10 đơn vị):Tân Mỹ, Bích Động, Tân Dân, Uyên Sơn, Anh Quất, Bố Hạ, Bảo Minh, Ngọc Thiện,
108 Hùng Cường, Hà Nội - Bắc Giang
7 4 Triển khai tại các đơn vị: Cuối tháng 4 và đầu tháng 5/2016: Các
Trung tâm Y tế tuyến huyện tổ chức hội thảo triển khai thực hiện Thông tư 54 cho các đơn vị y tế trên địa bàn
7 5 Công tác giám sát, hỗ trợ
Tháng 6/2016: Tổ chức các đợt giám sát các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh BắcGiang triển khai Thông tư 54 và phần mềm báo cáo bệnh truyền nhiễm với sự tham
Trang 37gia của Cục Y tế dự phòng phối hợp với Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Tổ chức Y
tế thế giới, Sở Y tế Bắc Giang và Trung tâm Y tế dự phòng Bắc Giang Các đợtgiám sát được thực hiện tại Trung tâm Y tế huyện và Bệnh viện đa khoa huyện của
10 huyện, thành phố thuộc tỉnh Bắc Giang
7.6 Một số kết quả giám sát
a Số đơn vị báo cáo bằng phần mềm:
Tuyến tỉnh: có 2 trên tổng số 5 đơn vị cần thực hiện (3 đơn vị chưa thực hiệngồm: Bệnh viện sản nhi Bắc Giang, Bệnh viện Y học cổ truyền Bắc Giang, Bệnhviện Lao và Phổi Bắc Giang)
Tuyến huyện: cả 10 Trung tâm Y tế huyện đang thực hiện báo cáo và có 7 trêntổng số 10 Bệnh viện đa khoa huyện cần thực hiện báo cáo (3 Bệnh viện đa khoachưa thực hiện gồm: Hiệp Hòa, Lạng Giang và thành phố Bắc Giang)
Tuyến xã: hiện nay các Trạm Y tế xã chủ yếu vẫn báo cáo theo hệ thống cũ(Thông tư 48), chưa triển khai báo cáo theo hệ thống báo cáo Thông tư 54
Bệnh viện, phòng khám tư nhân: có 01 đơn vị trên tổng số 15 bệnh viện,phòng khám tư nhân tham gia thực hiện báo cáo (đơn vị đã thực hiện báo cáo làPhòng khám đa khoa 108 Hùng Cường, Hà Nội – Bắc Giang)
Bệnh viện Bộ/ngành đóng trên địa bàn: 02 cơ sở của Bệnh viện Giao thôngvận tải Bắc Giang chưa tham gia thực hiện báo cáo
b Báo cáo trường hợp bệnh:
153 trường hợp bệnh theo danh mục bệnh phải báo cáo được quy định củaThông tư 48/2010/TT-BYT (cao hơn 95 trường hợp bệnh so với hệ thống phầnmềm của Thông tư 48/2010/TT-BYT đang chạy song song) Báo cáo được 29trường hợp mắc các bệnh mới bổ sung theo Thông tư 54/2015/TT-BYT
c Báo cáo tuần:
Số báo cáo của Trung tâm YTDP: thực hiện được 3 trên tổng số 8 báo cáo cầnthực hiện; số báo cáo của Trung tâm Y tế huyện: các Trung tâm Y tế huyện (10huyện) đã thực hiện được 53 trên tổng số 80 báo cáo cần thực hiện
Trang 38Số báo cáo của Trạm Y tế xã: 89 trên tổng số 230 xã (huyện nhập thay) thưchiện được 584/1840 báo cáo cần thực hiện Chủ yếu là các Trạm Y tế xã vẫn báocáo theo hệ thống cũ (Thông tư 48), chưa triển khai báo cáo theo hệ thống báo cáoThông tư 54.
d Báo cáo tháng:
Số báo cáo của Trung tâm YTDP: thực hiện được đầy đủ 02 báo cáo cần thựchiện; số báo cáo của Trung tâm Y tế huyện: các Trung tâm Y tế huyện (10 huyện)thực hiện được đủ 20 báo cáo cần thực hiện
Số báo cáo của Trạm Y tế xã: 89 trên tổng số 230 xã (huyện nhập thay) thưchiện được 312/460 báo cáo cần thực hiện Chủ yếu là các Trạm Y tế xã vẫn báo cáotheo hệ thống cũ (Thông tư 48), chưa triển khai báo cáo theo hệ thống báo cáoThông tư 54
7.7 Một số khó khăn khi triển khai thí điểm
Các Bệnh viện, Phòng khám đa khoa của các Bộ, ngành đóng trên địa bàn vàcác bệnh viện, phòng khám đa khoa tư nhân chưa tham gia vào hệ thống báo cáobệnh truyền nhiễm theo Thông tư 54 (hiện có 01 Phòng khám tư nhân Hùng Cường– 108 báo cáo vào hệ thống)
Còn một số bệnh viện đa khoa huyện chưa triển khai: Hiệp Hòa, Lạng Giang
và thành phố Bắc Giang Các bệnh viện chưa có quy trình báo cáo các bệnh truyềnnhiễm giữa các Khoa, Phòng trong bệnh viện để đảm bảo thời gian nhập số liệu vàophần mềm và chưa thực hiện việc cập nhật ca bệnh theo quy định của Thông tư 54(đặc biệt tình trạng chuyển viện, ra viện, tử vong, thay đổi chẩn đoán) Bên cạnh đó,cán bộ phụ trách triển khai phần mềm báo cáo bệnh truyền nhiễm tại các bệnh việncòn kiêm nhiệm nhiều việc
Các Trung tâm Y tế huyện chưa thực hiện trích xuất danh sách ca bệnh từphần mềm để gửi cho Trạm Y tế xã trong công tác xác minh, phòng chống dịch.Các chức năng của phần mềm chưa hoàn thiện
Trang 39Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp nghiên cứu
1.1 Đối tượng
a Các báo cáo: Các báo cáo Trường hợp bệnh (biểu mẫu 1), báo cáo tuần (biểumẫu 2), báo cáo tháng (biểu mẫu 4) được thực hiện trong 9 tháng (từ tháng 4 đếntháng 12 năm 2016)
b Cán bộ làm công tác báo cáo bệnh truyền nhiễm
1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn: Các báo cáo được thực hiện trong 9 tháng (từ
tháng 4 đến tháng 12 năm 2016) và các cán bộ làm công tác báo cáo bệnhtruyền nhiễm sẽ được phỏng vấn định tính
1.3 Tiêu chuẩn loại trừ: Không có ca bệnh tại thời điểm 9 tháng nêu trên
và cán bộ được phỏng vấn định tính vắng mặt
2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11/2016 đến tháng 9/2017.
2.2 Địa điểm nghiên cứu
a Các báo cáo sử dụng trong nghiên cứu được lấy từ 37 đơn vị: Trung tâm Y tế,Bệnh viện đa khoa và 33 Trạm Y tế xã thuộc 02 huyện: Việt Yên và Tân Yên
b Phiếu thu thập thông tin định lượng sử dụng trong nghiên cứu được thu thập
từ 37 đơn vị: Trung tâm Y tế, Bệnh viện đa khoa và 33 Trạm Y tế xã thuộc 02huyện: Việt Yên và Tân Yên
b Phiếu thu thập thông tin định tính sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ
6 đơn vị: Trung tâm Y tế và Bệnh viện đa khoa 02 huyện: Việt Yên và Tân Yên; 02Trạm Y tế xã (mỗi huyện chọn 01 xã)
Trang 40- Việc nghiên cứu định tính để tìm ra các rào cản, khó khăn của hệ thống báocáo bệnh truyền nhiễm sẽ được tìm hiểu phỏng vấn sâu các nội dung tại cả 02 mụctiêu của đề tài (mô tả thực trạng và đánh giá tính đầy đủ, kịp thời của báo cáo).Kết quả của nghiên cứu định lượng, định tính và kết hợp với bảng kiểm sẽ đánhgiá chất lượng báo cáo số liệu (tính đầy đủ và tính đúng hạn) của hoạt động báo cáobệnh truyền nhiễm và tìm ra các rào cản, khó khăn của hệ thống báo cáo bệnhtruyền nhiễm để việc triển khai tại các đơn vị, địa phương khác được thuận lợi hơn.
4 Phương pháp chọn mẫu
4.1 Các báo cáo: Lấy toàn bộ các báo cáo trong thời gian nghiên cứu với tổng
số 1665 báo cáo, trong đó:
a) Báo cáo tuần: (33 báo cáo của xã x 4 tuần x 9 tháng) + (4 báo cáo của huyện
x 4 tuần x 9 tháng) = 1332 báo cáo
b) Báo cáo tháng: (33 báo cáo của xã x 9 tháng) + (4 báo cáo của huyện x 9
tháng) = 333 báo cáo
c) Báo cáo trường hợp bệnh: lấy toàn bộ báo cáo.
4.2 Thông tin định lượng: Tổng cộng có 37 Phiếu được thu thập từ 37 đơn vị
(đại diện 01 cán bộ làm công tác báo cáo bệnh truyền nhiễm tại 37 đơn vị sẽ điềnthông tin vào phiếu định lượng và gửi qua đường thư điện tử cho 01 cán bộ tạiTrung tâm Y tế huyện tập hợp và gửi cho nghiên cứu viên)