ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ - HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAMỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG - VIỆN SỬ HỌC KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC “VUA LÝ NAM ĐẾ VỚI CĂN CỨ ĐỘNG KHUẤT LÃO, XÃ VĂN LƯƠNG,
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ - HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG - VIỆN SỬ HỌC
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
“VUA LÝ NAM ĐẾ VỚI CĂN CỨ ĐỘNG KHUẤT LÃO,
XÃ VĂN LƯƠNG, HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ”
Phú Thọ - 2014
Trang 2KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
“VUA LÝ NAM ĐẾ VỚI CĂN CỨ ĐỘNG KHUẤT LÃO,
XÃ VĂN LƯƠNG, HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ”
2
Trang 3ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ - HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG - VIỆN SỬ HỌC
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
“VUA LÝ NAM ĐẾ VỚI CĂN CỨ ĐỘNG KHUẤT LÃO,
XÃ VĂN LƯƠNG, HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ”
Phú Thọ - 2014
Trang 4Tượng Vua Lý Nam Đế tại Đền thờ Lý Nam Đế thuộc Gò Cổ Bồng
khu 2, xã Văn Lương, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ
LỜI GIỚI THIỆU
4
Trang 5Tam Nông là huyện miền núi, nằm ở phía Tây Nam tỉnh Phú Thọ, diệntích tự nhiên 15.596,92 ha, dân số trên 84.000 người; 20 đơn vị hành chính trựcthuộc huyện, bao gồm 19 xã và 01 thị trấn, với 172 khu dân cư Toàn huyện hiện
có 20 dân tộc (Kinh, Tày, Thái, Mường, Hoa, Nùng, H.Mông, Dao, Sán Chung,
Co Ho, Thổ, Tà Ôn, La Chí, Lô Lô…) Đảng bộ huyện có 42 cơ sở đảng với5.867 đảng viên (tính đến tháng 12/2013)
Huyện Tam Nông có vị trí, địa lý, kinh tế thuận lợi; là cửa ngõ, cầu nốigiữa Thủ đô Hà Nội với các tỉnh Đông Bắc, Tây Bắc của Tổ quốc Được tỉnh vàNhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu công nghiệp tạo điều kiện cho
sự phát triển chung của huyện Cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân và đặcbiệt là Ban chấp hành Đảng bộ huyện đã phát huy truyền thống đoàn kết, thốngnhất, tập trung sức lực và trí tuệ xây dựng huyện Tam Nông ngày càng giàu đẹp,đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện Tư tưởngcủa cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnhđạo của Đảng, chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách vàpháp luật của Nhà nước, các chủ trương lớn của tỉnh cũng như của huyện đề ra,tích cực lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội
Địa hình của huyện thể hiện những nét đặc trưng của một vùng bán sơnđịa Với diện tích đất đai, tài nguyên, cho phép huyện có khả năng phát triểnnông nghiệp đa dạng, phong phú, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng
đa dạng hoá cây trồng vật nuôi Mặt khác, xuất phát từ tiềm năng đất đai và tàinguyên, cùng hệ thống giao thông thuận lợi, huyện Tam Nông có nhiều lợi thếphát triển sản xuất công nghiệp và dịch vụ thương mại Những năm qua, kinh tếcủa huyện đã từng bước phát triển trên nhiều lĩnh vực như: Sản xuất lương thực,thuỷ sản, chăn nuôi bò thịt, phát triển vùng nguyên liệu giấy, sản xuất vật liệuxây dựng, sản xuất hàng sơn mài, nhựa sơn, mây tre đan, nghề mộc gia dụng ,
cơ sở hạ tầng khu công nghiệp đã được hình thành và đầu tư phục vụ phát triểncông nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Huyện Tam Nông 三 農, tỉnh Phú Thọ hiện nay, từ đời Trần (1225-1400)
trở về trước gọi là châu Cổ Nông 古 農 Thời thuộc Minh (1407-1427), vẫn gọi
là châu Cổ Nông, thuộc vào phủ Đà Dương Tháng 3 năm Quang Thuận thứ 10(1469), vua Lê Thánh Tông định bản đồ trong cả nước, gồm 12 thừa tuyên,trong đó Thừa tuyên Sơn Tây, có sáu phủ là: Quốc Oai, Tam Đái, Lâm Thao,Đoan Hùng, Đà Dương và Quảng Oai Phủ Đà Dương quản lãnh 2 huyện là TamNông và Bất Bạt1 Như vậy, tên huyện Tam Nông xuất hiện lần đầu tiên vàonăm 1469 dưới triều Lê Thánh Tông, và được đổi từ Cổ Nông mà thành (Bài
tham luận tại Hội thảo khoa học Vua Lý Nam Đế với căn cứ Động Khuất Lão,
xã Văn Lương, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ của PGS.TS Nguyễn Minh
Trang 6Vương) Nơi đây xưa kia đã diễn ra cuộc kháng chiến trong phong trào CầnVương chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX, gắn liền với tên tuổi Danh nhânvăn hóa Nguyễn Quang Bích (1832 - 1890) Thời kỳ chống thực dân Pháp xâmlược, Tam Nông đã vinh dự đón Chủ Tịch Hồ Chí Minh và đồng chí TrườngChinh - Tổng Bí thư của Đảng về ở làm việc trong những ngày đầu toàn Quốckháng chiến (tháng 3/1947) Năm 2005 Đảng bộ và nhân dân Tam Nông Vinh
dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân thời kỳchống Pháp, Huân chương lao động hạng nhì thời kỳ đổi mới
Đặc biệt nơi đây xưa kia đã diễn ra cuộc kháng chiến chống quân Lươngcủa Vua Lý Nam Đế (Tên huý là Lý Bôn, Lý Bí) là người xưng Đế đầu tiên củanước Nam, lấy tên hiệu nước ta là Vạn Xuân; cuộc đời và sự nghiệp của Ônggắn liền với cuộc chiến tranh chống lại phong kiến phương Bắc từ năm 541 -
548 (Thế kỷ thứ VI sau Công nguyên) Quê hương của ông tại Thôn Cổ Pháp, xã
Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (Hội thảo Khoa học - Một số vấn
đề về Vương triều Tiền Lý và quê hương của Vua Lý Nam Đế được tổ chức tại
Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội tháng 12 năm 2012
Lý Bí (còn có tên gọi là Lý Bôn) sinh ngày 12 tháng 9 năm Quý Mùi (tứcngày 17 tháng 10 năm 503) Căm thù giặc Lương tàn bạo, ông đã triệu tập nhândân cùng các hào kiệt nổi dậy chống lại quân Lương từ năm 541 đến cuối năm
542 Sau khi đánh đuổi quân xâm lược, đến tháng Giêng năm 544 Lý Bí tự xưng
là Lý Nam Đế (nhà Tiền Lý), lên ngôi đặt niên hiệu là Thiên đức (đức trời), lậptrăm quan, đặt tên nước ta là Vạn Xuân thể hiện mong muốn rằng xã tắc truyềnđến muôn đời Đến tháng 6 năm 545, nhà Lương sai Dương Phiêu làm thứ sửGiao Châu, Trần Bá Tiên làm tư mã xâm lấn nước Vạn Xuân Trần Bá Tiênchiếm thành Gia Ninh, Lý Nam Đế chạy vào đất người Lạo ở Tân Xương Saumột thời gian tập hợp và củng cố lực lượng, ông đem 2 vạn quân từ đất Lạo sangđóng ở hồ Điển Triệt Đến đêm, mưa lũ, nước sông lên mạnh, tràn ngập vào hồ.Nhân cơ hội đó Trần Bá Tiên đem quân theo dòng nước tiến vào Quân VạnXuân không phòng bị, vì thế tan vỡ Lý Nam Đế phải lui về động Khuất Lão( trước kia thuộc xã Cổ Tiết, nay thuộc xã Văn Lương, huyện Tam Nông, tỉnhPhú Thọ), trao binh quyền cho Triệu Quang Phục tiếp tục kháng chiến Năm
548, Lý Nam Đế ốm nặng rồi mất tại động Khuất Lão
Việc xác định Động Khuất Lão thuộc gò Cổ Bồng là nơi an nghỉ cuốicùng của Lý Nam Đế là vấn đề lịch sử còn có một số ý kiến khác nhau Với tấmlòng tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị vua xưng Đế đầu tiên của dân tộc, từ ýthức trách nhiệm với vị vua có vị thế trong lịch sử nước nhà; trong nhiều nămqua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Tam Nông luôn tìmtòi, sưu tầm những cứ liệu lịch sử gắn với cuộc đời và sự nghiệp của vị Hoàng
Đế đầu tiên trong lịch sử dân tộc
Với ý nghĩa tôn vinh người Anh hùng dân tộc, nhân dịp kỷ niệm 1465năm ngày mất của Đức Lý Nam Đế (548 - 2013) Được sự quan tâm của Tỉnh
ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ; Ủy ban nhân dân huyện Tam Nông phối hợpHội Khoa học lịch sử Việt Nam, Viện Sử học Việt Nam tổ chức Hội thảo Khoa
học “Vua Lý Nam Đế với căn cứ Động Khuất Lão, xã Văn Lương, huyện
6
Trang 7Tam Nông, tỉnh Phú Thọ” với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, sử học, nhà
nghiên cứu đầu ngành về lịch sử Việt Nam của Trung ương và tỉnh Phú Thọ TạiHội thảo các nhà Khoa học đã tiếp tục khẳng định quê hương, công lao to lớncủa Vua Lý Nam Đế trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam,
Hội thảo đã đi đến thống nhất nơi an nghỉ cuối cùng của Vua Lý Nam Đế: Tại căn cứ Động Khuất Lão thuộc gò Cổ Bồng, khu 02 xã Văn Lương, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ Đó là kết quả của một quá trình nghiên cứu, điền dã, tìm tòi
những giá trị chân thực của lịch sử; kết quả tâm huyết của các nhà khoa học, sửhọc, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian trong nước và tỉnh Phú Thọ cùng cácđồng chí lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Tam Nông Mảnh đất địalinh nhân kiệt Tam Nông rất vinh dự và tự hào được đón nhận Lý Nam Đế chọnlàm căn cứ chiến đấu chống quân Lương, trao binh quyền và là nơi an nghỉ cuốicùng của Người
Cuốn Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “Vua Lý Nam Đế với căn cứ ĐộngKhuất Lão, xã Văn Lương, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ” là tập hợp nhữngbài tham luận của các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sỹ; các nhà khoa học, sử học,nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, các tư liệu, chứng cứ lịch sử, các địa danh liênquan gắn với sự nghiệp của Đức Lý Nam Đế Đồng thời, đây cũng là thể hiệntrách nhiệm, tình cảm, tấm lòng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyệnTam Nông tri ân công lao của Đức Lý Nam Đế
Thay mặt Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện TamNông, tỉnh Phú Thọ chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy bannhân dân tỉnh Phú Thọ; cảm ơn Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Viện Hàn lâmKHXH Việt Nam, Viện Sử học, Viện Hán Nôm; Sở Văn hóa, Thể thao và Dulịch, các nhà nghiên cứu văn hóa Dân gian của tỉnh Phú Thọ Xin trân trọng cảm
ơn Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Hoài Đức, Hà Nội; huyện Phổ Yên, tỉnhThái Nguyên Các cấp Ủy đảng, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyệnTam Nông, tỉnh Phú Thọ nguyện sẽ phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông,phát huy truyền thống huyện Anh hùng tiếp tục xây dựng mối quan hệ gắn bóvới các địa phương liên quan đến công lao và sự nghiệp của Đức Lý Nam Đế đểxây dựng quê hương Tam Nông ngày càng giàu đẹp văn minh
HUYỆN ỦY - HĐND - UBND HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ
BÀI PHÁT BIỂU CHỈ ĐẠO CỦA LÃNH ĐẠO TỈNH PHÚ THỌ
Hà Kế San
Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ
Trang 8Kính thưa các nhà khoa học!
Thưa các vị đại biểu khách quý!
Thưa toàn thể Hội thảo!
Đến dự hội thảo khoa học: Vua Lý Nam Đế với căn cứ động Khuất Lão,
xã Văn Lương, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ hôm nay Thay mặt Tỉnh ủy,HĐND, UBND tỉnh Phú Thọ tôi xin nhiệt liệt chào mừng và xin được trân trọngcảm ơn đối với các nhà khoa học, các Giáo sư, những nhà nghiên cứu, nhà quản
lý và các vị đại biểu đã hết lòng vì sự nghiệp văn hóa Việt Nam nói chung và disản văn hóa của tỉnh Phú Thọ nói riêng, đã giành thời gian dự hội thảo khoa họcnày Kính chúc các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các vị đại biểu, các đồng chí
và các bạn mạnh khỏe, nhiều thành công; Chúc hội thảo khoa học Vua Lý Nam
Đế với căn cứ động Khuất Lão, xã Văn Lương, huyện Tam Nông đạt kết quả tốtđẹp!
Kính thưa hội thảo!
Phú Thọ, đất Tổ Hùng Vương còn lưu giữ trong mình kho tàng di sản vănhóa vô cùng quý báu Theo hồ sơ quản lý của ngành Văn hóa, Thể thao và Dulịch tới đầu năm 2012 tỉnh Phú Thọ đã bước đầu kiểm kê được 1.372 di tích lịch
sử văn hóa gồm: 161 di tích khảo cổ học, 262 chùa, còn lại là di tích kiến trúchoặc dấu vết kiến trúc và các di tích lịch sử cách mạng kháng chiến Trong số đó
có di tích lịch sử Đền Hùng được xếp hạng Quốc gia đặc biệt và 73 di tích đượcxếp hạng Quốc gia; 219 di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh Có 260 lễ hội, gồm
223 lễ hội dân gian, 05 lễ hội tôn giáo, 32 lễ hội cách mạng; hiện còn 47 lễ hộiđang được duy trì hoạt động hàng năm Phú Thọ vinh dự có di sản Hát Xoan đãđược UNESCO công nhận là di di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấpcủa nhân loại; Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được công nhận là di sản vănhóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Di sản văn hóa không chỉ được coi là tài sản có giá trị giáo dục truyềnthống, mà còn là một nguồn lực to lớn góp phần phát triển kinh tế - xã hội củatỉnh Phú Thọ
Thưa các vị đại biểu, khách quý, các đồng chí và các bạn!
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, với địa thế chiến lược
có sông, có núi, thuận lợi cho tiến công và phòng ngự Địa bàn tỉnh Phú Thọđược các thế hệ cha ông lựa chọn làm nơi tổ chức luyện quân, phòng ngự, tácchiến chống giặc, trong đó có địa bàn các huyện Tam Nông, Thanh Sơn, TânSơn, Cẩm Khê, Yên Lập, Thanh Thủy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng (phía trước
có hệ thống sông Thao, sông Đà án ngữ vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng;phía sau là hệ thống núi cao với nhiều hang động tiếp giáp với các tỉnh Tây Bắccủa đất nước) Nhiều địa điểm lịch sử trên địa bàn tỉnh Phú Thọ còn ghi lại dấutích lịch sử này, trong đó có căn cứ động Khuất Lão, xã Văn Lương, huyện TamNông được Vua Lý Nam Đế lựa chọn trong cuộc chiến chống quân Lương
Việc Hội khoa học Lịch sử Việt Nam cùng Viện Sử học phối hợp với SởVăn hóa, Thể thao và Du lịch; UBND huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ tổ chứchội thảo khoa học về Vua Lý Nam Đế với căn cứ động Khuất Lão, xã VănLương, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ có ý nghĩa hết sức quan trọng, không
8
Trang 9những bổ sung tư liệu làm sỏng tỏ về cuộc đời, thõn thế, sự nghiệp, vai trũ củaVua Lý Nam Đế trong phong trào khỏng chiến chống quõn xõm lược nhà Lươngthế kỷ thứ VI và sự nghiệp giữ nước Vạn Xuõn trong lịch sử; nghiờn cứu mộtcỏch toàn diện về cuộc khỏng chiến chống quõn Lương thế kỷ thứ VI của Vua
Lý Nam Đế trờn địa bàn huyện Tam Nụng, tỉnh Phỳ Thọ Khẳng định được vịthế địa của huyện Tam Nụng, tỉnh Phỳ Thọ, trong bối cảnh chung của Quốc giaVạn Xuõn vào giữa thế ký thứ VI; xỏc định Động Khuất Lóo là căn cứ chiến đấuđồng thời cũng là nơi an nghỉ cuối cựng của Vua Lý Nam Đế; xỏc định cỏc địađiểm, căn cứ chống quõn Lương và sự đúng gúp của nhõn dõn cỏc dõn tộc huyệnTam Nụng trong phong trào chống quõn Lương Gúp phần giỏo dục truyềnthống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dõn tộc Việt Nam, thể hiện đạo lý
"Uống nước nhớ nguồn", lũng tự hào dõn tộc và phục vụ phỏt triển du lịch; đồng
thời tiếp tục củng cố, hoàn thiện hồ sơ đề nghị cụng nhận Di tớch lịch sử cấpQuốc gia Đền thờ Vua Lý Nam Đế tại Gũ Cổ Bồng, xó Văn Lương, huyện TamNụng
Thụng qua hội thảo để chỳng ta cựng nhau trao đổi, nhận diện được giỏ trị
di sản văn húa; xỏc định được những giỏ trị tiờu biểu của di tớch Đền thờ vàLăng mộ Vua Lý Nam Đế Kết quả của cụng việc này sẽ tiếp tục gúp phầnkhẳng định và đề cao giỏ trị văn húa Việt Nam, làm cho nhận thức của nhõn dõncũng như giới khoa học thấy rừ hơn ý nghĩa, giỏ trị, vai trũ của Vua Lý Nam Đế
- Nhà Tiền Lý với cụng cuộc khỏng chiến chống quõn xõm lược nhà Lương ởthế kỷ VI, mở đầu cho cụng cuộc 1000 năm chống Bắc thuộc của dõn tộc ViệtNam trờn quy mụ cả nước
Tụi hy vọng rằng, với tinh thần trỏch nhiệm, với sự nhiệt tỡnh của cỏc nhàkhoa học, cỏc giỏo sư, tiến sỹ, nhà nghiờn cứu, nhà quản lý và cỏc vị đại biểutham dự hội thảo hụm nay chỳng ta sẽ làm được điều đú Kết quả của hội thảo sẽthực sự gúp phần bảo tồn và phỏt huy giỏ trị di sản văn húa Việt Nam ngay trờnvựng đất Tổ Hựng Vương
Tỉnh Phỳ Thọ xin trõn trọng ghi nhận, tiếp thu những ý kiến của cỏc nhàkhoa học, cỏc nhà nghiờn cứu sử học, văn húa học, cỏc nhà quản lý, cỏc vị đạibiểu đó tham gia đúng gúp trớ tuệ trong cuộc hội thảo khoa học đầy ý nghĩa này
Về phớa tỉnh Phỳ Thọ, chỳng tụi sẽ cố gắng làm tốt hơn nữa cụng tỏcnghiờn cứu, tụn tạo, tu bổ và phỏt huy giỏ trị cỏc di tớch lịch sử văn húa gắn vớiVua Lý Nam Đế trờn đất Phỳ Thọ để thụng qua đú giỏo dục tinh thần yờu nước,lũng tự hào, tự tụn dõn tộc cho thế hệ trẻ vựng đất Tổ Hựng Vương giàu truyềnthống lịch sử và văn hiến
Xin trõn trọng cảm ơn và kớnh chỳc cỏc nhà khoa học, cỏc đồng chớ và cỏcbạn sức khỏe và hạnh phỳc./
Phát biểu chào mừng của lãnh đạo
Trang 10Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, phong trào khángchiến chống quân Lương giữa thế kỷ thứ VI do Lý Bí lãnh đạo tuy chỉ diễn ratrong một thời gian ngắn nhưng đã tô thắm thêm truyền thống anh hùng, bấtkhuất của quê hương Tam Nông, Phú Thọ nói riêng và của dân tộc Việt Nam nóichung Hội thảo khoa học "Vua Lý Nam Đế với căn cứ động Khuất Lão, xã VănLương, huyện Tam Nông" là dịp để chúng ta cùng nhau làm sáng tỏ một số vấn
đề về Vua Lý Nam Đế với căn cứ động Khuất Lão - nơi an nghỉ cuối cùng củaNgài; về Lăng mộ Vua cùng các địa danh liên quan khác trong cuộc kháng chiếnchống quân Lương của Lý Nam Đế
Hôm nay, tại thị trấn Hưng Hóa, huyện Tam Nông, tỉnh lỵ của tỉnh Phú Thọxưa, UBND huyện Tam Nông phối hợp Viện Sử học thuộc Viện Hàn lâm Khoahọc xã hội Việt Nam, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch Phú Thọ tổ chức Hội thảo khoa học "Vua Lý Nam Đế với căn cứ độngKhuất Lão, xã Văn Lương, huyện Tam Nông" Thay mặt Huyện ủy - HĐND -UBND - UBMTTQ huyện Tam Nông tôi xin nhiệt liệt chào mừng các vị đạibiểu, các nhà khoa học tham dự Hội thảo, chúc Hội thảo thành công tốt đẹp
Kính thưa các vị đại biểu! Thưa các nhà khoa học!
Vua Lý Nam Đế (tên huý là Lý Bôn, Lý Bí) là người xây dựng nhà nước độclập đầu tiên của dân tộc ta trong thời Bắc thuộc - nhà nước Vạn Xuân Cuộc đời và
sự nghiệp của Ông gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại ách đô hộ của phong kiếnphương Bắc từ năm 541 - 548 (thế kỷ thứ VI sau Công nguyên)
Lý Bí sinh ngày 12 tháng 9 năm Quý Mùi (tức ngày 17 tháng 10 năm 503)
Từ nhỏ Lý Bí rất thông minh, sớm hiểu biết Khi Lý Bí lên 5 tuổi thì Cha mất; 7tuổi thì Mẹ mất, Ông đến ở với chú ruột Một hôm có vị Pháp tổ thiền sư đingang qua trông thấy Lý Bí khôi ngô, tuấn tú liền xin Lý Bí đem về chùa nuôidạy Sau hơn 10 năm đèn sách chuyên cần, Lý Bí đã trở thành một người họcrộng, hiểu sâu Nhờ có tài văn võ kiêm toàn Lý Bí được tôn lên làm thủ lĩnh địaphương Căm thù giặc Lương tàn bạo, ông đã triệu tập nhân dân cùng các hàokiệt nổi dậy chống lại quân Lương từ năm 541 đến cuối năm 542 Sau khi đánhđuổi quân xâm lược, mùa Xuân, tháng Giêng năm Quý Hợi (544) nhân thắnggiặc, tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu, lập trăm quan, dựng quốchiệu là Vạn Xuân, ý mong cho xã tắc truyền đến muôn đời Ông cho dựng điệnVạn Thọ làm nơi triều hội
Đất nước thanh bình trong một thời gian ngắn, thì đến tháng 6 năm Giáp Tý(545), nhà Lương cử Dương Phiêu, Trần Bá Tiên đem quân tiến sang đánh GiaoChâu Vua Lý Nam Đế đem 3 vạn quân ra chống cự, nhưng bị thua ở Chu Diên,lại thua ở cửa sông Tô Lịch, nên phải rút quân về thành Gia Ninh (thuộc huyệnVĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) Trước tình thế bất lợi, vua lại cho rút quân về TânXương để củng cố lực lượng, sau đó cho quân ra tiến đánh quân giặc tại hồ ĐiểnTriệt (nay thuộc xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc), nhưng khônggiành thắng lợi Thế cô, lực lượng mỏng, Lý Nam Đế tiếp tục lui giữ động KhuấtLão (trước kia thuộc xã Cổ Tiết, nay thuộc khu 02 xã Văn Lương, huyện TamNông) và đã giao cho Tả tướng quân Triệu Quang Phục giữ nước, cầm quânchống giặc Vua Lý Nam Đế mất tại động Khuất Lão ngày Tân Hợi (tức ngày 20
10
Trang 11tháng 3 năm Mậu Thìn - 548) Sau khi vua băng hà, các tướng sĩ cùng nhân dân
Lý Nam Đế"
Vấn đề được đặt ra ở Hội thảo lần này là:
1 Nghiên cứu, bổ sung tư liệu để làm sáng tỏ về cuộc đời, thân thế, sựnghiệp, vai trò của Vua Lý Nam Đế trong phong trào kháng chiến chống quânLương thế kỷ thứ VI và sự ra đời của Nhà nước Vạn Xuân trong lịch sử
2 Xác định gò Cổ Bồng, động Khuất Lão cùng các địa danh khác là căn
cứ chiến đấu đồng thời cũng là nơi an nghỉ cuối cùng của vua Lý Nam Đế.Tại đây vẫn còn Lăng mộ Ngài
3 Xác định các địa điểm, căn cứ chống quân Lương và sự đóng góp củanhân dân các dân tộc huyện Tam Nông trong phong trào chống quân Lương
4 Giáo dục truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ViệtNam, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”
5 Củng cố tư liệu nghiên cứu, tôn tạo quần thể các di tích có liên quan nhàTiền Lý trên đất Tam Nông, đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng
là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia để góp phần giáo dục lòng tự hào dân tộc
và phục vụ phát triển tham quan du lịch
Chúng tôi mong rằng, những ý kiến trao đổi, thảo luận của các nhà khoahọc, các nhà nghiên cứu tại hội thảo và qua việc tham quan di tích Đền thờ -Lăng mộ Vua Lý Nam Đế chúng ta hiểu thấu đáo về những giá trị quý báu của
di tích đền thờ Lý Nam Đế; về các địa danh liên quan đến động Khuất Lão,những vấn đề khoa học bổ ích và lý thú góp phần đắc lực vào việc phục hồi ditích cũng như hoạt động lễ hội tại di tích trong thời gian tới
Thay mặt Huyện ủy - HĐND - UBND - UBMTTQ huyện Tam Nông kínhchúc các quý vị đại biểu, các nhà khoa học sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt!Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp!
Trang 12Báo cáo đề dẫn hội thảo khoa học
Vua lý nam đế với căn cứ động khuất lão, xã văn lơng, huyện tam nông, tỉnh phú thọ
PGS TS Nguyễn Văn Nhật
Viện trưởng Viện Sử học
Kớnh thưa cỏc quý vị đại biểu
Thưa cỏc nhà khoa học!
Cỏch đõy gần 15 thế kỷ, cuộc khởi nghĩa do Lý Bớ lónh đạo chống lại ỏch đụ
hộ của chớnh quyền phương Bắc đó nổ ra và giành được thắng lợi trọn vẹn Thànhtựu to lớn nhất mà cuộc khởi nghĩa đem lại là sự ra đời của nhà nước Vạn Xuõn
12
Trang 13độc lập Lý Bí lên ngôi Hoàng đế (sử cũ gọi là Lý Nam Đế), đặt niên hiệu làThiên Đức, khẳng định nền độc lập tự chủ trước đế chế Trung Hoa.
Từ nhiều thập kỷ qua, giới sử học Việt Nam đã tập trung nghiên cứu nhiều
về cuộc khởi nghĩa Lý Bí và quá trình tồn tại của nhà nước Vạn Xuân, của nhàTiền Lý Nhiều vấn đề liên quan đến Lý Bí và cuộc khởi nghĩa do Ông lãnh đạo
dần được sáng tỏ Trong cuộc Hội thảo khoa học Một số vấn đề về vương triều Tiền Lý và quê hương của vua Lý Nam đế do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam
phối hợp với UBND huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tổ chức tại Hà Nội cuốinăm 2012 đã bước đầu đưa ra được một số kết quả nghiên cứu mới, đặc biệt đã
xác định được quê gốc của Lý Bí là làng Cổ Pháp thuộc xã Tiên Thù, tổng Tiên Thù, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (nay thuộc xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) Trong cuộc Hội thảo khoa học nói trên, một vấn đề cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm, đó là xác định địa danh lịch sử động Khuất Lão - là
căn cứ hoạt động của Lý Nam Đế, đồng thời là nơi ông sống những năm thángcuối đời Đây là một trong những nội dung quan trọng và cần thiết khi nghiên cứu
về cuộc khởi nghĩa Lý Bí (thế kỷ VI) nhưng chưa được đề cập đầy đủ trong Hộithảo Chính vì vậy, nghiên cứu, tìm hiểu về động Khuất Lão và các di tích lịch sử
- văn hóa trên địa bàn xã Văn Lương, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ có liênquan mật thiết đến cuộc khởi nghĩa Lý Bí là nội dung chủ yếu trong cuộc Hộithảo khoa học này
Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được 20 bản tham luận của các nhà sử học, vănhóa học, bảo tàng học đến từ Viện Sử học, Viện Nghiên cứu Hán Nôm (thuộc ViệnHàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam); Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch); Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Hoài Đức (Hà Nội); của các nhànghiên cứu tỉnh Phú Thọ và lãnh đạo xã Văn Lương, lãnh đạo huyện Tam Nông…Nội dung các báo cáo khoa học tập trung vào ba chủ đề chính:
1 Nghiên cứu chung về cuộc khởi nghĩa Lý Bí, về quê hương của Ông; sự rađời của nhà nước Vạn Xuân độc lập; Ý nghĩa và tầm vóc của cuộc khởi nghĩatrong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam Nội dung của chủ đề này tập trung trong
các báo cáo: Lý Nam Đế và cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Lương ở thế kỷ VI trên địa bàn huyện Tam Nông, Phú Thọ của PGS.TS Nguyễn Minh Tường (Viện Sử học); Quê hương và ngày mất của Lý Nam Đế của PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ (Viện Sử học); Nghiên cứu về nguyên nhân thất bại của Lý Nam Đế và việc trao binh quyền cho Triệu Quang Phục của Nhà nghiên cứu Vũ Kim Biên (Phú Thọ); Giá trị bài học lịch sử từ cuộc khởi nghĩa Lý Bí và sự thành lập nước Vạn Xuân của PGS.TS Vũ Duy Mền (Viện Sử học); Nhân dân Tam Nông với cuộc khởi nghĩa Lý Bí của ThS Trần Nam Trung (Viện Sử học) và Hoàng hậu Đỗ Thị Khương về Khuất Lão của Nhà nghiên cứu Phan Dương (Phú
Thọ)
2 Nội dung thứ hai trực tiếp tìm hiểu về địa danh động Khuất Lão, vai trò
vị trí của động Khuất Lão trong cuộc khởi nghĩa Lý Bí Đặc biệt, trong nội dungnày các nhà nghiên cứu đã nêu lên nhiều địa danh lịch sử gắn liền với một số ditích quan trọng liên quan đến Lý Nam Đế, trong đó tiêu biểu nhất là Di tíchLăng mộ của Lý Nam đế trên gò Cổ Bồng trong khu vực động Khuất Lão xưa
Trang 14kia Đây là chủ đề có nội dung tương đối mới, cung cấp nhiều thông tin quý giáthông qua điều tra, khảo sát thực địa cũng như sưu tầm ghi chép của thư tịch cổ.
Đó là các tham luận Tư liệu Hán Nôm về động Khuất Lão trong cuộc khởi nghĩa
Lý Bí thế kỷ VI của PGS.TS Đinh Khắc Thuân (Viện nghiên cứu Hán Nôm); Động Khuất Lão - nơi an nghỉ cuối cùng của vua Lý Nam Đế của PGS.TS Nguyễn Thị Phương Chi (Viện Sử học); Vài ý kiến về động Khuất Lão của TS.
Hà Mạnh Khoa (Viện Sử học); Lý Nam Đế với căn cứ động Khuất Lão, xã Văn Lương, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ của TS Nguyễn Anh Tuấn (Bảo tàng Hùng Vương); Những địa danh trên vùng đất Tam Nông - Phú Thọ còn ghi dấu
ấn trong cuộc kháng chiến chống quân Lương của Lý Nam Đế thế kỷ VI của
ThS Nguyễn Tiến Khôi (Hội KHLS tỉnh Phú Thọ)
3 Trùng tu, tôn tạo và bảo tồn di tích trên địa bàn xã Văn Lương tiến tớikhôi phục các lễ hội truyền thống gắn với nhân vật lịch sử Lý Nam Đế là nộidung chính của chủ đề thứ ba Về chủ đề này, Ban tổ chức đã nhận được các báo
cáo Về vấn đề bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích địa điểm lịch sử gắn liền với sự nghiệp của Lý Nam Đế tại xã Văn Lương, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ của Nhà nghiên cứu Lê Thị Thoa (Sở VH, TT&DL tỉnh Phú Thọ); Ý nghĩa khôi phục Đền thờ và Lăng mộ Lý Nam Đế trong việc phát triển du lịch hướng
về cội nguồn của Nhà nghiên cứu Phạm Bá Khiêm (Sở VH, TT&DL tỉnh Phú Thọ); Vua Lý Nam Đế với căn cứ động Khuất Lão - Vị trí, quy mô phục hồi Đền thờ và Lăng mộ vua Lý Nam Đế của ông Triệu Quang Kết (UBND huyện Tam Nông); Bảo tồn và phát huy giá trị căn cứ động Khuất Lão nhìn chung trong hệ thống di tích lịch sử văn hóa của TS Nguyễn Thế Hùng (Cục Di sản văn hóa -
Bộ VH, TT&DL); Phục dựng lễ hội truyền thống tưởng niệm vua Lý Nam Đế tại xã Văn Lương, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ của Nhà nghiên cứu Đặng Đình Thuận (Hội Văn nghệ dân gian Phú Thọ); Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Văn Lương với việc bảo vệ, phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa tại địa phương của ông Cù Minh Loan (UBND xã Văn Lương).
Theo kết quả nghiên cứu của giới sử học thì hiện nay có ba địa phương gắn
bó mật thiết với cuộc đời và sự nghiệp của Lý Nam Đế, đó là xã Tiên Phong,huện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên là quê gốc của Lý Nam Đế; Giang Xá (HoàiĐức, Hà Nội) là nơi ông dấy nghiệp và động Khuất Lão (xã Văn Lương) là căn
cứ hoạt động của Lý Nam Đế và cũng là nơi ông sống những năm tháng cuốiđời Trong ba địa phương kể trên, đền Giang Xá và các địa phương thuộc huyệnHoài Đức là nơi lưu giữ khá nhiều tài liệu thư tịch Hán Nôm về Lý Nam Đế
Tham luận Tư liệu Hán Nôm về Lý Nam Đế hiện đang được lưu giữ tại các di tích lịch sử văn hóa Đình, Đền, Chùa Giang Xá thị trấn Trạm Trôi của Nhà
nghiên cứu Đỗ Văn Thúy (Phòng VH-TT Hoài Đức) sẽ bổ sung thêm nhiều tàiliệu quý, giúp cho việc tìm hiểu về Lý Nam Đế được đầy đủ và toàn diện hơn.Dưới góc độ văn hóa dân gian, Nhà nghiên cứu Dương Huy Thiện sẽ cung cấp
thêm cho Hội thảo Các tư liệu văn hóa dân gian về cuộc kháng chiến chống quân Lương của vua Lý Nam Đế (544-548).
Kính thưa các quý vị đại biểu!
Thưa các nhà khoa học!
14
Trang 15Do thời gian có hạn nên tại cuộc Hội thảo này chúng ta chỉ nghe một sốtham luận đại diện cho từng chủ đề Hội thảo sẽ giành thời gian nhất định để cácnhà khoa học trao đổi, thảo luận nhằm hướng tới sự đồng thuận trong nhận thức
về những mục tiêu cơ bản mà Hội thảo đặt ra
Xin kính chúc quý vị sức khỏe, chúc Hội thảo thành công tốt đẹp./
N.V.N
Trang 16Lý nam đế và cuộc kháng chiến chống quân
xâm lợc nhà lơng trên địa bàn huyện tam nông - phú thọ
PGS.TS Nguyễn Minh Tường
Viện Sử học Huyện Tam Nụng 三 農, tỉnh Phỳ Thọ hiện nay, từ đời Trần (1225-1400)
trở về trước gọi là chõu Cổ Nụng 古 農 Thời thuộc Minh (1407-1427), vẫn gọi
là chõu Cổ Nụng, lệ vào phủ Đà Dương
Thỏng 3 năm Quang Thuận thứ 10 (1469), vua Lờ Thỏnh Tụng định bản đồtrong cả nước, gồm 12 thừa tuyờn, trong đú Thừa tuyờn Sơn Tõy, cú sỏu phủ là:Quốc Oai, Tam Đỏi, Lõm Thao, Đoan Hựng, Đà Dương và Quảng Oai Phủ ĐàDương quản lónh 2 huyện là Tam Nụng và Bất Bạt1
Như vậy, tờn huyện Tam Nụng xuất hiện lần đầu tiờn vào năm 1469 dướitriều Lờ Thỏnh Tụng, và được đổi từ Cổ Nụng mà thành
Vấn đề được đặt ra là Tam Nụng 三 農, cú nghĩa là gỡ?
Sỏch Từ Nguyờn giải thớch: “Tam Nụng: Chu Lễ: Tam nụng sinh cửu cốc Tiờn Trịnh chỳ: Tam nụng: Bỡnh địa nụng; Sơn nụng; Trạch nụng dó Hậu Trịnh chỳ: Tam nụng: Nguyờn nụng; Thấp nụng; Bỡnh địa nụng” (Nghĩa là: Tam Nụng Sỏch Chu Lễ viết: Ba vựng đất nụng nghiệp sinh sản ra 9 loại lương thực2 Họ
Trịnh trước (chỉ Trịnh Hưng, Trịnh Chỳng - TG) giải thớch rằng: Tam Nụng gồm cú: Bỡnh địa nụng (vựng đất nụng nghiệp ở đồng bằng); Sơn nụng (vựng đất nụng nghiệp ở miền nỳi); Trạch nụng (vựng đất nụng nghiệp ở đầm lầy) Họ Trịnh sau (chỉ Trịnh Khang Thành) giải thớch rằng: Tam Nụng gồm cú: Nguyờn nụng (vựng đất nụng nghiệp ở vựng cao); Thấp nụng (vựng đất nụng nghiệp ở vựng thấp); Bỡnh địa nụng (vựng đất nụng nghiệp ở đồng bằng)3
Chỳng ta đều biết, trước khi cuộc khởi nghĩa Lý Bớ nổ ra (542), Chõu Giao(tờn nước ta thời ấy) ở dưới quyền cai trị của Vũ Lõm hầu Tiờu Tư Tiờu Tư làtụn thất, họ hàng với Lương Vừ đế Tiờu Diễn Chớnh sử Trung Quốc phải thừanhận rằng Vũ Lõm hầu Tiờu Tư là một kẻ tàn bạo, tham lam, mất lũng dõn Khiđược cử đi đàn ỏp nhõn dõn vựng Giao, Quảng, tướng nhà Lương là Trần Bỏ
Tiờn cũng núi rừ nguyờn nhõn những cuộc “phản loạn” của nhõn dõn là do “tội của cỏc ụng tụn thất” nhà Lương4
Lý Bớ, theo như kết quả nghiờn cứu gần đõy của nhiều nhà sử học, cho thấy:ễng quờ tại thụn Cổ Phỏp, xó Tiờn Phong, huyện Phổ Yờn, tỉnh Thỏi Nguyờn5.Năm 9 tuổi Lý Bớ được vị Phỏp tổ Thiền sư trụ trỡ tại chựa Hương Ấp quờ nhànhận làm tiểu ễng tu tại chựa Hương Ấp chừng 4 năm, đến năm 13 tuổi thỡ theo
1 Khõm định Việt sử thụng giỏm cương mục Nxb Giỏo dục, H 1998, tập 1, tr 1076.
2 Cửu cốc: 9 loài lương thực, gồm cú: 1 Tắc (lỳa tắc); 2 Thuật (lỳa nếp); 3 Thử (lỳa mựa); 4 Đạo (lỳa giộ); 5 Ma (vừng); 6 Đại đậu (đậu hạt to); 7 Tiểu đậu (đậu hạt nhỏ); 8 Đại mạch; 9 Tiểu mạch.
Trang 17Pháp tổ Thiền sư về tu tại chùa Giang Xá (Linh Bảo tự), thuộc Hoài Đức, HàNội.
Sử cũ chép: Lý Bí có tài văn võ, từng làm quan cho nhà Lương, coi quậnCửu Đức (nay là đất Hà Tĩnh), vì không đắc chí, trở về Thái Bình khởi nghĩa,vào năm 542 Theo nhà sử học Đặng Xuân Bảng thì đất “Thái Bình là các phủQuảng Oai, Quốc Oai của Sơn Tây và Ứng Hòa của Hà Nội ngày nay”1
Lý Bí, nhân lòng oán hận của nhân dân và của tầng lớp hào trưởng ViệtNam đối với chính quyền đô hộ, đã hiệu triệu hào kiệt các châu cùng lãnh đạonhân dân nổi dậy Sử cũ nước ta chép rằng tù trưởng Chu Diên (vùng HảiDương ngày nay) là Triệu Túc, phục tài đức Lý Bí, đem quân theo trước tiên.Châu Giao, tức miền đất nước ta bấy giờ gồm các châu: Giao, Hoàng (Bắc Bộ);
Ái (Thanh Hóa); Đức, Lợi, Minh (Nghệ Tĩnh)
Lý Bí đã không gặp phải sức kháng cự mạnh mẽ của bọn quan lại phương
Bắc Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Vua (chỉ Lý Bí – TG) bấy giờ làm
chức Giám quân ở Cửu Đức, nhân liên kết với hào kiệt mấy châu, đều hưởngứng Có Triệu Túc tù trưởng ở Chu Diên, phục tài đức vua, bèn dẫn đầu đemquân theo về Tiêu Tư biết việc, đem của đến hối lộ cho vua, rồi chạy về QuảngChâu Vua ra chiếm giữ châu thành (tức là Long Biên)”2
Như vậy, Lý Bí phát động khởi nghĩa vào tháng Chạp năm Đại Đồng thứ 7(1-542) đời nhà Lương, không quá 3 tháng đã chiếm giữ được châu thành LongBiên
Tháng 2 năm 544, Lý Bí chính thức lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là NamViệt Đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đặt trăm quan.Vua dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội Sử cũ chép Vua “lấy Triệu Túc làmThái phó, bọn Tinh Thiều, Phạm Tu đều làm tướng văn, tướng võ”3
Đầu năm 545, nhà Lương tổ chức cuộc chinh phục Châu Giao, lấy DươngPhiêu làm Thứ sử Châu Giao, Trần Bá Tiên được phong làm Tư mã Giao Châu,lĩnh chức Thái thú Vũ Bình, cùng với Dương Phiêu tổ chức cuộc đàn áp ChâuGiao Trần Bá Tiên thu nạp được nhiều quân vũ dũng, khí giới đều tốt DươngPhiêu rất vui mừng, cho Trần Bá Tiên làm chức Kinh lược
Dương Phiêu cho Trần Bá Tiên làm tướng tiên phong, đem quân đi trước
Từ Phiên Ngung (nay là Thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, TrungQuốc), có lẽ Trần Bá Tiên đã tiến vào Châu Giao, theo con đường ven vịnh Bắc
Bộ, ngược sông Thái Bình, đi dọc theo chân núi miền Đông Triều mà nhắm tớithủ phủ Long Biên (Bắc Ninh) Khoảng tháng 6 năm 545, Trần Bá Tiên tiến tớiđất Chu Diên Bấy giờ, Lý Nam Đế đã đem 3 vạn quân ra trấn giữ ở Chu Diên,cùng với quân Trần Bá Tiên đánh nhau ở đó4 Lý Nam Đế bị thua, phải lui vềgiữ cửa sông Tô Lịch, dựng thành lũy để chống lại quân Trần Bá Tiên Trần BáTiên tiến đánh, Lý Nam Đế lại bị thua, và phải chạy lên giữ thành Gia Ninh
1 Đặng Xuân Bảng: Việt sử cương mục tiết yếu Nxb Khoa học xã hội, H 2000 Bản dịch
của Hoàng Văn lâu, tr 400
2 Đại Việt sử ký toàn thư Nxb Khoa học xã hội, H 1998, tập 1, tr 179.
3 Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1 Sđd, tr 179.
4 Tư Mã Quang: Tư trị thông giám, Q.159, tờ 3a.
Trang 18(Bạch Hạc, Việt Trì) Trần Bá Tiên đem quân tới vây thành Gia Ninh Thứ sửDương Phiêu cũng đem quân tới tiếp ứng cho Trần Bá Tiên.
Cuộc chiến đấu cầm cự ở Gia Ninh kéo dài tới mấy tháng, chắc rằng quântiên phong của Trần Bá Tiên sau khi được đại quân do Dương Phiêu chỉ huy tớitiếp ứng đã phá được thành Gia Ninh Thành Gia Ninh bị phá ngày 25-2-546 LýNam Đế chạy thoát được vào trong động Lão ở Tân Xương (Vĩnh Phúc)
Lý Nam Đế vào trong động Khuất Lão, mộ thêm quân lính, tới tháng
10-546, lại từ trong vùng người Lão ra đóng ở hồ Điển Triệt Theo nhà nghiên cứu
Vũ Kim Biên thì hồ Điển Triệt là một cái đầm rộng chừng hơn 50 mẫu Bắc Bộ,thuộc xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Hồ Điển Triệt dài 1 km,khúc rộng nhất 400m, nhỏ nhất 50m, nước hồ sâu trung bình 4,5m Hồ ĐiểnTriệt cách sông Lô chừng 300m, xưa kia còn có một con đường thủy đạo nối từsông vào hồ1
Lý Nam Đế cho đóng rất nhiều thuyền bè, thả đầy cả mặt hồ Thấy quâncủa Lý Nam Đế rất mạnh, quân Lương sợ hãi, chỉ đóng ở cửa hồ không dámtiến Nhưng đêm ấy, nước sông Lô đột ngột lên to, chảy rót vào trong hồ Trần
Bá Tiên liền đem quân theo dòng nước mà tiến lên Quân sĩ của Trần Bá Tiênđược lợi thế, đánh trống hò reo mà tiến, Lý Nam Đế không kịp phòng bị, nên bịthua to, nghĩa quân ta tan vỡ cả Lý Nam Đế phải rút quân về động Khuất Lão.Tại động Khuất Lão, nghĩa quân ta đang củng cố lại lực lượng thì vua LýNam Đế bị ốm nặng Biết không qua khỏi, Lý Nam Đế chọn Triệu Quang Phục(con của Thái phó Triệu Túc), làm người giữ toàn bộ binh quyền, để tiếp tụcchống giặc Lương Hai năm sau, tháng 4 năm 548, Lý Nam Đế qua đời
Động Khuất Lão là tên một khu đồi hiện nằm giữa 2 xã Văn Lương và Cổ
Tiết, thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ “Động” là một đơn vị hành chính ở
vùng núi phía Bắc thuở xưa của nước ta, tương đương với “thôn” ở vùng đồngbằng Tại động Khuất Lão có 3 quả đồi nằm dọc bên hữu ngạn sông Hồng, hiện
cách sông khoảng 1 km Người dân địa phương còn gọi là khu “Cổ Bồng”,
“Tam Khu”, hay “Khu Lăng”, hiện vẫn còn có Lăng mộ Lý Nam Đế Năm 2010,
chính quyền và nhân dân huyện Tam Nông đã xây dựng một ngôi đền thờ LýNam Đế khá uy nghi, trên gò Cổ Bồng, xã Văn Lương Hằng năm, nhân dânkhắp nơi về chiêm bái và dâng hương lên Đức vua Lý Nam Đế, không bao giờngớt Quanh khu đồi, là khu đồng ruộng bao bọc, xưa kia vào mùa mưa, thường
bị ngập nước Thuở xưa, đây là khu đất cấm, chỉ có ngày tế lễ, dân mới vào, đibằng thuyền, ngày nay, đã có đường ô tô, cho xe đi vào tận sân đền
Theo sách Lịch sử Việt Nam, tập 1 thì: “Nhìn xa, động Khuất Lão trông như
một bông sen, cuống bám vào dẫy rừng Cấm, thuộc xã Văn lang, 3 cánh xòe
trên cánh đồng chiêm trũng thuộc xã Cổ Tiết… Cả vùng này kiêng tên “Bí”, gọi
là “Bầu”, kiêng tên “Bảo” (Lý Thiên Bảo) gọi là “Biểu” Việc thờ Lý Nam Đế
ngày trước theo nghi lễ thờ vua:
1 Vũ Kim Biên: Về vị trí hồ Điển Triệt và động Khuất Lão trong cuộc kháng chiến chống quân Lương của Lý Nam Đế Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Một số vấn đề về Vương triều Tiền
Lý và quê hương của vua Lý Nam Đế Tổ chức tại Nhà Thái học trong khu Văn Miếu - Quốc
Tử giám Hà Nội, ngày 10-9-2012.
18
Trang 19Trên năm chéo lọng vàng cờ đỏ Dưới hai hàng văn võ chầu sang.
Tương truyền, về cuối đời, Lý Nam Đế bị mù Thần Thành hoàng làngDanh Hựu (nay thuộc xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông), vẫn được các làng xung
quanh gọi là “Vua Mù”, và khi tế lễ, phải xướng tên các vật phẩm để cho thần
biết”1
Trong thời gian Triệu Quang Phục thay Lý Nam Đế nắm giữ binh quyền tạiđộng Khuất Lão, ông đã cùng với Lý Thiên Bảo, anh ruột Lý Nam Đế gấp rútchuẩn bị binh lương Sau khi Lý Nam Đế mất (548), lực lượng kháng chiến cònlại của Lý Nam Đế chia làm 2 cánh quân
Một cánh do Lý Thiên Bảo chỉ huy, trong đó có Lý Thiệu Long rút vào
miền Trung Theo Trần thư, Lý Thiên Bảo, Lý Thiệu Long đã tập hợp được 2
vạn quân (trong đó chắc chắn số quân tuyển được ở động Khuất Lão không phải
là nhỏ), tiến đánh Đức Châu (Hà Tĩnh), giết chết Thứ sử Trần Văn Giới Hai ônglại kéo quân ra vây Ái Châu (Thanh Hóa), nhưng bị Trần Bá Tiên đem quân vàođánh bại Lý Thiên Bảo phải rút lên vùng thượng du châu Ái (vùng Thanh Hóagiáp Lào), ở động Dã Năng, xưng là Đào Lang vương
Một cánh quân khác, do vị tướng trẻ Triệu Quang Phục chỉ huy, với sốlượng hơn 1 vạn quân, lui về lập căn cứ mới ở đầm Dạ Trạch (nay ở bãi MànTrò, xã Tân Châu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên) Theo sử cũ, Triệu QuangPhục đóng quân ở bãi đất nổi giữa vùng đầm lầy ven sông Hồng, rộng mênhmông, lau sậy um tùm Ngày ngày, quân sĩ thay phiên nhau luyện tập, vừa phát
bờ, cuốc ruộng, trồng lúa, trồng khoai để tự túc lương thực; ban ngày tắt hếtkhỏi lửa, im hơi lặng tiếng như không có người, đến đêm nghĩa quân mới kéo
thuyền ra đánh úp các trại giặc, cướp được nhiều lương thực, “làm kế trì cửu” Người trong nước gọi Triệu Quang Phục là “Dạ Trạch vương” (Vua Đầm Đêm).
Khi nghe Lý Nam Đế mất, ông xưng là Triệu Việt Vương
Tóm lược quá trình kháng chiến chống quân xâm lược nhà Lương do vua
Lý Nam Đế lãnh đạo vào giữa thế kỷ VI, chúng ta thấy thời gian nghĩa quân đồntrú tại động Khuất Lão, thuộc 2 xã Văn Lương, Cổ Tiết huyện Tam Nông, tỉnhPhú Thọ, không dài nhưng địa điểm ấy, giữ vị trí rất quan trọng trong cuộc đờicủa vị Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử nước ta nói riêng và cuộc kháng chiếnchống quân xâm lược Lương nói chung
Thứ nhất, động Khuất Lão nói riêng, vùng đất Tam Nông nói chung là nơichứng kiến cuộc chuyển giao quyền lực giữa một vị vua cao tuổi, sức khỏe suygiảm là Lý Nam Đế sang cho một vị tướng trẻ, một thủ lĩnh đầy khí thế, nhiệthuyết Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương sau này) Và cũng từ đó, cuộckháng chiến của nhân dân ta, từ Lý Nam Đế qua Triệu Việt Vương đã có sự
chuyển hướng chiến lược, thay đổi địa bàn và cách đánh Về địa bàn kháng chiến vào thời Lý Nam Đế là miền đồi núi hiểm trở, sang thời Triệu Việt Vương
là vùng đồng bằng, nhiều sông lạch chia cắt, nhiều đầm hồ lầy lội Về cách đánh, thời Lý Nam Đế áp dụng phương thức tác chiến phòng ngự, cố thủ hay
1 Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh: Lịch sử Việt Nam, tập 1.
Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H 1985, tr 291.
Trang 20tập trung lực lượng quyết chiến với địch, còn ở thời Triệu Việt Vương sử dụng
phương thức đánh lâu dài, đánh tiêu hao sinh lực địch.
Thứ hai, đây là nơi chứng kiến những năm tháng cuối đời của vua Lý Nam
Đế Nếu thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên cóvinh dự là nơi sinh ra và nuôi dưỡng vị Hoàng đế đầu tiên của nước ta, thì độngKhuất Lão, xã Văn Lương và xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, cótrọng trách gìn giữ phần lăng mộ và di thể của Đức vua Lý Nam Đế
Có thể nói sinh thời, vua Lý Nam Đế sống và hoạt động ở nhiều nơi, nhưngchúng tôi cho rằng có 4 địa danh luôn gắn liền với tên tuổi của ông, là:
1 Thôn Cổ Pháp: Nơi nhà vua chào đời và sống thời niên thiếu.
2 Thôn Giang Xá (Hoài Đức - Hà Nội): Nơi nhà vua tu hành và thuộc vùng
đất ông phát động cuộc khởi nghĩa chống quân Lương
3 Hồ Điển Triệt, xã Tứ Yên: Nơi diễn ra trận thủy chiến lịch sử giữa nhà
vua và tướng nhà Lương là Trần Bá Tiên
4 Động Khuất Lão, thuộc 2 xã Văn Lương và Cổ Tiết, huyện Tam Nông:
Nơi nhà vua đi vào cõi vĩnh hằng
Vì vậy, chúng tôi cho rằng động Khuất Lão nói riêng và huyện Tam Nôngnói chung, cần được ghi vào sử sách như một địa danh quan trọng trong cuộcchiến đấu chống kẻ thù xâm lược nhà Lương do Lý Nam Đế lãnh đạo vào giữathế kỷ VI Hiện nay, tại đây vẫn còn lưu giữ được lăng mộ của Lý Nam Đế, và
đã có đền thờ để phụng thờ ông Nhưng, với tư cách một người nghiên cứu lịch
sử cổ trung đại Việt Nam, Viện Sử học, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hộiViệt Nam, tôi đề nghị Nhà nước ta, các cơ quan hữu quan cần đầu tư hơn nữa,
để mở rộng không gian đền thờ Đức vua Lý Nam Đế tại động Khuất Lão Chúng
ta cần xây thêm một số hạng mục kiến trúc nữa để thờ các vị tướng của Lý Nam
Đế bên cạnh đền thờ ông như: Lý Thiên Bảo (anh ruột vua), Triệu Việt
Vương… Họ là những người đã từng gắn bó với mảnh đất Tam Nông “địa linh nhân kiệt” của chúng ta Nếu làm được như vậy, tôi tin tưởng rằng trong tương lai gần “Khu Di tích Lịch sử văn hóa động Khuất Lão” sẽ trở thành một điểm
nhấn du lịch trở về cội nguồn của huyện Tam Nông nói riêng và của tỉnh PhúThọ nói chung./
Hà Nội, ngày 8 tháng 9 năm 2013
N.M.T
20
Trang 21Quê hơng và ngày mất của lý nam đế
PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ
Phú Viện trưởng Viện Sử học
Nửa đầu thế kỷ VI là một mốc đột phỏ quan trọng trong lịch sử hơn ngàn nămchống Bắc thuộc của nhõn dõn ta, được đỏnh dấu bởi một cuộc khởi nghĩa lớn -cuộc khởi nghĩa Lý Bớ với sự thành lập nhà nước Vạn Xuõn, mở ra một thời kỳđộc lập cho đất nước kộo dài gần 6 thập kỷ (644 - 603)
Năm 502, nhà Tề đổ, nhà Lương thành lập ở Trung Quốc Năm 505, nhàLương phong Lý Tắc làm Thứ sử Giao Chõu, nước ta lại bị nhà Lương đụ hộ.Dưới ỏch thống trị của nhà Lương, nhõn dõn 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chõn, NhậtNam phải chịu hàng trăm thứ thuế, lũng oỏn hận ngày càng tăng Năm 542, cuộckhởi nghĩa Lý Bớ bựng nổ Nhõn dõn và hào kiệt khắp nơi nổi dậy hưởng ứng, thanhthế nghĩa quõn tăng lờn nhanh chúng Sau khi đỏnh chiếm được cỏc địa phương,nghĩa quõn tiến về bao võy chõu thành Long Biờn Quõn Lương đại bại, Thứ sửTiờu Tư hoảng sợ, bỏ chạy về nước Cuộc khởi nghĩa chỉ diễn ra trong 3 thỏng đóhoàn toàn thắng lợi, từ Giao Chõu đến cả vựng Hoan Chõu, Ái Chõu
Thư tịch cổ ghi chộp về cuộc khởi nghĩa Lý Bớ và sự hỡnh thành của nhà nướcVạn Xuõn rất phong phỳ1 Trong hơn nửa thế kỷ qua đó xuất hiện nhiều cụng trỡnhkhoa học, nhiều bài viết tỡm hiểu về thõn thế, sự nghiệp của Lý Bớ núi riờng, về
1 Thớ dụ như: Việt sử lược (Nxb Văn Sử Địa, HN, 1960), Việt điện U linh tập (Nxb Văn học, HN, 1972), Đại Việt sử ký toàn thư (Nxb KHXH, HN, 1993), Việt sử tiờu ỏn (Nxb Thanh niờn, HN, 2001), Đại Việt sử ký tiền biờn (Nxb KHXH, HN, 1997), Khõm định Việt sử thụng giỏm Cương mục (Nxb Giỏo dục, HN, 1998), Lịch triều hiến chương loại chớ (Nxb KHXH,
HN, 2007), Việt sử cương mục tiết yếu (Nxb KHXH, HN, 1999), Việt Nam sử lược (Bộ Giỏo
dục, Trung tõm học liệu xuất bản, 1971)…
Trang 22nhà Tiền Lý nói chung1 Thông qua nguồn thư tịch cổ và các công trình nghiêncứu, thân thế và sự nghiệp của Lý Bí - Lý Nam Đế đã được làm sáng rõ.
Liên quan đến nhân vật Lý Bí - Lý Nam Đế, có một vấn đề chưa có sự thống
nhất, đó là quê hương của ông Cho đến trước Hội thảo khoa học Một số vấn đề về vương triều Tiền Lý và quê hương của vua Lý Nam đế, do Hội KHLS Việt Nam
phối hợp với UBND huyện Phổ Yên (Thái Nguyên) tổ chức tại Văn Miếu - Quốc
Tử giám Hà Nội tháng 10 - 2012, trong giới nghiên cứu sử học vẫn tồn tại 3khuynh hướng khác nhau:
- Thứ nhất cho rằng, Lý Bí sinh ra ở vùng Hà Tây (cũ) Đó là ý kiến của Đào
Duy Anh, Đỗ Đức Hùng, Nguyễn Vinh Phúc, Lê Thành Lân, Nguyễn Gia Bảo…
- Thứ hai, các tác giả Văn Tân, Trương Hữu Quýnh, Phạm Thị Nết; tập thể tác giả sách Lịch sử Việt Nam (tập I), sách Lịch sử Vĩnh Phú… đã chứng minh quê
hương của Lý Bí ở Thái Bình
- Thứ ba là thuộc tỉnh Thái Nguyên Đây là quan điểm của Đinh Văn Nhật,
Bùi Thiết, Nguyễn Hữu Khánh, Minh Tú, Nguyễn Đình Hưng…
Trong các bộ chính sử của nước ta như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử cương mục tiết yếu, Đại Việt sử ký tiền biên chép: “Vua họ Lý, tên huý là Bí,
người Thái Bình, Long Hưng” Trước đây giới nghiên cứu phần đông nghiêng về
quan điểm cho rằng địa danh Thái Bình chính là nằm ở khu vực Hoài Đức, Đan Phượng (Hà Tây) Nhưng trong bài viết Quê hương gốc của Lý Bí theo văn bia, ngọc phả đền Giang Xá (xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, ngoại thành Hà Nội),
Đinh Văn Nhật lại cho rằng đây chỉ là quê hương thứ hai của Lý Bí: “Mọi ngườiđều biết rằng vùng Hoài Đức, Đan Phượng tuy có nhiều đền thờ Lý Bí (ở Giang
Xá, Lưu Xá, Đại Tự, Di Trạch, Miêu Nha, Phương Lang nội và ngoại), nhưng vẫn
1 Ví như: Đào Duy Anh: Lịch sử Việt Nam (Nxb Văn Sử Địa, HN, 1957), Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn…: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam (tập I, Nxb Giáo dục, HN, 1963),
Đỗ Đức Hùng: Về cuộc khởi nghĩa của Lý Bí (Luận văn Tốt nghiệp khoa Sử ĐHTH khóa 1973); Trương Hữu Quýnh (chủ biên): Đại cương Lịch sử Việt Nam (tập I, Nxb Giáo dục, HN,
1969-1997); Đỗ Đức Hùng: “Về tên đất Thái Bình, quê hương của Lý Bôn trong cuộc khởi nghĩa
chống quân Lương”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1 (190)-1980, Nguyễn Vinh Phúc: “Quê hương Lý Bí”, Báo Hà Nội mới, số 4797 ngày 17/7/1983, Minh Tú: “Di tích Lý Nam Đế”, Báo Nhân dân, số 11659 ngày 8/6/1986, Phạm Thị Nết: “Vấn đề quê hương Lý Bí và sự nghiệp dựng nước của ông”, Danh nhân Thái Bình (tập I, Sở Văn hóa Thông tin Thái Bình, 1986), Lê Thành Lân: “Quê hương và ngày giỗ của Lý Nam Đế”, Tạp chí Lịch sử Quân sự, số II/1988 (35), Đinh Văn Nhật: “Đi tìm quê hương gốc của Lý Bí”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1 (244)/1989, Minh Tú: “Về Lý Nam Đế”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1 (254)-1991, Nguyễn Hữu Khánh:
“Tìm hiểu thêm về châu Giã Năng và ấp Thái Bình thời Lý Bí”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số
VI (12/1997), Nguyễn Hữu Khánh: “Ấp Thái Bình thời Lý Bí trên đất Phổ Yên”, Tạp chí Văn hóa Thái Nguyên, số 11+12/2007, Nguyễn Đình Hưng: “Tìm hiểu về quê hương Lý Nam Đế qua các di tích ở huyện Hoài Đức”, Tạp chí Văn hóa Hà Tây, số 40 (12/2007), Nguyễn Gia Bảo:
“Tìm hiểu thêm về quê hương Lý Nam Đế qua các tư liệu Hán Nôm mới phát hiện tại huyện Hoài Đức (Hà Nội)” và “Di sản Hán Nôm mới phát hiện tại huyện Phổ Yên (Thái Nguyên)”,
trong Thông báo Hán Nôm học năm 2007 và 2009 (Nxb Thế giới, HN, 2008, 2010)
22
Trang 23chỉ là quê hương thứ hai, vì ông đi theo làm chú tiểu cho vị thiền sư trụ trì chùa
Linh Bảo ở Lưu Xá từ năm 13 tuổi (tức khoảng năm 516)”1
Trong bài báo Di tích Lý Nam Đế, tác giả Minh Tú thông qua cuộc khảo sát,
điền dã các di tích Lý Nam Đế tại các huyện Hoài Đức, Từ Liêm, Đan Phượng, Ba
Vì, Quốc Oai của hai tỉnh Hà Nội và Hà Tây nêu ra tư liệu mới phát hiện để chứng
minh quê của Lý Bí ở Kinh Bắc Theo Tiền Lý Nam đế ngọc phả cổ truyền do Đông
các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm 1572 thì Lý Nam đế quê ở huyện Thái Bình,châu Giã Năng, xứ Kinh Bắc2 Minh Tú còn khẳng định rõ hơn: châu Giã Năng baogồm một phần đất của huyện Sóc Sơn, Hà Nội và huyện Phổ Yên, tỉnh Bắc Thái(nay là Thái Nguyên) Trong bản đồ còn nhìn thấy cả tên đất “Thái Bình” nằm trong
xã Tiên Phong, thuộc huyện Phổ Yên, cách phố Cò 4km về hướng đông nam, gầnthị xã Sông Công3
Đinh Văn Nhật, trong bài Quê hương gốc của Lý Bí… khai thác dưới góc độ địa lý học lịch sử đã xác định các địa danh cổ Thái Bình và Giã Năng Vùng Giã,
tức Kẻ Giã (tên Lạc Việt cũ) là vùng ngã ba sông Công và sông Cầu hiện nay Đây
là vùng trung du và bậc thềm, nên cổ địa lý và địa lý hiện nay không có gì thay đổinhiều Vùng đất Giã là một địa điểm chiến lược chỉ huy bảo vệ vùng đồng bằng.Thời xa xưa, đây là nơi đóng quân của các vị Lạc tướng huyện Tây Vu, sau đổithành huyện Phong Khê và huyện Vọng Hải Chợ Chã ngược lên Thái Nguyên,sông Cầu không đi thuyền được, vì lòng sông có nhiều lớp đá tảng, chợ Chã trởthành một bến lớn, trung tâm giao dịch phía cực bắc Chợ Nỉ là trung tâm kinh tếvùng Giã; quanh ngã ba sông Công, sông Cầu hiện nay còn tồn tại các tên gọi như:Thượng Giã, Trung Giã, Hạ Giã; phía sông Cầu còn có Giã Thù và Giã Trung.Như vậy Giã Năng ở quanh ngã ba sông vùng Đa Phúc, chợ Nỉ, chợ Chã Phía tảngạn sông Cầu cách 5km có địa danh Thanh Năng
Từ chợ Chã đi về tây bắc 5km hoặc từ phố Cò đi về đông nam 4km thì đếntrại Thái Bình Như vậy, tên Thái Bình là tên một trang trại lớn về thời Lý Bí dướitriều Lương Năm 271, cuối đời Ngô thì thành lập quận Vũ Bình gồm các đất miềnnúi Trại Thái Bình có lẽ thuộc huyện Phong Khê Đến thời Tuỳ thì toàn bộ đất từngã ba sông Công trở lên Thái Nguyên là huyện Vũ Bình, lỵ sở đóng ở vùng chợChã, từ ngã ba sông Công về nam là đất huyện Bình Đạo, lỵ sở ở Phù Lỗ
Đinh Văn Nhật kết luận: “Lý Bí đã sinh sống trong một điền trang lớn mangtên là trang Thái Bình, trên đất Giã Năng, thuộc quận Vũ Bình, vùng bắc ngã basông Công và sông Cầu, nay là huyện Phổ Yên, tỉnh Bắc Thái”4 “Đất Giang Xá,Hoài Đức, Đan Phượng chỉ là quê hương thứ hai”5
1 Đinh Văn Nhật “Quê hương gốc của Lý Bí theo văn bia, ngọc phả đền Giang Xá (xã Đức
Giang, huyện Hoài Đức, ngoại thành Hà Nội)” trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm
1988, Viện Khảo cổ học, 1990.
2 Minh Tú: “Di tích Lý Nam đế”, Báo Nhân Dân, ngày 8-6-1986 Minh Tú: “Tìm hiểu quê hương Lý Nam đế” trong Thái Nguyên đất và người, Sở VH-TT Thái Nguyên, 2003.
3 Minh Tú: “Tìm hiểu quê hương Lý Nam đế” in trong Thái Nguyên đất và người; Sở Văn
hoá Thông tin Thái Nguyên, 2003, tr.235-236.
4 Đinh Văn Nhật: “Đi tìm quê hương gốc của Lý Bí”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1, 1989,
tr.78-82.
Trang 24Trong bài Tìm hiểu thêm về châu Giã Năng và ấp Thái Bình thời Lý Bí, tác
giả Nguyễn Văn Khánh, một nhà nghiên cứu địa phương thông qua việc tìm hiểu
và nghiên cứu ngữ ngôn cổ kết hợp với địa danh học tại địa phương, bước đầu đưa
ra nhận định: danh từ Giã Năng được ghép bởi 2 từ tố Giã và Năng Giã là tên một
con sông lớn chảy trong vùng này Phan Huy Chú trong bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí, cũng đã nhắc tới sông Giã của Thái Nguyên Vào năm 1767, theo
lệnh của phủ chúa, các viên quan Nguyễn Đình Huấn và Ngô Thì Sĩ (từng giữchức Đốc đồng Thái Nguyên) lên mỏ Tống Tinh (thuộc châu Bạch Thông, TháiNguyên) để điều tra và giải quyết tình trạng khai thác mỏ bừa bãi, nhưng mới đếnsông Giã (Giã giang) chỗ địa phận các xã Thượng Giã, Trung Giã và Hạ Giã, thìđược tin Minh vương Trịnh Doanh chết, họ phải quay về1 Như vậy, sông Giã màPhan Huy Chú nhắc đến vào thế kỷ XVIII, chính là sông Công ngày nay Dòngsông Giã bắt nguồn từ huyện Định Hoá chảy qua Đại Từ về phía tây Đồng Hỷ rồichảy dọc huyện Phổ Yên, cắt huyện thành 2 phần đông và tây Khi chảy đến chỗgần cầu Đa Phúc hiện nay thì dòng sông ngoặt rẽ sang phía đông tạo ra một gócthước thợ, rồi chảy thêm chừng 2km nữa thì gặp sông Cầu ở ngã ba Vát (nơi giápranh 3 tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang và Hà Nội) Cũng vì lý do trên, nên vùng đấtnày được dân chúng gọi là châu Giã (Năng) Còn từ tố “Năng” (trong Giã Năng)thì hiện nay vẫn còn tồn tại trong nhiều địa danh như: phía trên có Cương Năng(xưa là Thượng Năng) gần xã Tân Cương, nay thuộc phía tây thành phố TháiNguyên; phía bắc có Bảo Năng (đọc chệch là Bảo Nang) xưa gọi là Bắc Năng;giữa có Trung Năng, giáp triền phía đông dãy Tam Đảo, nay tách thành các thônTrung Năng Thượng và Trung Năng Hạ thuộc xã Phúc Thuận (Phổ Yên) Nhưvậy, có thể khẳng định được rằng châu Giã Năng bao gồm một phần đất phía đôngbắc huyện Sóc Sơn, Hà Nội, cả huyện Phổ Yên và thị xã Sông Công lên giáp phíatây thành phố Thái Nguyên và phía tây bắc huyện Phú Bình
Theo các tài liệu lịch sử, sau khi không làm quan nữa, Lý Bí về quê và tập
hợp binh lính nổi dậy khởi nghĩa Vậy, nếu “quê hương Lý Bí đích thực là ở ấp Thái Bình châu Giã Năng mà trung tâm là vùng đất huyện Phổ Yên (Thái Nguyên ngày nay)”2 thì chứng tỏ Thái Nguyên không những là nơi xuất phát, khởi binhcủa cuộc khởi nghĩa Lý Bí mà còn là một trong những “hậu phương chiến lược”,cung cấp dồi dào về lương thực và lực lượng quân lính cho nghĩa quân Lý Bí
Để chuẩn bị tài liệu cho cuộc Hội thảo nói trên, từ giữa năm 2012, một số nhànghiên cứu thuộc Viện Sử học, Viện nghiên cứu Hán Nôm, Viện LSQS Việt Nam
và các cán bộ nghiên cứu địa phương của huyện Phổ Yên (Thái Nguyên), đã tiếnhành cuộc điều tra điền dã tại làng Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnhThái Nguyên; xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên – nơi có chùa Hương Ấp 鄉 邑 寺
mà trong Lý Nam Đế Ngọc phả cổ truyền có nhắc đến: “Pháp tổ Thiền sư trụ trì ngôi chùa ở bản châu” là: 法 祖 禪 師 住 持 在 本 州 邑 之 寺 (Phiên âm: Pháp
5 Đinh Văn Nhật: “Quê hương gốc của Lý Bí theo văn bia, ngọc phả đền Giang Xá (xã Đức
Giang, huyện Hoài Đức, ngoại thành Hà Nội)” trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm
1988, Viện Khảo cổ học, 1990, tr.113.
1 Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí tập II, Nxb KHXH, Hà Nội 1992, tr.264.
2 Nguyễn Văn Khánh: “Tìm hiểu thêm về châu Giã Năng và ấp Thái Bình thời Lý Bí”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6, 1997, tr.86.
24
Trang 25tổ Thiền sư trụ trì tại bản châu ấp chi tự) Vậy, chùa Châu Ấp (hay chùa Hương
Ấp) hiện ở đâu…? Hiện nay có một ngôi chùa mang tên Hương Ấp tự (Chùa
Hương Ấp) Tại chùa Hương Ấp và vùng đất xung quanh còn khá nhiều di tích vàđịa danh lịch sử liên quan tới vua Lý Nam Đế1 Lý Nam Đế Ngọc phả cổ truyền
cho biết: Lý Nam Đế tu tại chùa Hương Ấp được chừng 4 năm, đến năm 13 tuổithì theo Phổ Tổ Thiền sư về tu hành tại chùa Giang Xá (Linh Bảo tự), thuộc huyệnHoài Đức (Hà Nội)
Đoàn khảo sát cũng đã về điều tra điền dã tại một số địa phương có liên quanđến phạm vi huyện Thái Bình vào thế kỷ VI mà theo nghiên cứu của Đặng XuânBảng, Đào Duy Anh… có thể bao gồm địa bàn một số huyện Hà Tây cũ nhưChương Mỹ, Hoài Đức, Quốc Oai…Đây là mảnh đất có khá nhiều làng xã thờ vua
Lý Nam Đế làm thần Thành hoàng Trong số đó, cần kể tới một vài ngôi đình, đềnthờ Lý Nam Đế dưới đây:
- Đình, đền thờ Lý Nam Đế ở thôn Giang Xá, huyện Hoài Đức
- Đình, đền thờ Lý Nam Đế và Phạm Tu ở thôn Ngọc Than, xã Ngọc Mỹ,huyện Quốc Oai
- Đình thờ Lý Nam Đế, ở làng Hạ Mỗ, tổng Thượng Hội, phủ Hoài Đức, tỉnh
Hà Đông…
Mật độ khá dày của các đình, đền thờ vua Lý Nam Đế tại vùng đất Xứ Đoài
cũ, tự nó đã nói lên rằng: Mảnh đất này gắn bó nhiều với vị vua sáng lập nhà Tiền
Lý (544-602)2
Trong các địa bàn kể trên, đáng chú nhất là cụm di tích Đình - Đền thờ LýNam Đế và ngôi chùa Linh Bảo (còn gọi là chùa Giang Xá) ở thôn Giang Xá(huyện Hoài Đức) Tại đây còn bảo lưu được nhiều chứng tích, di vật và truyềnthuyết liên quan tới vua Lý Nam Đế
Đình Giang Xá thờ Lý Nam Đế làm thần Thành hoàng Tại đây còn lưu giữ
được bản Ngọc phả ghi chép về tiểu sử, hành trạng của Lý Nam Đế, có tên là: Việt Thường thị Tiền Lý Nam Đế Ngọc phả cổ truyền (gọi tắt là Lý Nam Đế Ngọc phả
cổ truyền) và 22 đạo sắc phong của triều đình quân chủ Việt Nam phong cho Đức
vua Lý Nam Đế Đạo sắc sớm nhất có niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 (1670) đời vua LêHuyền Tông; Đạo sắc muộn nhất là năm Khải Định thứ 9 (1924)
Cuối tháng 7 năm 2012, một số nhà nghiên cứu về trực tiếp khảo sát ngôichùa Hưng Quốc và đình Tử Các ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Các tài liệuđiền dã tại chùa Hưng Quốc, thôn Quang Lang, xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy nóiriêng và tỉnh Thái Bình nói chung không đủ cơ sở khoa học để xác định quêhương Lý Bí ở đây
Trong cuộc Hội thảo khoa học… vấn đề về quê hương của Lý Bí được nhiềutác giả quan tâm Trên cơ sở nguồn sử liệu, tài liệu địa lý học lịch sử và đặc biệt là
tư liệu điền dã ở Tiên Phong (Phổ Yên), Giang Xá (Hoài Đức), Ngọc Than (Quốc
1 Xem thêm bài của Phạm Văn Kính: “Về mối quan hệ giữa chùa Giang Xá, Hoài Đức, Hà
Nội với chốn Tổ: Chùa Hương Ấp, Phổ Yên”… trong Kỷ yếu Hội thảo Một số vấn đề về vương triều Tiền Lý và quê hương của vua Lý Nam đế Hà Nội, 2012.
2 Tham khảo Nguyễn Minh Tường: “Vấn đề quê hương Lý Nam Đế - Một nghi án lịch sử
cần được làm sáng tỏ”, Kỷ yếu Hội thảo Một số vấn đề về vương triều Tiền Lý và quê hương của vua Lý Nam đế, Hà Nội, 2012.
Trang 26Oai và Thái Thụy (Thái Bình), các tác giả Nguyễn Minh Tường, Nguyễn HữuKhánh, Nguyễn Đình Hưng và Minh Tú đều khẳng định: quê hương của Lý Bí là
làng Cổ Pháp thuộc xã Tiên Thù, tổng Tiên Thù, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Hiện nay, làng Cổ Pháp - “gốc tích của Lý Bí”, thuộc xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 1
Năm 544, Lý Bí xưng hoàng đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, dựng triều đình,xếp đặt quan lại, lấy tên nước là Vạn Xuân với ý mong cho xã tắc truyền đếnmuôn đời vậy Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội; lấy Triệu Túc làm Thái phó,bọn Tinh Thiều, Phạm Tu đều làm tướng văn, tướng võ”
Khởi nghĩa Lý Bí đã hoàn toàn thắng lợi Nó kế tục và phát huy truyền thốngđấu tranh giành quyền độc lập mà Hai Bà Trưng đã phất cờ khởi nghĩa đầu tiêntrong thời kỳ chống Bắc thuộc Thắng lợi của khởi nghĩa Lý Bí có ý nghĩa quantrọng, đánh dấu một bước trưởng thành của ý thức dân tộc, khẳng định nền độclập, tự chủ của nhân dân ta và phủ nhận quyền đô hộ, thống trị của đế chế phươngBắc đối với đất nước và dân tộc ta
Tháng Sáu năm Ất Sửu (545), nhà Lương cử Dương Phiêu, Trần Bá Tiên…đem quân tiến sang đánh Giao Châu Vua Lý Nam Đế đem 3 vạn quân ra chống cự,nhưng bị thua ở Chu Diên, lại thua ở cửa sông Tô Lịch, nên phải rút quân về thànhGia Ninh (thuộc huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) Trước tình thế bất lợi, vua lạicho rút quân về Tân Xương để củng cố lực lượng, sau đó cho quân ra tiến đánhquân giặc tại hồ Điển Triệt (nay thuộc xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh VĩnhPhúc), nhưng không giành thắng lợi Thế cô, lực lượng mỏng, Lý Nam Đế tiếp tụclui giữ động Khuất Lão điều chỉnh quân ngũ Để mưu tính chiến đấu lâu dài vớiquân Lương, vua đã giao cho Tả tướng quân Triệu Quang Phục giữ nước, cầm quânchống giặc Vua Lý Nam Đế mất vào ngày mùng 2 tháng Năm năm Mậu Thìn (548)tại động Khuất Lão2
Về cơ bản, xác định nơi mất của vua Lý Nam Đế có sự nhất quán hơn, khi đa
số tài liệu chính sử và các bài nghiên cứu đều chép: Vua Lý Nam Đế mất ở độngKhuất Lão Tra cứu các tài liệu địa danh và chú thích liên quan thì động KhuấtLão xưa, nay thuộc 2 xã Cổ Tiết và Văn Lương (huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ).Tại khu 2, xã Văn Lương còn di tích mộ và đền thờ Lý Bí trên gò Cổ Bồng Còn
về tên gọi, Khuất Lão (屈 獠) - Khuất Liêu (屈 獠) - Khuất Lạo (屈 潦)… thìkhông có sự khác biệt, bởi đó là do đọc chệch, hoặc cách phiên âm (vì có tự dạnggần giống nhau)
Sự nghiệp, công lao và đóng góp của Lý Bí - Lý Nam Đế đối với lịch sử dântộc nói chung, với vùng đất Tam Nông, Phú Thọ nói riêng đã được sử sách và hậuthế ghi nhận vì những năm tháng cuối đời ông gắn bó với vùng đất trung du này.Minh chứng xác thực nhất là tại xã Văn Lương còn lưu giữ nhiều dấu tích địa danh
1 Tham khảo Nguyễn Minh Tường: “Vấn đề quê hương Lý Nam Đế - Một nghi án lịch sử
cần được làm sáng tỏ”, Kỷ yếu Hội thảo Một số vấn đề về vương triều Tiền Lý và quê hương của vua Lý Nam đế, Hà Nội, 2012.
2 Theo nội dung tấm bia Giang Xá từ bi ký (soạn năm Tự Đức thứ 5 - 1852) và Việt Thường thị Tiền Lý Nam Đế ngọc phả cổ truyền cho biết: Ngày kỵ của Lý Nam đế là ngày mùng 2 tháng
Năm Có một số tài liệu Thần tích ở các nơi thờ tự Lý Nam Đế ở Phúc Thọ, Vĩnh Phúc cho biết
Lý Nam đế mất ngày 20 tháng Ba (hoặc 10 tháng Ba) năm Mậu Thìn.
26
Trang 27liên quan đến cuộc kháng chiến chống quân Lương xâm lược của vua Lý Nam Đế,như: Gò Cổ Bồng, Ao Quan, Rừng Cấm, Đính Trại, hố Lỗ Tiên, hố Hang Hùm,…Đặc biệt, nhân dân trong vùng đã xây dựng một ngôi đền thờ nhằm tưởng nhớ vàtruy tôn đến công lao của vị vua “xưng vương đầu tiên của nước Nam” Tuy nhiên,trải qua thời gian, ngôi đền thờ đã bị phá hủy, nhưng được sự chung sức đồng lòngcủa chính quyền và nhân dân địa phương, một ngôi đền thờ mới khang trang hơn, tođẹp hơn đã được dựng lên và đang trở thành một địa chỉ văn hóa lịch sử của tỉnhPhú Thọ nói riêng và cả nước nói chung./.
N.Đ.N
Trang 28Ý NGHĨA KHÔI PHỤC ĐỀN THỜ VÀ LĂNG MỘ LÝ NAM ĐẾ
TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH HƯỚNG VỀ CỘI NGUỒN
Quê hương Lý Bí có nhiều nguồn tài liệu ghi chép khác nhau Đại Việt sử ký toàn thư và Lịch triều hiến chương loại chí ghi ông là người Thái Bình, phủ Long Hưng Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi: "tên Thái Bình đặt từ thời
Đường (618 - 907), còn Long Hưng đặt từ thời Trần (1225-1400)", như vậy gọiThái Bình và Long Hưng là gọi theo tên sau này đặt ra Các sử gia thời Nguyễn
xác định Long Hưng thuộc Thái Bình và cho rằng quê Lý Bí ở Thái Bình Việt Nam sử lược ghi rằng phủ Long Hưng thuộc tỉnh Sơn Tây (cũ)
Nhân kỷ niệm 1470 năm (542 - 2012) ngày cuộc khởi nghĩa Lý Bí bùng nổ,Hội Khoa học lịch sử Việt Nam phối hợp UBND tỉnh Thái Nguyên tổ chức Hộithảo khoa học "Một số vấn đề về Vương triều Tiền Lý và quê hương của vua LýNam Đế" Hội thảo đưa ra kết luận vua Lý Nam Đế có quê gốc ở thôn Cổ Pháp, xãTiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
* Đánh đuổi quân Lương
Cuối năm 541, Lý Bí chính thức khởi binh chống quân Lương xâm lược.Được nhiều người hưởng ứng, lực lượng của Lý Bí lớn mạnh Tù trưởng ở ChuDiên (Hải Dương) là Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục đã đem quân nhậpvới đạo quân của ông Tinh Thiều, một người giỏi từng đến kinh đô nhà Lươngxin được chọn làm quan, nhưng chỉ cho chức "gác cổng thành", nên bỏ về GiaoChâu theo Lý Bí Ngoài ra trong lực lượng của Lý Bí còn có các võ tướng là Phạm
Tu, Trịnh Đô, Lý Công Tuấn…
Lý Bí liên kết với các châu lân cận cùng chống lại Tiêu Tư Theo sách Lương thư của Trung Quốc, Tiêu Tư liệu thế không chống nổi quân Lý Bí, phải sai người
mang của cải đến đút lót để được tha chạy thoát về Quảng châu Quân của Lý Bíđánh chiếm lấy thành Long Biên
Tháng 4 năm 542, Lương Vũ Đế sai Thứ sử Việt châu là Trần Hầu, thứ sử Lachâu là Ninh Cự, thứ sử An châu là Úy Trí, thứ sử Ái châu là Nguyễn Hán cùnghợp binh đánh Lý Bí Lý Bí đã chủ động tiến quân đánh trước, phá tan lực lượngquân Lương ở phía nam, làm chủ toàn bộ Giao châu
* Đánh lui cuộc phản công của nhà Lương
Cuối năm 542, Lương Vũ đế sai thứ sử Giao châu là Tôn Quýnh, thứ sử Tânchâu là Lư Tử Hùng sang đàn áp Được tin quân Lương lại tiến sang, Lý Bí chủ
28
Trang 29động mang quân ra bán đảo Hợp Phố đón đánh Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng bịquân Lý Bí đánh bại, 10 phần chết đến 6 - 7 phần.
Chiến thắng này giúp Lý Bí kiểm soát toàn bộ Giao Châu, tức là miền Bắc Bộ
và Bắc Trung Bộ Việt Nam, cộng thêm quận Hợp Phố thuộc Quảng Đông, TrungQuốc hiện nay
* Đánh đuổi quân Lâm Ấp
Tháng 5 năm 543, vua Lâm Ấp mang quân xâm chiếm quận Nhật Nam và đánhlên quận Cửu Đức Lý Nam Đế sai Phạm Tu cầm quân vào nam đánh giặc Phạm Tuđánh tan quân Lâm Ấp ở Cửu Đức khiến vua Lâm Ấp phải bỏ chạy
* Chạy về động Khuất Lão
Tháng 6 năm 545, nhà Lương sai Dương Phiêu làm thứ sử Giao Châu, Trần
Bá Tiên làm Tư mã, sai thứ sử Định Châu là Tiêu Bột hội quân với Phiêu ở GiangTây cùng xâm lấn nước Vạn Xuân
Khi quân của Trần Bá Tiên đến Giao Châu, Lý Nam Đế đem 3 vạn quân rađánh, bị thua ở Chu Diên và ở cửa sông Tô Lịch, tướng Tinh Thiều tử trận Ôngchạy về thành Gia Ninh (nay thuộc xã Thanh Đình, thành phố Việt Trì, tỉnh PhúThọ)
Tháng giêng năm 546, Trần Bá Tiên chiếm thành Gia Ninh, tướng Phạm Tu
tử trận Lý Nam Đế chạy vào đất người Lạo ở Tân Xương Sau một thời gian tậphợp và củng cố lực lượng, ông đem 2 vạn quân từ đất Lạo sang đóng ở hồ ĐiểnTriệt (xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc) Quân Lương bao vây songdừng lại ở cửa hồ không dám tiến đánh ngay Đến đêm, mưa lũ, nước sông lênmạnh, tràn ngập vào hồ Nhân cơ hội đó Trần Bá Tiên đem quân theo dòng nướctiến vào Quân Vạn Xuân không phòng bị, vì thế tan vỡ
Lý Nam Đế phải lui về động Khuất Lão (còn gọi là Khuất Lạo, Khuất Liêuhay Khuất Liệu), giao binh quyền cho Triệu Quang Phục là con Thái phó TriệuTúc tiếp tục chống lại Trần Bá Tiên
* Trút hơi thở cuối cùng
Ngày 20 tháng Ba (tức ngày 13-4 dương lịch), năm 548, Lý Nam Đế qua đời.Ông ở ngôi được 5 năm (544 - 548), thọ 46 tuổi
Theo sách Việt Nam văn minh sử cương của Lê Văn Siêu dẫn một số nguồn
tài liệu cổ, do ở lâu ngày trong động, Lý Nam Đế bị nhiễm lam chướng nên mù cảhai mắt, sau ốm chết Vì vậy đời sau đến ngày giỗ, khi cúng, thường phải xướng rõtên các đồ lễ vật để Vua nghe thấy ( đây là hèm tục cúng đền thờ Lý Nam Đế )
2 Tu bổ, tôn tạo đền thờ và Lăng mộ Vua Lý Nam Đế
Các nhà sử học khẳng định trong thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, kéo dàihơn 1000 năm, cuộc khởi nghĩa Lý Bí nói riêng và Vương triều Tiền Lý nói chunggiữ một vị trí rất quan trọng Đây là cuộc khởi nghĩa đã thu được thắng lợi vang
Trang 30dội nhất và giành được quyền độc lập, tự chủ lâu dài nhất Trong lịch sử nước nhà,
Lý Nam Đế là người đầu tiên xưng hiệu Đế và đặt niên hiệu Thiên Đức Lý Nam
Đế cũng là người đầu tiên nhận ra vị trí trung tâm đất nước của vùng đất Hà Nộixưa
Di tích thờ Lý Nam Đế hiện nằm rải rác trên địa bàn các tỉnh Thái Bình, TháiNguyên, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ… nhưng chỉ duy nhất ở Phú Thọ có đền thờnơi Lý Nam Đế qua đời gắn với Lăng mộ của Ngài
Hiện nay chúng ta tu bổ, tôn tạo đền thờ, lăng mộ, các di tích liên quan Vua
Lý Nam Đế tại căn cứ động Khuất Liêu xưa như thế nào để đảm bảo vừa khoahọc, vừa xứng tầm vị trí của bậc đế vương Tu bổ di tích không chỉ đơn giản làkhôi phục lại như mới một công trình kiến trúc cổ truyền, mà là sự tổng hợp củanhiều mặt hoạt động phức tạp có quan hệ qua lại rất chặt chẽ như: nghiên cứu,sáng tạo nghệ thuật và quá trình thi công, xây dựng v.v Công tác tu bổ di tíchphải đáp ứng được các nhu cầu: giải phóng, tước bỏ khỏi di tích tất cả các lớp bổsung xa lạ, gây ảnh hưởng xấu tới các mặt giá trị của di tích; giữ lại tối đa nhữngyếu tố nguyên gốc của di tích; trên cơ sở khoa học đáng tin cậy; khôi phục lại mộtcách chính xác những yếu tố đã bị thiếu hụt, mất mát trong quá trình tồn tại của ditích; trả lại cho di tích hình dáng vốn có của nó; làm cho di tích có độ bền vững vềmặt kết cấu để tồn tại lâu dài trước tác động của điều kiện khí hậu và thời tiết khắcnghiệt, cũng như thử thách của thời gian
Mục tiêu bao trùm là phải xác định chính xác giá trị của di tích về các mặtlịch sử, văn hoá, khoa học tìm biện pháp bảo tồn nguyên trạng di tích để pháthuy giá trị, phục vụ những nhu cầu do xã hội đặt ra Quá trình xây dựng và thựcthi các dự án tu bổ, tôn tạo và phát huy di tích có những yêu cầu cơ bản như: Nộidung các dự án phải phù hợp với các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hộitrong từng thời kỳ, phục vụ lợi ích cộng đồng và các nhu cầu do xã hội đề ra; phảixây dựng dự án theo đúng những định hướng cơ bản đã được phê duyệt trong quyhoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy di tích
Di tích đền thờ Vua Lý Nam Đế và lăng mộ của Ngài được tu bổ, tôn tạo cógiá trị văn hóa tâm linh đặc biệt quan trọng bởi lòng tôn kính, tri ân công đứcngười có công giữ nước của dân tộc Việt Nam
3 Đưa du lịch đến với di tích Đền thờ Vua Lý Nam Đế
Việt Nam, đất của các di tích, từ miền núi tới hải đảo đâu đâu cũng có di tíchlịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh
Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng vềlịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Di tích giúp cho con ngườibiết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng vănhoá của đất nước và do đó có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cáchcon người Việt Nam hiện đại Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn đồngthời, di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển kinh tế Nếu được khaithác, sử dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và nócàng có ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực đểphát triển
30
Trang 31Di tích lịch sử liên quan tới sự kiện hoặc nhân vật lịch sử có những đóng góp,ảnh hưởng tới sự tiến bộ của lịch sử dân tộc Đến với di tích lịch sử, khách thamquan như được đọc cuốn sử ghi chép về những con người, những sự kiện tiêu biểu,được cảm nhận một cách chân thực về lịch sử, những cảm nhận không dễ có đượckhi chỉ đọc những tư liệu ghi chép của đời sau.
Ngày nay, du lịch được coi là một trong những phương tiện hàng đầu để traođổi văn hóa, là động lực tích cực cho việc bảo vệ di sản văn hóa và di sản thiênnhiên Theo thống kê của Cục Di sản văn hóa (Bộ VH,TT&DL), hiện nay trên cảnước có khoảng gần 4 vạn di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh Trong
đó, có hơn 3 nghìn di tích được xếp hạng cấp quốc gia, hơn 5 nghìn di tích xếphạng cấp tỉnh Cộng thêm vào đó là gần 1 nghìn di sản văn hóa phi vật thể đượcsưu tầm nghiên cứu, lưu trữ…
Với sự phong phú đa dạng như vậy của các di sản văn hóa ở Việt Nam, dễthấy rằng bên cạnh việc bảo tồn các di sản thì việc đưa những di sản này vào khaithác, và phát triển về du lịch là một điều cần thiết Bởi văn hóa là yếu tố nội sinhcủa du lịch, nên những di sản phong phú, nhiều giá trị về văn hóa chính là thếmạnh nội lực giúp Việt Nam có thể đẩy mạnh phát triển “ngành công nghiệpkhông khói” - du lịch trên cơ sở những di sản có sẵn
Tỉnh Phú Thọ được biết đến không chỉ bởi Đền Hùng linh thiêng - nơi thờ tự
Tổ tiên của người Việt, mà còn là kinh đô đầu tiên của nước Việt Nam - nơi cácvua Hùng đã chọn làm đất khởi nghiệp sơn hà; dựng nên nhà nước đầu tiên tronglịch sử của dân tộc Việt Nam Một vùng đất sơn chầu thủy tụ; hùng vĩ tựa dángcha, trữ tình như lòng mẹ đã trở thành bến hẹn cho những hành trình du lịch tâmlinh, lịch sử, văn hoá và sinh thái đồng quê
Trong những năm qua, kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ có những bước pháttriển khá, tốc độ tăng trưởng GDP cao, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dânngày càng được cải thiện Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh luônquan tâm tới sự phát triển du lịch Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lầnthứ XVII đã lựa chọn du lịch là một trong ba khâu đột phá phát triển kinh tế củatỉnh Vì vậy, việc liên kết hợp tác và khai thác tiềm năng du lịch giữa các địaphương, vùng miền trên cả nước, thậm chí liên kết với các nước trong khu vực cầnphải được đẩy mạnh hơn nữa Thông qua việc tổ chức thành công các sự kiện đãgóp phần tuyên truyền, quảng bá, tạo điểm nhấn cho các hoạt động du lịch, tạođược không khí vui tươi, phấn khởi và điều kiện để nhân dân và du khách đượctham gia sáng tạo, hưởng thụ các sản phẩm văn hóa, góp phần phục hồi, phát huy,giữ gìn bản sắc văn hóa cội nguồn dân tộc Trong quá trình tổ chức các lễ hội,nhiều phong tục tập quán, nét đẹp văn hóa truyền thống, các trò diễn dân gian củacác làng, xã đã từng bước được phục hồi, phát triển, tạo được nét đặc trưng riêngcủa mỗi dân tộc, gây được sức hấp dẫn lớn đối với du khách trong và ngoài nước
Kết luận:Di sản và du lịch có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Dulịch không chỉ dựa vào di sản để phát triển mà còn mang sứ mệnh cao cả, đó làtôn vinh giá trị di sản, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị tốt đẹp của di sản
đã được kết tinh và gìn giữ Di sản là tài nguyên du lịch có sức hấp dẫn mạnh
mẽ, là động cơ tác động đến quyết định nhu cầu hưởng thụ của du khách
Trang 32Việc khôi phục di tích: đền thờ, khu lăng mộ, các địa điểm liên quan đến căn
cứ địa động Khuất Lão, gò Cổ Bồng… sẽ tạo thành điểm đến hấp dẫn trong hànhtrình du lịch văn hóa tâm linh hướng về cội nguồn dân tộc, viếng thăm miền Đất
Trang 33VUA LÝ NAM ĐẾ VỚI CĂN CỨ ĐỘNG KHUẤT LÃO - VỊ TRÍ, QUY MÔ PHỤC HỒI ĐỀN THỜ VÀ LĂNG MỘ NGÀI
Lý Bí được tôn lên làm thủ lĩnh địa phương Ông được Thứ sử Tiêu Tư nhà Lươngmời ra làm chức Giám quân ở Đức Châu (huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh ngày nay).Thứ sử Giao Châu là Vũ Lâm hầu Tiêu Tư hà khắc tàn bạo nên mất lòng người, lại
do bất bình với các quan lại đô hộ tàn ác, Lý Bí đã bỏ quan, về quê, chiêu binh,mãi mã chống lại chính quyền đô hộ
Được nhiều người hưởng ứng, lực lượng của Lý Bí càng lớn mạnh Tù trưởng
ở Chu Diên (Hải Dương) là Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục khâm phụctài đức của Lý Bí nên đã đem quân nhập với đạo quân của ông Tinh Thiều, mộtngười giỏi từ chương, từng đến kinh đô nhà Lương xin được chọn làm quan nhưngchỉ cho chức quan “gác cổng thành” nên đã bỏ về Giao Châu theo Lý Bí, ngoài ratrong lực lượng của ông còn có một võ tướng là Phạm Tu đã ngoài 60 tuổi Căm thù giặc Lương tàn bạo, ông đã triệu tập nhân dân cùng các hào kiệt nổidậy chống lại quân Lương từ năm 541 đến cuối năm 542 Sau khi đánh đuổi quânxâm lược, đến tháng Giêng năm 544 Lý Bí tự xưng là Lý Nam Đế (nhà Tiền Lý),lên ngôi đặt niên hiệu là Thiên Đức (đức trời), lập trăm quan, đặt tên nước là VạnXuân thể hiện mong muốn rằng xã tắc truyền đến muôn đời Lý Nam Đế đóng đô
ở Ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, TP Hà Nội), dựng điện Vạn Thọlàm nơi triều hội, thiết lập triều đình với hai ban văn, võ Lấy Triệu Túc làm Tháiphó, Tinh Thiều đứng đầu ban văn, Phạm Tu đứng đầu ban võ
Nhà nước Vạn Xuân xây dựng chưa được bao lâu thì vào khoảng tháng 6 năm
545, nhà Lương lại đem đại binh tấn công sang nước ta Sau nhiều lần kịch chiếnvới quân Lương ở Chu Diên (Hải Dương), Tô Lịch (Hà Nội), Gia Ninh (BạchHạc), đầu năm 546 Lý Nam Đế đưa quân vào Động Khuất Lão (Tam Nông, PhúThọ) để củng cố lực lượng Tháng 10 năm 546, Ông kéo 2 vạn quân ra hồ ĐiểnTriệt (Lập Thạch) lập thủy trại Tại đây, sau một đêm nước sông dâng lên cao 7thước tràn đổ vào hồ, quân của Trần Bá Tiên theo dòng nước chảy tiến vào, quâncủa Lý Nam Đế không phòng bị đã bị tan vỡ Lúc đó nhà Vua phải vượt sôngThao chạy về động Khuất Lão, ông trao binh quyền lại cho Triệu Quang Phục.Năm 548, Lý Nam Đế ốm nặng rồi mất tại động Khuất Lão
Trang 34Viết về cuộc kháng chiến chống quân Lương của nhà Tiền Lý, sách Đại Việt
sử ký toàn thư có nghi:
“Bính Dần năm thứ ba, mùa xuân, tháng giêng, bọn Bá Tiên đánh lấy đượcthành Gia Ninh Vua chạy vào đất người Lão ở Tân Xương Quân Lương đóng ởcửa sông Gia Ninh Mùa thu tháng 8, Vua lại đem 2 vạn quân từ trong đất ngườiLão ra đóng ở hồ Điển Triệt Đóng rất nhiều thuyền chật cả trong hồ Quân Lươngđóng ở cửa hồ, ngại không dám vào Đêm hôm ấy, nước sông dâng mạnh, cao bảythước rót vào hồ Bá Tiên đem quân của mình theo dòng nước tiến vào QuânLương đánh trống, reo hò mà tiến, Vua không phòng bị nên tan vỡ, lui giữ ở trongđộng Khuất Lão Mậu Thìn năm thứ 5 (548), mùa xuân, tháng ba, ngày Tân Hợi,
Lý Nam Đế nhiễm lam chướng lâu ngày, ốm chết”
Tại cuốn sách Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ X (tr 119, 120) có
ghi chép về cuộc khởi nghĩa của Lý Bí như sau:
“Trong một lần đánh nhau với quân Lương, Lý Bí lại phải lui quân về thànhGia Ninh (Bạch Hạc) Được sự phối hợp của quân Dương Phiêu, Trần Bá Tiên đãđánh chiếm được thành Đầu năm 546, Lý Nam Đế chạy vào động Khuất Lão ởPhú Thọ củng cố lực lượng Sau một thời gian bổ xung quân số, tháng 10 năm
546, Lý Nam Đế kéo 2 vạn quân ra đóng ở hồ Điển Triệt (xã Yên Lập, Lập Thạch,Vĩnh Phúc) Tại đây, quân nhà Tiền Lý lại bại trận trước một cuộc tấn công lớn,một lực lượng áp đảo của quân Lương Lý Nam Đế phải vượt sông Thao, chạy vềđộng Khuất Lão (Tam Nông, Phú Thọ) và giao binh quyền lại cho Triệu QuangPhục là một tướng trẻ có tài năng”1
Kính thưa các vị đại biểu khách quý!
Trong cuộc kháng chiến chống quân Lương xâm lược, Lý Nam Đế đã chọnđộng Khuất Lão để củng cố, xây dựng và phát triển lực lượng kháng chiến, đâycũng là căn cứ cuối cùng của Lý Nam Đế với triều đình Vạn Xuân Nơi này cũngchứng kiến những hoạt động và những ngày cuối đời của Lý Nam Đế (546 - 548) -
vị Hoàng đế đầu tiên của nước Việt
Động Khuất Lão trước kia thuộc xã Cổ Tiết, từ năm 1955 thuộc địa giới hànhchính xã Văn Lang (Văn Lương hiện nay), với nhiều tên gọi: Khuất Lão, KhuấtLiêu, Tam Khu, Liên Hoa, gò Cổ Bồng, Gò Cấm Tương truyền, đây là nơi chôncất thi hài của Vua Lý Nam Đế cho nên cũng gọi là Khu Lăng… Động Khuất Lãonằm ở hữu ngạn sông Hồng, cách sông khoảng 500m, là khu đồi nhỏ hình đài sen
ba cánh xòe ra Cánh thứ nhất hướng Bắc, cánh thứ hai hướng Đông, cánh thứ bahướng Nam, cuống hoa cắm vào dải Rừng Cấm Ba mặt Bắc, Đông, Nam đượcbao bọc bởi 115 mẫu ruộng chiêm quanh năm ngập nước, nguyên trước đây vẫngọi là Vụng Xưa hay Vụng Ba Triệu Về sau do phù sa sông Thao bồi đắp, tạothành xứ đồng Chằm, hố Náp, hố Ao, hố Ấu, hố Hang Hùm…, phía trước là dòngsông Thao hùng vĩ
Quan sát vị trí động Khuất Lão trong thực tế chống quân Lương của Lý Bí thế
kỉ VI, chúng tôi thấy, đây là một căn cứ quân sự lý tưởng theo truyền thống củabinh pháp cổ: “phía trước sáng, phía sau tối, phía trước có sông nước, phía sau cóđường vận lương thảo” Ba mặt Đông, Nam, Bắc của động là đồng nước mênhmông, phía Tây Bắc, Tây Nam là dải Rừng Cấm và vùng đồi núi trùng điệp, rậm
1 Sách đã dẫn, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội, 2003, tr 119-120.
34
Trang 35rạp um tùm, tạo nên bức tường thành tự nhiên che chắn cho khu căn cứ RừngCấm từ xưa đến nay vẫn là nơi thâm nghiêm, bí hiểm, linh thiêng đối với ngườidân Văn Lang Cũng có thể đây là khu vực “Cấm Thành” để bảo vệ cho nhà vua
và nghĩa quân ở động Khuất Lão Nhìn xa hơn nữa, khu căn cứ này còn được baobọc bởi các con sông lớn: phía Đông là sông Thao, phía Nam là sông Đà, phía Bắc
là sông Bứa, tạo thành chướng ngại tự nhiên để chặn các hướng tiến công củaquân Lương từ Long Biên lên, từ Gia Ninh sang và từ phía Bắc xuống Từ động cóthể quan sát, bao quát và khống chế một vùng rộng lớn tới tận thành Gia Ninh vàkhu vực ngã ba sông (sông Hồng, sông Lô, sông Đà)
Động Khuất Lão chỉ có một đường độc đạo duy nhất vào căn cứ, đó là conđường từ phía Tây qua làng Cổ Tiết, qua Đính Trại - nơi các trại nghĩa quân củaVua Lý Nam Đế đóng để bảo vệ con đường huyết mạch không cho ai lạ mặt vàoĐộng Ở Đính Trại (cách động từ 300m đến 800m) có 8 chiếc ao cổ do con ngườiđào (hiện nay vẫn còn dấu tích), vừa là hào lũy vừa là nơi cấp nước sinh hoạt choquân sĩ Tiếp đến để đi vào Động, phải qua Khe hố Nhà Phan - một khe nhỏ, dốcdựng đứng, sâu gần 20m, rất rậm rạp và chỉ từng người mới lách qua được Quakhe đó muốn đến khu vực trung tâm của động Khuất Lão - nơi đóng đại bản doanhcủa Vua Lý Nam Đế; và còn phải qua một khe hẹp khác, một bên là hố Ao, mộtbên là hố Ấu mới tới gò Cổ Bồng Những tên gọi Ao Quan, Đính Trại, Rừng Cấm,Tam Khu, Khu Lăng… đều gắn với dịa danh động Khuất Lão cùng với cuộc khởinghĩa của Vua Lý Nam Đế
Thật là một căn cứ hiểm yếu, tiến có thể đánh về vùng châu thổ sông Hồng,lui có thể giữ gìn, bảo toàn lực lượng Động Khuất Lão với vị trí hiểm yếu, tiệnlợi, nó không chỉ là căn cứ của Vua Lý Nam Đế trong cuộc kháng chiến chốngquân Lương, mà qua các truyền thuyết dân gian, thì nơi đây còn là nơi trungchuyển lương thảo giữa ba vùng thượng nguồn sông Lô, hạ nguồn sông Chảy vàkinh đô Văn Lang trong cuộc chiến tranh Hùng - Thục
Sau khi Vua Lý Nam Đế băng hà, để tưởng nhớ công ơn của nhà vua, với tâmlinh tôn kính và biết ơn những người có công với dân với nước, các tướng sỹ cùngnhân dân đã dựng ngôi Đình và một Đền, Điện Mộ thờ trên gò Cổ Bồng và độngKhuất Lão để thờ Lý Nam Đế, Lý Thiên Bảo (anh ruột của Lý Bí), Lý Phật Tử(người trong dòng họ), những người cùng Lý Bí khởi nghiệp và hai thủy thần làLong Hải Vương và Lân Hải Vương đã có công giúp ông và tướng sỹ vượt sông
Thao (theo truyền thuyết, khi Lý Nam Đế chạy đến tả ngạn sông Thao gặp nước lớn, không có thuyền mảng vượt sông, phía sau là quân Lương truy đuổi, tình thế
vô cùng nguy khốn Giữa lúc nguy hiểm đó, thủy thần xuất hiện và giúp Lý Nam
Đế cùng tướng sĩ vượt qua sông lớn, thoát khỏi sự truy đuổi của quân giặc).
Do nhiều nguyên nhân Đền thờ cùng các di tích khác đã bị hư hỏng trở thànhphế tích, năm 2005 nhân dân địa phương đã phát hiện ra nền móng cũ vẫn cònnhưng chưa có điều kiện để xây dựng lại Năm 2010 được sự đồng ý của UBNDtỉnh Phú Thọ, UBND huyện Tam Nông đã tiến hành phục hồi, xây dựng lại Đềnthờ Vua Lý Nam Đế cùng Điện Mộ của Vua tại Gò Cổ Bồng xã Văn Lương, nhằmtôn vinh vị Hoàng Đế đầu tiên của dân tộc, cho xứng tầm với di tích vốn có của
nó, đồng thời cũng đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân xã Văn Lương, nhândân trong huyện và khắp mọi miền đất nước
Trang 36Vị trớ xõy dựng: Trờn nền múng cũ.
Quy mụ: Kiến trỳc chữ Đinh, gồm 02 tũa:
- Tiền đường: 03 gian; dài 9,90m, Rộng 5,64m
- Hậu cung: Dài 9,0m; Rộng 5,91m (gồm cú Điện - Mộ và Tượng Vua đỳcbằng đồng đỏ nặng hơn 400kg đặt trong Hậu cung)
Khung, cột của Hậu Cung và Tiền Đường được làm bằng gỗ, cỏc đầu dư, cốnnỏch, cú trạm trổ hoa văn, mỏi lợp ngúi mũi hài
Đền thờ đó được xõy dựng xong và đưa vào sử dụng từ thỏng 10/ 2011
Kớnh thưa cỏc vị đại biểu!
Cỏc vị đại biểu cựng cỏc nhà khoa học đó được đến thăm quan di tớch đền thờ
- Điện mộ của Vua Lý Nam Đế, những địa danh gắn liền với Lý Nam Đế Tại Hộithảo hụm nay, chỳng ta sẽ được nghe những ý kiến phỏt biểu của cỏc nhà khoahọc, cỏc vị đại biểu giới thiệu thờm về cuộc đời, sự nghiệp, vai trũ của Lý Nam Đếvới căn cứ Động Khuất Lóo trong cuộc khỏng chiến chống quõn Lương Cuộc Hộithảo sẽ gúp phần quan trọng trong việc bổ sung những tư liệu quý bỏu về một giaiđoạn hào hựng, một căn cứ lịch sử khỏng chiến chống quõn Lương của Lý Nam
Đế trờn địa bàn huyện Tam Nụng tỉnh Phỳ Thọ giữa thế kỷ thứ VI sau cụngnguyờn
Huyện Tam Nụng chỳng tụi sẽ cố gắng hết sức để làm tốt hơn nữa cụng tỏcsưu tầm, bảo vệ, quy hoạch, tụn tạo, phỏt huy giỏ trị di tớch gắn với Vua Lý Nam
Đế - căn cứ động Khuất Lóo và cỏc địa danh khỏc, gúp phần giỏo dục lũng yờunước, lũng tự hào dõn tộc Chỳng tụi hy vọng cuộc Hội thảo sẽ làm sỏng tỏ thờmnhiều vấn đề về thõn thế, sự nghiệp quõn sự, sự nghiệp chớnh trị, văn húa của Vua
Lý Nam Đế với căn cứ động Khuất Lóo để tiến tới việc củng cố hồ sơ đề nghị BộVăn húa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là Di tớch lịch sử văn húa cấp Quốc gia
Trõn trọng cảm ơn!
Bảo tồn và phát huy giá trị căn cứ
động khuất lão nhìn chung trong hệ thống
di tích lịch sử văn hóa
36
Trang 373 (tức ngày 13-4 dương lịch), Lý Nam Đế ở động Khuất Lão lâu ngày bị nhiễmlam chướng, ốm qua đời Ông ở ngôi được 5 năm (543-548), thọ 46 tuổi.
Động Khuất Lão là một địa danh lịch sử liên quan đến cuộc khởi nghĩa Lý Bí
đã được rất nhiều các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Năm 2010, huyện TamNông, tỉnh Phú Thọ và nhân dân đã tiến hành xây dựng ngôi đền thờ vua Lý Nam
Đế tại gò Cổ Bồng, xã Văn Lương, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ Trong quầnthể ngôi đền thờ này còn có một ngôi mộ - tương truyền là lăng mộ của vua LýNam Đế
Căn cứ quy định của Luật Di sản văn hóa, việc xếp hạng di tích hiện nayđược chia theo bốn loại hình: di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưuniệm danh nhân), di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ và danh lam thắngcảnh Trong cả bốn loại hình trên đều có sự hiện diện của các công trình tínngưỡng - tôn giáo
Trong những năm qua, nhân dân có vai trò to lớn đối với việc bảo vệ các ditích tín ngưỡng - tôn giáo Cùng với nguồn ngân sách nhà nước, nhân dân các nơi,
ở trong và ngoài nước, đều có người tham gia đóng góp tu bổ di tích Sự đóng gópcủa nhân dân cho tu bổ di tích không ít hơn sự đầu tư của Nhà nước Đây là mộttruyền thống tốt đẹp hình thành từ quá khứ, vẫn được duy trì tới ngày nay
Để bảo vệ và tu bổ tôn tạo tốt các di tích tín ngưỡng - tôn giáo phải có sựtham gia của toàn xã hội Sức mạnh tinh thần và vật chất của toàn xã hội cần đượcđịnh hướng theo những nguyên tắc khoa học nhằm mang lại hiệu quả cao nhất.Nhiều vấn đề cấp thiết đang đặt ra là:
- Ban hành chính sách thu hút và tập hợp quần chúng vì sự nghiệp bảo vệ disản văn hoá
- Quản lý công tác tu bổ di tích theo đúng Quy chế bảo quản, tu bổ và phụchồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh của Bộ Văn hóa - Thông tin(nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)
- Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền và phổ biến Luật di sản văn hóa
và các quy định khác của pháp luật liên quan đến hoạt động bảo tồn di sản vănhóa
- Ban hành chính sách quản lý và sử dụng các nguồn tài chính của di tích(tiền công đức, tiền bán vé, tiền tài trợ, tiền kinh doanh dịch vụ tại di tích ) theođịnh hướng ưu tiên sử dụng các nguồn thu của di tích cho việc tu bổ, tôn tạo ditích
Trang 38Đối với di tích Đền thờ Lý Nam Đế tại gò Cổ Bồng, xã Văn Lương, huyệnTam Nông, tỉnh Phú Thọ, cần thực hiện một số công tác cụ thể sau:
- Nghiên cứu tổng thể các lĩnh vực lịch sử, văn hóa, sưu tầm các nguồn tưliệu chính thống của nhà nước phong kiến kết hợp với nguồn sử liệu địa phương
để xây dựng hồ sơ khoa học về di tích, tiến tới trình các cấp có thẩm quyền xemxét xếp hạng di tích lịch sử trong hệ thống di tích Việt Nam
- Tổ chức khoanh vùng các khu vực bảo vệ di tích và cắm mốc giới cho ditích, tạo cơ sở pháp lý vững chắc về đất đai, tránh hiện tượng xâm phạm di tíchsau này
- Quy hoạch tổng mặt bằng tu bổ tôn tạo di tích để có phương án tổng thểviệc tôn tạo, tránh việc xây dựng nhỏ lẻ, manh mún làm, chú ý không phá vỡ môitrường, cảnh quan di tích
- Thành lập tiểu ban quản lý di tích để quản lý các hoạt động về tôn tạo, xâydựng, quản lý thu chi nguồn công đức, lựa chọn các hiện vật của nhân dân cungtiến phù hợp với văn hóa truyền thống để đưa vào di tích
Nhận thức đúng về lịch sử, tu bổ tôn tạo là một mặt quan trọng trong nhận thức
về di tích Và, chỉ có bảo vệ, tôn tạo tốt di tích chúng ta mới có điều kiện tổ chức tốtnhất các hoạt động tín ngưỡng - tôn giáo, văn hoá ở di tích./
Trang 39Viện Sử học
1 Khái quát về cuộc khởi nghĩa Lý Bí và sự thành lập nước Vạn Xuân
Nguồn gốc xuất thân và quê hương Lý Bí.
Theo Lương thư (Trung Quốc): “Lý Bôn ở Giao Chỉ đời đời là Hào hữu (Hào
trưởng)” Thư tịch Việt Nam cho biết rõ thêm: “Tổ tiên (Lý Bôn) là người phươngBắc Cuối thời Tây Hán cực khổ vì chiến tranh, lánh nạn sang ở đất Nam Đến đờithứ 7 thành người phương Nam”1 Vì vậy, đến thời thuộc Lương, Lý Bí bị coithuộc tầng lớp hàn tộc, không được trọng dụng, mặc dù ông vốn “có tài văn, võ”
Lý Bí từng ra làm quan với nhà Lương, đến chức Giám quân ở Đức Châu Xã hộiGiao Chỉ bấy giờ còn quá nhiều sự bất công, người dân luôn bị đối xử hà khắc và
bị bóc lột tàn tệ, khiến ông bất bình, bỏ quan về quê, chiêu tập nghĩa sĩ cùng cácHào trưởng địa phương, nổi dậy chống lại sự thống trị tàn bạo của nhà Lương,giành lại độc lập cho đất nước
Các sách sử và thư tịch cũ như: Đại Việt sử ký toàn thư; Đại Việt sử ký tiền biên; Khâm định Việt sử thông giám cương mục; Việt điện u linh… đều chép:
“Vua họ Lý, húy là Bôn, người Long Hưng, Thái Bình”2 Các tác giả khi biên soạn
sách Việt sử thông giám cương mục đã tỏ ra nghi ngờ về địa danh, (liên quan đến
quê hương của Lý Bí) bởi vì tên gọi Thái Bình mới xuất hiện từ thời Đường (năm621), còn tên Long Hưng được đặt từ đời Trần, đời Lương chưa thấy có địa danhnày3
Qua khảo sát điền dã tại một số địa phương, đối chiếu với ghi chép của cácthư tịch về những địa danh xảy ra trận chiến, dấu tích của những đình, chùa, đềnthờ liên quan… các nhà khoa học đã đi đến nhận định khác nhau về quê hương Lý
Bí Hiện nay quê hương của ông được xác định ở vùng hai thôn Đường Lâm vàNam Nguyễn thuộc Thái Bình vào thời thuộc Đường (thế kỷ VII) (nay thuộc khuvực thị xã Sơn Tây - Ba Vì ngoại thành Hà Nội)4 Hoặc trong Kỷ yếu Hội thảo
khoa học “Một số vấn đề về vương triều Tiền Lý và quê hương của vua Lý Nam
Đế (nhân kỷ niệm 1470 năm cuộc khởi nghĩa Lý Bí 542- 2012)”, trang 124 có viết:
“Anh hùng dân tộc Lý Bí, Lý Nam Đế, đã lập nên Nhà nước Vạn Xuân, quê
1 Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb KHXH, HN, 1997, tr 101.
2 Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, tr 101.
3 Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám Cương mục, tập I, Nxb Giáo
dục, HN, 1998, tr 168.
- Minh Tú: “Về Lý Nam Đế”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 1 năm 1991, căn cứ vào bản
thần tích do Nguyễn Bính viết năm 1572, về Lý Nam Đế; cho rằng Quê Lý Bí ở Thái Bình, thuộc Giang Xá, huyện Hoài Đức, ngoại thành Hà Nội.
- Nguyễn Đình Hưng: “Tư liệu Hán Nôm ở các di tích huyện Hoài Đức (Hà Nội) viết về quê
hương của Lý Nam Đế” in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Một số vấn đề về vương triều Tiền
Lý và quê hương của vua Lý Nam Đế (nhân kỷ niệm 1470 năm cuộc khởi nghĩa Lý Bí
-542-2012), tr 153 viết: “Theo các tư liệu Hán Nôm đã nói trên cho phép đặt giả thiết ấp Thái Bình
(là xóm Thái Bình, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ngày nay) có thể là quê
hương gốc của Lý Nam Đế”.
4 Đỗ Văn Ninh (Cb): Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X, Nxb KHXH, HN, 2001, tr
327.
Trang 40hương gốc của ông chính là vùng Thái Bình - Cổ Pháp xưa thuộc châu Giã Năng,
xứ Kinh Bắc, ngày nay thuộc thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnhThái Nguyên”
Theo chúng tôi, về quê hương của Lý Bí cần gia công tìm hiểu thêm
Sơ lược về cuộc khởi nghĩa Lý Bí.
Cuộc khởi nghĩa do Lý Bí khởi xướng đã nổ ra vào mùa xuân năm 542
Lương thư và Trần thư đều ghi rằng: “Gặp khi Vũ lâm hầu Tiêu Tư tàn bạo, hà
khắc, mất lòng dân Lúc này Lý Bôn đang là Giám quân ở Đức Châu (châu CửuĐức), liền liên kết với hào kiệt ở các châu cùng nhau làm phản”1 Qua đó cho thấycuộc khởi nghĩa đã được Lý Bí chuẩn bị hết sức cẩn thận Lý Bí đã phải gặp gỡ,liên kết với những người cùng chí hướng ở các châu để tổ chức lực lượng rồi phốihợp khởi nghĩa
Sử liệu Việt Nam ghi chép về cuộc khởi nghĩa của Lý Bí đều nói đến những
vị tướng tài giỏi phù tá có công lao trong sự nghiệp giành độc lập Nhân vật đầutiên được nhắc đến là Tinh Thiều
Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: ông “học giỏi, văn hay, đã
sang triều Lương ứng tuyển để ra làm quan, nhưng Thượng thư bộ Lại là Sái Tốncho rằng tiên tổ họ Tinh không có người hiển đạt nên chỉ bổ cho làm QuảngDương môn lang (quan coi cổng) Tinh Thiều xấu hổ, trở về mưu việc binh với LýBôn”2 Tinh Thiều lại là người Việt ở vùng Lĩnh Nam, dù ông có tài giỏi vẫn bịcoi thường, khinh rẻ Ông là nạn nhân của chế độ Sĩ tộc mà Nam triều phân biệtđối xử Uất hận vì bị làm nhục, ông đã đến với Lý Bí và trở thành một vị tướng tài,
có nhiều đóng góp trong cuộc khởi nghĩa
Sử gia Ngô Thì Sĩ cho biết: “Có người Tù trưởng ở Chu Diên (vùng ĐanHoài, nay thuộc ngoại thành Hà Nội) là Triệu Túc; phục tài đức của vua (Lý NamĐế), đem quân theo vua đầu tiên”3 Triệu Quang Phục cũng là một vị tướng tài, cócông diệt giặc, được Lý Bí rất tín nhiệm, phong cho chức Tả tướng Thần tích xãĐạo Đức, huyện Bình Xuyên (Vĩnh Phúc) ghi về việc gặp gỡ của Lý Bí với TriệuQuang Phục ở trại Táo Tuyến Hai ông đã đọc binh thư, luyện võ, bày đặt mưu kếchống giặc tại đây Khi Lý Bí phất cờ khởi nghĩa, dân làng Đông Lỗ đã có rấtnhiều người tham gia vào nghĩa quân4
Theo thần tích và truyền thuyết ở các làng khu vực dọc sông Đáy thuộc cáchuyện như: Quốc Oai, Hoài Đức, Đan Phượng… (nay thuộc ngoại thành Hà Nội),
có một vị tướng đó là Lý Phục Man, tuy không được sử sách nhắc đến, nhưng ônglại có công lớn trong khởi nghĩa của Lý Bí Theo thần tích Ông là người làng Yên
Sở, huyện Hoài Đức Ông có sức khỏe và tài nghệ phi thường Ông đã cùng nhândân trong vùng nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Lý Bí Ông lập được nhiều
1 Nguyễn Hữu Tâm: “Thư tịch cổ Trung Quốc viết về Lý Bí và cuộc khởi nghĩa do Lý Bí
lãnh đạo”, in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Một số vấn đề về vương triều Tiền Lý và quê hương của vua Lý Nam Đế (nhân kỷ niệm 1470 năm cuộc khởi nghĩa Lý Bí -542- 2012), tr 100 -
103.
2 Cương mục, Sđd, tập I, tr 167.
- Đại Việt sử ký tiền biên cũng chép về Tinh Thiều tương tự, Sđd, tr 101.
3 Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, tr 101.
4 Đỗ Văn Ninh (Cb): Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X, Sđd, tr 331.
40