1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM MÓNG TRÊN BÒ SỮA TẠI XÍ NGHIỆP CHĂN NUÔI AN PHÚ, HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

68 1,1K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thực tế chăn nuôi bò sữa tại các tỉnh phía Nam, hiện tượng viêm móng trên bò sữa là một vấn đề gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và sức sản xuất của bò sữa, gây thiệt hại kinh tế cho

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y

***************

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM MÓNG TRÊN BÒ SỮA TẠI XÍ NGHIỆP

CHĂN NUÔI AN PHÚ, HUYỆN CỦ CHI,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ THU HOÀI Lớp: DH07TY

Ngành: Thú Y Niên khóa: 2007 – 2012

Tháng 07/2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sĩ thú y

Giáo viên hướng dẫn

PGS – TS LÊ ĐĂNG ĐẢNH

TS PHẠM HỒ HẢI

Tháng 07/2012

Trang 3

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Họ và tên sinh viên thực tập: Trần Thị Thu Hoài

Tên luận văn: “Nghiên cứu các biện pháp phòng và điều trị bệnh viêm

móng trên bò sữa tại Xí nghiệp Chăn nuôi An Phú, huyện Củ Chi, thành phố

Hồ Chí Minh”

Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý

kiến nhận xét, đóng góp của một hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khóa ngày

15/08/2012

PGS – TS Lê Đăng Đảnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với những tình cảm sâu sắc

Con mãi biết ơn ba mẹ, người đã sinh thành và nuôi dạy con khôn lớn

Xin chân thành cảm ơn:

BGH Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

Các thầy cô giáo Khoa Khoa Học, Khoa Chăn Nuôi Thú Y đã giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập và rèn luyện

ở trường

Thầy Lê Đăng Đảnh, Bộ môn Chăn Nuôi Chuyên Khoa; anh Phạm Hồ Hải, Phòng Sức Khỏe Vật Nuôi, Viện KHKT Nông Nghiệp Miền Nam đã hết lòng hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Ban Giám Đốc Xí nghiệp Chăn nuôi An Phú, xã An Phú, huyện Củ Chi, Tp HCM, các anh kỹ thuật viên cùng toàn thể mọi người làm việc trong xí nghiệp đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện tốt đề tài

Chị Lan Anh cùng các chị trong phòng Sức Khỏe Gia Súc; chị Kim Nhung lớp Chăn Nuôi 32 đã lắng nghe, chia sẻ và động viên cho tôi cố gắng trong thời gian thực tập

Các bạn thân yêu đã hết lòng chia sẻ, giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong những năm học vừa qua

Tp Hồ Chí Minh, ngày 24/07/2012

Sinh viên TRẦN THỊ THU HOÀI

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài: “Nghiên cứu các biện pháp phòng và điều trị bệnh viêm móng trên bò sữa tại Xí nghiệp Chăn nuôi An Phú, huyện Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh” được tiến hành tại trại chăn nuôi bò sữa của Xí nghiệp Chăn nuôi An Phú, xã An Phú, huyện

Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh, thời gian từ 15/02/2012 đến 15/06/2012 Kết quả thu được sau thời gian thực tập như sau:

Khảo sát tình hình thực tế tại 2 trại chăn nuôi bò sữa 4 và 5 lần lượt là: chuồng trại xây dựng kiên cố, THI có giá trị 81,85 và 81,25 (P < 0,05); tỷ lệ thức ăn tinh trong khẩu phần của bò sữa sinh sản chiếm 54,54 % và 47,27 % (P < 0,01); bò được nuôi nhốt và được tự do đi lại trong ô chuồng với tỷ lệ bệnh chân móng bình quân mỗi tháng khảo sát 3,32 % và 3,68 % (P > 0,05); nhóm vi sinh vật gây bệnh

viêm móng trên những cá thể bệnh của trại chủ yếu là E coli và Staphylococcus

aureus; kết quả kháng sinh đồ trên 2 loài vi khuẩn này là nhạy cảm với 2 loại kháng

sinh là norfloxacin và doxycyclin

Giá trị nồng độ acid lactic trong máu của những bò bị bệnh chân móng ở 2 trại chăn nuôi 4 và 5 có giá trị lần lượt là 1,29 mmol/l và 3,37 mmol/l (P < 0,001) Sau khi tiến hành thí nghiệm bổ sung chất đệm NaHCO3 vào trong khẩu phần cho ô bò chọn thí nghiệm để làm giảm nồng độ acid lactic trong máu, giá trị nồng độ acid lactic trong máu của bò sữa đã giảm còn 88,25 % so với lúc trước khi bắt đầu thí nghiệm (từ 5,06 mmol/l giảm xuống còn 4,47 mmol/l) (P > 0,05)

Điều trị thử nghiệm cho những cá thể bị bệnh chân móng bằng phương pháp điều trị bắt cặp so sánh giữa dùng Intra Hoof-fit Gel với ngâm chân trong dung dịch CuSO4 5 % trong hố ngâm chân, kết quả điều trị khỏi bệnh lần lượt là: 33,33 % và

25 % (P > 0,05)

Điều trị những cá thể bệnh về móng ở trại được thực hiện theo 3 phương pháp là sử dụng kháng sinh, tiêm biotin và kết hợp dùng kháng sinh với bổ sung biotin; với tỷ lệ điều trị khỏi bệnh lần lượt là 66,18 %, 77,78 % và 55,56 % (P > 0,05)

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ii 

LỜI CẢM ƠN iii 

TÓM TẮT iv 

MỤC LỤC v 

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii 

DANH SÁCH CÁC BẢNG ix 

DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ x 

Chương 1 MỞ ĐẦU 1 

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1 

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2 

1.2.1 Mục đích 2 

1.2.2 Yêu cầu 2 

Chương 2 TỔNG QUAN 4 

2.1 SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN BÒ SỮA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 4 

2.1.1 Quá trình hình thành 4 

2.1.2 Vị trí địa lý 4 

2.1.3 Tình hình tổ chức và hoạt động của Công ty 5 

2.2 SƠ LƯỢC VỀ XÍ NGHIỆP CHĂN NUÔI AN PHÚ 6 

2.2.1 Diện tích và cơ cấu tổ chức của Xí nghiệp Chăn nuôi An Phú 6 

2.2.2 Nguồn nước 6 

2.2.3 Khí hậu và thời tiết 6 

2.2.4 Chuồng trại 7 

2.2.5 Phương thức chăm sóc, nuôi dưỡng 7 

2.3 CƠ SỞ LÍ LUẬN 8 

2.3.1 Stress nhiệt 8 

2.3.2 Điều kiện vệ sinh 10 

Trang 7

2.3.3 Đặc điểm bộ máy tiêu hóa của bò sữa 11 

2.3.4 Thức ăn trong chăn nuôi bò sữa 17 

2.3.5 Bệnh chân móng trên bò sữa 18 

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25 

3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN 25 

3.1.1 Địa điểm thực hiện đề tài 25 

3.1.2 Thời gian thực hiện đề tài 25 

3.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 25 

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 25 

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26 

3.4.1 Khảo sát tình hình thực tế ở trại 26 

3.4.1.1 Khảo sát cơ cấu đàn và tiểu khí hậu chuồng nuôi 26 

3.4.1.2 Khẩu phần ăn 26 

3.4.1.3 Bệnh chân móng 27 

3.4.1.4 Xác định vi sinh vật gây bệnh móng ở trại 28 

3.4.2 Xác định ảnh hưởng của bệnh chân móng đến nồng độ acid latic máu 28 

3.4.3 Xác định ảnh hưởng của việc bổ sung chất đệm NaHCO3 vào khẩu phần của bò sữa đến hàm lượng acid lactic máu 29 

3.4.4 Thử nghiệm giải pháp điều trị bệnh móng bằng Intra Hoof-fit Gel và bằng ngâm dung dịch CuSO4 5 % 30 

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 31 

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32 

4.1 Cơ cấu đàn của trại chăn nuôi được khảo sát 32 

4.2 Khẩu phần ăn 33 

4.2.1 Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn trong khẩu phần của trại 33 

4.2.2 Tỷ lệ thức ăn tinh trong khẩu phần dành cho bò sữa tại trại khảo sát 35 

4.3 Tiểu khí hậu chuồng nuôi 37 

4.4 Tỷ lệ bệnh chân móng của mỗi trại được khảo sát 39 

4.5 Xác định vi sinh vật gây bệnh móng và kết quả kháng sinh đồ 40 

Trang 8

4.6 Nồng độ acid lactic trong máu của bò sữa 41 

4.6.1 Nồng độ acid lactic trong máu của những cá thể bò sữa bệnh chân móng 41 

4.6.2 Ảnh hưởng của việc bổ sung NaHCO3 đến nồng độ acid lactic máu trên bò sữa 42 

4.7 Đánh giá hiệu quả của những liệu trình điều trị bệnh chân móng ở trại khảo sát 43 

4.8 Kết quả thử nghiệm điều trị bệnh móng bằng Intra Hoof-fit Gel và bằng dung dịch CuSO4 5 % 44 

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46 

5.1 Kết luận 46 

5.2 Tồn tại và đề nghị 47 

5.2.1 Tồn tại 47 

5.2.2 Đề nghị 47 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48 

PHỤ LỤC 52 

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ABBH : Acid béo bay hơi

BQTLTĂT : Bình quân tỷ lệ thức ăn tinh

CF : Crude fiber (Xơ thô)

CP : Crude protein (Đạm thô)

CV : Coefficient of variation (Hệ số biến động)

ctv : cộng tác viên

DCAD : Dietary Cation Anion Difference

DMI : Dry matter intake (Lượng thức ăn ăn vào)

ME : Metabolizable Energy (Năng lượng trao đổi)

RH : Relative Humidity (Độ ẩm tương đối)

SD : Standard Deviation (Độ lệch chuẩn)

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Cơ cấu đàn của mỗi trại theo giống bò được khảo sát 32 

Bảng 4.2 Cơ cấu đàn của mỗi trại theo nhóm bò được khảo sát 33 

Bảng 4.3 Thành phần của sản phẩm đá liếm Phos-rich Rockies 35 

Bảng 4.4 Thành phần của sản phẩm Availa 4 35 

Bảng 4.5 Thành phần dinh dưỡng một số loại thức ăn 35 

Bảng 4.6 Lượng thức ăn thô trong khẩu phần của bò sữa của trại 36 

Bảng 4.7 Lượng thức ăn tinh và tỷ lệ thức ăn tinh trong khẩu phần cho bò sữa của hai trại khảo sát 36 

Bảng 4.8 Mối tương quan giữa nhiệt độ và độ ẩm với chỉ số THI (Nguồn: Dr Frank Wiersma, 1990) 38 

Bảng 4.9 Tiểu khí hậu của hai trại chăn nuôi bò sữa đã được khảo sát 38 

Bảng 4.10 Tỷ lệ bệnh chân móng ở mỗi trại hàng tháng 39 

Bảng 4.11 Kết quả phân lập vi trùng và kháng sinh đồ 40 

Bảng 4.12 Hàm lượng acid lactic máu của các cá thể bệnh chân móng ở trại 41 

Bảng 4.13 Kết quả nồng độ acid lactic máu trước và sau thí nghiệm bổ sung NaHCO3 vào khẩu phần bò sữa 42 

Bảng 4.14 Tỷ lệ khỏi bệnh theo phương pháp điều trị của trại khảo sát 43 

Bảng 4.15 Số ngày điều trị bò sữa bị bệnh chân móng ở trại khảo sát 44 

Bảng 4.16 Tỷ lệ khỏi bệnh viêm móng ở trại bò sữa khảo sát khi điều trị bằng Intra Hoof-fit Gel và bằng dung dịch CuSO4 5 % 44 

Bảng 4.17 Tỷ lệ giữ được băng chuyên dụng trong điều trị bệnh móng bằng Intra Hoof-fit Gel 45 

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH MTV Bò sữa Tp HCM 5

Hình 3.1 Viêm da kẽ móng……… ……….……….27

Hình 3.2 Chảy máu gan bàn chân……….….…… 27

Hình 3.3 Dưới móng bị rỗ……… …27

Hình 3.4 Chân sau đau đứng co lại………27

Hình 3.5 Lấy máu…… …….……29

Hình 3.6 Cho máu vào tube……….… 29

Hình 3.7 Lượng máu cần lấy……….….29

Hình 3.8 Intra Hoof-fit Gel cùng với cọ quét và băng keo chuyên dụng 30

Hình 4.1 Thân bắp ngậm sữa 33

Hình 4.2 Cỏ voi, cỏ voi lai……….33

Hình 4.3 Thức ăn ủ chua………… 34

Hình 4.3 Thức ăn ủ chua………… 34

Hình 4.5 Hèm bia… 34

Hình 4.6 Cám hỗn hợp FF40 cho bò sữa……… 34

Hình 4.7 Chế phẩm Availa 4… 34

Hình 4.8 Đá liếm Phos-rich Rockies……… 34

Trang 12

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi bò sữa đã và đang phát triển trong các cơ sở chăn nuôi tập trung cũng như trong khu vực gia đình của nước ta Việt Nam đã đề ra mục tiêu đến năm 2015 sẽ có 250.000 con bò sữa, cung cấp lượng sữa đáp ứng trên 40 % nhu cầu tiêu dùng trong nước Bò sữa ở nước ta được nuôi tập trung ở miền Nam, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh Tính đến cuối năm

2009, cả nước đã có khoảng 115.518 con bò sữa, trong đó khu vực phía Nam chiếm trên 85 % tổng đàn bò mà Tp HCM đã chiếm gần 63,5 % tổng đàn bò cả nước Sản lượng sữa tươi nguyên liệu năm 2010 khoảng 320.000 tấn, đáp ứng khoảng 20 – 30

% nhu cầu tiêu dùng trong nước (bình quân khoảng 14 kg/người/năm) Để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sữa ngày càng tăng trong khi sản xuất sữa trong nước còn nhiều hạn chế thì nhập khẩu sữa là một giải pháp tình thế Tổng gía trị nhập khẩu sữa và sản phẩm từ sữa 06 tháng đầu năm 2010 của 13 nước nhập vào nước ta là 289.686.000 USD (Tổng cục Thống kê, ngày 09/09/2010) Đây là một giá trị không nhỏ Để giảm thiểu điều này, ngành chăn nuôi bò sữa của chúng ta phải cải thiện con giống, kỹ thuật, các biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng… để nâng cao sản lượng sữa và chất lượng của bò sữa

Trang 13

Trong thực tế chăn nuôi bò sữa tại các tỉnh phía Nam, hiện tượng viêm móng trên bò sữa là một vấn đề gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và sức sản xuất của bò sữa, gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi, mà lại không được quan tâm nhiều Trên bò sữa, bệnh viêm vú và bệnh viêm móng là hai bệnh phổ biến nhất và gây tác hại lớn nhất, đặc biệt trên bò có máu lai HF cao, sản lượng sữa lớn: viêm vú tiềm ẩn 54,69 %; viêm móng 25,89 % (Nguyễn Văn Nam, 2010) Tuy nhiên, thực tế nhiều người chăn nuôi vẫn chưa quan tâm đúng mức, bò chủ yếu nuôi nhốt trên nền chuồng cứng, ít vận động, vệ sinh chuồng trại kém, dinh dưỡng còn chưa cân đối…

đã góp phần gia tăng bệnh chân móng trên bò sữa

Từ những thực tế đã nêu trên, được sự chấp nhận của Bộ môn Chăn Nuôi Chuyên Khoa, Khoa Chăn Nuôi – Thú Y, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM kết hợp với đề tài của Viện KHKT Nông Nghiệp Miền Nam, dưới sự hướng dẫn của

PGS – TS Lê Đăng Đảnh đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu

các biện pháp phòng và điều trị bệnh viêm móng trên bò sữa tại Xí nghiệp Chăn nuôi An Phú, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh”

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU

1.2.1 Mục đích

Khảo sát tỷ lệ bệnh chân móng trên bò sữa sinh sản của trại qua mỗi tháng,

và nghiên cứu thử nghiệm các giải pháp phòng và điều trị bệnh về móng trên đàn bò sữa Từ đó rút ra một số kết luận giúp ích cho các nhà chăn nuôi bò sữa địa phương

1.2.2 Yêu cầu

Theo dõi và thu thập số liệu liên quan đến:

Cấu trúc chuồng trại, nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi, chỉ số THI

Quy trình chăm sóc, vệ sinh bò sữa và chuồng trại, sát trùng chuồng trại

Số cá thể bò bị bệnh về móng

Liệu trình điều trị bệnh chân móng của trại

Tỷ lệ thức ăn tinh trong khẩu phần

Lấy mẫu dịch viêm để phân lập vi trùng gây bệnh và kháng sinh đồ

Trang 14

Chọn bò thí nghiệm và bổ sung chất đệm NaHCO3 vào trong khẩu phần Lấy mẫu máu bò sữa để phân tích hàm lượng acid lactic

Thử nghiệm điều trị bệnh về móng bằng Intra Hoof-fit Gel và bằng dung dịch CuSO4 5 %

Trang 15

Chương 2 TỔNG QUAN

2.1 SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN BÒ SỮA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1.1 Quá trình hình thành

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên (TNHH MTV) Bò sữa Thành phố Hồ Chí Minh tiền thân là Khu kinh tế mới Phạm Văn Cội II, thành lập từ sau ngày 30/04/1975 với cơ sở vật chất ban đầu do người dân các quận Tân Bình, quận

4, quận 10, cùng với Liên đội 9 Thanh niên xung phong TP HCM xây dựng

Sau giai đoạn khai hoang phục hóa vùng kháng chiến cũ (mật khu Hố Bò), năm 1977, Khu kinh tế mới Phạm Văn Cội II chuyển thành Nông trường Phạm Văn Cội II, sau đó đổi tên thành Nông trường Chà Dơ, rồi thành Nông trường Quốc doanh An Phú

Từ năm 1987, chuyển thành Công ty Bò sữa TP HCM thuộc Sở Nông nghiệp Thành phố, theo quyết định số 63/QD/UB cấp ngày 26/02/1992 của UBND TP HCM

và trở thành đơn vị đầu tiên của Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn từ tháng 12/1996

Đầu năm 2004, do yêu cầu tăng cường năng lực của đơn vị, Nông Trường Phạm Văn Cội I được sát nhập vào Công ty Bò sữa Tp HCM Tháng 9/2007, nhận chứng chỉ ISO 9001:2000 cho Xí nghiệp Chăn nuôi An Phú Tháng 12/2007, Công ty

Bò sữa chuyển thành Công ty TNHH MTV Bò sữa TP HCM

2.1.2 Vị trí địa lý

Công Ty Bò sữa TP HCM tọa lạc tại ấp An Hòa, xã An Phú, huyện Củ Chi,

TP HCM (nằm trên tỉnh lộ 15 về phía tây, cách quốc lộ 22 về phía đông 20 km)

Trang 16

Xí Nghiệp Chăn Nuôi An Phú là thành viên của Công Ty TNHH MTV Bò Sữa TP HCM, ở ấp An Bình, xã An Phú, huyện Củ Chi, Tp HCM

2.1.3 Tình hình tổ chức và hoạt động của Công ty

Công Ty TNHH MTV Bò Sữa TP HCM gồm nhiều đơn vị trực thuộc theo cơ cấu tổ chức và hoạt động được tóm tắt qua Sơ đồ 2.1

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH MTV Bò sữa Tp HCM

CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN BÒ SỮA

Trang 17

2.2 SƠ LƯỢC VỀ XÍ NGHIỆP CHĂN NUÔI AN PHÚ

2.2.1 Diện tích và cơ cấu tổ chức của Xí nghiệp Chăn nuôi An Phú

Xí nghiệp chăn nuôi An Phú gồm có:

 Diện tích nhà kho, chuồng trại là 40 ha

 Diện tích đồng cỏ chăn thả là 320,37 ha

 Diện tích đồng cỏ tưới (dùng cắt cho bò ăn) là 127,07 ha

Xí nghiệp chăn nuôi An Phú quản lý 9 trại, trong đó:

 Trại 1 nuôi bò Lai Sind

 Trại 2 nuôi bò Lai Sind và Brahman

 Trại 3 nuôi bò sữa hậu bị

 Trại 4 và 5 nuôi bò sữa

 Trại 6 nuôi bò Droughtmaster

 Trại 7 nuôi bò Brahman

 Trại 8 nuôi bò đực vỗ béo

 Trại chăn nuôi dê

Ngoài ra, Xí nghiệp còn thực hiện công tác chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi và trồng cỏ cho khách hàng

2.2.2 Nguồn nước

Trại có giếng khoan riêng, cách xa nguồn gây ô nhiễm 30 – 50 m, cung cấp nước uống cho bò và vệ sinh chuồng trại Nguồn nước mặt có tầng nước vào mùa mưa sâu từ 3 – 8 m, mùa nắng sâu từ 6 – 8 m Nguồn nước ngầm được khai thác bằng cách khoan giếng công nghiệp có lượng nước nhiều nằm ở độ sâu 75 – 100 m, chất lượng tốt nhưng chỉ dùng trong sinh hoạt

2.2.3 Khí hậu và thời tiết

Nhiệt độ: nhiệt độ bình quân cả năm là 28,1 0C; cao nhất là 30,3 0C vào tháng

4 dương lịch; thấp nhất 26,6 0C vào tháng 12 dương lịch

Ẩm độ: ẩm độ tương đối trung bình cả năm 74 %; cao nhất là 82 % và thấp

nhất là 65 %

Trang 18

Lượng mưa: bình quân cả năm là 1.779,4 mm; cao nhất vào tháng 10 dương

lịch 347,1 mm và thấp nhất vào tháng 3 dương lịch 0,5 mm

Nắng

 Mùa nắng thường bắt đầu vào tháng 10 đến tháng 5 năm sau

 Số giờ chiếu nắng trong năm bình quân khoảng 2.525 giờ

 Số giờ chiếu sáng mỗi ngày trung bình khoảng 6,7 – 7,2 giờ

Gió

 Đầu tháng 3 đến tháng 5: gió mùa đông nam

 Đầu tháng 5 đến giữa tháng 9, 10: gió mùa tây nam

2.2.4 Chuồng trại

Kiểu hình chuồng trại: trại được xây dựng theo kết cấu kiên cố 2 dãy

chuồng quay đầu vào nhau có lối đi ở giữa, mái lợp bên trên và xung quanh chuồng

để hở Máng ăn ở hai bên của lối đi, máng uống ở bên ngoài Mỗi dãy chuồng được lắp 3 – 4 quạt điện công suất lớn, và 4 – 5 quạt gió lắp trên mái chuồng

Mái chuồng: chuồng lợp 2 mái đôi hở tạo độ thông thoáng tốt; khoảng cách

từ nền đến mái thấp nhất là 3 m, đỉnh mái cao nhất so với nền chuồng là 5,5 m Mái chuồng lợp bằng tole lạnh

Nền chuồng: làm bằng bê tông, có xẻ rãnh, có lợp tấm đan bằng bê tông phía

trên rãnh thoát nước ở giữa phía trong chuồng Độ dốc nền chuồng từ 3 – 5 0, khoảng thời gian ráo nền chuồng sau khi xịt rửa từ 15 – 20 phút

2.2.5 Phương thức chăm sóc, nuôi dưỡng

Hình thức chăn nuôi: nuôi nhốt trong chuồng, bò vận động tự do Kết hợp

chăn thả ra đồng cỏ ngày 2 lần, sáng từ 7 – 8 giờ, chiều từ 2 – 3 giờ đối với bò sữa hậu bị và bò khô sữa

Mật độ nuôi: 7 – 14 m2/con

Phương thức cho ăn: cho ăn ngày 2 lần vào 6 giờ 30 phút buổi sáng và 14

giờ buổi chiều Cho bò ăn thức ăn tinh (hỗn hợp cám FF40 và hèm bia hòa nước), sau đó cho bò ăn thức ăn thô (cỏ tươi, cỏ ủ chua)

Loại thức ăn: bao gồm

Trang 19

 Thức ăn thô xanh: cỏ voi, cỏ voi lai, cỏ VA – 06, cỏ tím, cây bắp ngậm sữa

 Thức ăn ủ chua: hỗn hợp thân bắp ngậm sữa và cỏ tươi ủ chua

 Thức ăn tinh: Cám hỗn hợp FF40 của hãng Proconco dành cho bò sữa

Hèm bia của Công ty bia Sài Gòn

Vệ sinh chuồng nuôi: phân được hốt dọn 2 lần trong ngày, xịt rửa chuồng và

tắm bò 2 lần trong ngày Phân được chở ra ngoài hố ủ riêng của xí nghiệp Rãnh thoát nước hở xung quanh dãy chuồng

Sát trùng chuồng trại: định kì sát trùng chuồng 7 – 10 ngày/lần, sử dụng

máy phun áp suất cao để phun thuốc sát trùng

Công tác thú y: tiêm vaccine lở mồm long móng và vaccine tụ huyết trùng

định kì 6 tháng/lần

Khai thác sữa: vắt sữa ngày 2 lần, buổi sáng lúc 4h30 – 6h, buổi chiều lúc

16h30 – 18h Vắt sữa bằng máy, khu vắt sữa có lót tấm đệm bằng cao su Sữa sau khi vắt được làm lạnh ở 4 0C, được thu mua bởi công ty sữa Vinamilk

2.3 CƠ SỞ LÍ LUẬN

2.3.1 Stress nhiệt

Nhiệt luôn luôn sinh ra trong cơ thể bò do trao đổi chất và sự lên men thức

ăn trong dạ cỏ Bò càng cao sản thì lượng nhiệt sinh ra càng nhiều Đối với đàn bò sống ở vùng ôn đới thì lượng nhiệt này sẽ giúp ổn định thân nhiệt Tuy nhiên, đối với đàn bò sống ở vùng nhiệt đới nóng ẩm như Việt Nam thì lượng nhiệt này cần thải ra môi trường

Nhiệt độ môi trường luôn thay đổi nhưng nhiệt độ cơ thể luôn duy trì ổn định

ở 38,4 – 39 0C vì cơ thể có cơ chế điều tiết nhiệt Tuy nhiên, bò đang cho sữa sự sinh nhiệt gấp đôi bò không cho sữa nên dễ chịu ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường, bò càng cao sản thì càng chịu ảnh hưởng nhiều, đặc biệt tác hại trong giai đoạn đỉnh cao của chu kỳ sữa Khi nhiệt độ môi trường tăng lên kết hợp với nhiệt

Trang 20

sinh ra trong cơ thể lớn hơn sự thải nhiệt của cơ thể ra môi trường thì thân nhiệt tăng quá 39 0C xuất hiện stress nhiệt

Khả năng thải nhiệt của bò sữa phụ thuộc vào hai yếu tố nhiệt độ và ẩm độ, được biểu hiện qua chỉ số nhiệt ẩm THI (Temperature – Humidity Index), được tính theo công thức:

THI = td – (0,55 – (0,55*RH/100))*(td – 58)

td: nhiệt độ bình thường 0F = (0C*9/5) + 32

RH (Relative Humidity): ẩm độ tương đối

Mức độ stress nhiệt của bò sữa liên quan chặt chẽ với giá trị THI như sau: THI < 72: không stress

THI: 72 – 78: stress nhẹ

THI: 78 – 89: stress trung bình

THI: 89 – 98: stress nặng (Nguồn: Dr Frank Wersma, 1990)

Tác động của stress nhiệt lên điều kiện sinh lý và khả năng sinh sản của bò sữa đã được hình thành rõ ràng Dấu hiệu đầu tiên của stress nhiệt là bò đổ mồ hôi

và thở dốc Sản lượng sữa có thể giảm 10 % Stress nhiệt vào cuối thời gian mang thai sẽ làm giảm trọng lượng của bê và sau đó là giảm sản lượng sữa Bò cạn sữa được ở trong bóng mát sẽ sinh ra bê có trọng lượng lớn hơn và sản lượng sữa cao hơn những con không sống trong bóng râm (Delaval, 2001)

Ở khí hậu nóng, bò phải sử dụng quá nhiều năng lượng chỉ để hạ nhiệt làm mát cơ thể (cách duy nhất đó là thở) Do đó thay vì sử dụng năng lượng chuyển hóa

từ thức ăn để sản xuất thêm sữa thì chúng lại phải dùng rất nhiều phần năng lượng tạo ra đó để hạ nhiệt và làm mát cơ thể Vì vậy, khi chúng ta tạo ra môi trường chuồng trại mát mẻ, bò khỏe mạnh hơn, hiệu quả của quá trình chuyển hóa năng lượng từ thức ăn sẽ được cải thiện, năng suất sữa cao hơn

Trang 21

2.3.2 Điều kiện vệ sinh

Một môi trường sạch sẽ hạn chế tối đa sự phát triển của các mầm bệnh và tạo được tiểu khí hậu tốt cho sức khỏe của gia súc

2.3.2.1 Vệ sinh chuồng nuôi

Vệ sinh chuồng nuôi có vai trò rất quan trọng trong chăn nuôi

Hàng ngày, chuồng trại phải quét dọn sạch sẽ nền chuồng, lối đi, khơi thông rãnh thoát phân và nước thải Nếu có chất lót nền chuồng, không nên để phân quá lâu trong chuồng Vào mùa mưa phải dọn mỗi tuần một lần, mùa khô có thể kéo dài hơn, nhưng hàng ngày phải độn thêm để chuồng luôn luôn khô ráo Hàng năm định

kỳ quét vôi, tẩy uế, kiểm tra toàn bộ chuồng để tu sửa những nơi bị hư hỏng

2.3.2.2 Vệ sinh môi trường chung quanh chuồng nuôi

Tùy theo hoàn cảnh mà áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm làm cho mỗi khu chăn nuôi thành một khu an toàn dịch bệnh Cần chú ý vệ sinh khu vực chuồng nuôi để đảm bảo cho đất và không khí trong khu chuồng trại không bị nhiễm bẩn Hơn nữa, hộ nuôi cần phải có điều kiện xử lý phân và nước thải để hạn chế đến mức thấp nhất mọi khả năng lây nhiễm nguồn bệnh từ bên ngoài vào khu vực chăn nuôi, đặc biệt là nguồn lây từ ruồi, nhặng

2.3.2.3 Hệ thống vệ sinh và xử lý chất thải

Hệ thống xử lý chất thải phải được thiết kế cẩn thận ngay từ đầu để tránh ô nhiễm môi trường vì lượng phân, nước tiểu, nước rửa chuồng hàng ngày thải ra rất lớn Trước hết, cần có hệ thống cống rãnh thoát nước để cho nước bẩn chảy thoát khỏi nền chuồng

Hố chứa phân phải cách chuồng ít nhất là 5 m và cách giếng nước uống ít nhất là 100 m

Cần bố trí hố ủ phân phù hợp để tận dụng toàn bộ phân và cỏ ăn thừa cũng như chất độn chuồng đưa vào hố ủ phân nhằm tăng khối lượng phân bón ruộng, tăng thu nhập cho người chăn nuôi, nhưng vẫn bảo đảm vệ sinh Nếu có điều kiện, tốt nhất nên xây bể chứa biogas để sản xuất khí cho đun nấu, kết hợp tiệt trùng nâng cao chất lượng phân và vệ sinh môi trường

Trang 22

2.3.3 Đặc điểm bộ máy tiêu hóa của bò sữa

Bò sữa thuộc loài nhai lại có dạ dày chia làm 4 túi, trong đó ba túi gồm dạ

cỏ, dạ tổ ong và dạ lá sách, gọi chung là dạ dày trước, không có các tuyến tiết dịch tiêu hóa mà vai trò chủ yếu là tiếp nhận thức ăn ợ lên miệng để nhai lại và nghiền nát thức ăn nhờ quá trình lên men bởi vi sinh vật Túi thứ 4 là dạ múi khế, còn gọi là

dạ dày thực, có hệ thống tuyến tiêu hóa phát triển mạnh (Nguyễn Xuân Trạch, 2003)

Đặc điểm nổi bật về tiêu hóa của thú nhai lại là sự lên men ở dạ cỏ nhờ vào hoạt động của hệ vi sinh vật dạ cỏ Thức ăn được lên men ở dạ cỏ tạo thành các acid béo bay hơi (ABBH), CH4, CO2, đồng thời còn sản sinh một lượng năng lượng đáng

kể dưới dạng ATP Nhờ nguồn năng lượng này giúp vi sinh vật dạ cỏ sinh trưởng và phát triển Ngoài ra, trong quá trình lên men còn tạo ra năng lượng dưới dạng nhiệt không có lợi cho quá trình tiêu hóa ở dạ cỏ

Gia súc nhai lại khai thác năng lượng chủ yếu từ các ABBH Các ABBH được tạo ra trong quá trình vi sinh vật phân giải cellulose cung cấp nguồn năng lượng chủ yếu đối với gia súc nhai lại: từ 66 – 75 % số năng lượng cung cấp cho cơ thể (Hoàng Văn Tiến, 1995) Như vậy, nuôi bò sữa cũng chính là nuôi hệ vi sinh vật

dạ cỏ

2.3.3.1 Sơ lược dạ cỏ

Dạ cỏ chiếm hầu hết nửa trái của xoang bụng, từ cơ hoành đến xương chậu, chiếm 85 – 90 % dung tích dạ dày, 70 – 75 % dung tích đường tiêu hóa Dạ cỏ chia làm 2 phần: túi nang lưng và nang bụng; chia làm 3 lớp: lớp trên chứa đầy hơi, lớp giữa chứa thức ăn thô, lớp dưới cùng chứa chất lỏng Khi thức ăn vào dạ cỏ, tùy thuộc vào thành phần (chất xơ, chất lỏng) mà thức ăn đi vào nơi cố định Nhờ hoạt động của dạ cỏ, thức ăn sẽ được trộn đều và tạo thành môi trường lý tưởng cho hoạt động của vi sinh vật dạ cỏ, đặc biệt là vi khuẩn tiêu hóa chất xơ Theo Đinh Văn Cải

và ctv (1995), dạ cỏ là trung tâm tiêu hóa quan trọng nhất của loài nhai lại Dạ cỏ chứa thức ăn thô và không có enzyme tiêu hóa, sự tiêu hóa thức ăn ở dạ cỏ chủ yếu nhờ hệ vi sinh vật dạ cỏ

Trang 23

2.3.3.2 Hệ vi sinh vật dạ cỏ và vai trò của vi sinh vật với vật chủ

Chủng loại vi sinh vật dạ cỏ rất phong phú và thuộc về 3 nhóm chính: vi khuẩn, protozoa và vi nấm Theo Phùng Quốc Quảng và Nguyễn Xuân Trạch (2003), hệ vi sinh vật sống và phát triển mạnh trong dạ cỏ khi nhiệt độ được duy trì

ở 38 – 42 0C, ẩm độ 80 – 90 % Tuyến mang tai luôn tiết nước bọt, bảo đảm cho chất chứa dạ cỏ được thấm ướt và giữ cho pH ổn định (pH dạ cỏ = 6,5 – 7,1), thích hợp cho vi sinh vật hoạt động

Vi khuẩn

Tổng số vi khuẩn trong dạ cỏ 109 - 1011 tế bào/g chất chứa dạ cỏ (Nguyễn Xuân Trạch, 2003), vi khuẩn sinh sản thêm 7 % mỗi giờ Số lượng vi khuẩn tăng theo nồng độ dưỡng chất khẩu phần và khối lượng thức ăn ăn vào của thú Trong dạ

cỏ, vi khuẩn ở thể tự do chiếm 30 % và 70 % vi khuẩn sống bám vào các mảnh thức

ăn, nếp gấp biểu mô, cơ thể protozoa Thức ăn liên tục chuyển khỏi dạ cỏ nên phần lớn vi khuẩn sẽ bị cuốn đi và tiêu hóa khi vào dạ múi khế và ruột non Vì vậy, số lượng vi khuẩn ở dạng tự do trong dịch dạ cỏ rất quan trọng để xác định tốc độ công phá và lên men thức ăn Vi khuẩn dạng tự do này thay đổi theo khẩu phần, cách nuôi dưỡng, thời gian sau khi cho ăn

Trong dạ cỏ có khoảng 100 loài vi khuẩn, được chia thành các nhóm:

 Vi khuẩn phân giải cellulose

 Vi khuẩn phân giải tinh bột, glucid hòa tan

 Vi khuẩn phân giải các chất chứa nitơ

Nguyên sinh động vật (protozoa)

Tổng số protozoa trong 1 ml dịch dạ cỏ là 105 – 106 (Preston và Leng, 1987) Khi khẩu phần thức ăn nhiều xơ và ít đường hòa tan thì mật độ nguyên sinh động vật thấp (< 105 protozoa/ml dịch dạ cỏ); ngược lại, khẩu phần giàu tinh bột và đường hòa tan thì số lượng protozoa lên đến 4.106 protozoa/ml dịch dạ cỏ (Preston

và Leng, 1987)

Có khoảng 120 loài protozoa trong dạ cỏ Phần lớn protozoa ở dạ cỏ thuộc lớp trùng tơ, được chia thành 2 nhóm chính:

Trang 24

 Entodiniomorphs (chủ yếu là Entodinia spp.)

 Holotrichs (chủ yếu là Isotricha spp hoặc Dasytricha spp.)

Trong đó, Entodiniomorphs có nhiều trong dạ cỏ khi thú ăn khẩu phần nhiều

xơ và tinh bột; còn loài Holotrichs có mặt nhiều khi khẩu phần nhiều cỏ non và

đường hòa tan

Vi nấm

Nấm yếm khí trong dạ cỏ là loài vi sinh vật đầu tiên xâm nhập và tiêu hóa thành phần cấu trúc thực vật từ bên trong Chức năng của nấm trong dạ cỏ là mọc chồi, phá vỡ cấu trúc thành tế bào thực vật, làm giảm độ bền chặt của cấu trúc này, góp phần làm tăng sự phá vỡ của các mảnh thức ăn trong quá trình nhai lại Sự công phá của nấm tạo điều kiện cho vi khuẩn và men của chúng bám vào các cấu trúc tế bào và tiếp tục quá trình phân giải cellulose

2.3.3.3 Vai trò tiêu hóa chất dinh dưỡng của hệ vi sinh vật dạ cỏ

Tiêu hóa cellulose

Bò sữa là động vật nhai lại nên thức ăn thực vật chủ yếu là cỏ, rơm Cellulose và hemicellulose là thành phần cấu tạo của các tế bào thực vật, rất khó tiêu hóa do có sự liên kết giữa cellulose, hemicellulose và lignin Dưới tác động của

vi nấm, phá vỡ màng cellulose và để lộ những thành phần bên trong của tế bào như tinh bột, đường, protein… tạo điều kiện cho vi khuẩn lên men hoạt động

Sản phẩm tiêu hóa chất xơ trong dạ cỏ bao gồm 4 loại ABBH:

 Acid acetic (C2) chiếm 60 – 70 %

 Acid propionic (C3) chiếm 15 – 20 %

 Acid butyric (C4) chiếm 10 – 15 %

 Các ABBH khác chiếm 2 – 5 %

Các ABBH sau khi xâm nhập vào máu theo hệ thống tĩnh mạch chuyển đến gan, ở đây chúng được tổng hợp thành glycogen và tiếp theo sẽ được chuyển thành glucose khi cần thiết Các ABBH cũng bị oxi hóa trong tế bào để tạo thành năng lượng nhất là khi dùng co các cơ vận động; có thể dùng để tổng hợp các acid béo và

Trang 25

các chất béo trong sữa Cuối cùng, chúng được dùng để tổng hợp đường lactose trong thành phần của sữa

Tỷ lệ các ABBH tạo ra trong quá trình tiêu hóa chất xơ rất khác nhau tùy vào khẩu phần ăn của thú Nếu khẩu phần nhiều xơ thì tỷ lệ tiêu hóa toàn bộ khẩu phần giảm xuống và tăng tỷ lệ acid acetic Nếu khẩu phần nhiều thức ăn tinh thì tăng tỷ lệ acid propionic và giảm acid acetic, giảm sự phát triển của các vi khuẩn phân giải cellulose Nếu quá nhiều thức ăn tinh, trong dạ cỏ sẽ xảy ra quá trình lên men lactic Acid lactic làm giảm pH dạ cỏ, từ đó ức chế hoạt động vi sinh vật lên men chất xơ ở

dạ cỏ Acid lactic được tạo ra sẽ thâm nhập vào máu gây ra bệnh gọi là “acidose” Nếu khẩu phần có glucid hòa tan (như rỉ đường hoặc bã mía ép thủ công còn chứa lại một số đường saccarose), sẽ làm giảm tỷ lệ acid acetic và tăng lượng acid butyric Hiện tượng tăng acid butyric sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh tổng hợp mỡ trong sữa

Chất bột đường

Chất bột đường trong thức ăn chủ yếu là tinh bột và đường đa Vi khuẩn và protozoa phân giải tinh bột thành polysaccharide, glycogen, amilopectin Những đường đa này sẽ tiếp tục được lên men để tạo thành các acid béo bay hơi, trong đó

sự lên men dần của amilopectin có ý nghĩa trong sự ngăn ngừa lên men quá mạnh, hình thành quá nhiều thể khí có thể gây chướng bụng, đầy hơi sau khi bò ăn nhiều thức ăn tươi xanh non vào dạ cỏ Các đường dễ tan như: disaccharide, monosaccharide từ thức ăn và quá trình phân giải cellulose và hemicelulose sẽ được len men tạo thành các acid béo bay hơi và một lượng lớn là acid lactic

Chất đạm (protein)

Vi sinh vật trong dạ cỏ có khả năng tổng hợp được các acid amin thiết yếu qua nhiều giai đoạn Protein trong thức ăn vào dạ cỏ sẽ bị men protease của vi khuẩn cắt các nối peptid của các đại phân tử thành các polypeptid, men polypeptidase của hệ vi sinh vật tiếp tục cắt polypeptide thành các acid amin và qua phản ứng khử amin tạo ra NH3, CO2 Vi khuẩn sẽ sử dụng nitrogen trong NH3 kết

Trang 26

hợp với C, H,O trong thức ăn tạo thành đạm của vi khuẩn; protozoa sẽ ăn vi khuẩn

và khi protozoa chết sẽ tạo thành đạm cho cơ thể bò sữa (Hoàng Văn Tiến, 1995)

Ngoài ra, có thể sử dụng các hợp chất nitơ phi protein để cung cấp nitrogen cho bò sữa, giúp tiết kiệm chi phí thức ăn Loại nitơ phi protein thường được sử dụng là urê nhưng nếu cho bò ăn quá nhiều sẽ gây ngộ độc và có thể dẫn đến tử vong, chỉ nên cung cấp tối đa 75 g/ngày/con vắt sữa (Đinh Văn Cải và ctv, 1995)

Chất béo (lipid)

Lipid của thức ăn đi vào dạ cỏ cũng được thủy phân bởi vi sinh vật tạo thành glycerin và acid béo Glycerin được vi sinh vật lên men tạo thành acid propionic Các acid béo chưa bão hòa được chuyển thành acid béo bão hòa bằng cách gắn thêm hydro nhờ vi sinh vật Cường độ hình thành các acid béo bay hơi trong dạ cỏ rất nhanh và mạnh, trung bình khoảng 4 lít/ngày

Chất khoáng và vitamin

Hệ vi sinh vật dạ cỏ có khả năng tổng hợp các vitamin nhóm B như: B1, B2,

B6, B12; biotin, acid folic, acid nicotinic,… đủ cho nhu cầu của bò

2.3.3.4 Tương tác giữa các vi sinh vật

Vi khuẩn – vi khuẩn

Nhiều loài vi khuẩn tham gia biến đổi chất xơ thành ABBH, trong suốt quá trình này chúng tương hỗ nhau như mối “kết giao”: vi khuẩn này phát triển trên sản phẩm trao đổi chất cuối cùng của vi khuẩn khác Tuy nhiên, giữa các nhóm vi khuẩn khác nhau cũng có sự cạnh tranh điều kiện sinh tồn Trong trường hợp gia súc ăn khẩu phần giàu tinh bột nhưng nghèo protein thì số lượng vi khuẩn phân giải

xơ giảm, do đó tỉ lệ tiêu hóa xơ thấp Nguyên nhân là sự có mặt của một lượng lớn tinh bột trong khẩu phần kích thích vi khuẩn phân giải bột đường phát triển nhanh, nên sử dụng cạn kiệt những yếu tố dinh dưỡng quan trọng như khoáng, NH3, acid amin, isoacid, là những yếu tố cần thiết cho vi khuẩn phân giải chất xơ vốn phát triển chậm hơn

Vi khuẩn – protozoa

Trang 27

Trong điều kiện bình thường, giữa vi khuẩn và protozoa cũng có sự cộng sinh có lợi, đặc biệt là trong tiêu hóa xơ Một số vi khuẩn được protozoa nuốt vào

có tác dụng lên men trong đó tốt hơn vì mỗi protozoa tạo ra một kiểu “dạ cỏ mini” với các điều kiện ổn định cho vi khuẩn hoạt động

Tác động tiêu cực cũng xảy ra giữa vi khuẩn và protozoa Protozoa ăn và tiêu hóa vi khuẩn, khi chết xác của chúng trôi nổi trong dịch dạ cỏ (Hungate, 1966; Coleman, 1975) Vì vậy, nó làm giảm lượng vi khuẩn bám vào mỗi thức ăn Với những loại thức ăn dễ tiêu hóa thì điều này không có nghĩa lớn, song với thức ăn khó tiêu hóa sẽ làm tăng thời gian tiêu hóa thức ăn

Khẩu phần nhiều đường thì khối lượng protozoa lớn hơn nhiều so với vi khuẩn Protozoa làm giảm số lượng vi khuẩn và vi nấm trong dạ cỏ khi cho thú ăn thức ăn nhiều xơ và do vậy làm giảm tốc độ tiêu hóa thức ăn thô

Như vậy, thành phần các chất dinh dưỡng có trong khẩu phần của bò có ảnh hưởng rất lớn của khu hệ vi sinh vật dạ cỏ và mối tương tác giữa chúng Khẩu phần giàu dinh dưỡng và cân đối là tiền đề cho các nhóm vi sinh vật phát triển, không gây sự cạnh tranh giữa chúng, mặt cộng sinh có lợi có xu thế thể hiện rõ Nhưng khẩu phần nghèo dinh dưỡng sẽ gây ra sự cạnh tranh gây gắt, ức chế lẫn nhau và làm cho quá trình lên men nói chung có khuynh hướng bất lợi Một khi nhóm vi sinh vật nào đó không có được những điều kiện thích hợp để phát triển thì chúng sẽ

bị chết dần đồng thời làm thay đổi thành phần của nhiều nhóm vi sinh vật khác Kết quả là các quá trình tiêu hóa thức ăn bị rối loạn và chắc chắn bị ảnh hưởng xấu đến tình trạng sức khỏe cũng như năng suất của gia súc nhai lại

Tóm lại: Thực chất nuôi dưỡng gia súc nhai lại là nuôi dưỡng các khu hệ vi sinh vật dạ cỏ, là cung cấp và tạo cho chúng những điều kiện tối ưu để phát triển và sinh sôi, nảy nở Như vậy đối với bò sữa, tiêu hóa dạ cỏ có liên quan chặt chẽ đến vấn đề dinh dưỡng, điều này rất quan trọng và cần được mỗi nhà chăn nuôi quan tâm vì từ những nghiên cứu trên cho thấy nếu cho bò sữa ăn khẩu phần nhiều thức

ăn tinh sẽ làm tăng acid lactic, từ đó dẫn tới tình trạng acidosis dạ cỏ rồi acidosis máu gây ra tình trạng viêm móng

Trang 28

2.3.4 Thức ăn trong chăn nuôi bò sữa

Đặc điểm chung của các loại thức ăn thô xanh là chúng chứa nhiều nước (60 – 80 %), dễ tiêu hóa, các dưỡng chất có tỷ lệ khá cân đối, đôi khi chứa những chất kích thích sinh trưởng, sinh sản, khả năng tiết sữa và đặc biệt có tính ngon miệng đối với gia súc

2.3.4.2 Thức ăn tinh

Là loại thức ăn có khối lượng nhỏ nhưng hàm lượng chất dinh dưỡng lớn và

tỷ lệ tiêu hóa cao, hàm lượng chất xơ dưới 18 % Các chất dinh dưỡng quan trọng như: đạm, tinh bột, đường, béo, khoáng và vitamin Thức ăn tinh chia thành 2 nhóm: nhóm cung năng lượng và nhóm cung đạm

 Nhóm cung năng lượng: là những chất bột đường có hàm lượng đạm thô dưới 20 % như hạt ngũ cốc và các sản phẩm của chúng

 Nhóm cung đạm: có hàm lượng đạm thô trên 20 % (tính trên vật chất khô) như các cây họ đậu, sản phẩm chế biến từ dầu thực vật, bột cá,…

2.3.4.3 Thức ăn bổ sung

Là loại thức ăn được thêm vào trong khẩu phần với số lượng nhỏ để cân bằng một số chất dinh dưỡng như: chất đạm, khoáng, vitamin hay những chất có tác

Trang 29

dụng kích thích tăng trọng, tiết sữa Hiện nay, thức ăn bổ sung được sử dụng dưới dạng premix khoáng, premix sinh tố hoặc đá liếm

2.3.5 Bệnh chân móng trên bò sữa

Ngày nay, bệnh chân móng trên bò sữa đang là một trong những biểu hiện bệnh tật chiếm một phần lớn trong vấn đề sức khỏe bò sữa (Rushen và cộng sự, 2004)

 Viêm sưng tấy ngón chân

 Viêm hoại tử gan bàn chân

 Biến dạng móng (móng hài)

 Què không rõ nguyên nhân

2.3.5.2 Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh chân móng thường do nguyên nhân tổng hợp giữa các yếu tố quản lý, môi trường và dinh dưỡng gây nên (Shearer and Amstel, 2000)

Ở trong nước chưa có một nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng bệnh chân móng bò sữa Các nghiên cứu liên quan chỉ đề cập đến một vài khía cạnh nhỏ có thể liên quan đến bệnh

Dinh dưỡng và khẩu phần thiếu cân đối

Khẩu phần ăn không cân đối sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình lên men ở

dạ cỏ, từ đó ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sữa (% mỡ sữa thấp hơn 3,5 %;

độ acid sữa cao) và kèm theo là hàng loạt bệnh do sự mất cân đối dinh dưỡng (viêm

hà móng, sưng khớp, tiêu chảy, chướng hơi,…) (Lê Đăng Đảnh, 2004)

Theo Nguyễn Xuân Trạch (2004), không cho ăn thức ăn tinh quá nhiều để tránh ảnh hưởng tiêu hóa chất xơ Cho ăn quá nhiều thức ăn tinh chẳng những không kinh tế mà còn có thể làm cho bò rối loạn tiêu hóa, bị các bệnh về trao đổi chất và chân móng

Trang 30

Theo Đinh Văn Cải và ctv (1995), khi cho bò sữa ăn nhiều thức ăn tinh (chất bột đường) thì vi sinh vật phân giải bột đường nhận được nguồn thức ăn dồi dào nên phát triển rất mạnh, nó dành nitơ của vi sinh vật phân giải chất xơ Mặt khác, các sản phẩm phân giải từ tinh bột làm cho pH dạ cỏ thấp (pH = 5) gây chứng acid hóa

dạ cỏ, bất lợi cho vi sinh vật phân giải chất xơ Vì vậy, chất xơ không được tiêu hóa tốt Ngoài ra, còn làm tăng lượng acid lactic ngấm vào máu gây độc là một nguyên nhân gây ra bệnh đau móng, què chân ở bò sữa

Theo Đoàn Đức Vũ và ctv (2001), về tỷ lệ tinh/thô trong khẩu phần cho thấy với tỷ lệ thức ăn tinh/thô là 25/75; 40/60; 60/40 và 77/23 thì pH dịch dạ cỏ đo được giảm dần tương ứng với 6,58; 6,42; 6,25 và 5,98 Đây có thể là yếu tố nguy cơ cao, kết hợp với các yếu tố khác như điều kiện nhiệt độ, ẩm độ cao của khu vực phía Nam, góp phần vào tình trạng bệnh chân móng trên bò sữa với tình trạng sử dụng quá nhiều thức ăn tinh và mịn như hiện nay

Khi khẩu phần ăn quá nhiều tinh bột và xơ thấp sẽ giảm tiết nước bọt dẫn tới tạo thành nhiều acid lactic vượt quá khả năng chuyển hóa của vi khuẩn (McNamara

và Gay, 2002) Người ta cho rằng lượng acid lactic tăng lên đã trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến lưu lượng mạch máu Điều này có thể dẫn đến tăng sinh quá mức làm tăng áp lực các mô dẫn đến tổn thương, đặc biệt với các vùng chịu áp lực cao như móng chân Bên cạnh ảnh hưởng của việc sản sinh nhiều acid, khẩu phần

ăn nhiều tinh bột còn có thể làm tăng lượng độc tố được hấp thụ vào máu, và điều này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến chức năng của các mô vùng móng Chứng acid dạ cỏ gây nên sự rối loạn tiểu tuần hoàn trong lớp màng đệm phá

vỡ liên kết da – biểu bì giữa ngón chân và xương ngón thứ 3 (Blowey, 1996) gây nên sưng phù, xuất huyết, chết mô màng đệm của móng (Shearer và Amstel, 2001), kết quả là sự lở loét và hoại tử lớp đệm của chân móng và làm cho bò nhạy cảm với

nấm gây bệnh chân móng Onychomycosis (white line disease; Shearer và Van

Amstel, 2003)

Các điều kiện môi trường như nhiệt độ, ẩm độ, vệ sinh chuồng nuôi

Trang 31

Các hoạt động và chỉ số sinh lý của bò ở mức bình thường khi nhiệt độ không quá 25 0C Khi nhiệt độ và ẩm độ tăng gây hiện tượng stress nhiệt thì dù chỉ

ở mức nhẹ, bò vẫn thở gấp để thải nhiệt, và khi đó bò có hiện tượng kiềm hô hấp (do lượng CO2 cao trong hơi thở) Lúc này, bò bắt đầu giảm nhai lại và tăng hiện tượng chảy nước dãi Yếu tố này càng làm giảm lượng bicarbonate (HCO3-) nước bọt được sinh ra để cân bằng pH trong dạ cỏ Hơn nữa, bò sản sinh lượng CO2 lớn hơn khi chúng thở gấp và điều đó đã làm tăng pH máu Để duy trì sự cân bằng acid – base, bò phải tăng cường thải bicarbonate qua nước tiểu Điều này góp phần gây nên hiện tượng toan huyết dù bò được cung cấp một khẩu phần ăn cân đối Bò có xu hướng đứng nhiều hơn khi bị stress nhiệt do chúng có thể hô hấp và thải nhiệt do sự đối lưu một cách dễ dàng hơn trong khi đứng, do đó chúng có thể thải được một lượng khí lớn hơn tức là thải được nhiều nhiệt hơn so với khi nằm Nhưng tăng thời gian đứng cũng dẫn đến nhiều vấn đề về chân móng hơn

Theo Đinh Văn Cải và cộng sự (2003), do điều kiện nóng ẩm ở các tỉnh phía Nam, bò sữa thường chịu ảnh hưởng của stress nhiệt, nhất là với các chuồng trại thiếu sự thông thoáng, sự đối lưu của không khí kém do diện tích chuồng trại chật hẹp Những yếu tố này cũng có thể gây ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe bò nói chung và sức khỏe chân móng nói riêng

Nền chuồng ẩm ướt và dơ bẩn tạo điều kiện cho vi sinh vật tồn tại trong nền chuồng trại (Shearer và Van Amstel, 2003) gây nên chứng viêm da quanh móng

(digital dermatitis) do Treponema sp 25 %, chứng viêm da kẽ móng (interdigital dermatitis) do Fusobacterium necrophorum và Dichelobacter nodosus Chứng thối

móng (footrot) là bệnh truyền nhiễm gây sốt trên bò và thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi bò sữa Móng bò ngấm nước rất nhanh làm chúng trở nên mềm, dễ bị mòn và tổn thương hơn (Rushen, 2004)

Khi phải đứng nhiều giờ trên mặt sàn xi măng thô cứng, ẩm thấp, đọng phân

và nước tiểu, sức nặng của bò sữa áp đặt lên chân với móng không được cắt gọt sẽ gây áp lực nặng lên phần mềm của móng gây tổn thương (Raven, 1989) Do đó, các

Trang 32

biện pháp đối lưu, thông gió tốt có thể hỗ trợ tốt hơn cho bò trong việc thải nhiệt trong trường hợp này

Các biện pháp quản lý như cắt gọt móng, cung cấp bãi chăn thả hoặc sân chơi và kết cấu nền chuồng bò sữa

Cắt gọt móng không định kỳ và không đúng cách là nguyên nhân phổ biến của bệnh chân móng trên bò sữa (Shearer and Van Amstel, 2001; Van Amstel và cộng sự, 2000) Phần sừng của thành móng chân phát triển với tốc độ trung bình 5 mm/tháng (Vermunt và Greenough, 1995) Khi tốc độ mòn chậm hơn tốc độ phát triển của móng và nếu không được gọt móng định kỳ, phần móng sừng phía ngoài mọc nhanh hơn móng sừng phía trong, đặc biệt thường xảy ra với các bò nuôi cầm cột tại chỗ Khi móng sừng mọc dài, sự phân bố trọng lượng cơ thể bò thay đổi và thường làm tăng sức ép lên lớp mô liên kết (Toussaint – Raven, 1989) Những song chấn như vậy thường gây nên những quá trình viêm và có thể phát triển thành những vết loét lòng bàn chân (Lischer and Ossent, 2001)

Theo một nghiên cứu của Rushen năm 2004, hiện tượng bệnh chân móng thường xảy ra cao hơn ở những bò đang khai thác sữa mà không được chăn thả trên đồng cỏ Trong một nghiên cứu khác của Haskell và cộng sự năm 2006 tại Anh trên

37 đàn bò, tỷ lệ bò bị bệnh chân móng trên những đàn không được chăn thả là rất cao, chiếm 39 %, so với đàn được chăn thả với 15 % Điều này xảy ra một phần vì

độ cứng của nền khi móng bò có đặc điểm cấu tạo phù hợp với vận động trên mặt nền mềm và đàn hồi của bãi cỏ

Theo kết quả điều tra về hiện trạng nuôi dưỡng bò sữa tại Tp Hồ Chí Minh

và các tỉnh lân cận, Lã Văn Kính và ctv (2002), lượng Ca, P trong khẩu phần là không thể thiếu nhưng hiện tượng bò bị yếu chân khá phổ biến Các tác giả cho rằng nguyên nhân có thể do bò bị nuôi nhốt là chính nên không có cơ hội tiếp xúc với ánh sáng làm khả năng hấp thụ khoáng bị hạn chế

2.3.5.3 Tác hại của bệnh chân móng

Thiệt hại về kinh tế xảy ra trong trường hợp bò bị bệnh chân móng là rất lớn,

có thể lên tới 250 Euro/1 bò sữa/năm (Jan Van Geest, 2012)

Trang 33

Thú bị đau chân móng sẽ đi lại khó khăn nên sẽ giảm sức ăn, sức uống nên sẽ giảm sản lượng sữa Nếu bò bị trong thời gian dài sẽ dẫn tới giảm trọng lượng, gầy yếu, giảm khả năng sinh sản (tăng khoảng cách giữa 2 lứa đẻ), tăng tỉ lệ loại thải Nếu việc điều trị phải sử dụng tới kháng sinh thì phải loại bỏ sữa, giảm thu nhập mà còn tăng chi phí cho việc điều trị và các biện pháp quản lý tăng cường

Trong một nghiên cứu của Warnick và cộng tác viên năm 2001 trên hai đàn

bò A (1796 con) và B (724 con), kết quả cho thấy rằng trên cả hai đàn, sản lượng sữa giảm một cách đáng kể với những bò được chẩn đoán bị bệnh chân móng Trong đàn A, sản lượng sữa của bò bị bệnh chân móng giảm 1,5 kg/con/ngày so với

bò không bị bệnh trong hơn 2 tuần đầu khi xuất hiện bệnh Ở đàn B, số liệu tương ứng là 0,8 kg/con/ngày Giảm sản lượng sữa liên quan đến bệnh chân móng xảy ra cao hơn ở bò trong chu kỳ sữa thứ 2 trở đi và trong những trường hợp bệnh nặng hơn

Nhà khoa học về bò sữa ở đại học bang South Dakota cho biết theo hệ thống giám sát sức khỏe động vật quốc gia, viêm chân móng trên bò chịu trách nhiệm cho

20 % thất thoát bò sữa, trong khi viêm vú chịu trách nhiệm 16,5 %

Những bò bị bệnh chân móng có nguy cơ cao mắc bệnh viêm vú (Lê Văn Thật, 2010)

2.3.5.4 Các nghiên cứu về giải pháp phòng và điều trị bệnh chân móng

Bielfeldt và cộng sự năm 2004 đã theo dõi trên 290 đàn gia súc được nuôi với 3 chế độ khác nhau: T1 nuôi trong chuồng không vận động, T2 nuôi trong chuồng có vận động và L2 không nuôi trong chuồng có vận động đã ghi nhận rằng

tỷ lệ bệnh chân móng xảy ra nhiều nhất ở T1 (22 %), kế đến là T2 (15,1 %) và thấp nhất là ở L2 (11 %) Điều này cho thấy yếu tố vận động (đi lại tự do) là biện pháp đơn giản và hữu hiệu ngăn ngừa bệnh chân móng

Việc gọt móng là nhằm ngăn ngừa những tổn thương về móng và cải thiện sự vận động qua việc phục hồi hoặc duy trì cả sự cân đối giữa các móng và hình dạng của móng, do đó có thể nâng đỡ khối lượng cơ thể một cách chắc chắn (Amstutz, 1987) Manson và Leaver (1988, 1989) nghiên cứu ảnh hưởng của việc cắt gọt

Trang 34

móng đến sự vận động của bò trong 6,5 tháng vắt sữa đã cho thấy rằng việc gọt móng không ảnh hưởng gì đến tỷ lệ tổn thương chân móng nhưng có liên quan đến việc giảm khó khăn trong vận động của bò và rút ngắn thời gian điều trị với những

bò bị nhiễm trùng chân móng

Sử dụng một bề mặt mềm hơn như của cao su để trải lên trên bề mặt của lối

đi có khả năng giảm tổn thương chân móng so với chỉ sử dụng nền bê tông hoặc sàn

gỗ (Vokey và cộng sự, 2001) Cũng trong một nghiên cứu về ảnh hưởng của tấm lót nền chuồng bằng cao su so với nền bê tông đến sự vận động của bò sữa do Telezhenko năm 2005 cho thấy cả bò bình thường và bò bị bệnh chân móng đều di chuyển một cách dễ dàng hơn với sải chân dài hơn trên nền chuồng có sử dụng tấm lót cao su

McNamara và Gay (2004) khuyến cáo, để giảm nguy cơ bị hội chứng acidosis, thức ăn của bò cần được chia làm nhiều lần cho ăn trong ngày với giới hạn lượng tinh bột trong khẩu phần không quá 60 % tính theo vật chất khô và bò phải được cung cấp đủ lượng thức ăn thô để kích thích tiết đủ lượng nước bọt nhằm duy trì pH dạ cỏ Kích thước thức ăn thô cũng phải đảm bảo độ dài từ 2,5 – 5 cm hoặc

cỏ khô để duy trì độ xốp trong dạ cỏ đồng thời giúp tạo búi thức ăn làm thuận lợi cho quá trình nhai lại từ đó kích thích việc tiết đủ lượng nước bọt cần thiết cho việc duy trì pH dạ cỏ

Block và Sanchez (2000) ghi nhận rằng khẩu phần có chứa nhiều ion Na và

K (DCAD – Dietary Cation Anion Difference) có tác dụng tốt trong việc duy trì ổn định pH dịch dạ cỏ và có tác dụng gia tăng lượng thức ăn ăn vào (DMI), năng suất sữa khi bò sữa được cho ăn khẩu phần có nhiều thức ăn tinh Tác giả cũng đề nghị mức DCAD tối ưu cho bò ở giai đoạn đầu vắt sữa là 400 mg/kg DM; giai đoạn giữa

kỳ vắt sữa là 275 – 400 mg/kg DM khẩu phần Loại nguyên liệu được sử dụng cung cấp 2 ion này là NaHCO3 hoặc là KHCO3

Trong việc điều trị khi bệnh chân móng đã được phát hiện, sử dụng hố sát trùng chân móng chứa kháng sinh, CuSO4 hoặc formaldehyde riêng rẽ hoặc hòa lẫn

là phương pháp thường được sử dụng (Shearer và Van Amstel, 2000) Tuy nhiên,

Ngày đăng: 16/04/2018, 02:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w