1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT SỨC SẢN XUẤT CỦA GÀ LƯƠNG PHƯỢNG DÒNG TRỐNG LP1 VÀ DÒNG MÁI LP3 SINH SẢN BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIEO TINH NHÂN TẠO

64 300 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 602,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪNHọ và tên sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ TÙNG Tên luận văn: “Khảo sát sức sản xuất của gà Lương Phượng dòng trống LP3 và dòng mái LP1 sinh sản bằng phương

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y

*************

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT SỨC SẢN XUẤT CỦA GÀ LƯƠNG PHƯỢNG DÒNG TRỐNG LP1 VÀ DÒNG MÁI LP3 SINH SẢN

BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIEO TINH NHÂN TẠO

Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ TÙNG

Ngành : Thú Y Niên khóa : 2007 – 2012

Tháng 8/ 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y

**************

TRẦN THỊ TÙNG

KHẢO SÁT SỨC SẢN XUẤT CỦA GÀ LƯƠNG PHƯỢNG DÒNG TRỐNG LP1 VÀ DÒNG MÁI LP3 SINH SẢN BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIEO TINH NHÂN TẠO

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ thú y

Giáo viên hướng dẫn:

PGS.TS LÂM MINH THUẬN

Tháng 8/ 2012

Trang 3

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Họ và tên sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ TÙNG

Tên luận văn: “Khảo sát sức sản xuất của gà Lương Phượng dòng trống LP3 và dòng mái LP1 sinh sản bằng phương pháp gieo tinh nhân tạo tại trại thực nghiệm gia cầm Thống Nhất Đồng Nai ( Viện Chăn Nuôi)”

Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa Chăn Nuôi Thú Y

Ngày…….tháng…….năm 2012

Giáo viên hướng dẫn

PGS.TS Lâm Minh Thuận

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự động viên, ủng hộ và giúp đở hết sức chân thành, quý báu của nhiều cá nhân và cơ quan Tác giả bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới:

PGS.TS Lâm Minh Thuận đã tận tình hướng dẫn, giúp đở trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y – cùng toàn thể quý thầy cô

Ban lãnh đạo trung tâm nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi, Viện Chăn Nuôi, trại thực nghiệm gia cầm Thống Nhất Đồng Nai đã giúp đở, tạo điều kiện về cơ sở vật chất để tiến hành hoàn thành các nghiên cứu

Tất cả bạn bè và người thân đã ủng hộ, động viên giúp đở hoàn thành luận văn này

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài “Khảo sát sức sản xuất của hai dòng gà Lương Phượng dòng trống LP1 và dòng mái LP3 sinh sản bằng phương pháp gieo tinh nhân tạo tại Trại thực nghiệm gia cầm Thống Nhất Đồng Nai (Viện chăn nuôi)” Thời gian từ ngày 05 tháng 02 năm 2012 đến ngày 20 tháng 05 năm 2012 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố

Kết quả khảo sát sức sản xuất của hai dòng gà Lương Phượng dòng trống LP1 với số lượng 458 con mái và dòng mái LP3 với số lượng 2229 con mái thu được:

Dòng mái LP3 có tỷ lệ đẻ bình quân (72,39 %), sản lượng trứng quả/mái/tuần (5,07 quả), dòng trống LP1 (tỷ lệ đẻ bình quân: 71,91 %, sản lượng trứng/mái/tuần: 5,03 quả) Sự khác biệt giữa hai dòng không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05)

Khối lượng trứng trung bình dòng trống LP1 đạt tỷ lệ đẻ 30 %: 49,76 g; 50

%: 53,21 g; và lúc 38 tuần tuổi đạt 54,43 g đều cao hơn dòng mái LP3 lúc đẻ 30 %: 47,57 g; 50 %: 52,50 g và lúc 38 tuần tuổi đạt 53,25 g Sự khác biệt giữa hai dòng

có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05)

Dòng trống LP1 có tỷ lệ trứng chọn ấp (88,9 %), tỷ lệ trứng chết phôi (5,95

%) và tỷ lệ trứng có phôi (96,3 %) dòng mái LP3 (tỷ lệ trứng chọn ấp 87,2 %, tỷ lệ trứng chết phôi 5,74 %, tỷ lệ trứng có phôi 96,8 %) Sự khác biệt giữa hai dòng không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05)

Tỷ lệ ấp nở dòng mái LP3 đạt (88,6 %), tỷ lệ gà con loại I (84,9 %) đều cao hơn dòng trống LP1 (tỷ lệ ấp nở: 87,2 %, tỷ lệ gà con loại I: 82,9 %), và tỷ lệ trứng sát dòng mái LP3 (2,52 %) thấp hơn so với dòng trống LP1 (3,11 %) Sự khác biệt giữa hai dòng có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05)

Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng của dòng trống LP1 (1,74 kg) cao hơn so với dòng mái LP3 (1,70 kg) Sự khác biệt giữa hai dòng có ý nghĩa về mặt thống kê (P

< 0,05)

Trang 6

MỤC LỤC

Trang tựa i

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii

Lời cảm ơn iii

Tóm tắt iv

Mục lục v

Danh sách các chữ viết tắt viii

Danh sách các bảng ix

Danh sách các hình ix

Danh sách các đồ thị xi

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Chương 2.TỔNG QUAN 3

2.1 Tổng quan về chuồng trại 3

2.2 Giới thiệu hai dòng gà Lương Phượng dòng trống LP1 và dòng mái LP3 3

2.3 Giới thiệu về giống gà Lương Phượng 4

2.4 Kỹ thuật gieo tinh nhân tạo 5

2.4.1 Phương pháp lấy tinh 5

2.4.2 Dẫn tinh cho gà 8

2.5 Một số chỉ tiêu năng suất sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng 9

2.5.1 Tuổi đẻ 9

2.5.2 Sản lượng trứng 10

2.5.3 Khối lượng trứng 13

2.5.4 Khả năng thụ tinh 14

2.5.5 Tỷ lệ ấp nở 15

Trang 7

2.6 Nhân giống thuần chủng và nhân giống thuần chủng theo dòng 16

2.6.1 Nhân giống thuần chủng 16

2.6.2 Nhân giống thuần chủng theo dòng 17

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Nội dung 21

3.2 Thời gian 21

3.3 Địa điểm 21

3.4 Đối tượng khảo sát 21

3.5 Phương pháp khảo sát 21

3.6 Quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng 21

3.6.1 Chuồng trại 22

3.6.2 Thức ăn 22

3.6.3 Chế độ ăn 22

3.6.4 Nhặt trứng 22

3.6.5 Chiếu sáng 22

3.7 Vệ sinh phòng bệnh 22

3.7.1 Vệ sinh máng ăn, máng uống 22

3.7.2 Quy trình phòng bệnh 23

3.8 Các chỉ tiêu khảo sát 23

3.8.1 Tỷ lệ đẻ 23

3.8.2 Sản lượng trứng 23

3.8.3 Khối lượng trứng 24

3.8.4 Một số chỉ tiêu ấp nở 24

3.8.5 Tiêu tốn thức ăn 24

3.8.6 Hiệu quả kinh tế 24

3.9 Phương pháp xử lý số liệu 25

Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 26

4.1 Tỷ lệ đẻ 26

4.2 Sản lượng trứng 27

Trang 8

4.3 Khối lượng trứng 28

4.4 Một số chỉ tiêu ấp nở 29

4.4.1 Tỷ lệ trứng chọn ấp 29

4.4.2 Tỷ lệ trứng có phôi 30

4.4.3 Tỷ lệ ấp nở 31

4.4.4 Tỷ lệ gà con loại I 33

4.4.5 Tỷ lệ trứng chết phôi 34

4.4.6 Tỷ lệ trứng sát 35

4.5 Tiêu tốn thức ăn 36

4.6 Hiệu quả kinh tế 37

4.6.1 Chi phí thức ăn/1 quả trứng 37

4.6.3 Giá thành một quả trứng giống 38

4.6.4 Giá thành gà con 39

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40

5.1 Kết luận 40

5.2 Đề nghị 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

PHỤ LỤC 45

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

BẢNG TRANG

Bảng 3.1 Chương trình phòng bệnh bằng vacxin cho đàn gà sinh sản của trại 23

Bảng 4.1 Tỷ lệ đẻ qua các tuần tuổi khai thác trứng (%) 26

Bảng 4.2 Sản lượng trứng/mái/tuần qua các tuần tuổi (quả) 27

Bảng 4.3 Khối lượng trứng ở các thời điểm (gam/quả) 28

Bảng 4.4 Tỷ lệ trứng có phôi bình quân qua các tuần khảo sát (%) 30

Bảng 4.5 Tỷ lệ ấp nở qua các tuần khảo sát (%) 32

Bảng 4.6 Tỷ lệ nở gà con loại I qua các tuần khảo sát (%) 33

Bảng 4.7 Tỷ lệ trứng chết phôi qua các tuần khảo sát (%) 34

Bảng 4.8 Tiêu tốn thức ăn/10 trứng qua các tuần khảo sát (kg) 36

Bảng 4.9 Chi phí thức ăn/1 quả trứng qua các tuần khảo sát (đồng) 37

Bảng 4.10 Giá thành một quả trứng giống qua các tuần khảo sát (đồng) 38

Bảng 4.11 Giá thành một gà con giống qua các tuần khảo sát (đồng) 39

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1 Phương pháp lấy tinh gà trống 7

Hình 2.2 Dẫn tinh cho gà mái nuôi chuồng lồng 8

Trang 12

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ

ĐỒ THỊ TRANG

Đồ thị 4.1 Tỷ lệ trứng chọn ấp qua các tuần khảo sát (%) 29

Đồ thị 4.2 Tỷ lệ trứng sát qua các tuần khảo sát (%) 35

Trang 13

Chương 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi là ngành cung cấp thực phẩm động vật quý cho con người, trong

đó chăn nuôi gia cầm đem lại sản phẩm có chi phí thấp phục vụ cho đại đa số nhu cầu và thị hiếu của người lao động Trong quá trình phát triển của ngành, các giống gia cầm nội với nhiều tên gọi khác nhau như gà Tàu Vàng, gà Ta Vàng, gà Mía, gà

Hồ, gà Đông Cảo…với đặc tính chịu khó kiếm mồi, khả năng chống chịu bệnh tốt, thịt chắc, thơm ngon, song năng suất còn thấp, đẻ ít, chậm lớn, tiêu tốn thức ăn cao, thân hình bé, đùi lườn nhỏ Bên cạnh đó, nhiều giống gia cầm năng suất cao được nhập nội đã thích nghi tốt trong điều kiện khí hậu và nuôi dưỡng của Việt Nam; thực hiện lai tạo giữa các giống ngoại nhập như Tam Hoàng, Ma Hoàng (Trung Quốc), Sasso (Pháp), Kabir (Israel)… nhưng đa số được nuôi theo phương thức công nghiệp nên chất lượng thịt chưa thật sự hấp dẫn người tiêu dùng

Từ thực tiễn đó, việc chọn lọc nhân thuần theo dòng là một phương thức hữu hiệu được các nhà chăn nuôi đặc biệt quan tâm nhất là ngành chăn nuôi gia cầm nhằm tạo nên những quần thể phong phú hơn, đa dạng hơn về mặt di truyền Giúp cho những dòng gà nhập nội vừa đạt năng suất cao nhưng vẫn có thể kế thừa được những đặc tính ưu việt của những giống nội Ngoài ra, việc chọn lọc nhân thuần theo dòng còn góp phần hình thành nên các dòng gà chuyên hóa, hoặc các dòng cận huyết để làm nguyên liệu cho các chương trình lai giống đạt hiệu quả

Trại thực nghiệm gia cầm Thống Nhất là cơ sở chủ yếu sản xuất gà giống, việc chọn lọc nhân thuần trong trại tạo ra giống gà có đặc điểm riêng và cung cấp nguồn gen để lai tạo ra con lai có năng suất trứng và phẩm chất thịt tốt đạt hiệu quả cao trong sản xuất là mục tiêu chính Giống gà của trại thực nghiệm gia cầm Thống Nhất chủ yếu là dòng gà Lương Phượng thuần Nhằm xác định năng suất sinh sản của các dòng gà hiện có tại trại, tiến tới tạo nên một dòng hạt nhân đặc thù của trại,

Trang 14

nên được sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi Thú Y trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS - TS Lâm Minh Thuận, phối hợp với Trại thực nghiệm Gia cầm Thống Nhất thuộc trung tâm nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi thuộc Viện Chăn Nuôi Chúng tôi thực hiện

đề tài “Khảo sát sức sản xuất của gà Lương Phượng dòng trống LP1 và dòng mái LP3 sinh sản bằng phương pháp gieo tinh nhân tạo tại Trại thực nghiệm gia cầm Thống Nhất Đồng Nai (Viện Chăn Nuôi)”

1.2 Mục đích và yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Đánh giá sức sản xuất của dòng trống LP1 và dòng mái LP3 giai đoạn 30 –

40 tuần tuổi sinh sản bằng phương pháp gieo tinh nhân tạo

1.2.2 Yêu cầu

Theo dõi các chỉ tiêu sức sản xuất của dòng trống LP1 và dòng mái LP3

Trang 15

Chương 2 TỔNG QUAN 2.1 Tổng quan về chuồng trại

Trại thực nghiệm gia cầm Thống Nhất – Đồng Nai trực thuộc trung tâm nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi thuộc Viện chăn nuôi quốc gia được thành lập vào tháng 11 năm 1997, với diện tích khoảng 3 ha, thuộc ấp Tân Bình – huyện Trảng Bom – tỉnh Đồng Nai, là trại chăn nuôi quốc doanh Được xây dựng và bố trí phù hợp với công tác nghiên cứu, thực nghiệm và cung cấp con giống tốt, năng suất cao cho người chăn nuôi Nhà máy ấp trứng cũng được xây dựng tập trung ở đây phục vụ cho việc ấp nở đạt hiệu quả, đáp ứng nhu cầu ấp nở trứng của trại Giống gà năng suất cao được nhập và nuôi ở trại là các dòng Lương Phượng và con lai Số gà hiện diện (tính đến 20/5/2012 ) khoảng 9297 mái đẻ, gần 3633 mái hậu bị và 3307 gà con Trứng được đưa vào ấp thứ 2 và thứ 5 hàng tuần Nhà máy

ấp trứng gồm 08 máy với công suất 40.000 trứng/máy cung cấp gà con cho nhân dân và các trang trại nuôi gà thương phẩm

2.2 Giới thiệu hai dòng gà Lương Phượng dòng trống LP1 và dòng mái LP3

Từ năm 1994 – 2004 tại trại thực nghiệm gia cầm Thống Nhất – Đồng Nai trên nền là giống gà LP thuần nhập từ Trung Quốc, kết quả bước đầu đã chọn lọc ra được 3 dòng gà Lương Phượng gồm LP1, LP2 và LP3 với đặc điểm ngoại hình: màu lông vàng tuyền, hoặc vàng nhạt có đốm hoa, mào, yếm, mặt, tích tai màu đỏ

Gà trống có mào đơn, ngực nở, lưng thẳng, lông đuôi vươn cao, chân cao vừa phải

Gà mái đầu nhỏ, thân hình chắc, chân thấp, da gà màu vàng nhạt, thịt mềm thơm ngon:

Dòng trống LP1: có sản lượng trứng lúc 66 tuần tuổi là 165,0 quả/mái, khối lượng cơ thể lúc 10 tuần tuổi 1545 g (con trống) và 1343 g (con mái), khối lượng cơ thể lúc 20 tuần tuổi là 2935 g (con trống) và 2073 g (con mái) và khối lượng trứng lúc 38 tuần tuổi đạt 54,2 g

Trang 16

Dòng LP2: có khối lượng trứng 56,9 g lúc 38 tuần tuổi

Dòng mái LP3: có sản lượng trứng lúc 66 tuần tuổi là 182,5 quả/mái, khối lượng cơ thể lúc 10 tuần tuổi 1509 g (con trống) và 1177 g (con mái), khối lượng cơ thể lúc 20 tuần tuổi là 2826 g (con trống) và 1875 g (con mái) và khối lượng trứng lúc 38 tuần tuổi đạt 53,3 g

Từ đó LP1 và LP3 được nuôi giữ từ năm 2004 – 2012 tại trại Từ năm 2011 LP1 và LP3 được đưa lên chuồng lồng thực hiện nhân thuần giữa các dòng bằng phương pháp gieo tinh nhân tạo

2.3 Giới thiệu về giống gà Lương Phượng

Được nhập từ Quảng Tây Trung Quốc, là giống gà thịt lông màu kiêm dụng hướng thịt, bên ngoài gần giống gà Ri, có màu lông vàng tuyền, vàng đốm hoa hoặc đen đám hoa, gà trống có mồng đơn, hông rộng, lưng thẳng, lông đuôi dựng đứng, chân thấp và nhỏ, da vàng Tại Việt Nam, 12 tuần tuổi có trọng lượng trung bình khoảng 1,9 – 2,2 kg/con, tỷ lệ nuôi sống trên 96 %, năng suất trứng 160 – 180 quả/mái/năm (Nguyễn Quế Côi và ctv, 2001)

Theo Nguyễn Huy Đạt và ctv (2001) thì sản lượng trứng qua 2 thế hệ theo dõi đạt 171,1 quả/mái ở 64 tuần tuổi Gà Lương Phượng có tỷ lệ đẻ cao; năng suất trứng đạt 165 – 171 quả/mái/năm, với tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng từ 2,53 – 2,65 kg; gà Lương Phượng tăng trọng nhanh, 5 tuần tuổi đạt bình quân 627 g Vì vậy người chăn nuôi thích nuôi gà Lương Phượng Tuy nhiên, giống gà này có nhược điểm tỷ lệ phần thịt có giá trị trong thân thịt xẻ thấp hơn, do đó ở Hồng Kông người chăn nuôi chuộng gà Jiangcun hơn gà Lương Phượng

Theo Nguyễn Văn Bắc và ctv (2004) cho thấy sau 3 thế hệ chọn lọc thì sản lượng trứng của dòng hướng sinh sản là 173,9 quả/mái ở 68 tuần tuổi và khối lượng bình quân của gà thương phẩm ở 12 tuần tuổi ở Hóc Môn – TP Hồ Chí Minh đạt

2110 g Với những ưu điểm vượt trội về khả năng thích nghi, khả năng sinh trưởng

và sinh sản thì gà Lương Phượng đã và đang phát triển rất tốt ở quy mô trang trại và quy mô chăn nuôi hộ gia đình

Trang 17

Từ những giống gà địa phương có khả năng thích nghi tốt, chất lượng thịt thơm ngon và những giống gà ngoại nhập có ưu thế là khả năng sinh sản và sinh trưởng tốt hơn chúng ta đã thực hiện nhiều tổ hợp lai để cho ra những con lai cung cấp ra thị trường Con lai giữa Lương Phượng và gà Ri cho sản lượng trứng đạt 170,2 quả/mái ở 68 tuần tuổi còn con lai giữa gà Kabir và gà Ri cho sản lượng trứng

156 quả/mái ở 68 tuần tuổi (Nguyễn Huy Đạt và Hồ Xuân Tùng, 2006)

Ngoài ra các công thức lai giữa các giống gà ngoại nhập cũng được thực hiện Theo Phùng Đức Tiến và ctv (2007) đã thực hiện lai giống giữa gà trống Lương Phượng và gà mái Sasso để tạo ra con TP1 có năng suất trứng 178,81 quả/mái ở 68 tuần tuổi, sau đó lấy con trống dòng LV2 của Lương Phượng lai với con mái TP1 để tạo ra con TP2 cho 175,3 quả trứng/mái ở 68 tuần tuổi và khối lượng 10 tuần tuổi đạt trung bình 2519,7 – 2520,5 g Con lai giữa gà Ai Cập và gà Thái Hòa có năng suất trứng 164,9 – 168,1 quả/mái ở 63 tuần tuổi (Phùng Đức Tiến

và ctv, 2005)

2.4 Kỹ thuật gieo tinh nhân tạo

Các cơ sở giống hay áp dụng kỹ thuật gieo tinh nhân tạo Nó giúp cho việc đánh giá con giống theo chất lượng đời sau Đồng thời từ một con trống tốt đã được chọn lọc, người ta có thể nhận ra được nhiều thế hệ con có chất lượng cao hơn hẳn việc làm thụ tinh tự nhiên

2.4.1 Phương pháp lấy tinh

2.4.1.1 Dụng cụ hứng tinh

Là những dụng cụ đơn giản bằng thủy tinh (ống nghiệm), nhưng tốt nhất nên

có chia ml (đến 10 ml) Có thể dùng miếng gạc trắng, che trên miệng cốc để hạn chế phân của con trống phóng ra cùng lúc xuất tinh

2.4.1.2 Phương pháp lấy tinh

Gà trống được chọn lựa đạt tiêu chuẩn giống, thể trọng, khỏe mạnh, không

có khuyết tật, có tính hăng Tùy theo mức độ thành thục tính dục của con giống và của cá thể, có thể huấn luyện lấy tinh khi gà được 25 – 30 tuần tuổi Trước khi huấn luyện 3 - 5 ngày, cần nuôi tách riêng gà trống khỏi gà mái và nhốt riêng trên lồng

Trang 18

tầng hoặc nuôi trên nền (nhốt chung hay nhốt cá thể là tùy vào điều kiện chuồng trại nhưng với điều kiện là không để gà trống đá lẫn nhau) Trước khi huấn luyện lấy tinh, gà trống nên được làm quen với người chăn nuôi và người lấy tinh qua màu áo quần và thái độ tiếp xúc ôn hòa, nhẹ nhàng Đồng thời chú ý cắt bỏ bớt phần lông tơ che phủ lỗ huyệt gà trống

Để có thể nhận được tinh dịch con trống người ta có thể áp dụng các phương pháp sau đây:

Cho gà trống trèo lên lưng gà mái để “đạp mái” và người lấy tinh sẽ hứng tinh dịch gà trống phóng ra Phương pháp này tạo cho gà trống có phản xạ gần giống với phối giống tự nhiên, nhưng sẽ gặp một số trở ngại như gà trống dễ làm tổn thương gà mái, những con gà trống dữ có thể dễ có phản ứng khi có người đứng gần, hoặc nếu kỹ thuật người lấy tinh không chính xác, tinh dịch sẽ phóng ra ngoài hoặc phóng vào đường sinh dục của con mái

Một người ngồi trên ghế và kẹp gà trống giữa 2 đầu gối, đuôi gà hướng ra phía trước nơi người thứ hai chuẩn bị hứng tinh Người thứ nhất vuốt đuôi gà trống xuôi về phía pho câu Sau vài lần làm động tác xoa bóp như vậy, gà trống được kích thích, hơi cong đuôi lên Người thứ hai dùng một bàn tay vén lông đuôi gà lên phía lưng để bộc lộ vùng hậu môn gà Đồng thời người thứ nhất dùng tay ép vào vùng lỗ huyệt, gà sẽ xuất tinh và người thứ hai dùng dụng cụ hứng tinh dịch đang phóng ra Phương pháp này không thuận tiện vì phải có ghế để người lấy tinh ngồi và gà trống được đặt ở tư thế thấp (giữa hai đầu gối) nên thao tác khó khi nặn lỗ huyệt

Đây là phương pháp có thể bổ khuyết cho 2 nhược điểm vừa nêu ở phương pháp trên Phương pháp này cũng cần hai người phối hợp với nhau ở tư thế đứng người thứ nhất nhẹ nhàng bắt gà trống và kẹp vào nách trái (nếu thuận tay phải), cho đuôi gà hướng về phía trước Luồn bàn tay trái dưới lườn gà trống và cố định hai đuồi gà (gà không vẩy nhưng vẫn thoải mái và hai chân gà vẫn được thả lỏng) Dùng bàn tay phải vuốt trên lưng gà xuôi về phía phao câu nhằm kích thích phản xạ xuất tinh Bây giờ dùng ngón tay cái và ngón trỏ (tay phải) bóp nhẹ nhàng vào lỗ huyệt và hơi ấn vào bụng, dưới lỗ huyệt để tăng thêm kích thích Cùng lúc này,

Trang 19

người thứ hai dùng một tay vén ngược đuôi gà lên để bộc lộ vùng lỗ huyệt Vào thời điểm này, gà trống sẽ phóng tinh dịch Sự phối hợp giữa hai người phải nhịp nhàng

và khớp với nhau, nếu không sẽ làm cho gà trống bị ức chế phản xạ xuất tinh hoặc tinh dịch sẽ phóng ra bên ngoài cốc hứng tinh Cũng chú ý gà trống thải phân cùng lúc với xuất tinh (nhất là những con gà cho ăn trước khi lấy tinh), vì vậy cần tránh việc hứng phân vào dụng cụ đựng tinh

Lần đầu tiên huấn luyện, có thể do gà trống chưa quen nên sau 60 – 120 giây mới đáp ứng kích thích, nhưng sau 3 ngày huấn luyện (mỗi ngày 1 – 2 lần) thời gian này rút xuống khoảng 30 – 60 giây trên 80 % gà trống xuất tinh thành thục (Nguyễn Tấn Anh – Nguyễn Quốc Đạt, 1997)

Phương pháp xoa bóp con đực

Gà được huấn luyện hằng ngày vào một giờ nhất định trong ngày Người huấn luyện đặt tay trái ở dưới bụng gà, tay phải vuốt đều và nhẹ trên phần lưng tới khấu đuôi Sau ít phút có thể bóp nhẹ vào bộ phận sinh dục khi đó tinh trùng xuất ra ngoài Ta dùng một cốc thủy tinh rộng miệng hứng lấy Tinh trùng có thể pha loãng

để thụ tinh cho nhiều con mái (Hình 2.1)

Hình 2.1 Phương pháp lấy tinh gà trống

Trang 20

Khi gà đã quen, ta có thể lấy tinh hàng ngày hoặc hai ngày một lần vào buổi sáng Mùa hè làm sớm hơn mùa đông và thường vào lúc 9 – 10h sáng Để có thể biết lượng tinh trùng nhiều ít và để pha loãng bằng môi trường thích hợp ta dùng cốc thủy tinh sạch và có vạch chia độ 1/10 ml ( Đào Đức Long, 2004)

2.4.2 Dẫn tinh cho gà

2.4.2.1 Dụng cụ dẫn tinh cho gà mái

Cấu tạo dụng cụ dẫn tinh gà mái đơn giản gồm bộ phận chứa tinh dịch và 1 đoạn ống nhựa (dẫn tinh quản) Tốt nhất dùng xylanh thủy tinh (2 – 5 ml), lắp thêm một đoạn ống nhựa đầu tròn dùng trong dẫn tinh (dạng cong ra cho gia súc) Độ dài của đoạn dẫn tinh quản này khoảng 4 – 5 cm cho gà và gà Tây

2.4.2.2 Dẫn tinh cho gà mái

Đối với gà nuôi lồng tầng (mỗi ô nhốt 1 - 2 con): Lấy tinh dịch đã pha loãng vào xylanh Sau khi đã mở cửa ô đó buông đuôi để lồng, một tay vuốt nhẹ lên lưng

gà mái (tạo cảm giác như được gà trống nhảy), xoay cho đuôi gà quay ra phía ô lồng Nhẹ nhàng vén đuôi gà lên để bộc lộ lỗ huyệt Người dẫn tinh nhẹ nhàng dùng tay kia đưa đầu dẫn tinh quản (đã lắp xylanh có tinh dịch) vào trong lỗ âm đạo gà mái (0,5 – 1 cm) và bơm tinh dịch Sau đó buông đuôi để gà mái tự do Đóng cửa ô lồng và dẫn tinh cho con khác (Hình 2.2)

Hình 2.2 Dẫn tinh cho gà mái nuôi chuồng lồng

Trang 21

Đối với gà nuôi chuồng nền: Cần 2 người và tránh làm gà sợ hãi nhảy lung tung Dùng mảnh lưới (hoặc tấm cót) nhẹ nhàng dồn gà vào một góc chuồng Người thứ nhất nhẹ nhàng luồn tay dưới lườn gà mái cho gà mái ra ngoài tấm lưới ngăn

Ôm gà mái như trong tư thế lấy tinh gà trống Dùng tay còn lại vén nhẹ đuôi gà lên

để lộ phần lỗ huyệt Người thứ hai bơm tinh dịch vào trong miệng âm đạo gà như dẫn tinh gà mái nuôi lồng tầng Sau đó nhẹ nhàng thả gà ra để dẫn tinh gà khác Tinh dịch đã được pha loãng thì bơm vào đường sinh dục con cái ngay Thực hiện bơm vào đường sinh dục con cái theo phương pháp sau đây:

Vạch lỗ huyệt để bộc lộ đường sinh dục (lỗ sinh dục nằm phía trái lỗ huyệt)

và bơm tinh dịch vào

2.5 Một số chỉ tiêu năng suất sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng

Khả năng sinh sản của thú là một chỉ tiêu quan trọng cần phải biết khi làm công tác giống Để làm được tốt công tác chu chuyển đàn, lập kế hoạch phối giống, lập kế hoạch tăng đàn, chọn tỷ lệ thú giữ lại làm giống… đều phải biết về khả năng sinh sản của thú Nếu chúng ta không đánh giá đúng khả năng sinh sản của thú thì chúng ta sẽ sai lầm trong các kế hoạch phối giống hay cải thiện giống mà chúng ta

đã đặt ra Gia cầm một năm có thể đẻ từ vài chục trứng đến 300 trứng và nhờ vậy có khả năng sinh sản tốt hơn Sức sinh sản của gia súc, gia cầm đang là vấn đề được quan tâm hiện nay ở các nước có kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến và cả ở Việt Nam (Phạm Trọng Nghĩa, 2008)

2.5.1 Tuổi đẻ

Tuổi đẻ của gia cầm được tính từ khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và

có khả năng sinh sản Tuổi đẻ được xác định qua các biểu hiện như bộ máy sinh dục

đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, con cái bắt đầu có hiện tượng rụng trứng và con đực có hiện tượng sinh tinh Ở gia cầm tuổi thành thục về tính được tính từ khi gia cầm mái đẻ quả trứng đầu tiên đối với từng cá thể hoặc trên đàn quần thể là lúc tỷ lệ

đẻ đạt 5 % Tuy nhiên tính toán tuổi đẻ của gia cầm dựa trên số liệu của từng cá thể trong đàn chính xác nhất Phương pháp nghiên cứu này phản ánh được độ lớn cũng như mức độ biến dị của tính trạng

Trang 22

Tuổi đẻ của gà phụ thuộc vào giống và thời gian chiếu sáng ở thời kỳ hậu bị Giống gà nhẹ cân có tuổi thành thục sớm hơn giống gà nặng cân Độ dài chiếu sáng trong ngày ảnh hưởng đến tuổi thành thục của gà, tùy thuộc vào thời gian chiếu sáng dài hay ngắn ở giai đoạn hậu bị mà gà thành thục sớm hay muộn (Rose, 1997) Tuổi thành thục về tính dục chịu ảnh hưởng của giống và môi trường Các giống gia cầm khác nhau thì tuổi thành thục về tính dục cũng khác nhau Có giống gia cầm thành thục về tính dục rất muộn: đến tận 200 ngày hoặc có khi lâu hơn nữa

Do vậy, chu kỳ đẻ trứng cũng ngắn hơn

Trong chăn nuôi người ta rất chú trọng đến chương trình chiếu sáng Các nhà chăn nuôi thường áp dụng chương trình chiếu sáng giảm dần trong giai đoạn nuôi hậu bị Trước thời gian đẻ vài ngày, người ta thường tăng thời gian chiếu sáng để kích thích phát dục và sau đó chiếu sáng theo quy trình chăn nuôi gia cầm đẻ để ánh sáng tăng dần tới 15 – 16 giờ chiếu sáng/ngày

Gà Ri đẻ quả trứng đầu tiên là 4 tháng tuổi, đẻ đạt 5 % là 127 ngày và đẻ đạt

50 % là 154 ngày (Lê Viết Ly và ctv, 2001) Gà Lương Phượng đẻ quả trứng đầu tiên ở dòng M1: 145 ngày; dòng M2 142 ngày (Nguyễn Huy Đạt và ctv, 2002)

2.5.2 Sản lượng trứng

Là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá năng suất trứng của gia cầm Sản lượng trứng trên gia cầm có hệ số di truyền thấp từ 0,15 – 0,25 (Rose, 1997), phụ thuộc vào khả năng di truyền của giống và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng,… Khả năng sản xuất trứng của gà phụ thuộc vào tuổi đẻ, dịch bệnh, chương trình chiếu sáng cho gà, nhiệt độ môi trường, chế độ nuôi dưỡng, các gen đơn,…Tuổi thành thục về tính của gia cầm có ảnh hưởng rõ ràng đến sản lượng trứng trong chu kỳ đẻ đầu và các chu

kỳ đẻ tiếp theo Đồ thị đẻ trứng của gia cầm đạt đến đỉnh cao nhanh chủ yếu là do tuổi thành thục về tính của từng cá thể trong đàn sớm Theo Campell (1969) thì gà thành thục về tính sớm sẽ đẻ nhiều trứng hơn trong một năm sinh học Nhưng nếu

gà thành thục về tính quá sớm sẽ đẻ trứng nhỏ kéo dài Tuổi và năm đẻ của gia cầm

có liên quan đến sản lượng trứng/năm Khi gia cầm đẻ năm thứ hai thì sản lượng trứng giảm 10 - 20 % (http://www.vcn.vnn.vn/PrintPreview.aspx?ID=3004)

Trang 23

Ánh sáng giúp cho gà mái thành thục sinh dục sớm, nhưng chiếu sáng quá sớm ảnh hưởng đến năng suất và khối lượng trứng Ánh sáng ảnh hưởng đến bộ máy sinh dục của gia cầm theo cơ chế: Ánh sáng tác động lên mắt, thông qua dây thần kinh lên não bộ từ đó tác động lên vùng dưới đồi giải phóng hormone LH đồng thời kích thích sự giải phóng hormon Gonadotropin Một mặt, hormon này kích thích sự phát triển của nang trứng mặt khác còn điều tiết quá trình rụng trứng

Sự thay lông là một quá trình sinh lý học tự nhiên Ở gia cầm hoang thì thời gian thay lông thường phụ thuộc vào mùa Thông thường, chúng thay lông vào mùa thu Thời gian thay lông càng dài thì sản lượng trứng càng thấp Sự thay lông là kết quả hoạt động tương tác phức hợp của các hoóc môn Gonadotropin Các hormon khác như thyroxine và prolactin cũng hoạt động tương tác với hormon Gonadotropin (Rose, 1997) Sức đẻ trứng giảm ngay khi gà rụng lông Thời gian rụng lông kéo dài trong vòng 10 ngày và sau khoảng 15 ngày thì lông mới được mọc ra Gia cầm có thể đẻ trở lại trước khi bộ lông mới mọc đầy đủ Ngoài ra, ảnh hưởng của bệnh tật đến sản lượng trứng của gia cầm thông qua việc làm giảm đầu con, giảm khả năng đẻ trứng

Khi điều kiện môi trường thích hợp (nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng), rất nhiều gen tham gia điều khiển tất cả các quá trình liên quan đến sản xuất trứng hoạt động cho phép gia cầm phát huy được đầy đủ tiềm năng di truyền của chúng Vì vậy, trong chăn nuôi gà sinh sản việc áp dụng một chế độ dinh dưỡng đầy đủ, hợp

lý sẽ đạt được năng suất sinh sản cao và mang lại hiệu quả kinh tế như tiềm năng di truyền vốn có của giống Sử dụng thức ăn chứa 18 % protein và năng lượng trao đổi

2900 Kcal/kg thức ăn cho gà bố mẹ siêu thịt giống AA đạt tỷ lệ đẻ 70 % ở 33 tuần tuổi mang lại hiệu quả cao nhất, tỷ lệ trứng có phôi đạt 96 % (trích dẫn bởi Đoàn Văn Lang, 2005)

Khối lượng cơ thể gà mái trước khi thành thục sinh dục ảnh hưởng đến năng suất trứng, gà đẻ trứng dòng nhẹ cân có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn nhóm gà nặng cân Theo Mérat (1990) khảo sát trên 3 nhóm: gà đẻ trứng nhẹ cân như Leghorn; gà có khối lượng cơ thể trung bình và dòng gà thịt thì gà Leghorn có tuổi

Trang 24

thành thục sớm hơn hai nhóm gà kia từ vài ngày đến 2 tuần, khối lượng trứng giảm tương ứng theo khối lượng cơ thể, sản lượng trứng ở dòng gà Leghorn cao hơn dòng

gà có khối lượng cơ thể trung bình và gà thịt khi so cùng tuổi, cùng thời gian khai thác; đặc biệt hệ số chuyển hóa thức ăn/10 trứng ở gà mang gen dw tiêu tốn thấp hơn 13 % so với gà không mang gen này

Gia cầm trưởng thành chịu đựng nhiệt độ thấp tốt hơn với nhiệt độ cao Sự thay đổi nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu tốn thức ăn Khi gia cầm được nuôi trong điều kiện nhiệt độ trung bình (20oC) thì nhu cầu về năng lượng là thấp nhất Sự thay đổi nhiệt độ môi trường đã ảnh hưởng đến việc chuyển hóa thức ăn liên quan đến sự thay đổi hoạt động của tuyến giáp trạng

Khi độ ẩm quá cao làm cho chất độn chuồng quá ướt, tạo thành một lớp hơi nước bao phủ không gian của chuồng nuôi Nếu tình trạng này kéo dài thì sẽ ảnh hưởng đến sự hô hấp của gia cầm, ảnh hưởng đến năng suất và tiêu tốn thức ăn Độ

ẩm quá thấp sẽ làm cho gia cầm mổ lông và rỉa thịt nhau, ảnh hưởng đến tỷ lệ hao hụt và khả năng sản xuất

Cơ sở để xây dựng khẩu phần ăn cho gia cầm đẻ phải căn cứ vào khẩu phần

ăn của tất cả các giai đoạn chăn nuôi trước đó Lượng thức ăn trong giai đoạn nuôi dưỡng không chỉ ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể, tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn nuôi dưỡng mà còn ảnh hưởng đến tuổi đẻ quả trứng đầu tiên cũng như sản lượng trứng, khối lượng trứng, chất lượng trứng, khối lượng cơ thể và tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn gia cầm đẻ Làm thế nào để có một khẩu phần ăn thích hợp đáp ứng đủ các yêu cầu trên đã được đặt ra cho các nhà chăn nuôi

Đối với gà chăn thả (gà nội) chỉ đẻ 25-30 trứng/năm thì ảnh hưởng của yếu

tố dinh dưỡng là không lớn lắm nhưng đối với gà nuôi nhốt thì nhu cầu dinh dưỡng lại cần được quan tâm chú ý Theo Campell và ctv (1969) thì nhu cầu dinh dưỡng của gà nuôi nhốt phải tăng gấp đôi về protein, cacbonhydrate, lipit và phải bổ sung thêm khoáng so với gà chăn thả Tác giả cũng cho biết hàm lượng protein, Ca, P và lipit trong máu gà đang đẻ trứng cao gấp 2,3, thậm chí đến 4 lần so với trong máu

gà không đẻ trứng Sự tăng lên về hàm lượng các chất này trong máu chứng tỏ gà

Trang 25

cần protein để tạo noãn hoàng và lòng trắng; cần Ca, P để tạo vỏ trứng; cần lipit để tạo noãn hoàng Khi gà ngừng đẻ thì hàm lượng các chất này trong máu lại giảm đi Ngoài các yếu tố ảnh hưởng trên thì phương thức chăn nuôi khác nhau cũng cho sản lượng trứng khác nhau Gà nuôi chuồng lồng thì sản lượng trứng đạt 223 quả/năm, trong khi đó đối với gà nuôi nền chỉ đạt 201 trứng/năm, còn gà nuôi chăn thả chỉ đạt

170 trứng/năm (http://www.vcn.vnn.vn/PrintPreview.aspx?ID=3004)

Lê Viết Ly (2001) gà Mía có tỷ lệ đẻ cao nhất là 50 % vào lúc đạt 30 – 32 tuần tuổi (224 ngày), sản lượng trứng bình quân 9 tháng đẻ đạt 55 – 62 quả (thời gian đẻ quả trứng đầu tiên là 165 – 170 ngày tuổi)

Sản lượng trứng bình quân của gà Tam Hoàng dòng Jiangcun đạt 140,1 quả/mái/40 tuần đẻ và sản lượng trứng/mái đầu kỳ là 116 quả/mái/40 tuần đẻ (Nguyễn Văn Bắc, 2001)

Sản lượng trứng 7 tháng đẻ của gà Lương Phượng nuôi tại trại Liên Ninh – Vạn Phúc dòng M1 đạt 157,1 – 167,6 quả; dòng M2 đạt 158,3 quả (Nguyễn Huy Đạt và ctv, 2002)

Theo Scott và Silversides (1941), khối lượng trứng của gia cầm thuộc nhóm tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng của nhiều gen, đặc biệt là gen liên kết với giới tính Khối lượng trứng của gia cầm tăng nhanh trong giai đoạn đẻ đầu sau đó chậm lại và ổn định khi tuổi gia cầm cao

Trang 26

Khối lượng trứng phụ thuộc vào giống và tuổi thành thục về tính dục của gia cầm Gia cầm đẻ càng sớm thì trứng càng nhỏ, tuổi gia cầm càng cao thì khối lượng trứng càng lớn

Hê số di truyền về khối lượng trứng khá cao nên việc chọn lọc định hướng để nâng cao khối lượng trứng sẽ dễ có hiệu quả hơn Hệ số di truyền về khối lượng trứng thường cao hơn hệ số di truyền về sản lượng trứng Hệ số biến dị về khối lượng trứng ở gà nói chung là thấp chỉ đạt 3,97 % - 4,37 %

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoài Tao (1985) thì khối lượng trứng có tương quan âm với sản lượng trứng và hệ số tương quan r nằm trong khoảng – 0,33 đến – 0,36, trong khi đó giữa khối lượng trứng và tuổi đẻ quả trứng đầu tiên và khối lượng cơ thể có tương quan dương (+) và hệ số tương quan r là 0,35 và 0,31 tương ứng

Chế độ chiếu sáng cũng có ảnh hưởng đến khối lượng trứng của gia cầm Theo Trương Thúy Hường (2005) ở chế độ chiếu sáng 14 giờ sáng và 13 giờ tối thì khối lượng trứng gà tăng 1,4 g so với chế độ chiếu sáng 14 giờ sáng và 10 giờ tối, trong khi đó ở chế độ chiếu sáng 14 giờ sáng và 16 giờ tối thì khối lượng trứng tăng lên 2,9 g so với chế độ 14 giờ sáng và 10 giờ tối

Ảnh hưởng dinh dưỡng đến khối lượng trứng của gia cầm cũng rất rõ rệt Khi thiếu protein có ảnh hưởng rõ đến khối lượng trứng Thiếu lysin có ảnh hưởng đến

tỷ lệ lòng đỏ, trong khi đó thiếu methyonine lại chủ yếu ảnh hưởng tới lòng trắng Thiếu vitamin B chỉ ảnh hưởng đến sản lượng trứng nhưng không ảnh hưởng đến khối lượng trứng Thiếu vitamin D ảnh hưởng đến chất lượng vỏ

Gà Lương Phượng nuôi tại trại thực nghiệm Liên Ninh lúc 25 tuần tuổi đạt 44,3 - 45,1 g ở dòng M1, nhưng ở 38 tuần tuổi đạt 53 – 54 g (Nguyễn Huy Đạt và ctv, 2002)

2.5.4 Khả năng thụ tinh

Sự thụ tinh là một quá trình, trong đó tinh trùng và trứng hợp nhất thành một hợp tử (Nguyễn Văn Thiện, 1995) Cơ chế thụ tinh được thực hiện ngay tại loa kèn

Trang 27

Tế bào trứng có khả năng thụ tinh 15 – 20 phút sau khi rụng trứng Nếu trong thời gian đó trứng không gặp được tinh trùng thì sẽ mất khả năng thụ tinh

Sự thụ tinh chính là một tính trạng dùng để đánh giá sức sinh sản của đời bố,

mẹ Tuy nhiên, đối với gia cầm thì còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Theo Schubert và Rehland (1978) thì tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở cao nhất thường vào những năm đẻ đầu tiên Tỷ lệ thụ tinh cũng phụ thuộc vào tỷ lệ trống/mái (http://www.vcn.vnn.vn/PrintPreview.aspx?ID=3004)

Tỷ lệ thụ tinh còn phụ thuộc vào yếu tố dinh dưỡng, sức khỏe của đàn giống Giao phối cận huyết cũng làm giảm tỷ lệ thụ tinh; mật độ nuôi quá đông cũng làm ảnh hưởng đến hoạt động giao phối của con đực Đặc biệt phương thức chăn nuôi cũng có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ thụ tinh, theo đó phương thức nuôi chăn thả có tỷ

lệ thụ tinh cao Tỷ lệ phôi là một tính trạng quyết định số gia cầm giống nở ra trên một gia cầm mái

2.5.5 Tỷ lệ ấp nở

Tỷ lệ ấp nở của gia cầm được xác định bằng tỷ lệ phần trăm số con nở ra so với tổng số trứng vào ấp Tỷ lệ nở cao có ý nghĩa kinh tế lớn Nếu kết quả ấp nở kém thì tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn nuôi dưỡng sau này cao, chất lượng con giống không được đảm bảo

Tỷ lệ ấp nở chịu tác động của nhiều yếu tố: di truyền và môi trường Ảnh hưởng của một số gen gây chết đến tỷ lệ ấp nở chủ yếu là các gen lặn, ảnh hưởng này càng rõ hơn trong giao phối cận huyết Khả năng ấp nở phụ thuộc vào khối lượng trứng, khả năng thụ tinh và điều kiện môi trường nuôi Theo Kalik và cs (1986) trên đàn gà Leghorn trắng thì khối lượng cơ thể gà tương quan âm với khả năng thụ tinh và tỷ lệ nở tương quan dương với năng suất trứng (trích dẫn bởi Đoàn Văn Lang, 2005)

Phương thức chăn nuôi khác nhau thì tỷ lệ nở cũng khác nhau Nhìn chung, gia cầm nuôi trên lồng thường có chất lượng vỏ trứng sạch hơn nuôi trên nền nên tỷ

lệ ấp nở đạt cao hơn Khối lượng trứng cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ chết của phôi: trứng quá to hoặc quá nhỏ đều cho tỷ lệ nở thấp Theo Scott và Silversides (1941),

Trang 28

sự cân đối về tỷ lệ lòng đỏ, lòng trắng và cấu trúc vỏ có ảnh hưởng tới tỷ lệ ấp nở, những trứng quá to có lòng trắng nhiều thì không cho kết quả ấp nở tốt được

Tuổi gia cầm càng cao thì tỷ lệ chết phôi càng cao: trứng của những gà mái

đẻ 2 – 3 năm tuổi đều có tỷ lệ chết phôi cao

Các yếu tố khác như: vệ sinh thú y, mùa vụ, phương pháp xử lý trứng ấp cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ ấp nở của trứng gia cầm

Trên đàn gà Tam Hoàng, bố mẹ Jiangcun thế hệ thứ tư nuôi tại thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ trứng có phôi là 93,5 %, tỷ lệ nở/trứng có phôi đạt 82,3 % và tỷ lệ

nở / tổng trứng vào ấp là 77,0 % tỷ lệ thối rữa thấp: 1,9 % (Nguyễn Văn Bắc, 2001)

2.6 Nhân giống thuần chủng và nhân giống thuần chủng theo dòng

2.6.1 Nhân giống thuần chủng

2.6.1.1 Định nghĩa

Nhân giống thuần chủng là một phương pháp chỉ cho giao phối đực (trống)

và cái (mái) của cùng một giống

Mục đích của nhân giống thuần chủng là tạo nên tính ổn định, đồng nhất về tầm vóc và tính năng sản xuất của các cá thể trong cùng một giống Yêu cầu của nhân giống thuần chủng là duy trì được những đặc tính di truyền tốt của giống, loại

bỏ được những đặc tính di truyền xấu, nâng cao đặc tính tốt, thêm vào các đặc tính mới (Trần Văn Chính, 2001)

Do vậy, có thể nói nhân giống thuần chủng là giữ cho phẩm chất của giống, nâng cao phẩm chất của giống và hoàn chỉnh phẩm chất cũng có nghĩa là cải tiến từng bước của thú theo hướng không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế Phương pháp này có một ý nghĩa lớn bởi nó là cơ sở cho việc tiến hành các phương pháp lai giống đạt kết quả mong muốn

2.6.1.2 Các biện pháp làm tăng hiệu quả của nhân giống thuần chủng

Xác định được các chỉ tiêu chọn lọc, tính trạng chọn lọc tăng lên sẽ giảm hiệu quả chọn lọc, do vậy nên tiến hành chọn lọc trên một số lượng nhất định các chỉ tiêu có tầm quan trọng về kinh tế và phù hợp với mục tiêu của nhân giống thuần chủng đưa ra

Trang 29

Tiến hành đánh giá kiểm tra tất cả các thú giữ lại làm giống thông qua các phương pháp chọn lọc để biết được chính xác giá trị gây giống của chúng qua các chỉ tiêu chọn lọc trực tiếp như khả năng sinh sản, nuôi vỗ béo, phẩm chất thịt trứng, sữa… theo những chỉ tiêu hay chỉ số chọn lọc mới

Tính toán hệ số liên hệ thân tộc giữa đực và cái đã lựa để chuẩn bị phối giống tránh những trường hợp đồng huyết quá cao

Cân nhắc những trường hợp phối giống theo tính trạng: tính trạng nào nên tương phối, tính trạng nào nên dị phối để đạt được sự mong muốn là ưu phối (trích dẫn bởi Đoàn Văn Lang, 2005)

2.6.2 Nhân giống thuần chủng theo dòng

Chúng ta đã biết, dòng là một bộ phận của giống Các dòng trong cùng một giống vẫn mang đặc điểm chính của giống, nhưng mỗi dòng có đặc điểm riêng, thường là xuất sắc về một tính trạng nào đó Người ta nhân giống theo từng dòng riêng biệt, mỗi dòng có những tính trạng xuất sắc khác nhau Nhân giống theo dòng hiện nay được sử dụng rất phổ biến trong chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp (Văn Lệ Hằng, 2007)

2.6.2.1 Khái niệm nhân giống thuần chủng theo dòng

Theo Văn Lệ Hằng, (2007)

Phương pháp nhân giống thuần chủng theo dòng xuất phát từ một đực giống

xuất sắc hoặc từ một cái giống xuất sắc gọi là nhân giống thuần chủng theo dòng

Con đực giống hoặc con cái giống tốt nhất gây nên dòng gọi là đực tổ hay hay đực đầu dòng, cái tổ hay cái đầu dòng

Nhân giống theo dòng là một phương thức đặc biệt của nhân giống thuần chủng, nhằm tạo được một tập hợp vật nuôi có chung các đặc điểm cơ bản của giống, nhưng lại hình thành và duy trì được một vài đặc điểm riêng biệt của dòng (thường là tính trạng sản xuất nổi trội) Do vậy, thực chất của nhân giống thuần chủng theo dòng là làm cho giống trở thành một quần thể phong phú, đa dạng hơn

về mặt di truyền

Trang 30

Mục đích của việc nhân giống theo dòng là để phân chia phẩm chất giống thành nhiều đơn vị, cơ cấu nhỏ hơn, tạo ra trong cùng một phẩm giống nhiều loại hình trao đổi chất phong phú hơn Như vậy, trong cùng một phẩm giống nhưng giữa các con vật khác dòng vẫn có những đặc tính di truyền ít nhiều khác nhau Khi cho giao phối giữa các dòng thì sẽ nâng cao được sinh lực, làm cho thế hệ con tốt hơn, đồng thời làm cho giống trở thành một quần thể phong phú hơn, hạn chế giao phối đồng huyết

Bằng phương pháp nhân giống theo dòng, có thể sử dụng những đực giống, cái giống tốt nhất trong phạm vi rộng Như vậy đã phát huy được một cách triệt để những đặc tính ưu việt của đực và cái giống tốt, chuyển đặc tính tốt của cá thể thành đặc tính chung của dòng và không ngừng nâng cao chúng qua việc chọn lọc qua các thế hệ

Bằng phương pháp nhân giống thuần chủng theo dòng có thể hình thành nên các dòng chuyên hóa, hoặc các dòng cận huyết để làm nguyên liệu cho các chương trình lai giống

Gà Lương Phượng LP1, LP2 và LP3 qua 3 thế hệ chọn tạo đã ổn định về đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản tốt, sản lượng trứng 68 tuần tuổi đạt 145,49-152,51 quả/mái ở dòng LP1 157,2-165,3 quả/mái dòng LP2 và 158,34 - 172,3 quả/mái dòng LP3 đạt 95-96 % so với khuyến cáo của hãng Khối lượng trứng đạt tiêu chuẩn 55-56 g và có độ đồng đều cao Tỷ lệ phôi và nở / tổng trứng của 3 dòng LP1, LP2, LP3 đạt tương ứng 95,45; 96,06; 95,59 % và 84,10; 84,64; 84,30 % ( Trần Công Xuân và cs, 2003)

2.6.3 Phương pháp tạo dòng

Để nhân giống thuần chủng theo dòng có kết quả, ta tiến hành theo các bước sau:

Bước 1 Chọn đực đầu dòng và cái kết hợp

Trước hết phải chọn được con đực đầu dòng xuất sắc về một chỉ tiêu nào đó Đực và cái đầu dòng thường được chọn từ đàn hạt nhân Sau khi đã chọn được đực đầu dòng, cần phải chọn được những con cái kết hợp để ghép đôi giao phối với nó

Trang 31

Những con cái kết hợp phải có chung những đặc điểm sản xuất với đực đầu dòng ở mức độ đạt trung bình toàn đàn trở lên, và phải không có quan hệ huyết thống với đực đầu dòng

Bước 2 Xây dựng dòng

Cho đực đầu dòng và cái kết hợp giao phối để tạo ra thế hệ con gọi là đực và cái kế thừa Giai đoạn này cần tiến hành chọn lọc nghiêm ngặt, chỉ giữ lại những con đực và cái kế thừa có các đặc điểm tốt của đực đầu dòng Trường hợp thế hệ đực và cái kế thừa chưa biểu hiện rõ các đặc tính tốt của đực đầu dòng, có thể cho giao phối trở lại với đực đầu dòng để củng cố các đặc tính tốt cho thế hệ sau

Chọn lọc và cho tự giao phối giữa những con đực và cái kế thừa để cố định những đặc tính di truyền tốt của dòng và tăng nhanh số lượng cá thể Giai đoạn này cần tăng cường chọn lọc, kết hợp với các biện pháp nuôi dưỡng, tạo điều kiện để các cá thể phát huy hết tiềm năng di truyền vừa được kế thừa từ đực đầu dòng

Bước 3 Hoàn thiện dòng

Phát triển và hoàn thiện dòng bằng cách nhân theo nội bộ dòng để củng cố được những phẩm chất cơ bản của đực đầu dòng, kết hợp với nhân chéo dòng để tránh đồng huyết Thường xuyên kiểm tra, chọn lọc không ngừng ở các thế hệ, giữ lại những cá thể tốt, loại thải những cá thể không đạt yêu cầu Đến một đời nào đó, nếu thấy thế hệ con đã đạt tiêu chuẩn mong muốn thì xem như dòng đã đạt (tức là đực đầu dòng đã đạt yêu cầu) Lúc này có thể làm thủ tục đề nghị Hội đồng giống quốc gia công nhận dòng

Tuy nhiên, công việc không dừng lại mà vẫn phải tiếp tục củng cố, chọn lọc

và nâng cao đặc tính của dòng Trong nhân giống thuần chủng theo dòng, để củng

cố các đặc điểm của dòng phải sử dụng giao phối cận huyết Tùy theo tình hình cụ thể và khả năng tính toán của nhà chọn giống mà sử dụng mức độ cận huyết: anh, chị, em ruột thịt (full sib), nữa ruột thịt (half sib) hoặc bố và con gái Nhưng phải hết sức chú ý tăng cường điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và tiến hành việc kiểm tra khả năng xuất hiện các gen lặn có hại

Trang 32

Yêu cầu kỹ thuật của nhân giống thuần chủng theo dòng là làm sao các thế

hệ sau duy trì và phát triển được đặc điểm tốt của đực giống đầu dòng nhưng vẫn khống chế được hệ số cận huyết ở mức độ không gây ra hệ số cận huyết (Văn Lệ Hằng, 2007)

2.6.4 Một số chú ý trong quá trình nhân giống thuần chủng theo dòng

Trong quá trình hình thành dòng, nếu phát hiện thấy những đặc điểm xấu của đực đầu dòng thì có thể xóa bỏ dòng củ và thành lập dòng mới.Nếu phát hiện đời sau của đực đầu dòng có con đực biểu hiện thành tích xuất sắc hơn thì một mặt vẫn duy trì dòng cũ, mặt khác có thể phát triển thành dòng mới từ con đực xuất sắc hơn này (Văn Lệ Hằng, 2007)

Ngày đăng: 16/04/2018, 02:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w