1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH BỆNH TRÊN ĐÀN BÒ SỮA CỦA MỘT SỐ NÔNG HỘ Ở HAI XÃ TÂN THẠNH ĐÔNG VÀ TÂN THẠNH TÂY HUYỆN CỦ CHI TP. HỒ CHÍ MINH

69 926 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 427,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do phương thức chăn nuôi, điều kiện chuồng trại và công tác vệ sinh sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi không được quan tâm đúng mức trong nông hộ...

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y

****************

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH BỆNH TRÊN ĐÀN BÒ SỮA CỦA MỘT SỐ NÔNG HỘ Ở HAI XÃ TÂN THẠNH ĐÔNG

VÀ TÂN THẠNH TÂY HUYỆN CỦ CHI

TP HỒ CHÍ MINH

Sinh viên thực hiện: TRẦN THANH HUYỀN Lớp: DH07TY

Ngành: Thú Y Niên khóa: 2007 – 2012

Tháng 08/2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sĩ thú y

Giáo viên hướng dẫn

Th.S NGUYỄN KIM CƯƠNG

Tháng 08/2012

Trang 3

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Họ và tên sinh viên thực tập: TRẦN THANH HUYỀN

Tên luận văn: “ Khảo tình hình bệnh trên đàn bò sữa của một số nông hộ ở xã Tân

Thạnh Đông và Tân Thạnh Tây huyện Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh”

Đã hoàn thành luận văn theo yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét

và đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp khoa Chăn nuôi thú y ngày

………

Thư kí hội đồng Giáo viên hướng dẫn:

Th.S Nguyễn Kim Cương

Trang 4

LỜI CẢM TẠ

Cảm ơn bố mẹ đã sinh con ra, chăm lo cho con từ bé đến giờ Cảm ơn bố mẹ đã yêu thương con, cho con ăn học, dạy bảo con nên người Công lao của bố mẹ rất rất to lớn, con luôn khắc ghi trong lòng Con xin viết đôi dòng này để tỏ lòng biết ơn mà con luôn muốn nói với bố mẹ

Cảm ơn toàn thể thầy cô giáo đã dạy dỗ em từ mẫu giáo đến trường đại học Chính các bài học thầy cô đã dạy cho em mới giúp em có được những kiến thức quý giá của ngày hôm nay

Cảm ơn sự dạy dỗ, hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Th.S Nguyễn Kim Cương,

bộ môn Chăn Nuôi Chuyên Khoa, khoa Chăn Nuôi Thú Y đã giúp em hoàn thành bài luận văn này

Cảm ơn toàn thể các bác, các cô, các chú nông dân tại hai xã Tân Thạnh Đông

và Tân Thạnh Tây đã hợp tác giúp tôi hoàn thành đề tài khảo sát tại các nông hộ

Cảm ơn tất cả bạn bè đã đông viên, giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang tựa i

XÁC NHÂN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ii

2.2 Giới thiệu địa điểm thực tập 5

2.2.1 Đôi nét về xã Tân Thạnh Đông 5

2.3 Các bệnh thường gặp trên bò sữa 9

2.3.1.3 Chuẩn đoán 9

Trang 6

2.3.1.4 Điều trị 10

2.3.2.2 Triệu chứng 11 2.3.2.3 Điều trị 12

Trang 7

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 28

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Tình hình sản xuất chung của địa phương 31

4.2 Cơ cấu đàn bò của 19 hộ nông dân được khảo sát 34

4.3.1 Các trường hợp bệnh xảy ra trên toàn đàn 35

4.3.2 Các trường hợp bệnh trên bò cái sinh sản 39

Trang 8

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Cơ cấu đàn bò khảo sát ở 19 hộ nông dân 34

Bảng 4.2 Tỷ lệ bò mắc bệnh trên toàn đàn bò khảo sát 36

Bảng 4.3 Tỷ lệ bò mắc bệnh trên toàn đàn bò khảo sát được điều trị 37

Bảng 4.4 Tỷ lệ các trường hợp bệnh xảy ra trên toàn đàn bò được

điều trị khỏi 38 Bảng 4.5 Tình hình bệnh trên đàn bò cái sinh sản 39

Bảng 4.6 Tỷ lệ điều trị khỏi các trường hợp bệnh trên đàn bò cái sinh sản 42

Trang 9

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH-HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

CMT: California Mastitis Test

IM: (intramuscular) tiêm bắp

IV: (intravenous) tiêm tĩnh mạch

SC: (subcutaneous injection) tiêm dưới da

PO: (oral) đường uống

MAT: (Microscopic Agglutination Test) phản ứng vi ngưng kết

ELISA: Enzyme-Linked ImmunoSorbent Assay

P: Thể trọng

UBND: ủy ban nhân dân

Trang 10

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài “Khảo sát tình hình bệnh trên đàn bò sữa của một số nông hộ ở hai xã Tân Thạnh Đông và Tân Thạnh Tây huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện từ ngày 20/02/2012 đến ngày 1/06/2012

Đề tài được thực hiện nghiên cứu khảo sát tình hình bệnh và công tác điều trị trên đàn bò sữa của 19 hộ nông dân thuộc hai xã Tân Thạnh Đông và Tân Thạnh Tây huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh

Kết quả ghi nhận được như sau:

Các bệnh thường gặp trên toàn đàn bò khảo sát gồm: bệnh trên da (54,23%), bệnh chân móng (57,92%), bệnh khớp 920,08%), bệnh mắt (2,19%), bệnh tiêu hóa (22,27%), bệnh hô hấp (11,61%) và các trường hợp bệnh chuẩn đoán nghi ngờ là bệnh

tụ huyết trùng (3,69%), kí sinh trùng đường máu và Leptospira (3,14%), sán lá gan

(2,46%) Trong đó bệnh chân móng có tỷ lệ mắc bệnh so với số bò khảo sát cao nhất ( 57,92%) Bệnh mắt có tỷ lệ điều trị khỏi cao nhất (100%) Bệnh tụ huyết trùng có tỷ lệ điều trị khỏi thấp nhất (77,27%)

Các bệnh thường gặp trên đàn bò cái sinh sản gồm: đẻ khó (15,63%), sẩy thai (1,67%), sót nhau (15,63%), sa tử cung (0,21%), viêm tử cung (5,82%), viêm âm đạo (1,67%), viêm vú (12,92%), sốt sữa (0,63%), bại liệt sau sanh (3,54%), bệnh tiết niệu (1,04%) Trong đó bệnh sót nhau có tỷ lệ bò mắc bệnh so với số bò cái sinh sản được khảo sát cao nhất ( 15,63%) Các ca bệnh đẻ khó, sẩy thai, sa tử cung, sốt sữa, tiết niệu

có tỷ lệ điều trị khỏi cao nhất (100%) Bệnh viêm vú có tỷ lệ điều trị khỏi thấp nhất (82,26%)

Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do phương thức chăn nuôi, điều kiện chuồng trại và công tác vệ sinh sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi không được quan tâm đúng mức trong nông hộ

Trang 11

triển mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm thương mại, khoa học kỹ thuật hàng đầu của cả nước, là một thị trường tiêu thụ dồi dào Với lợi thế đó, tuy điều kiện khí hậu không mấy thuận lợi cho việc nuôi bò sữa nhưng ngành nuôi bò sữa ở thành phố Hồ Chí Minh vẫn phát triển rất mạnh, đứng đầu cả nước về số lượng bò sữa

và sản lượng sữa Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể làm giàu bằng nghề nuôi bò sữa Ngoài việc phải bỏ ra một số vốn đầu tư ban đầu tương đối lớn ( xây dựng chuồng trại, mua trang thiết bị, con giống, thức ăn … ), nông dân còn phải nắm bắt kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc sao cho bò đạt được sản lượng sữa vừa cao vừa đạt chuẩn thu mua của các công ty thu mua sữa như FrieslandCampina Việt Nam, Vinamilk… Một

Trang 12

trong những nguyên nhân quan trọng làm giảm hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa

là tình hình bệnh trên đàn bò sữa Hằng năm, thành phố Hồ Chí Minh đã chi một khoảng không nhỏ cho công tác phòng chống dịch bệnh trên đàn bò ( chủng ngừa vaccine, các xét nghiệm …), công tác tập huấn kỹ thuật chăn nuôi cho nông dân và công nhân chăn sóc nuôi dưỡng bò sữa Thiệt hại kinh tế không chỉ nằm ở chỗ số tiền phải chi ra để chữa trị, chăm sóc cho bò bệnh mà còn thiệt hại về sản lượng sữa, bò bị loại thải Qua đó có thể thấy được thiệt hại kinh tế rất rõ ràng khi một con bò sữa bị bệnh

Để nắm được tình hình bệnh và tìm hiểu những nguyên nhân chính thường dẫn đến bệnh trên đàn bò sữa huyện Củ Chi, từ đó tìm cách khắc phục, làm giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi bò Được sự đồng ý của khoa Chăn Nuôi Thú Y, trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Kim Cương của bộ môn Chăn Nuôi Chuyên Khoa, Chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Khảo sát tình hình bệnh trên đàn bò sữa của một số nông hộ ở hai xã Tân Thạnh Đông

và Tân Thạnh Tây huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh”

1.2 Mục đích

Tìm hiểu tình hình bệnh trên đàn bò sữa ở xã Tân Thạnh Đông và Tân Thạnh Tây thuộc huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh

1.3 Yêu cầu thực hiện

Khảo sát tình hình bệnh trên đàn bò sữa ở 19 hộ nông dân tại xã Tân Thạnh Đông

và Tân Thạnh Tây huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh

Tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh

Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh

Trang 13

Chương 2

TỔNG QUAN

2.1 Vài nét về tình hình chăn nuôi bò sữa ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011 2.1.1 Tình hình chung

Theo “Kết quả thực hiện công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực chăn nuôi năm

2011 và kế hoạch thực hiện năm 2012” của Sở nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh tính đến ngày 19/9/2011 tổng đàn bò sữa ở thành phố Hồ Chí Minh là 82.281 con Quy

mô chăn nuôi: Bình quân chăn nuôi bò sữa là 10,13 con/hộ

Trong năm, thành phố đã sản xuất và cung cấp ra thị trường từ bình quân trên 9.700 con giống bò sữa, sữa tươi nguyên liệu đạt 224.475 tấn

2.1.2 Công tác quản lý và kiểm định giống bò sữa

Tổng đàn bò sữa trên địa bàn thành phố là 82.281 con, trong đó tổng đàn bò cái vắt sữa là 41.000 con Năng suất sữa đạt 5.475 kg/con/năm Sản lượng sữa hàng hóa

ước đạt 224.475 tấn

Tổ chức giám định, bình tuyển 6.025 con bò sữa; khảo sát và theo dõi khả năng sinh sản, phối giống, năng suất sữa 4.000 con; đánh giá chất lượng đời sau các dòng tinh bò sữa 2.145 con bê; giám định ngoại hình 2.250 con bò sữa Qua bình tuyển cũng

đã xác định được 18,22% đàn bò có năng suất sữa trên 4.600 kg/chu kỳ (ngoại lệ đạt 5.200 kg/chu kỳ) Đây là đàn giống tốt sẽ được tiếp tục kiểm tra năng suất cá thể và giám định ngoại hình, thể chất, để làm cơ sở xây dựng đàn bò sữa hạt nhân của thành

phố trong những năm tới

Các hộ, trại đã từng bước nâng cao trình độ chăn nuôi; thực hiện các biện pháp chọn lọc, cải thiện cơ cấu đàn; tăng tỷ lệ đàn sinh sản và vắt sữa góp phần nâng cao

Trang 14

hiệu quả chăn nuôi Cơ cấu đàn bò sữa năm 2011 là đàn sinh sản là 69,69%, trong đó đàn vắt sữa 49,83%

Đàn bò sữa thành phố đã có cải thiện trên một số chỉ tiêu kỹ thuật so với năm

2010, bao gồm:

Tuổi phối giống lần đầu đạt 479 ngày, giảm 7 ngày so với năm 2010

Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 436 ngày, giảm 8 ngày so với năm 2010

Hệ số phối là 3,42 liều/con đậu thai, giảm 0,14 liều tinh/con so với năm 2010 Trọng lượng bê sơ sinh 35,62 kg, tương đương với năm 2010

Trọng lượng bò phối giống lần đầu đạt 273 kg, tăng 3,54% so với năm 2010 Các đơn vị kinh doanh đã cung cấp 119.365 liều tinh bò sữa có nguồn gốc từ Mỹ, Canada, Newzeland, Israel để nâng cao năng suất sữa của đàn bò

2.1.3 Công tác thú y và phòng chống dịch bệnh trên đàn bò sữa

Trong năm 2011, các Trạm thú y quận huyện tiếp tục cấp mới và đổi sổ quản lý dịch tễ tại các hộ được kiểm soát theo hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 Thực hiện bấm 91.981 thẻ tai cho bò sữa; tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp thu mua sữa, hỗ trợ người chăn nuôi bò sữa trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm

và kiểm soát dịch bệnh Xác nhận 3.701 hợp đồng thu mua sữa của Công ty Vinamilk với nội dung chấp hành quy định tiêm phòng, áp dụng các biện pháp vệ sinh trong chăn

nuôi và khai thác sữa

Các quận, huyện tổ chức triển khai tiêm phòng miễn phí bệnh lỡ mồm long móng,

tụ huyết trùng trên đàn bò sữa ngay từ đầu năm, vì vậy không để xảy ra dịch bệnh trên đàn bò sữa Kết quả 2 đợt tiêm phòng năm 2011 đạt 90,44% đối với LMLM và 90,47% đối với tụ huyết trùng

Tiếp tục thực hiện chương trình hợp tác kỹ thuật giữa Chi cục Thú y và tổ chức Thú y Đông Tây (CEVEO - trường Đại học Nông Lâm và Đại học Lyon - Pháp) giai đoạn 2011-2013, thực hiện chương trình hợp tác thú y với nội dung tập huấn và hỗ trợ

Trang 15

cho 22 CBTY và BS thú y tư nhân; lớp điều trị bệnh bệnh trên bò sữa cho 12 CBTY và mạng lưới thú y viên), góp phần nâng cao tay nghề cho lực lượng thú y về chăm sóc và điều trị cho bò sữa phù hợp với tốc độ phát triển, kịp thời hỗ trợ cho người chăn nuôi

Tổ chức lấy 606 mẫu máu kiểm tra bệnh Lao và Brucellose, 586 mẫu sữa kiểm tra kháng sinh tồn dư; 20 mẫu sữa thử CMT Kết quả cho thấy, không phát hiện bệnh Lao

và Brucellose trên bò sữa và tồn dư kháng sinh trong sữa; tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn vẫn ở mức cao 80%, trong đó tỷ lệ từ 3+ trở lên là 34,44%

Chi cục Thú y đã thực hiện ký hợp đồng trách nhiệm đối với 04 hộ tham gia xây dựng mô hình điểm chăn nuôi bò sữa (Củ Chi: 02 mô hình và Hóc Môn: 02 mô hình)

Mô hình được chọn chủ yếu được tập trung tại xã xây dựng nông thôn mới Bên cạnh

đó, để đánh giá tình hình dịch bệnh và hiệu quả của việc xây dựng mô hình chăn nuôi

bò sữa điểm, tất cả các hộ mô hình chăn nuôi điểm xây dựng từ năm 2006 - 2010 (tổng cộng 38 mô hình tại Hóc Môn, Củ Chi và Bình Chánh) được lấy mẫu xét nghiệm về Leptospirosis, ký sinh trùng, CMT và lở mồm long móng Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm Leptospirosis là 7,97%, tỷ lệ bảo hộ FMD-O là 91,59%, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường máu là 14,22%, tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn là 52,8%, trong đó tỷ lệ nhiễm trên 3+ là 12,62%

2.2 Giới thiệu về địa điềm thực tập

Quá trình khảo sát của chúng tôi được tiến hành tại 2 xã Tân Thạnh Đông và Tân Thạnh Tây thuộc huyện Củ Chi

2.2.1 Đôi nét về xã Tân Thạnh Đông

Theo báo cáo “Thực trạng xã Tân Thạnh Đông huyện Củ Chi” của UBND xã Tân

Trang 16

Phía Tây giáp xã Tân Phú Trung, Tân Thạnh Tây

Phía Bắc giáp xã Trung An

Phía Nam giáp xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn

Diện tích tự nhiên: Diện tích đất tự nhiên 2.650,37 ha, chiếm 6,093% diện tích

toàn huyện được chia làm 19 ấp: ấp 1, ấp 2, ấp 2A, ấp 3A, ấp 3B, ấp 4, ấp 4A, ấp 5, ấp

6, ấp 6A, ấp 7, ấp 7A, ấp 8, ấp 9, ấp 9A, ấp 10, ấp 11, ấp 11A, ấp 12

Các đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn:

Địa hình:

Nằm tiếp giáp xã Tân Hiệp (huyện Hóc Môn) và xã Bình Mỹ (huyện Củ Chi) về hướng Đông Nam

Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 4 -16 m

Thổ nhưỡng : Chia thành 2 vùng rõ rệt, gồm 2 nhóm đất chính sau :

Vùng đất gò : chủ yếu các nhóm đất xám điển hình có tầng mặt trung bình 15 –

30 cm, thoát nước tốt

Vùng bưng, triền : tập trung các nhóm đất phèn có cả dạng đất phèn có cả dạng đất phèn hoạt động và phèn trung bình có tầng mặt thấp 15 – 30 cm; tầng Pyrite giàu hữu cơ ở độ sau 50 – 100 cm

Khí hậu:

Tân Thạnh Đông nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất cận

xích đạo trong năm có hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

Nhiệt độ: Đặc điểm chính là nhiệt độ cao và ổn định giữa các tháng trong năm Nhiệt độ trung bình khoảng 270C, nhiệt độ cao nhất là 380C (tháng 4), nhiệt độ thấp nhất là 240C (tháng 12)

Bức xạ mặt trời: Lượng bức xạ mặt trời nhận được nhìn chung là cao Tổng cộng

trung bình hàng năm đạt 0,37-0,38 Kcal/Em2/ngày Lượng bức xạ phân bố cao nhất

Trang 17

Mưa: Tân Thạnh Đông có lượng mưa trung bình là 2.300 – 2.729 mm/năm Mùa mưa trong năm kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, tuy nhiên lượng mưa tập trung chủ yếu vào tháng 6 – 9, số ngày mưa trung bình khoảng 151 ngày/năm

Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí hàng năm cao đạt đến 71% Trong một ngày

đêm độ ẩm không khí thấp nhất vào lúc 13 giờ (khoảng 48%) và đạt cao nhất vào lúc 1 đến 7 giờ sáng (95%)

Gió: Chế độ gió khá thuần Thống trị chủ yếu là gió mùa, ít bị bão, phân bố vào

các tháng trong năm như sau :

Từ tháng 2 – 5 : gió Tín Phong, có hướng Đông Nam hoặc Nam với vận tốc trung bình 1,5 – 2,5 m/s

Từ tháng 5 đến tháng 9 năm sau thịnh hành gió Tây, Tây Nam với vận tốc trung bình 1,5 – 3 m/s

Từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau thịnh hành gió Đông Bắc với vận tốc trung bình 1 – 1,5 m/s

Nông nghiệp: Nông nghiệp giữ vai trò khá quan trọng trong cơ cấu kinh tế, chiếm

tỷ trọng 34,05 % tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế Tổng diện tích canh tác là 1,257 ha trong đó: diện tích cây lúa 800 ha, năng suất bình quân đạt 4,5 tấn/ha; diện tích đất trồng cỏ 420 ha, năng suất bình quân 240 tấn/ha; diện tích cây hoa kiểng 9 ha; bình quân đạt 80 triệu/ha/năm; diện tích trồng cây thuốc lá 22,5 ha, bình quân 210 triệu/ha/năm; diện tích trồng cây cao su 4,5 ha, bình quân đạt 300 triệu/năm Chăn nuôi phát triển nhanh, tính đến tháng 3 năm 2011: Tổng đàn heo 22.265 con, tổng đàn

bò 12.297 con, tổng đàn trâu 140 con Diện tích nuôi trồng thủy sản 1ha, bình quân 80 triệu/ha/năm

Nông nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng dần tỷ trọng trong ngành chăn nuôi

Trang 18

2.2.2 Đôi nét về xã Tân Thạnh Tây

Theo báo cáo “ Thực trạng xã Tân Thạnh Tây huyện Củ Chi” của UBND xã Tân Thạnh Tây (2011) thì :

Vị trí địa lý: xã Tân Thạnh Tây nằm phía Đông Nam của huyện Củ Chi, cách trung tâm khoảng 8 km theo đường Tỉnh lộ 8 và cách Thành phố Hồ Chí Minh 44 km Ranh giới hành chính được xác định như sau:

Phía Bắc giáp xã Phú Hoà Đông

Phía Nam giáp các xã Tân Phú Trung và Tân Thạnh Đông

Phía Tây giáp xã Phước Vĩnh An

Phía Đông giáp xã Trung An

Xã có đường Tỉnh lộ 15 và Tỉnh lộ 8 chạy qua địa bàn xã Nhìn chung hệ thống đường giao thông liên xã tương đối hoàn chỉnh là điều kiện đặc biệt thuận lợi trong việc phát triển kinh tế, thương mại dịch vụ trong thời kỳ CNH –HĐH

Diện tích tự nhiên:

Diện tích đất tự nhiên 1.148,11 ha chiếm 2,63% diện tích toàn huyện

Địa bàn xã có 6 ấp bán nông nghiệp gồm có: ấp 1, ấp 1A, ấp 2, ấp 2A, ấp 3, ấp 3A

Về địa hình: xã có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao giảm dần theo hướng Tây sang Đông, căn cứ vào độ cao địa hình của xã chia làm hai dạng chính:dạng đất gò

và dạng đất bưng, triền

Thổ nhưỡng: chủ yếu các nhóm đất xám điển hình có tầng mặt trung bình 15 - 30

cm, thoát nước tốt và đất phù sa tập trung các nhóm đất phèn có cả dạng đất phèn hoạt động và phèn trung bình có tầng mặt thấp 15 – 30 cm; tầng Pyrite giàu hữu cơ ở độ sâu

50 – 100 cm phục vụ cho sản xuất lúa và hoa màu

Về khí hậu, nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa xã Tân Thạnh Tây khá giống với xã Tân Thạnh Đông

Trang 19

Kinh tế : Nông nghiệp giữ vai trò khá quan trọng trong cơ cấu kinh tế, chiếm tỷ trọng 53,03% tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế, tỷ trọng chăn nuôi tăng dần trong sản xuất nông nghiệp Tổng diện tích canh tác là 215 ha trong đó: Diện tích cây lúa 80

ha , năng suất bình quân đạt 4,0 tấn/ha; diện tích đất trồng cỏ 100 ha, năng suất bình quân 240 tấn/ha, diện tích cây hoa kiểng 5 ha; bình quân đạt 80 triệu/ha/năm Chăn nuôi phát triển nhanh: tổng đàn heo 3.481 con, tổng đàn bò 2.980 con Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản 21 ha, chủ yếu nuôi cá Basa và cá rô

Cơ cấu sản xuất và đóng góp giá trị của ngành nông nghiệp: chăn nuôi (87,74 %) - trồng trọt (11,08%) – thủy sản (1,18%)

2.3 Các bệnh thường gặp trên bò sữa

2.3.1 Bệnh viêm vú

2.3.1.1 Nguyên nhân:

Có các nguyên nhân gây bệnh viêm vú sau: nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm

vú là do nhiễm trùng, các vi khuẩn thường gặp trong sữa, bầu vú bị viêm là:

Staphylococcus aureus, Streptococcus agalactiae, Streptococcus dysgalactiae, Streptococcus uberis, E.coli, Enterobacter…và một số loại vi khuẩn và nấm khác

Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác dẫn tới bệnh viên vú như: do bản thân thú,

do môi trường nuôi dưỡng, cách chăn sóc, khai thác sữa…

2.3.1.2 Triệu chứng và bệnh tích

Triệu chứng chung: bầu vú có biểu hiện nóng, đỏ, sưng, đau; bò khó chịu khi vắt sữa, sữa vắt ra lợn cợn hay kết vón, có khi lẫn máu, mủ Khởi đầu là viêm một thùy vú, sau đó lây sang các thùy vú khác, sản lượng sữa giảm rõ rệt Nếu viêm nặng bò sẽ bị sốt nóng, bỏ ăn Bệnh thường tiến triển rất nhanh

Bò bị viêm vú ở nhiều thể khác nhau, thể viêm vú ca ta, thể viêm vú thanh dịch, thể viêm vú fibrin, viêm vú thể có mủ

Hậu quả: bò bị bệnh viêm vú dẫn đến hư hại tuyến vú, những tế bào tuyến sữa bị phá hủy, gây các biến chứng như: teo bầu vú, xơ cứng bầu vú, bầu vú bị hoại tử

Trang 20

2.3.1.3 Chẩn đoán

Trong trường hợp viêm vú thể cấp tính thì triệu chứng lâm sàng quá rõ ràng Nhưng việc chẩn đoán thể viêm vú tiềm ẩn rất quan trọng nhằm giảm những thiệt hại

về kinh tế cho người chăn nuôi

Viêm vú thể lâm sàng: bầu vú sưng to, có các tế bào biểu mô trong sữa, thú sốt,

bỏ ăn, giảm sản lượng sữa Kiểm tra sữa bằng mắt thường có thể thấy: sữa có mùi hôi, màu vàng, lợn cợn hoặc có máu

Viêm vú thể tiềm ẩn: dùng phản ứng nhanh bằng cồn 700 để phát hiện bệnh, nhưng dùng phương pháp CMT để phát hiện bệnh thì chính xác hơn

2.3.1.4 Điều trị bệnh viêm vú

Bò viêm vú cần được phát hiện sớm và kịp thời Có thể điều trị bệnh viêm vú trên

bò sữa theo 2 phác đồ sau đây:

Phác đồ 1: bò bị bệnh viêm vú lâm sàng

Thuốc điều trị: phối hợp 2 kháng sinh: penicillin với liều 30.000 UI/kg thể trọng

bò ( 1UI của penicillin = 0,6 mg), phối hợp với kanamycin với liều 20.000 mg/kg thể trọng bò Thuốc pha lẫn chia 2 lần tiêm trong ngày, tiêm liên tục 4-5 ngày

Kết hợp pha dung dịch cũng 2 loại kháng sinh trên bơm vào núm vú cho bò Liều như sau: Penicillin: 1 triệu UI và Kanamycin 0,5 gam Dùng kim đầu tù bơm thuốc vào các núm vú, núm vú nào lành bơm trước, núm vú bị bệnh bơm sau Thuốc cũng sử dụng liên tục trong 4-5 ngày liền Mỗi ngày, bơm thuốc một lần

Trước khi bơm thuốc phải vắt hết sữa ở bầu vú Sữa ở bầu vú bị viêm phải hủy bỏ Thuốc trợ sức: tiêm cafein hoặc long não cho bò kết hợp các vitamin B1, Vitamin

C, vitamin K (nếu thấy máu trong sữa)

Hộ lý: giữ chuồng trại sạch sẽ và chăm sóc, nuôi dưỡng tốt bò trong thời gian điều trị

Tùy điều kiện thuốc có ở địa phương, có thể thay thế:

Trang 21

Kanamycin bằng streptomycin hoặc neomycin với liều dùng tương tự như steptomycin

Penicillin bằng ampicillin, với liều 30 mg/kg thể trọng hoặc cefaflexin với liều 20 mg/kg thể trọng bò

Phác đồ 2: Bò bị viêm vú cận lâm sàng:

Điều trị : dùng các loại thuốc đã pha sẵn đóng trong ống tiêm nhựa như: Mastiject, Mammals bơm vào bầu vú cho bò, cứ 24 giờ 1 lần Bơm thuốc liên tục 4 ngày Trước khi bơm thuốc cũng vắt hết sữa trong bầu vú

Các loại ký sinh trùng máu tiêu biểu là :

Tiên mao trùng (Trypanosoma): sống ký sinh trong mạch máu, lây truyền do loài

ruồi, mòng hút máu

Lê dạng trùng (Babesia), thê lê trùng (Theileria), biên trùng (Anaplasma): sống

ký sinh trong tế bào hồng cầu, lây truyền do các loài ve hút máu

Những năm gần đây bệnh có tỉ lệ tăng cao do nhiều giống ngoại nhập có khả năng

đề kháng kém với ký sinh trùng gây bệnh và gia súc bệnh thường nhiễm cùng lúc 3 - 4

loại ký sinh trùng và thường kết hợp với Leptospira

Trang 22

2.3.2.2 Triệu chứng

Sốt cao 39,5 – 420C, sốt thành từng cơn kéo dài từ 2-7 ngày, trung bình 3-5 ngày rồi thân nhiệt trở lại bình thường Sau đó 4-6 ngày lại sốt, sốt thường tăng về chiều có khi cả về đêm Con vật bỏ ăn, khi sốt miệng chảy nước dãi Khi sốt cao gia súc thường

có biểu hiện thần kinh như mất thăng bằng, quay cuồng, run rẩy từng cơn, sùi bọt mép

Nếu nặng hơn mắt đỏ ngầu, húc đầu vào tường, phá chuồng, lồng lộn

Nhu động ruột, dạ dày giảm, có khi ngừng hẳn Con vật lúc đi táo bón, lúc đi chảy phân lầy nhầy và có lẫn máu

Gia súc thiếu máu, niêm mạc mắt, hậu môn, lúc đầu sung huyết rồi chuyển nhanh sang trắng, vàng nhạt Cổ, hầu, ức, rốn, bẹn bị thuỷ thủng Chảy nước mũi thở khó, thở dốc , nhịp thở tăng Con vật gầy nhanh, ủ rũ, các cơ bắp thịt run rẩy Nếu bệnh kéo dài con vật hôn mê, bại liệt

Nếu nhiễm lê dạng trùng hoặc thê lê trùng nước tiểu có màu hồng rồi chuyển dần sang màu nâu đỏ do chứa nhiều huyết sắc tố Khi có nhiễm thê lê trùng các nốt bạch huyết sưng to nhất là những nốt gần nơi nhiễm ve

Gia súc cho sữa giảm sản lượng sữa hoặc ngừng tiết sữa Gia súc bệnh thường đi tiêu chảy kéo dài, vật gầy ốm, suy nhược, mất dần sức đề kháng, thường chết do kiệt sức

Gia súc mang thai bệnh dễ bị sảy thai, đẻ non, sót nhau

2.3.2.3 Điều trị

Sử dụng Trybabe - thuốc đặc trị ký sinh trùng đường máu gia súc

Khi chẩn đoán xác định loài ký sinh trùng gây bệnh, sử dụng thuốc theo liều:

Lê dạng trùng, biên trùng: 1ml/15kg thể trọng

Tiên mao trùng: 1ml/10kg thể trọng

Thê lê trùng:1ml/ 7kg thể trọng

Trang 23

Trường hợp không xác định rõ trâu bò nhiễm loại ký sinh trùng đường máu nào thì tiêm bắp Trybabe liều 8 mg/kg thể trọng để diệt ký sinh trùng đường máu và

Marbovitryl 1ml/10kg thể trọng để trị nhiễm khuẩn Leptospira kết hợp

Tiêm thêm vitamin B12, vitamin C để tăng sức đề kháng giúp gia súc mau bệnh phục

Tiêm vimekat 20ml/con để phục hồi cơ thể

( nguồn Cong binh, 2009, “ Các bệnh thường gặp ở Trâu bò ”, Agriviet.com)

2.3.3 Bệnh xoắn khuẩn ( Leptospirosis)

Do Leptospira interrogans gây ra và có nhiều serotype gây ra trên trâu bò Serovar

có tầm quan trọng đối với trâu bò là: Icterohaemorragiae, Ponoma, Hardjo và Canicola

Trong đó Leptospira interrogans serovar Ponoma gây bệnh phổ biến nhất trên gia súc

Bệnh phát triển mạnh khi có chế độ dinh dưỡng kém, chuồng trại ẩm thấp, có nhiều

chuột, bọ

2.3.3.3 Triệu chứng

Thể nhẹ: Sốt khoảng 39-400C, giảm sản lượng sữa, biếng ăn, vàng ở da, niêm mạc, nhịp tim tăng, nước tiểu màu Ở mi mắt, môi, dưới hàm… có hiện tượng phù thủng Con cái dễ bị sẩy thai sau khi nhiễm khoảng 1 tháng Nếu không được chăm sóc tốt thú

có thể chết do hiện tượng thiếu máu

Trang 24

Thể mãn tính: thường xảy ra, ít thấy triệu chứng, triệu chứng hay gặp là ỉa chảy, nước tiểu vàng hay sẫm, gây sẩy thai ở thú cái hoặc đẻ con ra yếu ớt, đẻ non hoặc có thể gây không thụ thai Lượng sữa giảm từ 20 -30%, thường xảy ra sau khi dịch phát

ra ồ ạt và điều trị không đến nơi đến chốn làm bệnh dây dưa kéo dài Nơi chứa nhiều

vi khuẩn là thận và đường sinh dục (của đực và cái) Thú bệnh thể mãn có thể thành con mang trùng suốt đời, và bài trùng qua nước tiểu, dịch âm đạo

2.3.3.4 Bệnh tích :

Thời kì nung bệnh 10 – 20 ngày

Thể cấp tính: Bò thường có vẻ yếu và sốt 40-410C, uể oải, biếng ăn, sản lượng sữa giảm đột ngột và thường có xuất huyết dưới niêm mạc Lông thú xù xì không bóng

mượt, mắt lờ đờ, mệt Niêm mạc và da vàng sẩm và tiểu ra huyết sắc tố

Trong vài trường hợp có viêm khớp hoặc viêm da hoại tử có khi viêm não, có thể sẩy thai ở bò cái Bệnh nặng bò trưởng thành chết từ 3 -5 ngày , bê chết 12 -24 giờ kể

từ khi phát bệnh Thể cấp tính thường xảy ra ở bê

Ở thể cấp tính: xuất huyết dưới niêm mạc, có hiện tượng hoàng đản toàn thân,

mỡ màu vàng, thú bị thiếu máu niêm mạc nhợt nhạt và tiểu ra huyết sắc tố Cũng có thể gây loét niêm mạc dạ múi khế, gan có màu vàng sưng ấn dễ nứt, viêm thận kẽ sưng to, lách mềm sưng to Bàng quang chứa nước tiểu màu đỏ

Ở thể nhẹ và mãn tính: viêm thận kẽ đang tiến triển với những đóm trắng trên bề mặt của vỏ thận

2.3.3.5 Chuẩn đoán

Lâm sàng: căn cứ vào triệu chứng nêu trên để chuẩn đoán nhưng dễ lầm với các bệnh sẩy thai do các nguyên nhân khác, dễ lầm với bệnh kí sinh trùng đường máu Chuẩn đoán phi lâm sàng là chính xác hơn cả

Tìm vi trùng gây bệnh bằng nuôi cấy, soi kính hiển vi và tiêm truyền động vật thí nghiệm

Trang 25

Có thể xét nghiệm bằng phản ứng miễn dịch huỳnh quang hay ELISA

Chăm sóc, nuôi dưỡng thú tốt

Vệ sinh tiêu độc chuồng trại bằng các loại hoá chất

Trường hợp bệnh nặng khó chữa khỏi, hoặc bò quá gầy yếu, khả năng làm giống kém nên loại thải và xử lý

Thể cấp tính: thể này xảy ra phổ biến ở bò, thời gian nung bệnh ngắn từ 1-3 ngày, con vật bỏ ăn, không nhai lại, mệt lả, bứt rứt, sốt cao đột ngột 40-420C Các niêm mạc mắt, mũi đỏ sẫm rồi tái xám Nước mắt, nước mũi chảy liên tục Các hạch lâm ba đều sưng, đặc biệt là hạch lâm ba dưới hầu sưng rất to, làm cho con vật lè lưỡi ra, thở khó

Trang 26

khăn, thường gọi là "bệnh lưỡi đòng" hay bệnh "bò hai lưỡi" Hạch lâm ba trước vai, trước đùi sưng, thủy thũng làm cho con vật đi lại khó khăn

Vật bệnh thể hiện hội chứng hô hấp, thở mạnh và khó khăn do viêm màng phổi, tràn dịch màng phổi, có tụ huyết và viêm phổi cấp

Một số bò bị bệnh thể đường ruột, lúc đầu phân táo bón sau đó đi ỉa chảy dữ dội, phân có lẫn máu và niêm mạc ruột Bụng con vật chướng to do viêm phúc mạc và có tương dịch trong xoang bụng

Lúc sắp chết, con vật nằm liệt, đái ra máu thở rất khó khăn, có nhiều chấm xuất huyết đỏ sẫm ở các niêm mạc Bệnh tiến triển từ 3-5 ngày Tỷ lệ chết 90-100% Nếu bệnh chuyển sang nhiễm trùng máu thì con vật sẽ chết trong thời gian 24-36 giờ

Thể mãn tính: con vật giai đoạn đầu mắc bệnh thể cấp tính, nếu không chết, bệnh

sẽ chuyển thành mãn tính, vật bệnh thể hiện viêm ruột mãn tính: lúc ỉa chảy, lúc táo bón, viêm khớp làm cho con vật đi lại khó khăn, viêm phế quản và viêm phổi mãn tính Bệnh tiến triển trong vòng vài tuần Con vật có thể khỏi bệnh, các triệu chứng nhẹ dần, nhưng thường con vật gầy rạc và chết do kiệt sức

2.3.4.4 Chẩn đoán

Chẩn đoán lâm sàng: dựa vào các triệu chứng và bệnh tích đặc trưng của bệnh Chẩn đoán vi khuẩn học : gửi mẫu xét nghiệm

Trang 27

2.3.4.5 Điều trị

Điều trị bằng huyết thanh: để trị bệnh, có thể dùng loại huyết thanh miễn dịch đối với bệnh tụ huyết trùng bò theo liều trong ngày như sau:

Bê dùng liều chữa: 20-40 ml và liều phòng 10-20 ml

Bò dùng liều chữa 60-100 ml, liều phòng 30-50 ml Huyết thanh miễn dịch có tác dụng tốt trong phòng và điều trị bệnh ở giai đoạn đầu

Điều trị bằng một trong các kháng sinh đặc hiệu sau:

Streptomycin: tiêm 10 - 15 mg cho 1 kg thể trọng/ngày Liều này chia ra 2 - 3 lần tiêm, mỗi lần cách nhau 3 - 4 giờ Tiêm liên tục 3-4 ngày;

Tetracyclin: tiêm 10 mg cho 1 kg thể trọng/ngày Uống dùng: 20 mg cho 1 kg thể trọng/ngày Sử dụng liên tục 4 - 5 ngày;

Sulfamerazin: tiêm tĩnh mạch dung dịch 6% với liều 0,13g cho kg thể trọng/ngày Nếu cho uống dùng 0,20-0,25g cho 1kg thể trọng Sử dụng liên tục trong 5 ngày

Cần kết hợp với các loại thuốc chữa triệu chứng khác như: thuốc trợ tim mạch (cafein, spartein), vitamin B1, vitamin C và chăm sóc nuôi dưỡng tốt vật bệnh

2.3.5 Bệnh sinh sản trên bò sữa

2.3.5.1 Bệnh sót nhau

Nhau thai luôn bị tống ra trong vòng 8 – 12 giờ sau khi đẻ Nếu nhau không ra hoặc ra không hết sau 24 giờ ta gọi là sót nhau

Nguyên nhân:

Do bò bị viêm nội mạc tử cung và viêm màng thai

Cũng có thể do chế độ chăm sóc nuôi dưỡng không tốt: bò mẹ thiếu vận động trong thời gian mang thai, thiếu can xi và nguyên tố vi lượng trong khẩu phần thức ăn Triệu chứng: bò rặn nhiều, dây nhau treo lòng thòng ở âm hộ, không thấy nhau thai được tống ra ngoài

Trang 28

Cho bò vận động thường xuyên

Theo sách Sản khoa gia súc của Trần Văn Dư khi gặp hiện tượng sót nhau (sau khi bò đẻ 6 giờ mà nhau thai chưa ra…) thì có thể tiêm thuốc gây co bóp tử cung (oxytoxin) hoặc thụt penicilline vào tử cung, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 1-2 triệu đơn vị trong 2-3 ngày liền Nếu cách làm trên nhau thai vẫn không ra thì phải bóc bằng tay Lưu ý: nếu ngừa nhiễm trùng và điều trị tốt thì sau 7 – 10 ngày nhau sẽ bong ra Không nên cố gắng kéo phần nhau lòi ra ở phần ngoài âm hộ vì nó sẽ gây tổn thương cho thành tử cung Điều này cũng có thể gây nên lộn tử cung

2.3.5.2 Bệnh viêm âm đạo

Theo tài liệu Sản khoa gia súc của Trần Văn Dư, nguyên nhân gây bệnh viêm âm đạo là do:

Phương pháp thụ tinh nhân tạo không đúng kỹ thuật, gây tổn thương hoặc thủng thành tử cung

Thai to, xương chậu hẹp dẫn đến xây xát trong quá trình sinh nở

Do sót nhau

Do sa âm đạo sau khi sinh

Do nhiễm những chất dơ bẩn bên ngoài như phân

Ung thư âm đạo, có hạt…

Triệu chứng: âm hộ, âm đạo xung huyết Dùng mỏ vịt khám thú có phản ứng, nặn

có chảy máu Âm hộ có thể phù thủng do vi khuẩn Clostrodium septicum gây ra, nếu

bệnh nặng có thể chết trong vòng 1 -2 ngày, nếu nhẹ chuyển sang dạng kinh niên

Trang 29

Điều trị:

Bôi rửa dung dịch sát trùng nhẹ, sulfamid

Nếu thú có triệu chứng toàn thân ( sốt) cần dùng kháng sinh + hạ sốt + kháng viêm Có thể sử dụng các loại thuốc sau:

Kháng sinh: gentamicin + tylosin hay oxytetracycline

Kháng viêm: diclofenac hay dexamethasone

Hạ sốt : analgine + vitamin C

Dùng những viên nang kháng sinh như ampheciline đặc trị

Nếu thú đau đớn có thể gây tê tủy sống

Can thiệp kịp thời có thể hồi phục sinh sản

2.3.5.3 Viêm tử cung

Đây là bệnh thường gặp trên bò sữa

Nguyên nhân là do:

Phương pháp thụ tinh nhân tạo không đúng kỹ thuật, gây tổn thương hoặc thủng thành tử cung

Do nhiễm trùng sau khi sinh hoặc do giao phối với đực

Do con người can thiệp không đúng kỹ thuật trong quá trình sinh

Do sảy thai, đẻ khó, bóc nhau

Do sinh lý cơ thể: thai to, chậu ép làm giảm nhu động ruột, ép bàng quang và ống thoát tiểu gây ra ứ đọng nước tiểu, cổ tử cung mở làm vi sinh vật xâm nhập và gây viêm nhiễm

Do môi trường: Chuồng trại nóng ẩm, dơ bẩn trong thời gian bò sinh sản dễ gây

viêm nhiễm do môi trường có sẵn Streptococcus, Staphylococcus, E coli…

Phân loại viêm tử cung:

Viêm cata (viêm dạng nhờn) : xuất hiện sau khi sinh 2-3 ngày, niêm mạc tử cung

bị viêm nhẹ, tử cung tiết dịch nhờn trong hoặc đục lợn cợn có mùi tanh, sau vài ngày dịch tiết giảm dần đặc lại và hết hẳn Thú không sốt hoặc sốt nhẹ, thân nhiệt 39,5oC

Trang 30

Viêm dạng mủ (thể viêm nặng): thường xuất hiện trên bò có thể trạng yếu, số lượng vi sinh vật nhiễm vào tử cung nhiều Bò thường sốt 40-410C

Viêm dạng mủ lẫn máu: làm phản ứng viêm ăn sâu vào lớp cơ tử cung, tổn thương mạch mao quản gây chảy máu Dịch viêm sền sệt có mủ lẫn máu, mùi hôi Thú sốt cao 40-410C, sản lượng sữa giảm hoặc mất hẳn, thú có triệu chứng toàn thân suy nhược, thở nhanh

Điều trị:

Trước hết, dùng một trong các dung dịch kháng khuẩn sau đây thụt rửa tử cung nhiều lần:

Rivanol, dung dịch 1-2%, khoảng 300-500ml

Nước muối, dung dịch 1-2%, khoảng 300-500ml

Dung dịch Lugol: 100ml

Sau đó đưa thẳng vào tử cung một trong các loại kháng sinh phổ rộng:

Oxytetracycline: 2,5g pha với 30ml nước

Kanamycine, 3g pha với 30ml nước

Ampicycline, 2-3 g pha với 30ml nước

Kết hợp điều trị toàn thân bằng tiêm bắp hàng ngày, ít nhất 5 ngày liền với một trong các loại kháng sinh sau:

Gentamycine: 1ml cho 10 kg thể trọng

Ampi-septol: 1ml cho 10-12 kg thể trọng

Kanamycine: 750mg hoàn tan trong 100ml dung dịch nước sinh lý

Chú ý: trong trường hợp sát nhau phải sử dụng viên đặt tử cung hoặc phải dùng tay

nhẹ nhàng loại bỏ đến mức tối đa phần nhau thai còn lại sau đó mới thụt rửa Nếu là trường hợp viêm nội mạc tử cung với thể vàng tồn lưu thì tiêm prostaglandin hoặc các chất tương tự, để làm tiêu biến thể vàng, đồng thời cổ tử cung mở, tử cung co bóp và đẩy mủ ra ngoài

Trang 31

2.3.5.4 Sốt sữa – Bại lệt sau khi sinh

Theo tài liệu Bệnh nội khoa gia súc của Nguyễn Như Pho thì nguyên nhân dẫn tới bệnh sốt sữa và bại liệt sau khi sinh do rối loạn dinh dưỡng thì bệnh xảy ra là do hàm lượng canxi trong máu giảm do :thiếu canxi, thiếu vitamin D, rối loạn hormon thyrocalcitonin hoặc parathyroin

Nguyên nhân dẫn đến thiếu canxi trong máu sau khi sanh là do quá trình nuôi dưỡng không đúng cách, giai đoạn bò cạn sữa cho bò ăn nhiều thức ăn tinh giàu canxi,

ít cỏ xanh và thức ăn thô

Bại liệt sau khi sinh còn do những nguyên nhân sau:

Do bò: rặn đẻ kéo dài, sự co thắt tử cung mạnh hơn; sinh sản nhiều lứa; tổn thương thần kinh xương chậu; thai quá to chèn ép dây chằng sinh dục bị dãn; viêm sưng to âm đạo (âm đạo tụ máu)

Do can thiệp của con người khi đẻ không đúng cách : kéo thai mạnh, nền chuồng trơn trượt làm bò trượt té dẫn đến chấn thương

Đối với trường hợp thú bị bại liệt sau khi sinh do các nguyên nhân thần kinh và

cơ học thì thú có biểu hiện sau: bại liệt, hoặc đi khập khểnh Đứng dậy siêu vẹo, khó khăn hoặc chỉ chồm được hai chân trước, hai chân sau kéo bệt dưới đất Yếu 2 chi sau

Trang 32

do tổn thương cơ học Bò có thể sốt nhẹ, sức ăn giảm, có thể bị chướng hơi do tiêu hoá khó

Điều trị:

Với trường hợp bò mẹ bị bại liệt sau khi sinh hay sốt sữa do nguyên nhân dinh dưỡng thì điều trị như sau:

Đối với thể nhẹ:

Cấp Calcifort, Calcimax : 1ml/5kg P, IV, ngày chích 2 lần trong 3 ngày

Kích thích nhu động ruột ( pilocarpin, SC, 1 -2 lần)

Parafin: cho uống hoặc thụt rửa trực tràng 20 -30 ml

Truyền glucose

Xoa bầu vú cho sữa xuống chống viêm vú Nếu có dấu hiệu viêm vú dùng kháng sinh

Đối với thể điền hình:

Cấp calcifort, calcimax : 1ml/ 2kg P ngày 2 lần trong 3 - 4 ngày

Thuốc chống co giật: decontractyl: 1 viên/ 20kg P, ngày 2 lần

Thuốc an thần : diazepam, rompun, aceromazine

Cấp các loại Vitamin C, Vitamin nhóm B

Xoa bầu vú cho sữa xuống chống viêm vú Nếu có dấu hiệu viêm vú dùng kháng sinh

2.3.6 Bệnh viêm móng

Những triệu chứng chung khi bò bị viêm móng: vùng mô quanh móng sưng đỏ, nóng, đau Sau một thời gian, móng bò có thể bị long ra ( bệnh thổi móng) Nhiều trường hợp bò bị loét gang bàn chân, khi gọt móng vết loét có màu đỏ, rướm máu nổi trên nền trắng của móng bò Bò sốt, giảm ăn, đi đứng khó khăn, bò đứng không yên, thường đứng 3 chân ,hay đổi chân, bò thích nằm, khi đứng chân hay run, dễ trượt té , sản lượng sữa giảm

Trang 33

Điều trị:

Kháng sinh: ceftiofua

Kháng viêm: dexamethasone hay diclophenac

Hạ sốt: anagine hay anagine C

Gọt móng là biện pháp tốt nhất để điều trị dứt điểm bệnh

Theo Phan Việt Thành (2010), để kiểm soát bệnh viêm móng nên:

Không nhốt gia súc quá đông

Duy trì sự thoải mái tiện nghi trong mỗi ngăn chuồng Giới hạn diện tích nền bằng xi măng và thô nhám Cung cấp một chỗ nằm mềm không nhám và một kích thước ngăn chuồng thích hợp sẽ làm cho bò dễ dàng sử dụng và cảm thấy thoải mái Khuyến cáo dinh dưỡng: cho ăn khẩu phần có xơ thô cao, không cho ăn quá nhiều thức ăn tinh

Bò sữa do bị nuôi nhốt, ít vận động, tuần hoàn máu ít lưu thông là một trong

những nguyên nhân bệnh viêm khớp phát triển Khuẩn Mycoplasma mycodes là tác

nhân gây viêm khớp

Do bò trượt té, va đập vào khớp

Do xây sát, nhiễm trùng, vi khuẩn xâm nhập vào ổ khớp gây viêm

Do chăm sóc, nuôi dưỡng, môi trường, chuồng trại nóng ẩm, dơ bẩn

Triệu chứng – bệnh tích:

Bò bị bệnh sốt, kém ăn, nằm một chỗ, ít đi lại, đứng lên, nằm xuống rất khó khăn, đau sưng tấy khớp, ấn tay vào bò có phản ứng đau Nếu không phát hiện và điều trị kịp thời chỗ viêm sẽ viêm mủ, sau đó thành bã đậu, rắn

Trang 34

Khớp viêm sưng to, dịch viêm trong, hơi hồng, trong trường hơp ổ khớp bị vi khuẩn xâm nhập thì dịch viêm có màu đục lợn cợn, có mủ

Hậu quả: sau khi điều trị ổ khớp viêm vẫn sưng to, trường hợp nặng có thể thú bị què

Điều trị :

Viêm khớp chưa hình thành ổ bã đậu: sử dụng kháng sinh penicillin (có thể thay bằng ampicillin hoặc tiamulin) với liều 30.000 đơn vị/kg thể trọng bò phối hợp với oxytetracyclin (thay bằng kanamycin) liều 20mg/kg thể trọng (xem hướng dẫn ghi trên nhãn thuốc) Khi tiêm không trộn lẫn penicillin và oxytetracyclin, mỗi loại thuốc dùng một ống tiêm riêng, tiêm vào hai chỗ khác nhau

Sử dụng thuốc chống viêm giống như điều trị viêm móng

Sử dụng thuốc giảm đau khớp tiêm novocain dưới da quanh ổ khớp bị viêm, tiêm 20ml/lần/ngày, ngày tiêm 2 lần

Sử dụng thuốc trợ sức tiêm vitamin B2, C, B12 và cafein, long não nước Thời gian điều trị từ 7-10 ngày Từ ngày thứ 5- 10 liều kháng sinh giảm đi 30%

Viêm khớp đã hình thành ổ bã đậu: điều trị bằng tiểu phẫu thuật kết hợp với kháng sinh và thuốc chống viêm

Chích ổ viêm: nạo vét hết mủ và ổ bã đậu Rửa sạch ổ viêm bằng các dung dịch thuốc tím 5%, oxy già 2-3%

Trộn bột sulfamide với penicillin nhét đầy vào ổ viêm sau khi đã lấy hết bã đậu

và rửa bằng thuốc sát trùng, rồi băng vết thương lại

Sử dụng kháng viêm như đã nêu ở trên

Sử dụng các loại thuốc trợ sức vitamin B1, C kết hợp với cafein, long não nước Thời gian điều trị từ 5-7 ngày, sau khi làm tiểu phẫu

Phòng bệnh

Ngày đăng: 16/04/2018, 02:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm