ii XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Họ và tên sinh viên thực tập: Trần Quốc Vĩ Tên luận văn:” Khảo sát bệnh viêm vú, viêm tử cung trên heo nái và bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ tạ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
****************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT BỆNH VIÊM VÚ, VIÊM TỬ CUNG TRÊN HEO NÁI VÀ BỆNH TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON THEO MẸ
TẠI TRẠI CHĂN NUÔI TƯ NHÂN
Ở XUÂN LỘC, ĐỒNG NAI
Sinh viên thực hiện: TRẦN QUỐC VĨ Lớp: DH07TY
Ngành: Thú Y Niên khóa: 2007-2012
Tháng 08/2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ thú y
Giáo viên hướng dẫn:
BSTY ĐẶNG THỊ XUÂN THIỆP
Tháng 08 /2012
Trang 3ii
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực tập: Trần Quốc Vĩ
Tên luận văn:” Khảo sát bệnh viêm vú, viêm tử cung trên heo nái và bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ tại trại chăn nuôi tư nhân ở Xuân Lộc, Đồng nai”
Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến của hội đồng chấm thi tốt nghiệp, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp khoa Chăn Nuôi Thú Y ngày… tháng… năm 2012
Giáo viên hướng dẫn
BSTY Đặng Thị Xuân Thiệp
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Con xin tỏ lòng biết ơn vô hạn đến cha mẹ và gia đình, những người đã hết lòng vì tương lai của con
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Cô Đặng Thị Xuân Thiệp đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt thời
gian thực tập và hoàn thành khóa luận
Thành kính ghi ơn
Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm TP HCM
Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y cùng toàn thể Quý thầy cô đã tận tâm truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt thời gian học tập tại trường
Chân thành cảm ơn
Anh Tô Duy Truyền trưởng trại chăn nuôi Sa Hoàng và các anh chị em công nhân trong trại đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian thực tập
Trang 5iv
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Khóa luận “Khảo sát bệnh viêm vú, viêm tử cung trên heo nái và bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ tại trại chăn nuôi tư nhân ở Xuân Lộc, Đồng Nai » được tiến hành tại trại chăn nuôi heo Sa Hoàng thời gian từ 10/2/2012 đến
12/6/2012 Khóa luận thực hiện trên 106 nái sau khi sinh và 1098 heo con theo mẹ, kết quả được ghi nhận như sau:
Nhiệt độ chuồng nuôi trung bình của trại là 27,4 oC, nhiệt độ trung bình bên trong lồng úm là 33,2 oC
Tỷ lệ nái viêm tử cung là 92,45 % Trong đó, tỷ lệ viêm tử cung dạng nhờn là 79,25 %, tỷ lệ viêm tử cung dạng mủ là 13,20 %, tỷ lệ viêm vú là 1,9 %
Số ngày điều trị trung bình của nái viêm tử cung dạng nhờn là 5,74 ngày, viêm
Trang 6MỤC LỤC
Trang tựa i
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Lời cảm ơn iii
Tóm tắt luận văn iv
Danh sách các chữ viết tắt viii
Danh sách các bảng ix
Danh sách các hình và biểu đồ x
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Giới thiệu sơ lược về trại 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Lịch sử hình thành 3
2.1.3 Nhiệm vụ của trại 3
2.1.4 Cơ cấu tổ chức 3
2.1.5 Cơ cấu đàn 4
2.1.6 Hệ thống chuồng trại 4
2.1.7 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng 5
2.1.7.1 Thức ăn 5
2.1.7.2 Nước sử dụng 5
2.1.7.3 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng heo nái và heo con theo mẹ 6
2.1.7.4 Vệ sinh thú y và quy trình tiêm phòng 8
2.1.7.5 Xử lý chất thải 11
Trang 7vi
2.2 Tìm hiểu sơ lược về nái sinh sản 11
2.2.1 Sự thành thục và động dục 11
2.2.1.1 Sự thành thục 11
2.2.1.2 Chu kì động dục 12
2.2.2 Sự mang thai 13
2.2.3 Sự sinh đẻ 13
2.2.4 Sự tiết sữa 14
2.3 Đặc điểm sinh lý heo con 15
2.4 Một số chứng / bệnh trên heo nái đẻvà nái nuôi con 16
2.4.1 Viêm tử cung 16
2.4.2 Viêm vú 17
2.4.3 Sốt 18
2.4.4 Bại liệt sau khi sinh 19
2.4.5 Bỏ ăn 20
2.5 Bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ 21
2.5.1 Cơ chế gây tiêu chảy 21
2.5.2 Nguyên nhân gây tiêu chảy 21
2.5.3 Hậu quả sinh lý của tiêu chảy 22
2.5.4 Cách phòng trị 23
2.6 Lược duyệt các công trình nghiên cứu liên quan 23
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 25
3.1 Thời gian và địa điểm: 25
3.2 Đối tượng nghiên cứu 25
3.3 Nội dung nghiên cứu 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Nội dung 1: 25
3.4.1.1 Dụng cụ: 25
3.4.1.2 Phương pháp tiến hành 25
3.4.2 Nội dung 2: 26
Trang 83.4.2.1 Phương pháp tiến hành 26
3.4.2.2 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính 26
3.4.3 Nội dung 3: 27
3.4.3.1 Phương pháp tiến hành 27
3.4.3.2 Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính 27
3.4.4 Nội dung 4 28
3.4.4.1 Dụng cụ 28
3.4.4.2 Phương pháp tiến hành 28
3.4.4.3 Chỉ tiêu khảo sát vàcông thức tính 29
3.4.5 Nội dung 5 29
3.5 Phương pháp xử lý số liệu……… 29
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Nhiệt độ trung bình 30
4.2 Các chỉ tiêu trên heo nái 31
4.2.1 Kết quả khảo sát bệnh trên heo nái 31
4.2.2 Kết quả phân lập và thử kháng sinh đồ dịch viêm tử cung trên heo nái 32
4.2.3 Hiệu quả điều trị viêm tử cung của trại 36
4.3 Các chỉ tiêu trên heo con theo mẹ 37
4.3.1 Kết quả khảo sát bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ 37
4.3.2 Kết quả phân lập và thử kháng sinh đồ trên mẫu phân tiêu chảy của heo con 40
4.3.3 Hiệu quả điều trị tiêu chảy trên heo con theo mẹ của trại 42
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Đề nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHỤ LỤC 48
Trang 9
viii
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SHCKS : Số heo con khảo sát
VV+VTC : Vừa viêm vú vừa viêm tử cung
SNĐTTB : Số ngày điều trị trung bình
SHCTC : Số heo con tiêu chảy
SNTC : Số ngày tiêu chảy
TLHCTC : Tỷ lệ heo con tiêu chảy
TLNCTC : Tỷ lệ ngày con tiêu chảy
SNĐTTC : Số ngày điều trị tiêu chảy
SHCCVTC : Số heo con chết vì tiêu chảy
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Liệu trình điều trị cho heo nái sau khi sinh 6
Bảng 2.2 Quy trình điều trị heo con 7
Bảng 2.3 Cách sử dụng thuốc sát trùng trong trại 9
Bảng 2.4 Quy trình tiêm phòng 10
Bảng 4.1 Nhiệt độ trung bình của trại 30
Bảng 4.2 Tỷ lệ viêm vú, viêm tử cung trên heo nái 31
Bảng 4.3Kết quả phân lập vi khuẩn trên mẫu dịch viêm tử cung 33
Bảng 4.4 Kết quả thử kháng sinh đồ của vi khuẩn Staphylococcus aureus 33
Bảng 4.5 Kết quả thử kháng sinh đồ của vi khuẩn E coli 34
Bảng 4.6 Kết quả thử kháng sinh đồ của vi khuẩn Streptococcus spp 35
Bảng 4.7 Kết quả điều trị viêm tử cung trên nái của trại 36
Bảng 4.8 Tình hình tiêu chảy trên heo con theo mẹ theo vị trí ô chuồng và theo tuần tuổi 38
Bảng 4.9 Tình trạng tiêu chảy trên heo con theo tình trạng viêm của heo nái 39
Bảng 4.10 Kết quả phân lập vi khuẩn trên mẫu phân heo con tiêu chảy 40
Bảng 4.11 Kết quả thử kháng sinh đồ của vi khuẩn E coli trong mẫu phân heo con 41 Bảng 4.12 Kết quả thử kháng sinh đồ của vi khuẩn Salmonella trong mẫu phân heo con 41
Bảng 4.13 Kết quả điều trị tiêu chảy trên heo con theo mẹ 42
Trang 11x
DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Chuồng heo nái mang thai 4
Hình 2.2 Chuồng heo đẻ 4
Hình 2.3 Chuồng heo cách ly 5
Hình 2.4 Chuồng heo nọc 5
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của trại chăn nuôi Sa Hoàng 4
Sơ đồ 2.2Kích thích tố điều khiển chu kì lên giống 12
Sơ đồ 2.3 Cơ chế sự phân tiết sữa 15
Trang 12Riêng ở Đồng Nai, ngành chăn nuôi heo đã được đưa vào chương trình
« phát triển cây, con chủ lực » Tuy nhiên, một trong những thách thức lớn đó là tình hình dịch bệnh ngày càng phức tạp Để có một đàn heo thương phẩm khỏe mạnh, trước tiên chúng ta phải có một đàn heo cai sữa khỏe mạnh, có sức kháng bệnh tốt Muốn như vậy chúng ta phải kiểm soát được bệnh tật của heo nái và heo con theo mẹ Một trong những bệnh gây thiệt hại lớn, thường gặp trong các trại đó
là bệnh viêm vú, bệnh viêm tử cung trên heo nái và bệnh tiêu chảy trên heo con theo
Trang 131.2.2 Yêu cầu
Theo dõi và ghi nhận nhiệt độ chuồng nuôi
Quan sát, theo dõi và ghi nhận bệnh viêm vú và viêm tử cung trên đàn heo nái đẻ sau khi sinh và bệnh tiêu chảy trên đàn heo con từ sơ sinh đến cai sữa
Phân lập vi khuẩn và thử kháng sinh đồ trên mẫu dịch viêm tử cung và phân tiêu chảy của heo con theo mẹ
Theo dõi cách điều trị và hiệu quả điều trị tại trại để làm cơ sở cho việc phòng và điều trị bệnh tốt hơn
Trang 14Do trại chăn nuôi ở gần các tuyến đường lớn đặc biệt là quốc lộ 1A nên rất thuận lợi cho vận chuyển thức ăn và sản phẩm chăn nuôi
Ngoài ra, trại nằm ở cách xa khu dân cư nên hạn chế được dịch bệnh và không gây ảnh hưởng xấu đến đời sống người dân
2.1.2 Lịch sử hình thành
Trại được xây dựng và đưa vào hoạt động từ tháng 10 /2011
Trại được xây dựng thành 2 khu riêng biệt là khu sản xuất và khu sinh hoạt
2 khu này được ngăn cách nhau bởi dãy nhà sát trùng
2.1.3 Nhiệm vụ của trại
Cung cấp heo con cai sữa cho công ty TNHH chăn nuôi CP Việt Nam
Công nhân, nhà bếp: 37 người
Tổ giống: Nuôi heo hậu bị chờ phối, nái khô, nái chửa, heo nọc
Trang 15Tổ nái: Nuôi nái đẻ, nái nuôi con và heo con theo mẹ đến 21 ngày tuổi
Tổ phục vụ: Thợ điện, nấu ăn
Cơ cấu tổ chức điều hành hoạt động của trại chăn nuôi Sa Hoàng, Đồng Nai
TRƯỞNG TRẠI PHÓ TRẠI
(quản lý trại đẻ)
PHÓ TRẠI (quản lý trại bầu)
TỔ TRƯỞNG TỔ PHÓ TỔ TRƯỞNG TỔ PHÓ
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của trại chăn nuôi Sa Hoàng 2.1.5 Cơ cấu đàn
Tính đến ngày 14/6/2012 tổng đàn heo của trại là 4046 con, trong đó:
Heo nọc: 52 con
Heo hậu bị: 202 con
Heo nái mang thai: 1276 con
Heo nái khô: 310 con
Heo nái nuôi con: 185 con
Heo con theo mẹ: 1653 con
Heo con cai sữa: 468 con
2.1.6 Hệ thống chuồng trại
Hệ thống chuồng nuôi của trại được xây dựng theo thiết kế của công ty TNHH chăn nuôi CP Việt Nam, bao gồm 12 trại nuôi heo đẻ, 4 trại nuôi heo nái khô, heo nái mang thai và hậu bị, 2 trại cách ly để nuôi heo cai sữa và 1 trại để nuôi heo nọc, tất cả là chuồng kín
Hình 2.1 Chuồng heo nái mang thai Hình 2.2 Chuồng heo đẻ
Trang 16Mỗi trại đẻ có 52 ô chuồng với kích thước 1,8 m x 2,2 m
Mỗi trại bầu có ô chuồng với kích thước 0,7 m x 2,2 m
Mỗi trại cách ly có 6 ô chuồng với kích thước 10 m x 10 m
Trại heo nọc có ô chuồng với kích thước 2 m x 2 m
2.1.7 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng
2.1.7.1 Thức ăn
Thức ăn được cung cấp bởi Công Ty Cổ Phần Chăn Nuôi CP Việt Nam
Heo nái mang thai: sử dụng thức ăn 566F
Heo nái đẻ, heo hậu bị và heo nọc: sử dụng thức ăn 567SF
Heo con: sử dụng thức ăn 550S
2.1.7.2 Nước sử dụng
Nước được bơm từ giếng khoan lên bồn chứa và theo đường ống xuống từng trại để cung cấp nước uống cho heo, tắm heo, nước cho các dàn lạnh hoạt động.Vào mùa khô khi nguồn nước trong trại không đủ cung cấp thì sẽ vận chuyển nước từ nơi khác tới để đảm bảo nhu cầu nước uống cho đàn heo
Hình 2.3 Chuồng heo cách ly Hình 2.4 Chuồng heo nọc
Trang 176
2.1.7.3 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng heo nái và heo con theo mẹ
Heo nái đẻ và sau khi sinh
Nái mang thai gần đến ngày đẻ dự kiến sẽ được đưa từ trại bầu sang trại đẻ
và ăn thức ăn của nái đẻ Heo được theo dõi thường xuyên đến khi có dấu hiệu sắp
sinh thì được vệ sinh vùng mông, cơ quan sinh dục, bầu vú và nền sàn bằng nước
đã pha thuốc sát trùng Sau đó, dùng bao sạch lót phía sau mông và chuẩn bị các
dụng cụ đỡ đẻ như: khăn lau, cồn iod, kéo, kìm kẹp mạch máu, dây cột
Sau khi sinh, heo nái được tiêm kháng sinh để chống viêm nhiễm và tiêm
oxytoxin để bài sản dịch, nhau ra ngoài Liệu trình điều trị của heo nái như Bảng
2.1
Bảng 2.1 Liệu trình điều trị cho heo nái sau khi sinh
Ngày sinh Loại thuốc sử dụng Liều lượng Đường cấp thuốc
1 amoxicillin
oxytoxin
1ml/10kg thể trọng 5ml/con
Tiêm bắp Tiêm bắp
3 amoxicillin
oxytoxin
1ml/10kg thể trọng 5ml/con
Tiêm bắp Tiêm bắp
5 amoxicillin
oxytoxin
1ml/10kg thể trọng 5ml/con
Tiêm bắp Tiêm bắp Sau 5 ngày điều trị nếu heo vẫn còn dấu hiệu viêm tử cung (ra mủ) thì tiêm
liên tục mỗi ngày amoxicillin (1ml/1kg thể trọng) + oxytoxin (5ml/con) cho đến khi
hết hẳn
Đối với những heo nái sót con, sau khi dùng oxytoxin mà không hiệu quả thì
tiêm Lutalyse (dinoprost tromethamine) (3ml/con/ngày)
Đối với những con yếu chân, bại liệt sau khi sinh thì dùng dây cột 2 chân sau
sao cho khoảng cách 2 chân từ 20-30cm, để heo có thể nằm cho con bú được Đồng
thời, tiêm Canxi-B12 (calcium gluconate, calcium glucoheptonate, boric acid,
vitamin B12) với liều 1ml/ 5-10 kg thể trọng
Đối với những heo nái kém sữa hay mất sữa, tiêm Canxi-B12 + 5ml
Oxytoxin
Trang 18Đối với những heo nái bỏ ăn, tiêm B-Complex (1ml/10kg thể trọng) và truyền Glucose nếu cần thiết
Heo nái bị tiêu chảy, tiêm kanamycin (1ml/ 10kg thể trọng)
Heo con theo mẹ
Sau khi sinh ra heo con được lau khô, bấm răng, cắt rốn, cắt đuôi và sát trùng bằng cồn iod, sau đó đặt trong lồng úm, heo con sẽ tự tìm đến với mẹ để bú
Sau khi nái sinh xong, những con quá yếu hay dị tật sẽ bị loại bỏ, và tiến hành ghép bầy để đàn heo được đồng đều Heo con được tiêm sắt (Ferrum 10% + B12, 2ml/ con) khi được 2 ngày tuổi Heo được thiến, bấm tai và tiêm 1ml/con Ampisure (ampicillin) + cho uống Nova-Coc (toltrzurin) (hoặc Diacoxin (toltrazurin)) 1ml/con, vào ngày tuổi thứ 3 Heo được cai sữa lúc 21 ngày tuổi, tiêm 2ml amoxicillin để giúp heo chống chọi với mầm bệnh khi bị stress Những heo quá nhỏ sẽ được giữ lại và được ghép với những ô nái tốt sữa nuôi thêm một thời gian nữa Heo con cai sữa được đưa lên trại cách ly nuôi từ 7-10 ngày trước khi xuất bán
Thường xuyên theo dõi, phát hiện và điều trị kịp thời khi heo con theo mẹ bị tiêu chảy Quy trình điều trị heo con tiêu chảy theo Bảng 2.2
Bảng 2.2 Quy trình điều trị heo con
Dưới 5 ngày
tuổi
Nova-enro Hoặc cho uống dd glucose pha Amoxicol
Enrofloxacin amoxicillin + colistin
1ml/con/ngày 1ml/con/ngày
Trên 5 ngày
tuổi
Tiêm Ampisure Ampicillin 1ml/con/ngày
Bổ sung nước và chất điện giải cho heo con tiêu chảy bằng cách cho uống Electrolyse bằng cách pha 2g Electrolyse /1ml glucose rồi cho uống hoặc truyền 10ml glucose vào xoang bụng với cách pha như sau: 50ml glucose + 20ml B-Complex + 15ml Canxi- B12
Sau 2 ngày điều trị mà chưa khỏi bệnh, tiêm thêm atropine với liều 1ml/con/ngày
Trang 198
Nền chuồng có heo bị tiêu chảy được cọ rửa thường xuyên bằng nước sát trùng và vôi bột Đối với những đàn heo quá dơ bẩn, do phân tiêu chảy dính bết vào lông sẽ được tắm bằng nước sát trùng, lau khô và bôi vôi bột lên người vào những giờ nắng ấm trong ngày
Chu chuyển đàn: đàn heo được thường xuyên rà soát và loại thải những con không đạt tiêu chuẩn để nhập những heo hậu bị mới về
2.1.7.4 Vệ sinh thú y và quy trình tiêm phòng
Chuồng trại: mỗi ngày trại đều được dọn vệ sinh, quét vôi bột dọc các hành lang và thay chậu nước sát trùng ở cửa ra vào Phun nước có pha thuốc sát trùng mỗi tuần 2 lần
Sau mỗi lứa đẻ, chuồng trại được tổng vệ sinh một lần, cọ rửa bằng xà phòng
và nước có pha thuốc sát trùng, xịt sạch phân và cám thừa dưới gầm chuồng Sau
đó, dùng NaOH sát trùng bề mặt gầm chuồng Tiếp theo, hòa vôi phun lên tất cả các
bề mặt của chuồng Cuối cùng, phun formol và đóng kín cửa một ngày trước khi đưa heo mới vào
Trang 20
Bảng 2.3 Cách sử dụng thuốc sát trùng trong trại
Phun sát trùng xung quanh trại, ngâm quần áo, dụng cụ thú y, dụng cụ chăn nuôi, chậu nhúng chân ra vào trại, sát trùng xe ở cổng trước khi vào trại…
1:1600 (1ml thuốc/ 1600ml
nước)
Phun sát trùng định kỳ chuồng có heo, đổ thuốc vào nước dàn mát (đối với trại có
dịch) 1:3200
(1 lít/ 100 lít nước)
Phun sát trùng chuồng trống trước khi đưa
heo mới vào Chlorine 3-5g/ 1000 lít nước Xử lý nước trước khi cho heo uống
Quy trình tiêm phòng
Đàn heo của trại được tiêm phòng theo quy trình được trình bày ở Bảng 2.4
Trang 21
10
Bảng 2.4 Quy trình tiêm phòng
Hậu bị Vào trại 2 tuần Porcilis parvo Sẩy thai truyền
nhiễm Vào trại 3 tuần Porcilis Begonia Giả dại
Vào trại 4 tuần Coglapest
Aftopor
Dịch tả
Lở mồm long móngVào trại 5 tuần Mycoplasma
hyoneumoniae Bacterin Vaccine
Viêm phổi
Vào trại 6 tuần Ingelvac
Porcilis parvo Porcilis Begonia
PRRS Sẩy thai truyền nhiễm Giả dạiNái mang
Định kì vào tháng 4
và tháng 8 trong năm
Porcilis Begonia Giả dại
Heo nọc Nhập trại 2 tuần Porcilis Begonia Giả dại
Nhập trại 4 tuần Coglapest
Aftopor
Dịch tả
Lở mồm long móng Định kì vào tháng 4,
8, 12 trong năm
Porcilis Begonia Aftopor
Giả dại
Lở mồm long móng
Định kì vào tháng 8 trong năm( sau khi tiêm AD và FMD 1
tuần)
Hyoneumoniae Bacterin Vaccine
Viêm phổi
21 ngày tuổi Coglapest Dịch tả
Trang 222.1.7.5 Xử lý chất thải
Phân được thu gom, cho vào bao, chở ra nhà phân vào cuối ngày Sau đó bán
để làm phân bón
Nhau và xác heo con được thu gom và xử lý bằng hầm hủy heo
Nước thải chăn nuôi được xử lý bằng hệ thống ao hồ xử lý chất thải
2.2 TÌM HIỂU SƠ LƯỢC VỀ NÁI SINH SẢN
2.2.1 Sự thành thục và động dục
2.2.1.1 Sự thành thục
Sự thành thục được tính từ ngày nái được sinh ra cho đến khi nái được phối
giống lần đầu tiên
Theo Võ Văn Ninh (2003), lần động dục đầu tiên của heo nái thường có thể không rõ trên một số con, nhưng nói chung có ít trứng rụng, do đó người chăn nuôi chỉ ghi nhận để dễ phát hiện chu kỳ động dục sắp tới
Hiệu quả kinh tế cao khi heo có tuổi thành thục sinh sản sớm ngoài các biện pháp liên quan đến dinh dưỡng cần phải chú ý đến vấn đề cải thiện giống sẽ rút ngắn tuổi thành thục sinh dục
Theo Lê Xuân Cương (1982), một số yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục sinh dục là:
Yếu tố giống: mỗi một giống đều có tuổi thành thục sinh dục khác nhau nhưng thường những giống có khả năng sinh sản tốt thì tuổi thành thục sinh dục sớm hơn
Chế độ dinh dưỡng: heo hậu bị được nuôi dưỡng với chế độ dinh dưỡng hợp
lý thì tuổi thành thục sinh dục sớm để tăng khả năng sinh sản của heo nái và tăng số con đẻ ra trong năm
Yếu tố bệnh lý: trong giai đoạn phát triển của heo hậu bị đặc biệt từ giai đoạn 5,5 – 7,5 tháng tuổi nếu heo hậu bị mắc bệnh sẽ ảnh hưởng đến tuổi động dục
Stress là yếu tố khá quan trọng ảnh hưởng đến thành thục sinh dục của heo nái
Tuy nhiên, do sự thành thục về tầm vóc thường diễn ra chậm hơn sự thành
Trang 2312
thục về giới tính nên khi heo thành thục về giới tính, cơ thể vẫn còn tiếp tục phát triển Nếu phối giống cho heo cái ngay ở lần lên giống đầu tiên thì khi heo có chửa dưỡng chất sẽ được ưu tiên cho sự phát triển của bào thai dẫn đến thiếu dinh dưỡng cho cơ thể mẹ, và sự phát triển của bào thai cũng bị ảnh hưởng Kết quả là mẹ yếu, con nhỏ và yếu, thời gian sử dụng của con cái bị rút ngắn Ngoài ra, khung xương chậu chưa phát triển hoàn toàn, còn nhỏ và hẹp dẫn đến đẻ khó, số trứng rụng trong lần lên giống đầu tiên ít
2.2.1.2 Chu kì động dục
Sự thay đổi về mặt sinh lý và có tính chu kì xảy ra trên thú cái khi đã thành thục Toàn bộ tiến trình sinh lý bắt đầu từ lần lên giống này đến lần lên giống kế tiếp gọi là chu kì lên giống Ở heo, chu kì lên giống kéo dài từ 19-23 ngày (trung bình là 21 ngày)
Trang 24Chu kì lên giống chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: dinh dưỡng, nhiệt độ, pheromone, tình trạng sức khỏe… ngoài ra khi thú mắc bệnh đường sinh dục hay viêm nhiễm cũng có thể kéo dài thời gian lên giống trở lại
2.2.2 Sự mang thai
Heo cái sau khi phối giống 21 ngày mà không có dấu hiệu động dục trở lại là xem như đã đậu thai Thời gian mang thai trung bình là 114 ngày (có thể dao động vài ngày)
Người ta chia thai kì thành 3 giai đoạn dựa vào sự phát triển của thai:
+ Giai đoạn 1 (16 ngày đầu sau khi phối): trứng được thụ tinh, hình thành hợp tử, các hợp tử di chuyển từ ống dẫn trứng tới sừng tử cung Đây là giai đoạn rất quan trọng, ảnh hưởng đến số con sinh ra Các trường hợp chết phôi thường xảy ra trong giai đoạn này
+ Giai đoạn 2 (từ 17 ngày – 32 ngày sau khi phối): nhau thai được hình thành cùng với sự hình thành của khung xương và các cơ quan
+ Giai đoạn 3 (từ 33 ngày đến 114 ngày): các cơ quan đã hình thành tiếp tục phát triển nhanh về kích thước và khối lượng, bộ xương được cốt hóa, phát triển răng, da và lông Đây là giai đoạn tăng nhanh về trọng lượng của thai, ảnh hưởng trực tiếp đến trọng lượng sơ sinh của heo con
2.2.3 Sự sinh đẻ
Heo nái chuẩn bị sinh thường có các biểu hiện đi đứng không yên, bồn chồn,
lo lắng, kêu la Xung quanh âm hộ sưng đỏ, tiết dịch nhầy, bầu vú căng sữa Heo nái thường sinh vào ban đêm và sinh nhiều con trong một lứa đẻ
Theo Nguyễn Văn Thành (2004), quá trình sinh đẻ diễn ra gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị: cơ quan sinh dục sung huyết mô liên kết nhũ huyết
và đường sinh dục cương lên, âm hộ trương mọng, các dây chằng giãn ra Các biến đổi này là tác động của estrogen Heo mẹ sẽ có những biểu hiện bồn chồn kêu la làm ổ
Trang 2514
Giai đoạn giãn tử cung: sự co thắt bắt đầu từ phần sừng tử cung, co thắt đẩy bào thai về hướng tử cung và đi vào âm đạo, đến âm môn Tại đây bọc nước
ối vỡ ra thời gian này kéo dài nhiều giờ
Giai đoạn trục thai: sự co thắt cơ tử cung và thành bụng vẫn tiếp tục cùng
sự hỗ trợ của oxytoxin làm giãn các dây chằng, nới rộng xương chậu và đường sinh dục để đẩy bào thai ra ngoài
Theo Trần Thị Dân (2003), sự sinh đẻ thường chia làm 3 giai đoạn:
Tử cung co bóp để đẩy thai và bọc nước đến cổ tử cung giai đoạn này kéo dài từ 2- 12 giờ
Giai đoạn trục bào thai khi cổ tử cung giãn ra Một phần bào thai đi qua
cổ tử cung vào âm đạo, đồng thời một hoặc cả hai bọc nước vỡ ra khơi mào cho phản xạ làm các cơ của thành bụng co bóp Phản xạ co cơ bụng còn do sự hiện diện của một phần thân thể thú con trong âm đạo và trong âm môn thú mẹ Co bóp của tử cung và của thành bụng đẩy bào thai ra ngoài
Giai đoạn trục nhau thai, thường xảy ra ngay khi sinh Thông thường nhau thai được bài xuất ra ngoài một khoảng thời gian ngắn sau khi sinh nhưng
có thể đi kèm thú con hoặc trong vài trường hợp lại được tống ra ngoài bào thai
2.2.4 Sự tiết sữa
Trước khi sinh 15 phút, heo nái có biểu hiện tiết sữa Vì thế, sau khi heo con được sinh ra thì heo nái đã có khả năng tiết sữa cho heo con bú liền Trong giai đoạn mang thai, sự phát triển của bầu vú cũng như quá trình tạo sữa đã được xảy ra trước Tất cả quá trình tạo sữa và tiết sữa đều được sự điều tiết của thần kinh và thể dịch Các yếu tố tham gia vào sự khơi mào và duy trì tiết sữa bao gồm:
Trang 26(Nguồn: Trần Thị Dân, 2002)
Sơ đồ 2.3 Cơ chế sự phân tiết sữa
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân tiết sữa bao gồm: tiểu khí hậu, chuồng nuôi, dinh dưỡng, tuổi, thể trạng, bệnh tật và các yếu tố dẫn đến xáo trộn, rối loạn nội tiết
2.3 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ HEO CON
Khi heo con còn nằm trong bụng mẹ, nguồn dinh dưỡng chủ yếu được cung cấp qua tĩnh mạch rốn và có chọn lọc, do đó bộ máy tiêu hoá chưa hoạt động Khi được sinh ra thì nguồn dinh dưỡng từ trên không còn nữa, mà thay thế là nguồn sữa
mẹ và thức ăn Vì vậy, bộ máy tiêu hoá bắt đầu hoạt động để đáp ứng nhu cầu phát
Não thùy sau
Não thùy trước
STH Prolactin Oxytocin
LH Thể vàng
Prolactin
Estrogen Progesterone Glucocorticoid
Sự sinh sữa Sự hình thành và phát triển hệ
thống ống dẫn và nang tuyến
Trang 2716
Theo Nguyễn Như Pho (1998), trên heo sơ sinh khả năng tiết HCl rất ít, chỉ
đủ để hoạt hoá men pepsinogen thành pepsin Lượng HCl tự do quá ít không đủ sức
tăng độ toan của dạ dày, do đó vi khuẩn bất lợi theo đường miệng có điều kiện sống sót ở dạ dày, vào ruột non phát triển và gây tiêu chảy
Theo Phùng Ứng Lân (1986), còn có sự giảm tiết acid trong dịch vị, thức ăn liên kết với HCl làm cho lượng HCl tự do rất ít
Sự phân tiết các men tiêu hoá ở dạ dày và ruột non kém, chỉ đủ sức tiêu hoá
các loại thức ăn đơn giản như sữa Men saccharase chỉ hoạt động mạnh sau hai tuần, men maltase chỉ được phân tiết đầy đủ sau bốn tuần
Về thần kinh, những ngày đầu hoạt động có tính phản xạ, các dịch tiêu hoá chỉ được tiết ra khi thức ăn tác động trực tiếp lên thành dạ dày Các phản xạ bảo vệ
cơ thể trước môi trường xung quanh cũng là các phản xạ không điều kiện do lớp vỏ đại não, trung tâm điều tiết nhiệt chưa phát triển
Ở heo con sơ sinh, bộ máy tiêu hoá chưa hoàn chỉnh Theo Đào Trọng Đạt (1996), hệ vi sinh vật đường ruột phát triển chưa đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa
đủ khả năng kháng lại vi khuẩn có hại nên heo rất dễ bị nhiễm bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá
2.4 MỘT SỐ CHỨNG/BỆNH TRÊN HEO NÁI ĐẺ VÀ NÁI NUÔI CON
2.4.1 Viêm tử cung
Nguyễn Văn Thành (2002), viêm là phản ứng của cơ thể khi bị tổn thương Viêm có nhiều biểu hiện, triệu chứng sưng, nóng, đỏ, đau và rối loạn chức năng của cơ quan bị viêm Đặc điểm của viêm tử cung là dịch viêm tiết ra nhiều và được chia thành các dạng sau:
Dạng nhờn: là thể viêm nhẹ thường xuất hiện sau khi sinh 1 - 3 ngày, niêm mạc tử cung bị viêm nhẹ, tử cung tiết nhiều dịch nhờn hoặc đục, lợn cợn có mùi tanh Thường sau vài ngày, dịch tiết giảm dần và đặc lại, heo nái không sốt hoặc sốt nhẹ, nhiệt độ cơ thể dao động từ 39,5 - 400C, heo nái vẫn cho con bú bình thường Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sức khỏe của nái, đàn heo con vẫn phát triển bình thường
Trang 28Nhưng nếu nuôi dưỡng chăm sóc không tốt, tình trạng viêm sẽ chuyển từ dạng viêm nhờn sang dạng viêm tử cung có mủ Dịch viêm của heo mẹ rơi trên nền chuồng, heo con liếm phải dẫn đến tiêu chảy (tỷ lệ tiêu chảy có thể tăng cao), từ đó ảnh hưởng đến tăng trọng và sức sống của heo con
Dạng viêm mủ: là dạng viêm nặng, thường xuất hiện ở thú chịu đựng kém Số lượng vi sinh vật nhiễm tăng cao, cũng có thể do viêm dạng nhờn kế phát Heo nái thường sốt 40 - 410C, tăng hô hấp, khát nước, kém ăn và thường nằm nhiều Nái rất mệt, ít cho con bú và rất hay đè con Khoảng 8 - 10 giờ sau khi có triệu chứng trên, từ trong tử cung mủ sẽ chảy ra, lúc đầu dịch viêm lỏng, trắng đục sau dần dần chuyển sang nhày đặc, có khi lẫn máu, mùi rất hôi tanh và thường kéo dài 3 - 4 ngày Sau đó, xuất hiện mủ đặc, dính vào âm hộ, thể viêm này nếu không can thiệp kịp thời sẽ chuyển sang thể viêm rất nặng Heo kém ăn hoặc không ăn, sản lượng sữa giảm, thường kéo dài 2 - 4 ngày
Dạng viêm mủ lẫn máu: phản ứng viêm làm tổn thương mao mạch gây chảy máu, sốt ở nhiệt độ cao 40 – 41 0C, không ăn kéo dài, sản lượng sữa giảm hoặc mất hẳn, tăng tần số hô hấp, khát nước Heo nái mệt mỏi hay nằm, kém phản ứng với tác động bên ngoài, đôi khi đè cả con Heo nái có thể chết do nhiễm trùng máu, dịch viêm
có mùi rất tanh
2.4.2 Viêm vú
Theo Phùng Thị Văn (2004), nguyên nhân viêm vú do kế phát viêm tử cung, sót nhau Cơ thể bị nhiễm trùng huyết, do nhiễm trùng từ ngoài vào qua núm vú gây viêm Do nái ăn nhiều chất đạm, khi đẻ nhiều sữa con bú không hết, sữa tích lại căng cứng gây viêm hoặc chỉ cho con bú một bên, hàng vú bên kia sữa bị tích tụ gây viêm
Theo Nguyễn Như Pho (1995), dạng viêm thường gặp nhất là viêm có mủ Nguyên nhân gây viêm mủ thông thường nhất là trầy núm vú do sàn, nền chuồng bị nhám, vi trùng xâm nhập vào tuyến sữa Hai loại vi trùng gây bệnh chính là
Staphylococcus aureus và Streptococcus agalactiae Cácnguyên nhân khác gây viêm
vú như số con quá ít, không bú hết lượng sữa sản xuất, kế phát bệnh viêm tử cung dạng mủ, hoặc do kỹ thuật cạn sữa không hợp lý trong trường hợp cai sữa sớm
Trang 2918
Nếu nguyên nhân do chấn thương cơ học hoặc heo con bú không hết sữa, bệnh viêm vú chỉ xuất hiện trên một vài bầu vú Trường hợp kế phát viêm tử cung hoặc cai sữa không hợp lý, viêm có thể nhiều bầu vú hoặc có khi toàn bộ vú viêm Triệu chứng biểu hiện rõ tại bầu vú viêm với đặc điểm bầu vú căng cứng, nóng đỏ, có nhiều biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu, sau 1 - 2 ngày có mủ Tùy số lượng vú bị viêm, nái sẽ có biểu hiện khác nhau Trong trường hợp chỉ vài bầu vú viêm, nái sốt nhẹ, ăn ít, lượng sữa giảm, nái ít cho con bú
Nếu nhiều bầu vú hoặc toàn bộ bầu vú viêm, nái sốt cao, bỏ ăn Nếu được điều trị hợp lý, bệnh sẽ khỏi sau 3 - 4 ngày, việc điều trị không hợp lý sẽ làm xơ hóa và teo bầu vú, sản lượng sữa ở các kỳ sữa sau sẽ giảm
2.4.3 Sốt
Nếu như phản ứng viêm được coi là phản ứng cục bộ đối với thương tích, thì phản ứng sốt là phản ứng toàn bộ của cơ thể để đối phó lại với mầm bệnh (Nguyễn Như Pho, 2000)
Theo Nguyễn Văn Thành và Đỗ Hiếu Liêm (1998), sốt là một hiện tượng sinh học biểu hiện tình trạng của cơ thể khi bị rối loạn giữa hai quá trình sinh nhiệt và thải nhiệt, hiện tượng sốt được ghi nhận khi thân nhiệt gia tăng ≥ 1 0C và không trở lại hằng
số sinh lý bình thường Đồng thời, phản ứng sốt còn biểu hiện sự đề kháng của cơ thể đối với các yếu tố có hại thường là do tác nhân từ bên ngoài như sự nhiễm khuẩn, chấn thương cơ học Ngoài ra, sốt còn là phản ứng phản vệ của cơ thể động vật, thể hiện sự
đề kháng lại đối với các tác nhân gây bệnh Sốt có thể tạo ra những điểm lợi và gây ra những biểu hiện xấu cho cơ thể
Điểm lợi: tăng cường các hệ thống phòng vệ của cơ thể, tăng các phản ứng chuyển hóa, tăng sự hoạt động của gan trong việc loại thải và hóa giải độc chất Biểu hiện xấu: trạng thái cơ thể bị suy yếu, giảm trọng, khả năng sản suất giảm Thần kinh bị kích thích nên mệt mỏi lười vận động, bài tiết mồ hôi tăng đưa đến việc thiếu hụt chất điện giải Rối loạn cân bằng hệ thống đệm trong mô bào, trong máu do các sản phẩm biến dưỡng như thể ketone
Trang 30Theo Nguyễn Văn Khanh (2004), các nguyên nhân gây sôt gồm:
Do nhiễm khuẩn: là một nguyên nhân phổ biến nhất, phần lớn các bệnh nhiễm khuẩn và nhiễm virus đều có sốt Trong trường hợp nhiễm khuẩn thì chủ yếu là độc tố của vi khuẩn tác động lên trung tâm điều hòa nhiệt
Không do nhiễm khuẩn có nhiều loại như:
Protid lạ: có hai loại protid lạ từ ngoài đưa vào như đưa các protid lạ gây sốt để điều trị bệnh, còn lại protid nội sinh do sản phẩm hủy hoại đạm của cơ thể như xuất huyết nội, hoại tử tổ chức (bỏng, gãy xương, dung huyết, hủy hoại bạch cầu)
Muối: có thể gây sốt như tiêm muối vào dưới da hay bắp thịt đều gây sốt, có lẽ
do muối làm hủy hoại mô và gây sốt
Thuốc: một số thuốc có tác dụng kích thích sinh nhiệt như: thyroxin, số khác lại có tác dụng ức chế thải nhiệt như: cafein, adrenalin, phenamin…
Thần kinh: sốt do tổn thương hệ thần kinh như u não, chảy máu não Mặc dù được phân loại thành 2 nhóm nguyên nhân như trên, nhưng trong thực tế thì các nguyên nhân gây sốt thường phối hợp với nhau Chẳng hạn, vi khuẩn là yếu tố bên ngoài thì làmhủy hoại tổ chức lại tạo ra các protid nội sinh Cả hai đều làm rối loạn trung tâm điềuhòa thân nhiệt và gây sốt.Sự hiện diện triệu chứng bệnh lý trên cá thể động vật rất đa dạng đối với hiện tượng sốt Thú thường có biểu hiện ủ rũ, kém ăn, bỏ
ăn, mệt mỏi, run, tăng tuần hoàn máu, nhịp tim tăng, có thể gây ra tình trạng suy tim hoặc trụy tim, gây chết cấp tính Thú thở sâu, ức chế sự tiết dịch tiêu hóa gây ra tình trạng rối loạn tiêu hóa, táo bón Hệ tiết niệu rối loạn có biểu hiện tiểu ít, nước tiểu có
chất nhầy, có thể có những cặn bệnh lý
2.4.4 Bại liệt sau khi sinh
Bệnh thường xảy ra đột ngột, heo nái sau khi sinh trong vòng 3 – 5 ngày đầu đến trên một tháng hay sau khi sảy thai Heo bệnh thường thể hiện thể thần kinh: run rẩy, co giật, rồi bốn chân mất cảm giác và liệt hẳn
Theo Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2002): bại liệt có thể do thiếu canxi trong máu một cách đột ngột ở nái mới đẻ Trong giai đoạn mang thai, nhất là giai đoạn cuối, con vật không được cung cấp đầy đủ các muối phosphate canxi mà
Trang 3120
giai đoạn này thai lại phát triển nhanh, bộ xương cần một lượng lớn canxi sau khi
đẻ, gia súc cái lại cho nhiều sữa, trong đó có nhiều muối canxi giảm xuống đột ngột trong máu gây ra bệnh bại liệt của nái sau khi đẻ
Theo Nguyễn Xuân Bình (2002), bại liệt sau khi sinh có thể:
Do trong trường hợp đẻ khó phải dùng tay can thiệp, đưa tay vào trong tử cung không đúng kỹ thuật gây tổn thương dây thần kinh hông lớn Dây thần kinh này chỉ đạo sự vận động của hai chi sau Vì vậy khi tổn thương sẽ dẫn tới bại liệt
Do khẩu phần thiếu canxi và phospho hoặc thiếu sự vận động dưới ánh sáng mặt trời, thiểu năng tuyến giáp trạng nên hàm lượng canxi huyết giảm và phospho tăng trong máu làm mất cân bằng trong cấu trúc của xương, xương mềm dẫn đến bại liệt
Cường năng tuyến giáp cũng gây mất cân đối hàm lượng canxi, phospho trong máu cũng dẫn tới thiếu các khoáng chất này trên heo mẹ Trong khi đó, cơ thể heo mẹ lúc nào cũng phải cung cấp một lượng canxi, phospho qua sữa để nuôi con
vì vậy lượng canxi, phospho trong xương bị thiếu hụt, xương bị mềm, không giữ được trọng lượng cơ thể nên bị bại liệt
Triệu chứng: từ khi bắt đầu có dấu hiệu lâm sàng đầu tiên đến khi xuất hiện các triệu chứng điển hình không thể quá 12 giờ Con vật ủ rủ và hay bồn chồn, mắt
lờ đờ không muốn đi lại chân sau lảo đảo, đứng không vững, run rẩy, các bắp thịt run, co giật sau đó con vật thở mạnh, chảy nước dãi,không đi lại được nếu bị nhẹ.Khi heo đã nằm liệt, thân nhiệt giảm hơn bình thường (35 ºC – 37 ºC), đầu tai, bốn chân lạnh giá cứng đơ trường hợp nặng con vật có thể chết sau vài giờ khi có