Chu kỳ sinh dục của bò được điều khiển bởi hệ thống thần kinh thể dịch bao gồm hệ thống thần kinh và các kích thích tố sinh dục dựa trên mối quan hệ giữa vùng dưới đồi, tuyến yên và buồn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
**************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT TỶ LỆ LÊN GIỐNG VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ HIỆN TƯỢNG CHẬM ĐỘNG DỤC TRÊN BÒ BRAHMAN
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN LÊ TRUNG
Ngành : Công nghệ sản xuất thức ăn chăn nuôi Niên khoá : 2008 - 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
**************
NGUYỄN LÊ TRUNG
KHẢO SÁT TỶ LỆ LÊN GIỐNG VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ HIỆN TƯỢNG CHẬM ĐỘNG DỤC TRÊN BÒ BRAHMAN
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư ngành chăn nuôi
Giáo viên hướng dẫn
TS NGUYỄN THANH BÌNH Th.S PHÍ NHƯ LIỄU
Tháng 08/2012
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ tên sinh viên thực tập: Nguyễn Lê Trung
Tên luận văn: “Khảo sát tỷ lệ lên giống và biện pháp xử lý hiện tượng chậm động dục trên bò Brahman”
Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa Chăn Nuôi Thú Y ngày 16 và 17 tháng 08 năm 2012
Giáo viên hướng dẫn
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Gửi lòng biết ơn sâu sắc đến!
Ba Mẹ và các anh chị đã nuôi dạy, không quản khó khăn gian khổ để con có
được ngày hôm nay
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Bình và Thạc sĩ Phí Như Liễu đã tận tình hướng dẫn,
dạy bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Chân thành cảm ơn!
Ban Giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh cùng quý Thầy
Cô Khoa Chăn Nuôi Thú Y đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Ban Giám đốc cùng các cô chú, anh chị công nhân kỹ thuật Trung tâm
Nghiên cứu và Huấn luyện Chăn nuôi gia súc lớn đã hết lòng tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ cho tôi trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Không quên!
Tập thể lớp DH08TA và các anh chị, các bạn ngoài lớp đã động viên, giúp
đỡ cùng chia sẽ niềm vui và nỗi buồn trong cuộc sống cũng như trong thời gian học tập vừa qua
Trang 5- Qua thời gian thực hiện đề tài chúng tôi ghi nhận được trong 70 bò Brahman trong giai đoạn sinh sản có 15 bò lên giống Tỷ lệ lên giống chung của bò tại Trung tâm là 21,43%
+ Tỷ lệ lên giống của bò Brahman sinh sản theo nhóm tuổi, bò ở độ tuổi từ
39 - 40 tháng tuổi chiếm tỷ lệ thấp 4,76% Bò từ 41 - 42 tháng tuổi có tỷ lệ lên giống cao nhất với 31,43%, và bò từ 43 - 44 tháng tuổi có tỷ lệ lên giống là 21,43%
+ Tỷ lệ lên giống của bò Brahman sinh sản theo lứa đẻ thì bò đã sinh sản 2 lứa chiếm tỷ lệ cao hơn với 27,27% so với bò sinh sản ở 1 lứa (18,75%)
+ Tỷ lệ đậu thai ở lần phối đầu khá cao với 80%, bò 2 lần phối đậu chiếm 13,33% và có tỷ lệ đậu thai thấp nhất là bò có 3 lần phối chỉ 6,67%
- Số bò có biểu hiện động dục đứng yên để con khác nhảy; nhảy lên lưng con khác, âm hộ phù nề, ướt niêm mạc hồng có tỷ lệ rất cao (100% và 93,33%) Tuy nhiên, khi động dục bò Brahman rất ít kêu rống (20%) và tỷ lệ bỏ ăn chỉ có 33,33%
- Hiệu quả điều trị bò Brahman chậm động dục bằng phương pháp đặt vòng PRID tại Trung tâm là 85,45% Sau khi rút vòng PRID số bò động dục lại tập trung chủ yếu là từ 48 - 72 giờ sau (chiếm 61,70%) và thấp nhất ở thời điểm trên 96 giờ
Trang 6MỤC LỤC
TRANG TỰA i
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ii
LỜI CẢM TẠ iii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ ix
DANH SÁCH CÁC HÌNH x
Chương 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU 2
1.3 YÊU CẦU 2
Chương 2: TỔNG QUAN 3
2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NƠI KHẢO SÁT 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Ngành nghề và chức năng 3
2.1.3 Giới thiệu giống bò Brahman tại nơi khảo sát 4
2.1.4 Chuồng trại và chăm sóc nuôi dưỡng 5
2.1.5 Công tác vệ sinh thú y 5
2.2 CẤU TẠO CHÍNH CƠ QUAN SINH DỤC BÒ CÁI 7
2.2.1 Âm hộ 7
2.2.2 Âm đạo 7
2.2.3 Cổ tử cung 8
2.2.4 Tử cung 8
2.2.5 Ống dẫn trứng 8
2.2.6 Buồng trứng 8
Trang 72.3 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH SẢN BÒ CÁI 8
2.3.1 Cơ chế điều hòa quá trình động dục của bò cái 8
2.3.2 Chu kỳ động dục 11
2.3.2.1 Giai đoạn trước động dục 11
2.3.2.2 Giai đoạn động dục 13
2.3.2.3 Giai đoạn sau động dục 13
2.3.2.4 Giai đoạn nghỉ ngơi 14
2.3.3 Quá trình mang thai và sinh đẻ 15
2.4 YẾU TỐ GÂY RỐI LOẠN SINH SẢN TRÊN BÒ 16
2.4.1 Khí hậu 16
2.4.2 Chăm sóc nuôi dưỡng 17
2.4.2.1 Ảnh hưởng của năng lượng 17
2.4.2.2 Ảnh hưởng của khoáng 18
2.4.3 Bệnh tật 19
2.5 CÁC HORMONE ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH SINH SẢN Ở BÒ 19
2.5.1 Kích tố nang trứng FSH 19
2.5.2 Kích thích tố LH 20
2.5.3 Estrogen 20
2.5.4 Progesterone 21
2.5.5 Prostaglandin F2α (PGF2α ) 21
2.6 MỘT SỐ CHẾ PHẨM ĐẶT ÂM ĐẠO 22
2.6.1 PRID 22
2.6.2 CIDR 22
2.6.3 CUEMATE 22
2.7 BIỂU HIỆN ĐỘNG DỤC VÀ THỜI ĐIỂM PHỐI GIỐNG THÍCH HỢP 23
2.7.1 Biểu hiện động dục 23
2.7.2 Thời điểm phối giống thích hợp 23
Trang 82.8 LƯỢC DUYỆT CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 25
2.8.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 25
2.8.2 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 26
Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM 27
3.1.1 Thời gian 27
3.1.2 Địa điểm 27
3.2 VẬT LIỆU THÍ NGHIỆM 27
3.2.1 Dụng cụ và hóa chất 27
3.2.2 Đối tượng khảo sát 27
3.3 NỘI DUNG 28
3.3.1 Tỷ lệ lên giống của bò Brahman sinh sản 28
3.3.2 Xử lý hiện tượng chậm động dục bằng phương pháp đặt vòng PRID 30
3.3.3 Hiệu quả của việc điều trị trong thời gian thực hiện đề tài 31
3.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÍ SỐ LIỆU 31
3.4.1 Công thức tính 31
3.4.2 Xử lý số liệu 31
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 TỶ LỆ LÊN GIỐNG CỦA BÒ BRAHMAN SINH SẢN 32
4.1.1 Tỷ lệ lên giống của bò cái Brahman sinh sản theo nhóm tuổi 32
4.1.2 Tỷ lệ lên giống của bò Brahman sinh sản theo lứa đẻ 33
4.1.3 Tỷ lệ bò đậu thai theo số lần phối giống trên bò Brahman sinh sản 34
4.1.4 Biểu hiện động dục của bò Brahman sinh sản 36
4.2 XỬ LÝ HIỆN TƯỢNG CHẬM ĐỘNG DỤC TRÊN BÒ BRAHMAN SINH SẢN 39
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 KẾT LUẬN 42
5.2 ĐỀ NGHỊ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ABS = American Breeders Service
CIDR = Controlled Internal Drug Release
FRH = Follicle Releasing Hormone
FSH = Follicle Stimulating Hormone
GnRH = Gonadotropin Releasing Hormone
PRH = Prolactin Releasing Hormone
PRID = Progesterone Releasing Intravaginal Device PRL = Prolactin
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1: Quy trình sử dụng vòng PRID 30
Bảng 4.1: Tỷ lệ lên giống của bò Brahman sinh sản theo nhóm tuổi 32
Bảng 4.2: Tỷ lệ lên giống của bò Brahman sinh sản theo lứa đẻ 33
Bảng 4.3: Tỷ lệ bò đậu thai theo số lần phối giống trên bò Brahman sinh sản 34
Bảng 4.4: Các biểu hiện chủ yếu của bò khi động dục (n=15) 36
Bảng 4.5: Phân bố thời điểm bò động dục lại sau khi xử lý bằng vòng PRID 40
Biểu đồ 2.1: Thay đổi hàm lượng các hormone trong chu kỳ động dục của bò 14
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1: Bò đực Brahman đang nuôi tại Trung tâm 4
Hình 2.2: Nhà chứa phân và thức ăn thừa 6
Hình 2.3: Cơ quan sinh sản bò cái 7
Hình 2.4: Cơ chế điều hòa chu kỳ động dục 9
Hình 2.5: Sự biến đổi hormone sinh dục trước và sau pha chịu đực 12
Hình 3.1: Đực thí tình phát hiện bò lên giống 29
Hình 4.1: Bò Brahman sinh sản có biểu hiện động dục tiết dịch nhờn (mũi tên) 37
Hình 4.2: Chuẩn bị bò trước khi đặt vòng PRID 39
Trang 12Trong những năm 2002 – 2005, giống bò Brahman Úc đã được nhập về và bước đầu được nghiên cứu tại Bình Dương, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Tuyên Quang và Bình Định Qua những năm đầu nuôi dưỡng, giống bò này đã khẳng định được một số ưu điểm như khả năng thích nghi khí hậu tốt, khả năng chịu chăn thả
và gặm cỏ cao… Tuy nhiên các vấn đề sinh sản còn những hạn chế nhất định, tuổi động dục lần đầu cao, bò chậm phát dục, thời gian động dục ngắn, khoảng cách hai lứa đẻ dài (Đinh Văn Cải, 2005)
Trang 13Trong điều kiện nuôi dưỡng tại Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Chăn nuôi gia súc lớn, khả năng tăng đàn chậm, bò có những biểu hiện chậm động dục làm ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển đàn và kinh tế Trung tâm Chính vì thế, được sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi Thú Y Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
và Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Chăn nuôi gia súc lớn, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thanh Bình và Th.S Phí Như Liễu, chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài: “Khảo sát tỷ lệ lên giống và biện pháp xử lý hiện tượng chậm động dục trên bò Brahman”
1.2 MỤC TIÊU
Nhằm đánh giá khả năng lên giống của đàn bò Brahman trong giai đoạn sinh sản Từ đó áp dụng một số biện pháp xử lý chậm động dục để cải thiện tình trạng chậm sinh trên giống bò thịt Brahman
1.3 YÊU CẦU
- Đánh giá tỷ lệ lên giống của đàn bò Brahman sinh sản
- Phát hiện hiện tượng chậm động dục và xử lý hiện tượng chậm động dục bằng vòng PRID
- Ghi nhận hiệu quả của việc điều trị trong thời gian thực hiện đề tài
Trang 14Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NƠI KHẢO SÁT
2.1.1 Vị trí địa lý
Trung Tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Chăn nuôi gia súc lớn thuộc ấp Cầu Sắt, xã Lai Hưng, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, thuộc Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam, nằm cạnh quốc lộ 13 Các vị trí tiếp giáp xung quanh như sau:
Phía Đông giáp huyện Tân Uyên và huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Phía Tây giáp huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương
Phía Bắc giáp huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
Phía Nam giáp thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
2.1.2 Ngành nghề và chức năng
Nghiên cứu thực nghiệm và chuyển giao công nghệ về gia súc lớn (động vật nhai lại, cây thức ăn và đồng cỏ) Giữ và nhân giống thuần, giống nhập và giống lai gia súc lớn Huấn luyện kỹ thuật viên và nông dân về kỹ thuật chăn nuôi gia súc lớn, trồng và chăm sóc đồng cỏ Thường xuyên mở các lớp huấn luyện kỹ năng chăn nuôi, phối giống Xây dựng mô hình, chuyển giao công nghệ Sản xuất và cung cấp giống gia súc lớn, giống cỏ phục vụ cho các thành phần kinh tế
Trung tâm có 185 ha đất, trong đó 15.000 m2 làm chuồng trại cho gia súc, phần lớn diện tích được trồng cỏ làm thức ăn cho bò (đồng cỏ chăn thả và đồng cỏ cắt), một phần dùng làm văn phòng cho ban giám đốc và cán bộ thú y
Trang 152.1.3 Giới thiệu giống bò Brahman tại nơi khảo sát
Giống bò Brahman được nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi gia súc lớn là giống bò Brahman đỏ được nhập từ Úc và nuôi nhân thuần, lai tạo từ bò cái lai Sind với tinh bò đực Brahman thuần nhập từ nước ngoài
Ngoại hình có sắc lông đỏ sẫm, thân hình chắc khỏe, hệ cơ bắp phát triển, có
u cao, yếm thõng, da mền, thịt săn và tai to dài cụp xuống Đặc điểm sản xuất thịt vượt trội so với các giống bò lai Sind Ưu điểm nổi bật của giống này là thích nghi rất tốt với môi trường nhiệt đới nóng ẩm, khả năng sử dụng thức ăn thô tốt và chịu gặm cỏ Bò cái có khả năng sinh sản tốt, đẻ dễ, rất ham con và có tuổi thọ kéo dài
Bò cái trưởng thành nặng 400- 450 kg, bò đực đạt 550- 650 kg, trọng lượng bê sơ sinh 20- 23 kg (Đinh Văn Cải, 2005)
Hình 2.1: Bò đực Brahman đang nuôi tại Trung tâm
Trang 162.1.4 Chuồng trại và chăm sóc nuôi dưỡng
Hệ thống chuồng trại của Trung tâm được chia thành 3 khu vực (A, B, C), chuồng trại được xây dựng tương đối hiện đại, nền bê tông, khung sắt, hai mái lợp tôn kẽm, hành lang cho ăn và đi lại ở giữa Các dãy chuồng được chia làm nhiều ngăn tiện cho việc chia nhóm gia súc Máng nước được thiết kế để bên ngoài mỗi ô chuồng, nguồn nước được sử dụng cho bò là từ giếng ngầm Mật độ nuôi mỗi chuồng có thể đáp ứng 100 bò trưởng thành Mỗi khu chuồng đều có các công trình
hỗ trợ tiện nghi như nhà điều hành của cán bộ quản lý và kỹ thuật, hệ thống nhà kho chứa thức ăn tinh, kho chứa thức ăn khô, hố ủ chua và các công trình phục vụ khác Khu A gồm đàn trâu Murrah và đàn Lai khác gồm 7 dãy chuồng độc lập nhau Khu B gồm 6 dãy chuồng hiện nay đang được bỏ trống và được thiết kế giống nhau Khu C gồm đàn bò Droughtmaster, Brahman, Lai Sind gồm 8 dãy chuồng Thức ăn thô vào mùa khô chủ yếu là rơm, cỏ khô, cỏ ủ chua và mùa mưa thì hoàn toàn là cỏ xanh Ngoài giờ chăn thả trên đồng, mỗi ngày bò được cho ăn thêm một lần thức ăn thô xanh vào lúc 16 giờ Trong mùa mưa nguồn thức ăn thô xanh cung cấp đủ cho toàn trại Tuy nhiên mùa khô, cỏ xanh không cung ứng đủ nên thường ưu tiên cho bê Thức ăn tinh chủ yếu là thức ăn hỗn hợp, được cho ăn vào lúc 10 giờ Thức ăn bổ sung là rỉ mật, ure và muối thường được hòa tan với nước và tưới lên cỏ, rơm khô
Bò được chăn thả hai lần, buổi sáng từ 7 giờ đến 10 giờ, buổi chiều từ 14 giờ đến 16 giờ Mục đích chủ yếu chăn thả ngoài đồng giúp thú vận động và tắm nắng
2.1.5 Công tác vệ sinh thú y
Chuồng bò được vệ sinh ngày một lần vào buổi sáng Phân và thức ăn thừa
được gom đưa về nhà chứa phân
Quy trình tiêm phòng được thực hiện đúng theo quy định của ngành thú y Các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như lở mồm long móng, tụ huyết trùng định kỳ tiêm 6 tháng 1 lần vào thời điểm giao mùa (tháng 4 và tháng 10)
Trang 17Hình 2.2: Nhà chứa phân và thức ăn thừa
Để đảm bảo vùng an toàn dịch bệnh, Trung tâm đã tổ chức một mạng lưới thú y
và bảo vệ chuyên trách kiểm tra vòng ngoài đối với các trường hợp xuất nhập con giống và các sản phẩm, phương tiện chăn nuôi ra vào khu vực Định kỳ 3 tháng 1 lần tổ chức tiêu độc sát trùng chuồng trại Khách tham quan trước khi vào trong khu vực trại phải được sự đồng ý của Ban Giám đốc và cũng hạn chế người ra vào trong khu vực chăn nuôi Công nhân mỗi khu vực chăn nuôi trong trại cũng không được qua lại lẫn nhau nhằm hạn chế khả năng mang mầm bệnh từ trại này sang trại khác
Trang 182.2 CẤU TẠO CHÍNH CƠ QUAN SINH DỤC BÒ CÁI
Cơ quan sinh dục bò cái từ ngoài vào trong gồm có âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng
Hình 2.3:Cơ quan sinh sản bò cái (Nguyễn Kim Cương, 2009)
Trang 192.2.3 Cổ tử cung
Là một tổ chức cứng khi sờ nắn có cảm giác giống sụn Dài khoảng 5 - 7 cm chia thành 3 - 4 nấc Là cửa ngăn cách âm đạo và tử cung Cổ tử cung luôn đóng, chỉ mở nhỏ khi bò lên giống và mở lớn khi bò sinh bê
2.2.6 Buồng trứng
Có hai buồng trứng hình trái xoan, khối lượng mỗi buồng khoảng 14 - 19g Buồng trứng sản sinh ra tế bào trứng và hai hormone sinh dục estrogen và progesterone Các hormone này được sản sinh dưới ảnh hưởng của những hormone khác tiết ra từ tuyến yên, chúng tham gia vào hoạt động sinh dục của con cái
2.3 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH SẢN BÒ CÁI
2.3.1 Cơ chế điều hòa quá trình động dục của bò cái
Gia súc sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển nhất định thì thành thục về sinh dục, có khả năng sinh sản Thời kỳ này cơ quan sinh dục sẽ có sự thay đổi Trứng phát triển, chín và rụng Âm hộ, âm đạo, tử cung xung huyết, các tuyến sinh dục tăng cường hoạt động, niêm dịch trong đường sinh dục được phân tiết, con cái
có phản xạ về tính Sự thay đổi có tính chu kỳ này được gọi là chu kỳ sinh dục
Trang 20Chu kỳ sinh dục của bò được điều khiển bởi hệ thống thần kinh thể dịch bao gồm hệ thống thần kinh và các kích thích tố sinh dục dựa trên mối quan hệ giữa vùng dưới đồi, tuyến yên và buồng trứng Các kích thích tố tham gia vào quá trình điều hòa sinh sản của bò cái có mối liên quan rất chặt chẽ với nhau, hoạt động của chúng theo cơ chế như sau: kích thích tố giải phóng kích dục tố Gonadotropin releasing hormone (GnRH) được tiết ra từ vùng dưới đồi (Hypothalamus), GnRH kích thích thùy trước tuyến yên tiết kích thích tố kích nang trứng phát triển follicle stimulating hormone (FSH) và kích thích tố gây rụng trứng và tạo hoàng thể luteinizing hormone (LH) Sau đó FSH và LH được tiết vào hệ tuần hoàn chung và được đưa đến buồng trứng, kích thích buồng trứng phân tiết estrogen, progesteron
và inhibin Đồng thời các hormone buồng trứng cũng ảnh hưởng đến việc tiết GnRH, FSH và LH thông qua cơ chế tác động ngược Progesterone chủ yếu tác động lên vùng dưới đồi để ức chế tiết GnRH, trong khi đó estrogen tác động lên thùy trước tuyến yên để điều tiết FSH và LH Inhibin chỉ kiểm soát (ức chế) việc tiết FSH (Nguyễn Xuân Trạch, 2003)
Hình 2.4: Cơ chế điều hòa chu kỳ động dục
(Chung Anh Dũng, 2002)
Trang 21Chu kỳ sinh dục của gia súc còn chịu sự tác động của các nhân tố nội tại và môi trường:
- Nhân tố nội tại: Khi gia súc đến tuổi thành thục về tính, buồng trứng đã có các nang noãn phát triển ở các giai đoạn khác nhau, trong cơ thể gia súc đã có sẵn một hàm lượng estrogen, tác động lên trung khu vỏ đại não và ảnh hưởng tới hạ tầng thị giác, tạo điều kiện cho sự xuất hiện và lan truyền các xung động thần kinh gây tiết GnRH theo chu kỳ Cũng thời gian này estrogen ảnh hưởng trực tiếp tới tuyến yên, làm tăng tốc độ mẫn cảm các tế bào hướng sinh dục của tuyến yên đối với GnRH
- Nhân tố môi trường: Ánh sáng, nhiệt độ, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng cũng tác động đến chu kỳ sinh dục của thú cái Đối với con cái, còn chịu tác động của con đực thông qua thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác tạo nên những kích thích mãnh liệt, kích thích lên vỏ đại não Vỏ đại não sau khi tiếp thu các kích thích của nhân tố bên trong và môi trường truyền xung động đến hạ tầng thị giác gây tiết các yếu tố giải phóng như follicle releasing hormone (FRH), luteinizing releasing hormone (LRH), prolactin releasing hormone (PRH)
FRH kích thích thùy trước tuyến yên tiết FSH làm nang noãn của buồng trứng phát triển Nang noãn phát triển, trứng chín, lượng estrogen tiết ra nhiều hơn, estrogen tác động lên các cơ quan sinh dục thứ cấp làm âm hộ sưng, xung huyết, tử cung dày lên, cong cứng, các tầng tuyến tử cung tăng cường phân tiết niêm dịch, đồng thời tác động lên trung tâm hạ tầng thị giác, vỏ đại não gây nên hiện tượng động dục
LRH kích thích thùy trước tuyến yên tiết ra hormone kích thích sinh hoàng thể LH, LH tác động lên buồng trứng, làm trứng chín muồi LH kết hợp với FSH làm nang noãn vỡ ra và gây hiện tượng rụng trứng Sau đó, tại vị trí trứng rụng trên buồng trứng sẽ hình thành hoàng thể
PRH kích thích thùy trước tuyến yên phân tiết LTH LTH tác động vào buồng
Trang 22Progesterone tác động lên tuyến yên ức chế tuyến yên phân tiết FSH, LH, quá trình động dục chấm dứt Progesterone tác động vào tử cung, làm tử cung dày lên tạo cho việc làm tổ của hợp tử lúc ban đầu Nếu con vật có thai, hoàng thể tồn tại suốt thời gian mang thai, nhằm bảo vệ an toàn cho thai phát triển Nếu gia súc không có thai hoàng thể sẽ tồn tại đến ngày thứ 15- 17 của chu kỳ sau đó teo dần Hàm lượng progesterone sẽ giảm dần và giảm đến một mức độ nhất định nó sẽ cùng với các nhân tố khác kích thích vỏ đại não, hạ tầng thị giác, tuyến yên Lúc này tuyến yên ngừng phân tiết LTH, tăng cường phân tiết FSH, chu kỳ mới lại tiếp tục hình thành
Tóm lại, hoạt động chu kỳ tính của bò cái chịu sự chi phối của các hormone FSH, LH và LTH trong đó FSH và LH đóng vai trò quan trọng FSH và LH tuy phân tiết riêng lẻ nhưng hai loại hormone này lại kết hợp chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau để đảm bảo tốt cho quá trình trứng chín và rụng trứng Hàm lượng hai loại hormone này không những là điều kiện cơ bản để gây rụng trứng, mà còn là điều kiện quan trọng để duy trì sự cân bằng giữa các hormone sinh dục estrogen và progesterone Từ đó tạo ra tính chu kỳ cho hoạt động sinh dục ở thú cái
2.3.2 Chu kỳ động dục
Sự rụng trứng có tính chất chu kỳ, mỗi lần rụng trứng được biểu hiện bằng hiện tượng động dục Khoảng cách từ lần động dục này đến lần động dục sau được gọi là chu kỳ động dục Chu kỳ động dục ở bò là 21 ngày và được chia làm 4 giai đoạn
2.3.2.1 Giai đoạn trước động dục
Giai đoạn này kéo dài từ 1 đến 2 ngày, khi hàm lượng progesterone giảm dần
do tác động của PGF2 hoàng thể thoái hóa, hàm lượng FSH tăng lên và kích thích các nang noãn phát triển, buồng trứng to hơn bình thường Lúc này, lượng estrogen được sản xuất tăng dần cùng với sự trưởng thành của các nang noãn kích thích sự phân tiết LH, FSH tại tuyến yên thông qua việc gia tăng phóng thích GnRH từ vùng dưới đồi xuống tuyến yên
Trang 23Estrogen làm thay đổi hoạt động sinh lý ở bò, các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng sinh, đường sinh dục sung huyết, nhu động sừng tử cung tăng cường, mạch quản trong màng nhầy tử cung cũng tăng lên, các dịch nhầy ở âm đạo nhiều, niêm dịch cổ tử cung tiết ra kích thích cổ tử cung hé mở, các tuyến ở đường sinh dục tăng cường hoạt động Giai đoạn này tính hưng phấn chưa tăng cao, dần dần nang noãn thành thục tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn, bộ phận sinh dục phù thũng, niêm dịch ở đường sinh dục chảy
ra nhiều, con vật bắt đầu có biểu hiện động dục
Hình 2.5: Sự biến đổi hormone sinh dục trước và sau pha chịu đực
Trang 242.3.2.2 Giai đoạn động dục
Giai đoạn này, estrogen ảnh hưởng lên hệ thống thần kinh trung ương gây ra các phản xạ tính dục mãnh liệt hơn Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc sung huyết, niêm dịch trong suốt từ âm đạo chảy ra nhiều Gia súc ở trạng thái không yên tĩnh, ăn uống giảm rõ rệt, kêu rống, phá chuồng, đứng ngẩn ngơ, nhảy lên lưng con khác hay để con khác nhảy lên lưng, thích gần con đực, xuất hiện các tư thế của phản xạ giao phối
Về nội tiết, giai đoạn này LH làm tăng tiết dịch nang và dẫn đến áp suất dịch nang đạt đỉnh cao FSH làm tăng tiết estrogen tạo phản xạ chịu đực Tỷ lệ FSH và
LH ảnh hưởng đến sự rụng trứng, tỷ lệ tối ưu xảy ra rụng trứng LH/FSH là 3/1 Nếu
tỷ lệ LH/FSH > 3/1, sẽ có hiện tượng động dục không rõ gọi là động dục thầm lặng nhưng vẫn có rụng trứng Nếu tỷ lệ LH/FSH < 3/1, bò cái có biểu hiện động dục nhưng không rụng trứng gọi là động dục giả (Phí Như Liễu, 2009)
Theo Trần Thị Dân (2001) giai đoạn động dục là thời kỳ chịu đực của thú cái,
do lượng estrogen trong máu quyết định Trứng rụng thời kỳ này hoặc ngay sau đó
Thời kỳ này chấm dứt lúc số nang noãn vỡ hết hay rụng hết
2.3.2.3 Giai đoạn sau động dục
Sau khi kết thúc động dục 10 - 12 giờ, trứng rụng và di chuyển đến sừng tử cung GnRH kích thích thùy trước tuyến yên tiết LH Dưới tác động của LH, hoàng thể được hình thành và phân tiết progesterone Progesterone tác động lên hệ thần kinh trung ương và tuyến yên, lên trung khu sinh dục làm thay đổi tính hưng phấn, kết thúc giai đoạn động dục Giai đoạn này sự tiết chất nhầy giảm, niêm mạc trong đường sinh dục như âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng cũng ngừng tăng sinh, Cổ tử cung cũng bắt đầu đóng lại Giai đoạn này kéo dài khoảng 3 - 4 ngày
Trang 25Động dục Động dục
Prostaglandin Thoái biến hoàng thể
Biểu đồ 2.1 Thay đổi hàm lượng các hormone trong chu kỳ động dục của bò
(Mugerwa, 1989, trích dẫn Phí Như Liễu, 2009)
2.3.2.4 Giai đoạn nghỉ ngơi
Giai đoạn này kéo dài từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 16 - 18 của chu kỳ động dục Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn Trên buồng trứng hoàng thể thành thục và tiết progesterone ảnh hưởng đến đường sinh dục Sự phân tiết progesterone với hàm lượng cao của hoàng thể ngăn cản sự phát triển của các nang noãn Progesterone ức chế sản xuất và tiết LH
và FSH bằng cách ngăn cản sự phóng thích các GnRH từ vùng dưới đồi xuống tuyến yên Đây là cơ chế phản hồi âm của progesterone Trong đường sinh dục, nội mạc tử cung dày lên, chất nhầy âm đạo trở nên ít và dính, cơ tử cung giãn nở
Nếu trứng không được thụ tinh, hoàng thể chỉ tồn tại trong vòng 12 - 13 ngày Sau đó hàm lượng progesterone tăng cao do hoàng thể tiết ra sẽ gây phân tiết
Trang 26canxi vào tế bào chất (Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2006) và co mạch
để giảm lưu lượng máu đến nuôi hoàng thể Hoàng thể thoái hóa làm giảm lượng progesterone được phân tiết, giải phóng ức chế ở vùng dưới đồi và tuyến yên, dẫn đến sự tiết FRH và FSH, kích thích các nang noãn mới phát triển và chuẩn bị cho bắt đầu cho một chu kỳ mới Nếu trứng được thụ tinh, cơ thể của thú sẽ có những thay đổi về mặt hình thái và nội tiết để bước vào thời kỳ mang thai và sinh đẻ
2.3.3 Quá trình mang thai và sinh đẻ
Sau khi trứng rụng, lớp bao noãn trên buồng trứng sẽ phát triển thành hoàng thể, hoàng thể được tiếp tục duy trì và phát triển khi trứng được thụ tinh Ở nửa thời
kỳ đầu có thai (với bò từ tháng thứ 1 đến tháng thứ 4 - 5) nhau thai được hình thành
và phát triển, tiết ra prolan B Chất này có tính chất giống như LH của thùy trước tuyến yên Nó kích thích hoàng thể phát triển và tăng tiết progesterone Nhau thai ngoài việc tiết prolan B, còn tiết ra progesterone và folliculin Hai hormone này tăng nhiều nên có tác dụng ức chế thùy trước tuyến yên không tiết ra gonado stimulin A Vì vậy trong buồng trứng không có quá trình phát triển, trưởng thành của nang noãn và không có hiện tượng rụng trứng trong suốt thời gian mang thai Progesterone làm giãn nở cơ tử cung và tăng sự phát triển lớp nội mạc tử cung để nuôi dưỡng phôi thai Progesterone của hoàng thể có vai trò duy trì bào thai, làm an thai trong 2/3 giai đoạn đầu của thai kỳ Giai đoạn sau, progesterone được sản xuất thêm bởi nhau thai và tuyến thượng thận
Progesterone trong 10 ngày đầu thai kỳ tăng rất nhanh, cao nhất vào ngày thứ
20 rồi hơi giảm ở tuần thứ 3 của thai kỳ Sau đó, progesterone ổn định trong suốt thời gian mang thai để ức chế chu kỳ động dục, nồng độ progesterone giảm dần trong 60 ngày chửa cuối và giảm mạnh đột ngột vài ngày trước khi đẻ Trong thời
kỳ bò mang thai, estrogen duy trì ở mức thấp, tăng dần vào 3 tuần cuối của thời kỳ mang thai và tăng cao nhất khi đẻ
Trang 27Dưới tác dụng của các kích thích tố, đặc biệt prostaglandin F2 giúp phát triển bào thai đến thời kỳ sinh đẻ Hàm lượng progesterone trong máu giảm dần nhưng hàm lượng estrogen trong máu lại dần tăng cao Tuyến thượng thận của bào thai cũng bắt đầu phân tiết corticosteroid, hàm lượng của chất này tăng lên và đi vào máu của thú mẹ Relaxin được phân tiết làm nới lỏng và mềm cổ tử cung, dây chằng xương chậu Hàm lượng estrogen trong máu của thú mẹ bắt đầu tăng lên từ giai đoạn 1/3 thời gian cuối của thai kỳ sẽ là yếu tố tác động cho corticosteroid kích thích tử cung tiết ra PGF2 có tác dụng phân hủy hoàng thể, làm cho progesterone trong máu giảm đi nhanh chóng, quá trình đẻ bắt đầu
Estrogen do nhau thai tiết ra có tác dụng gây ra những cơn co thắt tử cung nhẹ, làm kích thích cổ tử cung tiết ra oxytocin dưới tác động của thùy sau tuyến yên Khi hàm lượng estrogen do nhau thai tiết ra tăng cao và kích thích sự mẫn cảm của tử cung đối với oxytocin gây co bóp tử cung đẩy thai ra ngoài
2.4 YẾU TỐ GÂY RỐI LOẠN SINH SẢN TRÊN BÒ
2.4.1 Khí hậu
Nhiệt và ẩm độ là tác nhân gây stress đối với chức năng sinh sản của gia súc, gây rối loạn kích thích tố buồng trứng Khi bị stress, hàm lượng FSH trong huyết tương gia súc giảm thấp, hậu quả là các tế bào nang nhỏ FSH không đủ làm nang noãn chín, dịch nang ít, do đó estrogen của màng trong nang noãn cũng không đủ, nên gia súc không động dục bình thường Khi bị stress cũng ảnh hưởng đến phân tiết kích thích tố LH, lượng kích thích tố ít dẫn đến tế bào trứng chậm thành thục, noãn hoàng, dịch noãn và màng hạt hoạt động không bình thường Do đó tế bào trứng không thành thục mặc dù có thể trứng đã rụng và vào ống dẫn trứng, nhưng không có khả năng thụ thai
Các stress nhiệt dẫn đến tình trạng giảm khả năng hấp thu thức ăn làm bò chậm thành thục, kéo dài thời gian không động dục sau khi sinh và làm giảm năng suất sữa Ở điều kiện nhiệt độ cao sẽ dễ gây cho bò bị stress nhiệt, điều này có thể
Trang 28kiệt sức, gan nhiễm mỡ và viêm vú ở bò mẹ mới sinh cũng như các phản ứng ngược khi tiêm vaccine dẫn đến sẩy thai và chết Stress nhiệt cũng góp phần vào bệnh về móng có thể là do axít dạ cỏ (acidosis) hoặc tăng đào thải bicarbonate Những bò bị stress nhiệt có số lần lấy thức ăn ít và ăn vào lúc có nhiệt độ mát hơn trong ngày nhưng lượng thức ăn cho mỗi lần ăn nhiều hơn
Các stress nhiệt dẫn đến tình trạng giảm khả năng hấp thu thức ăn làm bò hậu
bị chậm thành thục, kéo dài thời gian không động dục sau khi sinh và làm giảm năng suất sữa Tỷ lệ bò đẻ thấp hơn 30% khi được gieo tinh trong những tháng nóng và cao hơn 50% khi được gieo ở những tháng lạnh Vào mùa hè nhiệt độ từ 30oC trở lên làm bò giảm tỷ lệ động dục, số phôi chết tăng, khi nhiệt độ trên 40oC đã làm gia tăng đáng kể khoảng cách lứa đẻ - thụ thai, giảm tỷ lệ thụ thai (Thatcher và cs, 1986, trích dẫn Phí Như Liễu, 2009)
2.4.2 Chăm sóc nuôi dưỡng
2.4.2.1 Ảnh hưởng của năng lượng
Năng lượng là yếu tố quan trọng và được quan tâm nhiều nhất Sự cung cấp dư
thừa năng lượng trong giai đoạn cạn sữa dẫn đến tình trạng gan tích mỡ, tổn hại gan Nó làm giảm khả năng hấp thụ thức ăn, dẫn đến tình trạng thiếu hụt năng lượng
ở giai đoạn sau khi đẻ của bò sữa, trong khi cơ thể ở giai đoạn này rất cần đủ năng lượng để sản xuất sữa và tái phục hồi các chức năng của cơ quan sinh sản Tình trạng trên cũng gây nên hiện tượng stress đối với tuyến thượng thận, vùng dưới đồi
và tuyến yên, làm giảm sự phân tiết các hormon như FSH, LH và hậu quả cuối cùng
là giảm chức năng của buồng trứng, động dục thầm lặng, trì hoãn rụng trứng, u nang và rối loạn sinh sản (Boisclair và cs, 1998, trích dẫn Phí Như Liễu, 2009)
Sự thiếu hụt năng lượng có ảnh hưởng quan trọng đối với khả năng sinh sản của bò Sự thiếu hụt này có thể dẫn đến tình trạng stress biến dưỡng, ketosis cận lâm sàng, tổn hại gan và hậu quả kéo theo là tăng tỷ lệ sót nhau, viêm nội mạc tử cung, tỷ lệ thụ thai kém ở chu kỳ kế tiếp (Weigelt et al, 1998; dẫn liệu của Đoàn Đức Vũ, 2000) Ảnh hưởng của sự thiếu hụt năng lượng còn gây nên những hậu quả