1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT XOAY DA TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP MẤT DA VÙNG ĐÙI TRÊN CHÓ THÍ NGHIỆM

64 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Da và những thụ thể cảm giác nằm trên lớp lông phủ chống lại những chất hóa học, sự bức xạ và khi kết hợp với lớp mỡ dưới da, tạo thành một lớp đệm chống lại những tổn thương cơ học, tạo

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y

****************

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT XOAY DA TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP MẤT DA VÙNG ĐÙI TRÊN CHÓ THÍ NGHIỆM

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN HUỆ THÀNH Lớp: DH07TY

Ngành: Thú Y

Niên khóa: 2007-2012

Tháng 8/2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y

****************

NGUYỄN HUỆ THÀNH

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT XOAY DA TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP MẤT DA VÙNG ĐÙI TRÊN CHÓ THÍ NGHIỆM

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ thú y

Giáo viên hướng dẫn

TS.LÊ QUANG THÔNG

Trang 3

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Họ và tên sinh viên thực tập: Nguyễn Huệ Thành

Tên luận văn: “Ứng dụng kỹ thuật xoay da trong các trường hợp mất da vùng đùi trên chó thí nghiệm”

Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến của hội đồng chấm thi tốt nghiệp, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp khoa Chăn Nuôi Thú Y ngày… tháng… năm 2012

Giáo viên hướng dẫn

TS Lê Quang Thông

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Con xin tỏ lòng biết ơn vô hạn đến cha mẹ và gia đình, những người đã hết lòng vì tương lai của con

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

Thầy Lê Quang Thông đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt thời gian thực

tập và hoàn thành khóa luận

Thành kính ghi ơn

Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm TP HCM

Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y cùng toàn thể Quý thầy cô đã tận tâm truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt thời gian học tập tại trường

Chân thành cảm ơn

Cô Vũ Ngọc Yến, bộ môn Cơ Thể-Ngoại Khoa

Quý thầy cô, anh chị ở bệnh xá thú y Đại học Nông Lâm TP HCM đã tận

tình hỗ trợ, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tốt nghiệp

Xin cảm ơn

Các bạn trong và ngoài lớp đã gắn bó chia sẻ vui buồn và giúp đỡ tôi trong

suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài

SV Nguyễn Huệ Thành

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Qua tiến hành giải phẫu trên 8 chó (5 chó thí nghiệm và 3 chó đối chứng) với mục đích khảo sát ứng dụng kỹ thuật xoay da để đóng kín vết thương vùng chi sau,chúng tôi ghi nhận kết quả như sau:

Tất cả thú thí nghiệm sau phẫu thuật đều lành vết thương

Thời gian lành vết thương của nhóm thú thí nghiệm là 10,2 ngày và ở nhóm thú đối chứng là 13,3 ngày

Thời gian đau của lô thú thí nghiệm phần lớn xảy ra nhiều ở 4 ngày đầu còn đối với lô thú đối chứng là 3 ngày Từ ngày thứ 11 trở đi hầu như thú không còn đau ở cả 2 lô thú

Tỷ lệ biến chứng trong phẫu thuật của lô thú thí nghiệm là 20% nhiều hơn so với ở lô thú đối chứng là 0%

Tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật của lô thú thí nghiệm là 20% ít hơn nhiều so với ở lô thú đối chứng 100%

Thời gian tiến hành phẫu thuật ở lô thú thí nghiệm là 139 phút nhiều hơn so với lô thú đối chứng là 70 phút

Chi phí cho ca phẫu thuật ở lô thú thí nghiệm là 157.000 đồng, còn đối với lô thú đối chứng là 104.000 đồng Chi phí giải quyết biến chứng ở lô thú thí nghiệm là 17.000 đồng, còn ở lô thú đối chứng là 64.000 đồng

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa i

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii

Lời cảm ơn iii

Tóm tắt luận văn iv

Mục lục v

Danh sách các bảng và biểu đồ viii

Danh sách các hình ix

Chương1LỜI MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích 2

1.3 Yêu cầu 2

Chương 2TỔNG QUAN 3

2.1 Một số đặc điểm sinh lý trên chó 3

2.1.1 Thân nhiệt (đo ở trực tràng) 3

2.1.2 Nhịp thở 3

2.1.3 Nhịp tim 3

2.1.4 Tuổi thành thục sinh dục và thời gian mang thai 3

2.1.5 Chu kì lên giống 3

2.1.6 Số con trong một lứa và tuổi cai sữa 3

2.2 Cấu tạo và đặc điểm của da chó 4

2.2.1 Chức năng của da 4

2.2.2 Cấu trúc và đặc điểm của da 4

2.2.3 Các phần phụ thuộc da 7

2.3 Cấu trúc và đặc điểm lớp dưới da 11

2.4 Hệ thống mạch máu nuôi da 12

2.5 Các đường căng của da trên chó 13

Trang 7

2.5.2 Biện pháp làm giảm sức căng da 14

2.6 Kim và chỉ may dùng trong may da 15

2.6.1 Kim may phẫu thuật 15

2.6.2 Chỉ may phẫu thuật 15

2.7 Các đường may da thông dụng 16

2.7.1 Những lưu ý khi thực hiện đường may 16

2.7.2 Những lưu ý khi thực hiện cột nút ở da 16

2.7.3 Một số đường may thông dụng 16

2.8 Phương pháp vô cảm 17

2.9 Các kỹ thuật may da trong những trường hợp mất da 17

2.9.1 Trường hợp khối u 17

2.9.2 Trường hợp khuyết tật có hình dạng bất thường 18

2.10 Phương pháp sử dụng vạt da có chứa động mạch vòng hông sâu để đóng kín vết thương 24

2.10.1 Vùng da chứa động mạch vòng hông sau nhánh lưng 25

2.10.2 Vùng da chứa động mạch vòng hông sâu nhánh bụng 25

2.11 Những lưu ý khi thực hiện phẫu thuật may da 27

2.12 Sự lành của vết thương 27

2.12.1 Giai đoạn viêm nhiễm (giai đoạn cầm máu) 27

2.12.2 Giai đoạn biểu mô hóa 28

2.12.3 Giai đoạn tăng sinh sợi 28

2.12.4 Giai đoạn trưởng thành 28

2.13 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lành của vết thương 29

2.14 Chăm sóc hậu phẫu 29

Chương 3NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

3.1 Thời gian và địa điểm 30

3.1.1 Thời gian thực hiện 30

3.1.2 Địa điểm 30

3.2 Đối tượng khảo sát 30

3.3 Vật liệu 30

Trang 8

3.3.1 Các dụng cụ ngoại khoa 30

3.3.2 Thuốc thú y và chất sát trùng 30

3.4 Nội dung nghiên cứu 31

3.5 Bố trí thí nghiệm 31

3.6 Chỉ tiêu khảo sát 31

3.7 Phương pháp thực hiện 31

3.7.1 Chuẩn bị thú trước phẫu thuật 31

3.7.2 Phương pháp phẫu thuật thú ở lô đối chứng 32

3.7.3 Phương pháp phẫu thuật thú ở lô thú thí nghiệm 34

3.8 Công thức tính 36

3.9 Phương pháp xử lý số liệu 37

Chương 4KẾT QUẢ THẢO LUẬN 38

4.1 Kết quả dựa vào bảng đánh giá tình trạng đau của thú sau phẫu thuật theo phương pháp Glasgow 38

4.1.1 So sánh tình trạng đau của các thú giữa thú thí nghiệm và thú đối chứng 38

4.2 Kết quả dựa vào việc kiểm tra sức khỏe của thú qua một số chỉ tiêu sinh lý 39

4.2.1 So sánh thân nhiệt, nhịp tim, nhịp hô hấp giữa thú thí nghiệm và đối chứng 39 4.3 Kết quả dựa vào tỷ lệ biến chứng trong và sau khi mổ 41

4.3.1 Tỷ lệ biến chứng trong khi mổ giữa thú thí nghiệm và thú đối chứng 41

4.3.2 Tỷ lệ biến chứng sau khi mổ giữa thú thí nghiệm và thú đối chứng 42

4.4 Kết quả dựa vào thời gian tiến hành phẫu thuật 43

4.5 Kết quả dựa vào thời gian lành của vết thương theo từng kỹ thuật may 43

4.6 Kết quả dựa vào chi phí ca phẫu thuật 44

Chương 5KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Đề nghị 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

PHỤ LỤC 1 48

PHỤ LỤC 2 51

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Trang

Bảng 4.1 Tình trạng đau giữa thú thí nghiệm và thú đối chứng 38  Bảng 4.2 Tỷ lệ biến chứng trong khi mổ giữa thú thí nghiệm và thú đối chứng 41  Bảng 4.3 Tỷ lệ biến chứng sau khi mổ giữa thú thí nghiệm và thú đối chứng 42  Bảng 4.4 Thời gian tiến hành phẫu thuật giữa lô thú thí nghiệm và lô thú đối chứng

Trang 10

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1 Diễn biến sự tạo da dày với lông và tuyến bã 6

Hình 2.2 Diễn biến tạo lông có tuyến bã đi kèm 8

Hình 2.3 Cấu trúc một nang lông ghép 9

Hình 2.4 Hệ thống mạch máu dưới da ở chó và mèo 12

Hình 2.5 Các đường căng da trên chó 13

Hình 2.6 Hai bờ vết thương được ép thử bằng tay trước khi may 14

Hình 2.7 Một số đường may thông dụng 17

Hình 2.8 Khuyết tật hình tròn được may lại theo đường thẳng 18

Hình 2.9 Khuyết tật hình tròn được chỉnh sửa tạo hình thoi 19

Hình 2.10 Khuyết tật hình tròn được may lại theo phương pháp khâu 3 điểm 19

Hình 2.11 Khuyết tật hình tròn được may lại theo phương pháp khâu hình chữ S 20 Hình 2.12 Kỹ thuật may da tạo góc 450 20

Hình 2.13 Kỹ thuật may da tạo góc 300 21

Hình 2.14 Khuyết tật hình tam giác được may lại theo phương pháp đơn giản 21

Hình 2.15 Khuyết tật hình tam giác được khâu lại bằng cách mổ thêm hai đường 22 Hình 2.16 Tạo 1 hoặc 2 vạt da xoay ở góc khuyết tật 22

Hình 2.17 Khuyết tật hình chữ nhật được may lại theo phương pháp trực tiếp 23

Hình 2.18 Khuyết tật hình chữ nhật được đóng lại theo hình chữ H 23

Hình 2.19 Khuyết tật hình chữ nhật được đóng lại theo hình chữ U 24

Hình 2.20 Khuyết tật hình chữ nhật được che kín bởi 1 vạt da xoay 24

Hình 2.21 Thao tác tạo vạt trục vòng hông sâu nhánh lưng 25

Hình 2.22 Thao tác tạo vạt trục vòng hông sâu nhánh bụng 26

Hình 3.1 Sửa soạn tư thế cho thú và kiểm tra lực căng phần hông 32

Hình 3.2 Kỹ thuật may kín vết thương hình chữ nhật theo dạng chữ X 33

Trang 11

Hình 3 4 Thao tác tạo vạt trục vòng hông sâu nhánh lưng 35 Hình 3.5 Kỹ thuật xoay da ở thú thí nghiệm 35

Trang 12

Chó có bản năng thiên bẩm là thính tai, mũi ngửi tốt nên được con người huấn luyện làm chó giữ nhà, tham gia săn bắn, làm xiếc, đua chó, tham gia vào các công tác nghiệp vụ của cảnh sát và quân đội… Theo thời gian, chó đã trở thành một thành viên trong gia đình Do đó, công tác chăm sóc và chữa trị thú cưng ngày càng được mọi người quan tâm hơn

Dân gian có câu “Chó liền da, gà liền xương”, tuy nhiên câu nói này chỉ đúng khi chó bị thương nhẹ Trong trường hợp chó bị bướu hoặc phỏng hóa chất…mà bị mất một vùng da rộng lớn thì không thể tự nhiên mà lành được nếu thiếu sự can thiệp của ngoại khoa thú y Ở việt Nam chúng ta hiện nay, đa phần phương pháp phẫu thuật may da được các bác sỹ thú y chọn là may da trực tiếp Tuy nhiên phương pháp này có hạn chế là do sức căng của da quá lớn dễ dẫn đến bung chỉ, từ đó gây nhiễm trùng hoại tử Do đó, việc ứng dụng các kỹ thuật may da mới, hiện đại là điều hết sức cần thiết trong việc điều trị khi chó bị mất một vùng da lớn

Nhằm học hỏi kiến thức, đúc kết kinh nghiệm cũng như mở một hướng đi mới cho công tác điều trị thú cưng, được sự đồng ý của khoa chăn nuôi thú y, dưới sự

hướng dẫn của thầy TS Lê Quang Thông, tôi thực hiện đề tài: “Ứng dụng kỹ thuật xoay da trong trường hợp mất da vùng đùi trên chó thí nghiệm”

Trang 13

1.2 Mục đích

Áp dụng kỹ thuật xoay da điều trị trường hợp mất da vùng rộng trên đùi và khảo sát quá trình lành sẹo vết thương trên chó

1.3 Yêu cầu

- Đánh giá hiệu quả của kỹ thuật xoay da so với kỹ thuật may da trực tiếp

- Sự lành vết thương, tình trạng đau của thú và các biến chứng xảy ra sau khi phẫu thuật

Trang 14

Chương 2

TỔNG QUAN

2.1 Một số đặc điểm sinh lý trên chó

2.1.1 Thân nhiệt (đo ở trực tràng)

TheoTrần Thị Dân và Dương Nguyên Khang 2007 cho rằng thân nhiệt bình thường của chó trung bình là 38,40C, biến động từ 37,9-38,90C

Chó con nhiệt độ không ổn định, có thể thấp hơn mức bình thường và sẽ ổn định trong vòng 1 tuần sau khi sinh

- Chó cái trung bình là 10 tháng, biến động từ 7 - 13 tháng

Sự trưởng thành sinh dục thường xuất hiện sớm ở những giống chó nhỏ con và muộn ở giống chó lớn con Thời gian mang thai khoảng 58 - 64 ngày, trung bình là

61 ngày

2.1.5 Chu kì lên giống

Thời gian lên giống biến động từ 3 - 21 ngày, thời điểm phối giống tốt nhất từ ngày thứ 9 đến ngày thứ 13 kể từ khi có dấu hiệu lên giống đầu tiên Khoảng cách giữa hai chu kì động dục 6 - 8 tháng, biến động từ 5 - 11 tháng

Mùa giao phối thường là tháng 1 và tháng 12

Trang 15

- Tùy theo giống chó lớn hay nhỏ, thông thường từ 1 - 10 con

- Chó mẹ ở độ tuổi 2 - 3,5 năm tuổi có số con đẻ ra và nuôi sống con tốt nhất

- Tuổi cai sữa là từ 8 - 9 tuần tuổi

2.2 Cấu tạo và đặc điểm của da chó

2.2.1 Chức năng của da

Theo Fossum 2002,Mọi động vật đa bào đều được bao phủ bằng một màng bọc gọi là da, gồm một hay nhiều lớp tế bào Da là một trong những bộ phận lớn nhất của cơ thể và chứa nhiều tuyến, thần kinh, mạch máu và các cơ khác nhau Ở chó con, da chiếm 24 % trọng lượng cơ thể, ở chó trưởng thành là 12 % Chức năng cơ bản của da là hàng phòng thủ đầu tiên giúp cơ thể tránh những ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài như các vi khuẩn, vi sinh vật gây bệnh Da là nguồn cung cấp vitamin D, các chất điện giải, nước, chất béo, cacbohydrate và protein Da còn tham gia vào quá trình trao đổi chất: hô hấp và bài xuất nhờ mạng lưới mao mạch, các tuyến nằm ở da Nhờ chứa những đầu thần kinh cảm giác da giúp cơ thể nhận cảm được áp lực, nhiệt

độ, cảm giác đau Da và những thụ thể cảm giác nằm trên lớp lông phủ chống lại những chất hóa học, sự bức xạ và khi kết hợp với lớp mỡ dưới da, tạo thành một lớp đệm chống lại những tổn thương cơ học, tạo sự cách ly chống nóng và chống lạnh

2.2.2 Cấu trúc và đặc điểm của da

Da gồm hai lớp mô cấu trúc có nguồn gốc khác nhau là ngoại bì và trung bì Lớp mô phía ngoài gọi là biểu bì, là lớp biểu mô đặc biệt có xuất nguồn từ ngoại bì

bề mặt Lớp mô phía trong gọi là bì, là loại mô liên kết đặc không đồng đều có nguồn gốc từ trung bì, nằm ngay bên dưới lớp biểu bì Độ dày của da thay đổi từ 0,5 đến 5

mm ở chó

2.2.2.1 Biểu bì (epidermis)

Biểu bì khởi đầu chỉ có một hàng tế bào xuất nguồn từ ngoại bì Sau đó tạo thêm một lớp tế bào đa diện ở phía trên gọi là chu bì (periderm), lúc này lớp bên dưới được gọi là lớp đáy (basal layer) Chu bì tiếp tục tăng sinh, tăng trưởng, sừng hóa và bong ra, rồi tiếp tục được thay thế bởi lớp tế bào đáy ở bên dưới Lớp đáy của biểu bì tiếp sau đó được gọi là lớp mầm (stratum germinativum) vì tạo ra các tế bào mới,

Trang 16

thay thế cho các lớp tế bào ở phía trên Các tế bào từ lớp mầm sẽ tạo nên lớp trung gian (intermediate layer) Sự thay thế ở lớp tế bào chu bì diễn ra tiếp tục cho đến thời điểm không tồn tại nữa và được thay thế bởi lớp sừng (stratum corneum) Lớp mầm cũng tăng sinh tế bào theo hướng đi vào phía trong và tạo nên các mào biểu bì (epidermal ridge), các mào biểu bì lại tạo ra các nhú biểu bì Trong thời kỳ đầu trước khi sinh, các tế bào của mào thần kinh (neural crest) biệt hóa thành các nguyên bào sắc tố (melanoblast) Thân của nguyên bào sắc tố thường khu trú bên trong lớp đáy của biểu bì, còn các nhánh bào tương của chúng tiến vào xen giữa các tế bào biểu bì

ở bên trên Ở một số vùng trên da, lớp hạt (stratum granulosum) và lớp trong sáng (stratum lucidum) rõ ràng nhưng chỉ ở những nơi mà sự sừng hóa chậm tiến triển, như chung quanh lỗ nang lông Hai lớp này phát triển tốt ở bề mặt chân đệm nhưng lại thiếu ở những vùng khác đặc biệt là ở da vùng mũi

Lớp biểu bì dày ở những vùng lông phủ mỏng, ngược lại lớp biểu bì mỏng ở những vùng dày đặc lông trưởng thành Và lớp biểu bì dày nhất trên vùng mũi, lớp đệm dưới chân

Chức năng của lớp biểu bì: lót mặt ngoài và bảo vệ cơ thể nhờ sự sừng hóa Chứa hắc tố bào là những tế bào tạo ra sắc tố có tác dụng bảo vệ cơ thể đối với những tia bức xạ Biểu bì không chứa mạch máu nên vi khuẩn không xâm nhập vào cơ thể nếu vết thương chưa sâu đến lớp bì

Trang 17

Hình 2.1 Diễn biến sự tạo da dày với lông và tuyến bã

(Nguồn Nguyễn Trí Dũng, 2005)

2.2.2.2 Bì (còn gọi là mô mạch liên kết), (dermis)

Bì có xuất nguồn từ trung mô ở ngay bên dưới ngoại bì bề mặt Phần lớn trung mô biệt hóa thành mô liên kết của lớp bì có nguồn gốc từ trung bì lá thành Tiếp đến các tế bào trung mô bắt đầu tạo ra sợi collagen và sợi đàn hồi Khi có các mào biểu bì xuất hiện, lớp bì nhô lên về phía biểu bì và tạo nên các nhú bì Lớp bì gồm mạng lưới collagen và sợi đàn hồi, được bao quanh bởi lớp màng nhày polysaccharide Lớp này cung cấp hyaluronic acid, chondroitin sulfuric acid- hai thành phần quan trọng của lớp bì Collagen chiếm 90 % thành phần sợi bì Nguyên sợi bào, bạch cầu, tế bào huyết tố, đại thực bào có mặt xuyên suốt ở lớp bì, nhiều nhất ở lớp bề mặt của lớp bì Thỉnh thoảng cũng gặp tế bào chứa sắc tố, tế bào mỡ

Trang 18

Lớp bì phong phú mạng lưới mao mạch, mạch bạch huyết, thần kinh, cơ dựng lông và nang lông, các tuyến bắt nguồn từ ngoại bì

Lớp bì ở chó và mèo phân chia thành hai lớp không rõ ràng, gồm lớp nhú nông và lớp lưới sâu Lớp nhú gồm các bó sợi collagen mịn đan dệt vào nhau, sợi đàn hồi mịn và các sợi lưới Sợi lưới ngưng đọng với chất dẻo hình thành nên màng cơ bản Lớp lưới cũng gồm các bó sợi collagen đan vào nhau và các sợi đàn hồi Nhưng các sợi collagen ở trạng thái thô hơn, ít tế bào hơn và số lượng sợi đàn hồi ở lớp lưới nhiều hơn lớp nhú

Độ dày của da liên hệ trực tiếp với độ dày của lớp bì, nó tùy thuộc vào vị trí trên cơ thể, giới tính, giống, loài Da dày khi có lớp bì dày hơn 1 mm, tương tự da mỏng khi lớp bì mỏng hơn 1 mm Da vùng bụng, vùng giữa các chi, loa tai trong là những vùng da mỏng nhất trên chó

2.2.3 Các phần phụ thuộc da

Phần phụ thuộc hay còn gọi là màng phụ của da bao gồm nang lông, tuyến mồ hôi, tuyến bã, tất cả đều bắt nguồn từ biểu bì Một số tuyến khác cũng bắt nguồn từ biểu bì như tuyến vú, tuyến đuôi, túi hậu môn…

2.2.3.1 Lông (hair)

Phần cơ bản tạo nên lông là nang lông Nang lông có xuất nguồn từ lớp mầm của biểu bì, di chuyển tiến vào lớp bì ở bên dưới Phần sâu nhất của nang lông phôi thai được gọi là chồi lông có hình quả chùy, sẽ tạo nên hành lông (hair bulb) Các tế bào biểu bì của hành lông tạo ra mô nền mầm (germinal matrix) sẽ phát triển để trở thành lông Hành lông sau đó nằm lọt vào nhú lông trung mô (mesenchymal hair papilla) Các tế bào biểu bì bao quanh nang lông sẽ tạo nên bao chân lông biểu bì (epithelial root sheath), kéo dài tiếp tục với lớp đáy, còn các tế bào trung mô bao quanh nang lông sẽ tạo nên bao chân lông bì (dermal root sheath) Khi các tế bào của

mô nền mầm tăng sinh, chúng được đẩy vào bên trong bao chân lông biểu bì, rồi được đẩy dần lên về phía bề mặt da và bị sừng hóa, tạo nên phần thân lông (hair shaft)

Trang 19

Nang lông ở phần thấp của lớp bì cũng mở rộng vào lớp cơ dưới da Những sợi lông đầu tiên xuất hiện có đặc điểm khá mảnh và nhạt màu, được gọi là lông tơ Các lông tơ này dần dần được thay thế bởi các lông cứng (coarser hair)

Cơ dựng lông (arrector pili muscle) bao gồm một bó các tế bào sợi cơ trơn, có xuất nguồn từ trung mô ở xung quanh, sẽ gắn vào bao chân lông bì và các nhú bì Những cơ này bám chặt vào các sợi đàn hồi và được kích thích bởi hệ thống thần kinh tự động

Hình 2.2 Diễn biến tạo lông có tuyến bã đi kèm

(Nguồn Nguyễn Trí Dũng, 2005)

Trang 20

Lúc mới sinh, nang lông ở chó phát triển từ nang lông đơn giản chỉ chứa một sợi lông Khi được 28 tuần tuổi, các nang lông đơn giản sẽ kết hợp lại phát triển thành nang lông tổng hợp chứa từ 7 - 10 sợi lông nổi lên trên bề mặt da Nang tổng hợp chứa 1 sợi lông chính hoặc lông phòng vệ, được bao quanh bởi các lông tơ mềm, mịn Thân lông hướng ra ngoài lỗ nang lông nhô lên bề mặt biểu bì, chúng chia nhánh vào các nang lông tương ứng nằm bên dưới tuyến bã Nang lông phòng vệ lớn hơn và xuyên vào cơ dưới da Thông thường hình dạng của nang lông tổng hợp sẽ tạo thành ba bó với một bó trung tâm lớn hơn hai bó còn lại

Hình 2.3 Cấu trúc một nang lông ghép

(Nguồn Fossum, 2002) Giữa các giống, số lượng lông thay đổi theo mùa Số lượng lông trong 1 nang lông sẽ khác nhau và khác nhau ở các vùng của cơ thể Chó thường rụng nhiều lông vào mùa xuân hơn mùa hè, trong khi vào mùa đông số lượng lông ở mỗi bó sẽ tăng lên Hai yếu tố ảnh hưởng đến quá trình rụng lông trên thú là di truyền và môi trường

Trang 21

2.2.3.2 Cấu trúc các tuyến dưới da

Các tuyến dưới da bao gồm tuyến bã, tuyến mồ hôi, tuyến đuôi, túi hậu môn

và tuyến vú Cũng như nang lông, tất cả những tuyến này đều bắt nguồn từ ngoại bì phát triển vào lớp bì trong suốt giai đoạn phôi thai

Tuyến bã

Tuyến bã thường có chồi bắt nguồn từ thành bên của bao chân lông biểu bì của nang lông Các chồi tuyến bã tăng trưởng hướng vào mô liên kết ở xung quanh, phân nhánh và tạo nên các nang tuyến bã và ống tuyến bã Các tế bào ở vùng trung tâm nang tuyến bã tiêu đi, tạo nên chất bã nhờn Chất bã được tống xuất vào nang lông rồi qua đó đi ra khỏi bề mặt da Chất bã có tác dụng làm mềm lông da, tránh bị khô hoặc bị ẩm quá mức Người ta còn công nhận rằng, pheromone cũng được tiết ra

từ tuyến này ở một số loài Tuyến bã phát triển mạnh ở vùng cổ, vùng lưng và đặc biệt là vùng đuôi Tuyến bã gồm hai dạng là tuyến bã nông và tuyến bã sâu Tuyến bã nông có những ống dẫn tốt trong khi tuyến bã sâu lại có những ống dẫn đặt ở bên trong, vì vậy hoạt động phân tiết không thể thực hiện được Tuyến bã nông chứa chất béo còn tuyến bã sâu thì không Tế bào của tuyến bã sâu chứa tế bào chất và protein

Cơ tuyến bã sâu có thể tìm thấy trên da ở bao quy đầu và háng

Tuyến vú

Tuyến vú là sự kết hợp của các tuyến ngoại tiết hình ống và hình oval, cấu trúc giống với tuyến mồ hôi Trong suốt giai đoạn phôi thai, hình dạng tuyến vú không thay đổi hoặc thay đổi không rõ ràng ở con đực, hình dạng vú thay đổi nhiều ở giai đoạn tiết sữa ở con cái

Túi hậu môn

Túi hậu môn chứa cả tuyến mồ hôi (tuyến ngoại tiết) và tuyến bã Túi này mỏng, phân tầng hình vảy vào lớp lót biểu bì Tuyến bã của túi hậu môn chạy theo đường dẫn ở cổ, còn tuyến mồ hôi tập trung ở vùng thấp của cơ thể Tuyến đuôi tập trung ở phần lưng của đuôi, khoảng từ đốt sống đuôi số 7 đến đốt sống đuôi số 9 Chiều dài của tuyến này thay đổi từ 2,5 cm đến 5 cm Hoạt động phân tiết ở tuyến này có thể tạo ra dạng nang hoặc khối u tùy thuộc từng loài

Trang 22

Tuyến mồ hôi

Tuyến mồ hôi gồm hai dạng là tuyến nội tiết và tuyến ngoại tiết Tuyến ngoại tiết có cấu trúc hình ống hoặc hình túi, lớn, đơn giản, chúng có thể uốn quanh co hoặc xoắn lại với phần phân tiết cuộn vòng và ống tiết thẳng Ống tiết của tuyến ngoại tiết đổ vào bao chân lông bên ngoài giữa bề mặt da và ống tiết chất bã nhỏ Tuyến nội tiết có hình ống, cuộn lại và cũng có cấu trúc đơn giản Các tuyến này đổ trực tiếp vào bề mặt của biểu bì Tuyến nội tiết được tìm thấy ở bề mặt chân đệm

Tuyến mồ hôi phát triển tốt ở giống chó có lông mịn và dài

Tuyến mồ hôi thường được chia thành ba đoạn:

- Tiểu cầu mồ hôi là đoạn cong nằm trong hạ bì, là phần chế tiết ra mồ hôi, đường kính lớn hơn ống bài xuất

- Ống bài xuất: đoạn này chạy xuyên qua bì đến lớp mầm của biểu bì

- Đường mồ hôi: đoạn ống này xoắn ốc trong biểu bì lên đến bề mặt da

Chức năng của tuyến mồ hôi là bảo vệ da bằng cách tiết mồ hôi khi nhiệt độ môi trường tăng cao quá mức Hoạt động phân tiết của tuyến có thể tăng trong suốt giai đoạn viêm đặc biệt khi viêm ở những vùng có nhiều tuyến mồ hôi Vì vậy phải thường xuyên thay băng và vệ sinh sạch sẽ vết thương để tránh nhiễm trùng

Ngoài một số tuyến kể trên, còn xuất hiện thêm nhiều tuyến có cấu trúc và chức năng đặc biệt như: tuyến Moll’s ở mi mắt, tuyến ráy tai ở ống tai ngoài, tuyến bao quy đầu, tuyến âm hộ

2.3 Cấu trúc và đặc điểm lớp dưới da

Lớp dưới da hay còn gọi là hạ bì Đây là mô liên kết mỡ với mạng lưới collagen lỏng lẻo và các sợi đàn hồi Độ dày của lớp này khác nhau ở những vùng khác nhau của cơ thể Lớp này phát triển ít ở mi mắt, tai, bìu dái, và ở những vùng

mà da bám gần vào cấu trúc bên dưới

Những sợi đàn hồi ở lớp này ít bám vào xương, cơ, cân Một kết quả nghiên cứu gần đây cho biết lớp dưới da được cấu tạo bởi hai lớp không rõ ràng, gồm lớp

mô mỡ dưới da (adiposum subcutis) và lớp mô xơ dưới da (fibrosum subcutis), lớp

Trang 23

Mặc dù, lớp dưới da không phải thuộc cấu trúc của da, nhưng hệ thống mạch máu nuôi da phải đi qua lớp này để đến các lớp da bên trên Và cần lưu ý rằng, lớp cơ dưới da giữ vai trò quan trọng trong các thao tác ở da trong quá trình phẫu thuật

Lớp cơ dưới da

Cơ dưới da là một tập hợp gồm nhiều sợi cơ mỏng trong lớp hạ bì Lớp cơ này không được tìm thấy ở phần giữa và phần thấp ở lớp dưới da vùng chi Cơ dưới da liên hệ trực tiếp với hệ thống tuần hoàn của da, chúng bảo tồn sự sống của da trong suốt thời gian phẫu thuật

2.4 Hệ thống mạch máu nuôi da

Những động mạch hay tĩnh mạch của da nối với nhau thành lưới mạch máu chạy song song với bề mặt da Chính nhờ cấu trúc này mà da đảm nhận được nhiều chức năng

Hệ thống mạch máu ở da được phân thành 3 cấp độ: lưới mạch máu ở lớp sâu hay lưới mạch máu dưới da, lưới mạch máu ở lớp giữa hay lưới mạch máu da, lưới mạch máu nông hay lớp trên bề mặt da

Sự sắp xếp này thường gặp trên da nhưng cũng có thể khác nhau ở tai ngoài,

bề mặt chân đệm, núm vú, niêm mạc mũi, môi, mi mắt, bao quy đầu, âm hộ, hậu môn

Những hệ thống mạch máu ở 3 lớp da này nối liền nhau và được cung cấp bởi

hệ thống động mạch da chạy dưới da Những vùng mất da trên thú nhỏ, hệ thống động mạch trực tiếp ở da co dãn một cách dễ dàng và cung cấp máu cho da khi da dãn hay di chuyển

Hình 2.4 Hệ thống mạch máu dưới da ở chó và mèo

(Nguồn Fossum, 2002)

Trang 24

Hughes và Dransfield đã phân chia hệ thống động mạch ở chó thành hai nhóm lớn gồm: hệ thống mạch máu da phức tạp và hệ thống mạch máu da đơn giản Hệ thống mạch máu da phức tạp phát triển và xuyên qua những cơ có cấu trúc lớn, cung cấp máu cho da Còn hệ thống mạch máu đơn giản chỉ phân một vài nhánh đến giữa hai lớp cơ trước khi cung cấp máu cho da Hệ thống mao mạch trên da chó phân nhánh, chạy song song với bề mặt da và là những động mạch trực tiếp nuôi da (Fossum, 2002)

2.5 Các đường căng của da trên chó

Vị trí vết thương, tính đàn hồi của những cơ chung quanh, hệ thống mạch máu dưới da và đặc tính của vết thương là những điều cần được xem xét trước khi thực hiện phẫu thuật tái tạo cấu trúc Độ đàn hồi và độ căng của da được kiểm tra bằng cách nắm kéo và nâng một vùng da lên, sau đó buông ra, da nhanh chóng trở lại hình dạng ban đầu

Một số phương pháp làm giảm độ căng của da như: tách mô liên kết bên dưới, chọn đường may giảm áp lực, sử dụng một số dụng cụ làm giảm độ căng da bằng cách kéo dãn da hoặc mở rộng cơ

2.5.1 Các đường căng của da trên chó

Đường căng da được tạo nên bởi sức kéo của những sợi cơ bên trong da Một

số đường căng da thông thường đã được mô tả (Hình 2.5), tuy nhiên sự khác nhau còn tùy thuộc vào giống, hình dáng, giới tính và tuổi của con vật

Hình 2.5 Các đường căng da trên chó

Trang 25

Đường rạch thêm để giảm lực căng da nên song song hoặc chạy dọc theo đường căng da sẽ làm cho vết thương mau lành và tạo sẹo thẩm mỹ Vết thương nên được đóng lại theo chiều của đường căng da để tránh hoặc giảm mức căng da tối thiểu (Hình 2.6)

Hình 2.6 Hai bờ vết thương được ép thử bằng tay trước khi may

(Nguồn Fossum, 2002)

2.5.2 Biện pháp làm giảm sức căng da

Bóc tách mô liên kết dưới da

Để giảm nhẹ sức căng, da phải được bóc tách bằng kéo mổ để tách rời da với

mô dưới da, giúp tăng tính đàn hồi của da, để có thể căng da qua vết thương Da nên được tách sâu đến lớp cơ bên dưới để bảo vệ mạng lưới dưới da, hệ thống mạch máu chạy song song dưới bề mặt da Ở những vùng không có lớp cơ dưới da, da nên được tách đến lớp cân sâu đến lớp bì để bảo vệ động mạch da

- Tránh gây tổn thương đến đám rối dưới da bằng cách sử dụng kéo Metzenbaum

- Ở phần thân, việc bóc tách da được thực hiện giữa phần mô dưới da và lớp cân bên dưới

- Ở mặt, để tránh việc xâm hại dây thần kinh mặt (dây thần kinh số V), việc bóc tách da được thực hiện dưới lớp bì

- Da ở mỗi cạnh của góc khuyết cần được bóc tách một khoảng cách bằng với chiều rộng của vết thương

Trang 26

2.6 Kim và chỉ may dùng trong may da

2.6.1 Kim may phẫu thuật

2.6.1.1 Tính chất của kim may tốt

- Kim phải được chế tạo từ loại thép tốt, phải cứng để không bị cong, dẻo, để không bị gãy

- Kim không bị xoay, lật khi dùng kẹp kim

- Luôn bén nhọn để xuyên qua mô dễ dàng Và mặt ngoài kim phải láng

2.6.1.2 Phân loại kim may

Một cây kim may gồm có 3 thành phần:

- Đuôi kim: có lỗ hoặc không có lỗ Đuôi kim có lỗ sử dụng được nhiều lần nhưng dễ làm rách mô do đoạn chỉ ở đuôi kim gập đôi lại Ngược lại đuôi kim không

có lỗ ít gây tổn thương mô hơn

- Thân kim: gồm thân thẳng hoặc thân cong Thân kim thẳng dùng may ở những nơi tương đối rộng, gần bề mặt cơ thể Thân kim cong may ở những nơi hẹp

và sâu (cong 3/8 và 1/2 thường dùng trong thú y)

- Mũi kim: gồm mũi kim tam giác để may những mô dai, chắc (da) hoặc mũi kim tròn để may mô mềm (ruột, cơ, mô dưới da)

2.6.2 Chỉ may phẫu thuật

Một số loại chỉ may thông dụng

 Chỉ phẫu thuật dùng trong may da

Chỉ nylon: không gây xót mô, không phản ứng viêm, không thấm nước, khó làm nút

 Chỉ phẫu thuật dùng trong may mô liên kết dưới da

Chỉ Polyglyconate (Maxon): có khả năng kềm giữ vết thương trong thời gian dài, duy

Trang 27

Chỉ Polydioxanone (PDS): có tính co dãn, ít làm rách mô hơn chỉ đơn sợi, được hấp thu hoàn toàn trong 182 ngày sau khi may vào mô

2.7 Các đường may da thông dụng

2.7.1 Những lưu ý khi thực hiện đường may

Cầm nắm mô nhẹ nhàng,thực hiện những kỹ thuật đã được chấp nhận trong phẫu thuật, phải bảo quản hệ thống cung cấp mạch máu hiệu quả, không đè nát mô

2.7.2 Những lưu ý khi thực hiện cột nút ở da

- Nút cột không được quá chặt, nút cột chặt sẽ ngăn cản sự lưu thông máu và gây hoại tử mô, làm chậm lành vết thương, gây đau và tự chấn thương Tất cả những yếu tố này có thể dẫn đến vết thương bị hở ra, nhiễm trùng và làm gia tăng sẹo

- Nút cột nên được đặt ở một bên vết mổ chứ không được đặt bên trên

- Khi may da đầu chỉ được chừa dài vừa đủ khi cắt để dễ dàng cho việc cắt chỉ sau này

2.7.3 Một số đường may thông dụng

Đường may dưới da walking

Trang 28

Đường may dưới da gián đoạn Hình 2.7 Một số đường may thông dụng

(Nguồn Lê Văn Thọ, 2009)

- Gây tê vùng: thuốc sẽ ức chế những sợi thần kinh chi phối cho từng vùng

- Gây mê toàn diện: thuốc sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống thần kinh, bao gồm não bộ, tủy sống và hệ thần kinh ngoại biên Thú sẽ mất cảm giác toàn thân đồng thời mất ý thức tạm thời

2.9 Các kỹ thuật may da trong những trường hợp mất da

2.9.1 Trường hợp khối u

Phẫu thuật cắt bỏ luôn có vai trò chủ chốt trong điều trị các bướu Phẫu thuật

có một vài ưu thế so với các phương pháp khác: cắt trọn tại chỗ tại vùng toàn bộ khối

u, phẫu thuật không có tính sinh ung và thường không có tính ức chế miễn dịch như hóa trị (Nguyễn Chấn Hùng, 2004)

Tuy vậy, phẫu thuật vẫn có nhược điểm: có khả năng đưa đến thương tật hoặc

tử vong, đặc biệt trên chó lớn tuổi, có sức miễn dịch kém

Trên quan điểm mô ung thư có khả năng phát triển không giới hạn và có thể sinh sôi nảy nở từ một vài tế bào còn sót lại thậm chí từ một tế bào thì nguyên tắc phẫu thuật cắt bỏ là lấy đi toàn bộ mô bướu với một rìa cắt an toàn của mô lành Việc

Trang 29

Đối với khối u lành tính, cắt bỏ khối u và 1cm lớp cơ Đối với khối u ác tính như khối u của tế bào mast, tế bào hắc tố, tế bào vảy… bờ rộng của khối u cần phải mở rộng thêm 2 - 3 cm Sự xâm lấn của khối u được tác động bởi lớp cơ chung quanh, vì vậy lớp cơ này nên được cắt bỏ cùng với khối u, phải cắt bỏ tối thiểu đến lớp cân nằm bên dưới tính từ bờ của khối u

2.9.2 Trường hợp khuyết tật có hình dạng bất thường

2.9.2.1 Khuyết tật hình tròn

Có 6 phương pháp:

 May theo đường thẳng

Đối với khuyết tật có dạng hình tròn nhỏ, khi bờ da có thể áp sát vào nhau và không hình thành dạng tai chó lớn Đường may được thực hiện song song theo hướng căng của da, bắt đầu đường may ở chính giữa khuyết tật, dạng hình tai chó ở cuối hai đường may được cắt bỏ bớt da theo hình ellip và may kín lại

Hình 2.8 Khuyết tật hình tròn được may lại theo đường thẳng

(Nguồn Fossum, 2002)

 Phương pháp chỉnh sửa tạo hình thoi

Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở chỉnh sửa khuyết tật hình tròn thành hình ellip hoặc hình thoi, bằng cách: thực hiện hai đường mổ hình tam giác ở phía trên và phía dưới của khuyết tật hình tròn, sau đó đóng vết thương theo hướng thẳng đứng Độ dài của mỗi hình tam giác gấp 1,5 lần đường kính của khuyết tật hình tròn hay hình ellip có tỉ lệ của chiều dài so với chiều rộng là 4:1

Trang 30

Hình 2.9 Khuyết tật hình tròn được chỉnh sửa tạo hình thoi

(Nguồn Fossum, 2002)

 Phương pháp khâu 3 điểm

Thực hiện một đường may ở ba điểm cách đều nhau trên hình tròn Đường may này tương tự như một sợi dây, khi chúng ta kết thúc đường may bằng nút cột sẽ tạo thành một điểm gút ở trung tâm vết thương Lúc này từ một vết thương hình tròn lớn được phân ra thành ba vết thương hình ellip Tương tự tiếp tục đóng mỗi vết thương hình ellip theo đường thẳng đứng

Trang 31

Hình 2.11 Khuyết tật hình tròn được may lại theo phương pháp khâu hình chữ S

(Nguồn Fossum, 2002)

 Kỹ thuật may da tạo góc 45 0

Phương pháp này được thực hiện khi việc ghép da ở các phương pháp trên tạo hình tai chó và vùng da giới hạn có thể sử dụng được cho việc tái tạo Thực hiện đường mổ tạo hai nửa hình tam giác đều nhau ở hai vị trí đối diện nhau trên hình tròn cách đường căng da một góc 450 Các cạnh của mỗi nửa tam giác được thực hiện sao cho đỉnh của điểm V nằm hướng về phía trục dài của khuyết tật Đường cao cua tam giác có độ dài bằng bán kính vòng tròn Bóc tách mô liên kết dưới da, xoay phần nắp

da nửa hình tam giác (như Hình 2.11), sau đó may 4 đường may tạm thời ở 4 điểm, lúc này khuyết tật hình tròn ban đầu biến đổi thành 5 khuyết tật hình thoi nhỏ Bờ của các khuyết tật biến đổi được áp sát vào nhau và may kín lại bằng đường may gián đoạn đơn giản

Hình 2.12 Kỹ thuật may da tạo góc 450

(Nguồn Fossum, 2002)

Trang 32

 Kỹ thuật may da tạo góc 30 0

Phương pháp này được thực hiện khi các phương pháp trên tạo ra dạng tai chó lớn và vùng da xung quanh khuyết tật nhiều đủ để tái tạo lại Kỹ thuật này làm mất thêm 36 % da Hai hình tam giác bằng nhau được rạch thêm ở hai vị trí đối diện nhau của khuyết tật cách đường căng da một góc 300 Đường cao của tam giác có độ dài bằng bán kính vòng tròn Bóc tách mô liên kết dưới da, xoay phần nắp da hình tam giác (như Hình 2.12), sau đó may 4 đường may tạm thời ở 4 điểm, lúc này khuyết tật hình tròn ban đầu biến đổi thành 5 khuyết tật hình thoi nhỏ Bờ của các khuyết tật biến đổi được áp sát vào nhau và may kín lại bằng đường may gián đoạn đơn giản

Hình 2.13 Kỹ thuật may da tạo góc 300

(Nguồn Fossum, 2002)

2.9.2.2 Khuyết tật hình tam giác

Có 2 phương pháp:

 Phương pháp đơn giản nhất

Bắt đầu mũi khâu ở 3 đỉnh của tam giác sau đó tiến vào vùng trung tâm của khuyết tật Kết quả của các đường khâu là từ khuyết tật có dạng hình tam giác chuyển sang dạng chữ Y

Hình 2.14 Khuyết tật hình tam giác được may lại theo phương pháp đơn giản

(Nguồn Fossum, 2002)

Ngày đăng: 16/04/2018, 02:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm