1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT SỨC SẢN XUẤT CỦA ĐÀN BÒ SỮA TẠI TRẠI CÔ NĂM XÃ TÂN THẠNH TÂY HUYỆN CỦ CHI

68 192 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 700,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Kim Cương và Kỹ sư Đoàn Trần Vĩnh Khánh chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát sức sản xuất của đàn bò sữa tại trại Cô Năm xã Tân Thạnh Tây huyện Củ Chi” 1.2 Mục đích

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HCM

KHOA: CHĂN NUÔI THÚ Y

=====  =====

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT SỨC SẢN XUẤT CỦA ĐÀN BÒ SỮA TẠI TRẠI

CÔ NĂM XÃ TÂN THẠNH TÂY HUYỆN CỦ CHI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HCM

KHOA: CHĂN NUÔI THÚ Y

=====  =====

NGUYỄN HỒNG PHƯỢNG

KHẢO SÁT SỨC SẢN XUẤT CỦA ĐÀN BÒ SỮA TẠI TRẠI

CÔ NĂM XÃ TÂN THẠNH TÂY HUYỆN CỦ CHI

Giáo viên hướng dẫn:

ThS NGUYỄN KIM CƯƠNG Thầy ĐOÀN TRẦN VĨNH KHÁNH

TP HỒ CHÍ MINH, 8/2012

Trang 3

Với sự phát triển của xã hội, nhu cầu về dinh dưỡng con người ngày càng cao, sữa bò trở thành nguồn thực phẩm quan trọng Hòa cùng sự tiến bộ của nền chăn nuôi thế giới, nông dân Việt Nam đã phát triển nghề nuôi bò sữa Tuy nhiên, sản lượng và chất lượng vẫn còn thấp hơn so với các nước khác Sản lượng chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước, hàng năm vẫn phải nhập rất nhiều nguồn dinh dưỡng này từ nước ngoài

Để phát triển ngành chăn nuôi bò ở Việt Nam chúng ta cần chú trọng công tác giống, dinh dưỡng, cách chăm sóc, việc khai thác và bảo quản sữa

Nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu về chất lượng cho ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta Được sự đồng ý của khoa Chăn Nuôi Thú Y, Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, bộ môn Chăn Nuôi Chuyên Khoa và dưới sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Kim Cương và Kỹ sư Đoàn Trần Vĩnh Khánh

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát sức sản xuất của đàn bò sữa

tại trại Cô Năm xã Tân Thạnh Tây huyện Củ Chi”

1.2 Mục đích – yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Khảo sát khả năng sinh sản, khả năng sản suất sữa và tiêu hóa của đàn bò nhằm đánh giá khả năng sản xuất của dàn bò sữa tại nông hộ

Trang 4

1.2.2 Yêu cầu:

Khảo sát chỉ tiêu sinh sản

Khảo sát chỉ tiêu sản suất sữa Khảo sát khả năng tiêu hóa

Tính sơ bộ giá thành sản xuất sữa

Trang 5

Chương 2

TỔNG QUAN

2.1 Tổng quan về tình hình chăn nuôi bò sữa hiện nay trên thế giới

Hoạt động chăn nuôi của con người đã hình thành từ thời xa xưa, bắt nguồn từ quá trình chuyển đổi lối sống của loài người từ săn bắn hái lượm sang định canh định cư Bắt đầu khoảng 15.000 năm trước đây bằng việc thuần hóa chó nhà rồi đến gia súc và gia cầm Cho đến ngày nay, ngành chăn nuôi thế giới đã phát triển mạnh

mẽ với việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất

Trong xã hội hiện đại, nhu cầu dinh dưỡng của người dân ngày càng cao Mặt khác nhịp sống nhanh hơn, áp lực công việc ngày càng nhiều làm giảm bớt thời gian chăm sóc sức khỏe của mọi người Theo đó sữa là sản phẩm được chọn hàng đầu cho nhu cầu dinh dưỡng Trên thị trường hiện nay có nhiều loại sữa như sữa dê, sữa trâu, cừu… đặc biệt chiếm tỉ lệ cao nhất là sữa bò Đây cũng là một trong số những nguyên nhân thúc đẩy ngành chăn nuôi bò sữa

Theo số liệu thống kê của tổ chức nông nghiệp thế giới FAO năm 2009, tổng đàn bò toàn cầu có khoảng 1.164,8 triệu con Hiện nay đứng đầu về số lượng là Brazin với 204,5 triệu con, tiếp theo là Ấn Độ với 172, 4 triệu con, đứng thứ ba là Hoa Kỳ 94,5 triệu, các nước tiếp theo gồm Trung Quốc: 92,1 triệu, Ethiopia và Argetina với hơn 50 triệu con Tổng sản lượng sữa thế giới năm 2009 là 696,5 triệu tấn trong đó sữa bò là chu yếu chiếm 580 triệu tấn Bình quân tiêu dùng sữa trên đầu người của thế giới là 103,9 kg/người/năm, các nước đang phát triển đạt 66,9 kg/người/năm, các nước phát triển đạt 249,6 kg/người/năm Các cường quốc sản xuất sữa trên thế giới bao gồm Ấn Độ đứng thứ nhất với 106,1 triệu tấn/năm chiếm 1/7 sản lượng sữa toàn cầu, Hoa kỳ với 84,1 triệu tấn, Trung Quốc trên 39,8 triệu tấn, Pakistan: 32,2 triệu tấn, Liên Ban Nga 32,1 triệu tấn và Đức với 28,2 triệu tấn/năm

Trang 6

Về phương thức chăn nuôi hiện nay các nước trên thế giới vẫn có 3 hình thức

cơ bản đó là: chăn nuôi quy mô công nghiệp thâm canh công nghệ cao, chăn nuôi bán thâm canh và chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ Phương thức chăn nuôi gia súc với quy mô lớn thâm canh sản xuất hàng hóa chất lượng cao chủ yếu ở các nước phát triển Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc và một số nước Châu Á, Phi, Mỹ La Tinh Với phương thức sản xuất này các tiến bộ về cơ khí và tin học cùng với công nghệ sinh học được áp dụng gần như hoàn toàn Chăn nuôi bán thâm canh và quảng canh được áp dụng phần lớn tại các nước đang phát triển ở Châu Á, Châu Phi và các nước Trung Đông, tận dụng và dựa vào thiên nhiên là chủ yếu

2.2 Tình hình chăn nuôi bò sữa ở nước ta hiện nay

Bảng 2.1: Sản lượng sữa sản xuất hàng năm từ 1999 – 2009 trên cả nước

STT Năm Số bò

(1000 con)

Tăng/giảm so với năm trước (%)

SL sữa (1000 tấn)

Tăng/giảm so với năm trước (%)

Trang 7

Ngành chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam có lịch sử phát triển hơn 50 năm nhưng chỉ thực sự phát triển nhanh từ năm 2001 chủ yếu là chăn nuôi quy mô nhỏ năng suất thấp Tuy nhiên chăn nuôi bò sữa nông hộ thực sự mang lại hiệu quả kinh tế góp phần nâng cao thu nhập cải thiện đời sống Kết quả là số lượng đàn bò tăng lên

rõ rệt sau 10 năm Đàn bò sữa nước ta chủ yếu tập trung tại vùng Đông Nam Bộ trong đó thành phố Hồ Chí Minh là nơi có số lượng lớn nhất

Bảng 2.2: Phân bố đàn bò sữa theo vùng sinh thái

Tây Nguyên

Đông Nam Bộ ĐBSCL Cả nước

Miền Đông Nam Bộ chiếm 68,88 % số lượng đàn bò trong cả nước, đây là con

số khá lớn Nguyên nhân là do điều kiện tự nhiên miền Đông Nam bộ tương đối phù hợp cho việc nuôi bò sữa, mặt khác do sự tập trung chăn nuôi trong vùng tương đối

Trang 8

cao nên điều kiện phát triển cũng được nâng cao góp phần thúc đẩy việc tăng đàn tại địa phương

2.3 Tổng quan về trại chăn nuôi Cô Năm

2.3.1 Vị trí địa lý

Trại chăn nuôi Cô Năm thuộc xã Tân Thạnh Tây, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh Phía Bắc giáp xã Phú Hòa Đông, phía Nam giáp xã Tân Thạnh Đông, phía Đông giáp xã Trung An và phía Tây giáp xã Phước Vĩnh An

Trại có diện tích hơn 2000 m2 được bao bọc bằng hàng rào lưới sắt với cổng chính hướng ra mặt tiền đường tỉnh lộ 8

2.3.2 Điều kiện tự nhiên

Trại Cô Năm thuộc thành phố Hồ Chí Minh vì vậy chịu ảnh hưởng của khí hậu Đông Nam Bộ, khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm Tại đây nhiệt độ cao đều trong năm và 2 mùa mưa, khô rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 còn mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Trung bình TP Hồ Chí Minh có 160 – 270 giờ nắng mỗi tháng Nhiệt độ trung bình 270C, cao nhất lên đến 400C và thấp nhất là 140C Hầu như cả năm đều có nhiệt độ trung bình từ 250

C – 280C Lượng mưa đạt 1.949 mm/năm Khu vực này chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa Tây - Tây Nam và Bắc - Đông Bắc Gió Tây – Tây Nam bắt nguồn từ Ấn

Độ Dương xuất hiện vào mùa mưa Gió Bắc – Đông Bắc thổi từ biển Đông vào mùa khô Ngoài ra còn có gió Tín Phong thổi theo hướng Nam – Đông Nam Có thể nói

TP Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão Độ ẩm không khí lên cao vào mùa mưa khoảng 80% và xuống thấp vào mùa khô 74,5%

Tại trại sử dụng nước giếng khoan, bơm trực tiếp từ giếng lên với hệ thống máy bơm mạnh đủ đáp ứng cho nhu cầu của trại đặc biệt là công việc vệ sinh cho

bò và chuồng trại

2.3.3 Chuồng trại

Vì đặc điểm là trại chăn nuôi của nông hộ nên chuồng nuôi không chiếm toàn

bộ diện tích Một phần là nhà ở của chủ hộ, một phần dùng trồng rau, trồng cỏ Phần

Trang 9

còn lại được dùng xây dựng chuồng nuôi bò và một ít diện tích dùng để chứa rơm

dự trữ

Trại được bố trí không theo hướng thống nhất

- Chuồng 1,3,4,5 được xây hướng Bắc – Nam

- Chuồng 2 và chuồng bê xây hướng Đông – Tây

Mỗi ô chuồng gồm 2 dãy với máng ăn đối diện cách nhau bởi lối đi để tiện việc cho ăn

Nền trại được xây bằng xi măng có độ dốc để thoát nước thải Tuy nhiên do trại đã được xây dựng khá lâu mà chưa được tu sửa nên nền chuồng trơn trược và có nhiều rong ảnh hưởng đến sức khỏe của bò đồng thời gây một số khó khăn cho việc vắt sữa cũng như công tác thú y Chủ hộ đã cải thiện việc này bằng cách lót tấm nhựa dưới sàn, nhưng giải pháp này chỉ cho hiệu quả trong thời gian đầu, sau vài tháng chất lượng tấm nhựa bị giảm đi đáng kể

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ trại chăn nuôi Cô Năm

Nhà

chứa

rơm

Đất trồng cỏ voi

Trang 10

Máng ăn cũng được xây bằng xi măng với chiều cao khá phù hợp cho bò Máng được phân chia làm 2 phần để cho bò ăn thức ăn thô và uống nước, thức ăn tinh được cho ăn với dạng nước cùng với máng uống Cũng như các trại khác trong khu vực, 2 cá thể sử dụng chung máng ăn thức ăn thô Vì số lượng thức ăn này không có nhiều khác biệt giữa các con trong cùng một trại

Trại lộp mái tôn với chiều cao vừa phải nhằm tránh mưa tạt gió lùa Tuy nhiên, cùng với việc các dãy chuồng xây gần nhau lại nảy sinh vấn đề ẩm thấp và thiếu ánh sáng trong chuồng nuôi Lối đi rộng bằng phẳng thuận tiện cho việc đẩy

xe thức ăn và xe cỏ khi cho ăn

Hệ thống áp suất lắp dọc theo dãy chuồng, đường ống này sử dụng chung cho hai dãy Tại đây trang bị 2 máy vắt sữa, 2 công nhân thường vắt sữa trong cùng một

ô chuồng và đi ngược hướng với nhau để tận dụng tối đa đường ống áp suất cũng như tiết kiệm thời gian

2.3.4 Phương thức chăn nuôi

+ Lần 3: 2 giờ chiều đến 4 giờ chiều: chuẩn bị vắt sữa

Phân bò và nước thải được xã thẳng ra ao chứa phía sau khu nuôi

- Chế độ dinh dưỡng:

Bò được cho ăn 2 lần mỗi ngày trước khi vắt sữa Do lượng cỏ trồng được không đủ đáp ứng nhu cầu của cả đàn bò nên loại thức ăn này chỉ được cho ăn khoảng 18 kg/con/ngày chia làm 2 cử Cám được cho ăn dưới dạng nước chung với máng uống Đây là loại thức ăn được tính toán nhiều nhất căn cứ vào khả năng cho sữa Hèm bia và xác mì cho ăn cùng với cỏ trong máng ăn thức ăn thô

- Công việc vắt sữa:

Trang 11

Việc vắt sữa thực hiện 2 lần trong ngày vào 5 giờ sáng và 4 giờ chiều Sau khi cho ăn và làm vệ sinh, công nhân tiến hành vắt sữa, dùng máy vắt lần lượt từng con theo thứ tự không đổi, sữa thu được cho vào bình nhựa 30 lít và giao cho công ty sữa Vinamilk Sau khi vắt sữa ở mỗi con thường không được vắt lại bằng tay Chỉ một số con cho sản lượng thấp hoặc gặp vấn đề về sức khỏe mới được vắt tay

- Thú y và phối giống:

Trại sử dụng phương pháp phối giống nhân tạo cho bò Công tác phối giống và thú y do nhân viên thú y tại trạm chuyển giao công nghệ công ty bò sữa TP Hồ Chí Minh đảm trách

2.3.5 Nhân công tại trại

Về mặt nhân công tại đây sử dụng:

- 2 nhân công nam chuyên chăm sóc bò trưởng thành và vắt sữa

- 1 nhân công nữ chuyên làm vệ sinh bò, chuồng trại và cho bò ăn thức ăn tinh

- Chủ trại giữ vai trò quản lý chung, cắt cỏ, cho ăn thức ăn thô, hèm bia, xác

mì và chăm sóc cho bê con

2.3.6 Tổng quan về thức ăn

2.3.6.1 Thức ăn hỗn hợp

Trại sử dụng thức ăn hỗn hợp: Con cò C40

Bảng 2.3: Thành phần hóa học, dinh dưỡng của thức ăn Con cò C40

Đạm

(min %)

Xơ thô (max%)

Độ ẩm (max%)

Ca (min Max %)

-P (min%)

Nacl (min -max%)

Năng lượng trao đổi (min)

kcal/kg Nguồn: Công ty thức ăn Con Cò

2.3.6.2 Thức ăn thô xanh

Hiện nay thức ăn thô xanh được dùng tại trại chủ yếu là cỏ lông tây và cỏ voi

Trang 12

- Cỏ voi:

Được trồng phía sau trại với diện tích khoảng 1000 m2 cho ăn với số lượng nhỏ, chủ yếu dự trữ cho những ngày không có cỏ lông tây Cỏ voi có nguồn gốc từ Nam Phi và phân bố rộng rãi ở tất cả các nước nhiệt đới trên thế giới Có nhiều giống cỏ voi như Merkecon, Seleccion và King grass Trong đó King grass là dòng được phổ biến ở nước ta cho năng suất cao Cỏ voi thuộc họ hòa thảo, thân đứng (có thể cao 4 – 6 m) có nhiều đốt, rậm lá, sinh trưởng nhanh, nhưng đốt bên dưới thường có rễ, hình thành thân ngầm và phát triển thành búi to Cỏ voi có yêu cầu về đất tương đối khắt khe: ưa đất giàu dinh dưỡngvà thoáng, cỏ tầng đất canh tác sâu,

pH 6 - 7, không ưa đất cát và không chịu được ngập, úng nước nhưng chịu được khô hạn Giai đoạn sinh trưởng chính là mùa hè, khi nhiệt độ và độ ẩm lên cao Nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng từ 25 - 40o

C và với lượng mưa trung bình 1.500 mm/năm Khi nhiệt độ môi trường xuống thấp 2 - 3oC vẫn không bị cháy lá Tuy nhiên thông thường vào mùa Đông, nhiệt độ xuống thấp và đặc biệt có sương muối quá trình sinh trưởng chậm lại Tương tự khi hạn hán kéo dài hoặc khi nhiệt

độ môi trường lên trên 45oC, quá trình sinh trưởng và phát triển của cỏ voi bị ngừng

Thời gian trồng thích hợp là từ tháng 2 cho tới tháng 5 Thu hoạch từ tháng 6 đến tháng 11 Nếu mùa khô chủ động nước tưới có thể thu hoạch quanh năm Chu

kỳ kinh tế của cỏ voi là 3 - 4 năm (tức là trồng 1 lần có thể thu hoạch được 3 - 4 năm) nếu chăm sóc tốt có lượng phân chuồng ủ vi sinh có thể cho năng suất cao trong 10 năm liền

Cỏ voi có năng suất xanh rất cao tùy theo trình độ thâm canh, năng suất trên một ha có thể biến động từ 100 tấn đến 400 tấn/ha một năm, cá biệt có thể lên tới

Trang 13

đơn hoặc kép ở gốc, trục có lông thưa, dài; bông chét không lông Có nguồn gốc ở Nam Mỹ, ngày nay được trồng ở nhiều nơi trên thế giới Ở nước ta, cỏ này được trồng ở Nam bộ từ cuối thế kỷ 19 tại các cơ sở chăn nuôi bò sữa, nay đã phát tán ra khắp cả nước Cỏ lông tây ưa khí hậu nóng ẩm, có khả năng chịu được ngập nước ngắn ngày, chịu mặn, chịu phèn.Cỏ dùng làm thức ăn xanh thô cho trâu, bò, ngựa ở dạng tươi, cỏ xanh hoặc phơi khô

Ngoài cỏ tươi, trại còn cho bò ăn thêm hèm bia và xác mì với số lượng lớn do

cỏ không đủ dáp ứng cho khẩu phần

Ngoài ra, trại còn dự trữ rơm để phòng những ngày không có cỏ Tuy nhiên đây chỉ là thức ăn dự trữ ít được sử dụng

2.4 Sơ lược về giống bò Holstein Friesian (bò HF)

Bò Holstein Friesian có nguồn gốc từ Hà Lan vào thế kỷ 14 Bò có năng suất cho sữa cao nên được nhiều nước ưa chuộng và tiến hành lai giống với bò tại địa phương tạo ra các giống bò HF lai đặc trưng của nước mình như: Anh, Mỹ, Pháp, Canada…Đặc điểm bò thuần có màu đen vá trắng hoặc trắng vá đen, thường có 6 điểm trắng là trước trán, đuôi và 4 chân Hình thể: hình nêm, đầu thanh nhẹ, trán phẳng sừng thanh và cong, cổ dài cân đối, da cổ có nhiều nếp gấp, không có yếm, bốn chân dài khỏe, bầu vú phát triển to, tĩnh mạch vú nổi rõ Thành thục sớm, khoảng 15 - 16 tháng có thể phối giống Trọng lượng cơ thể: con cái: 500 – 800 kg, con đực: 750 – 1.100 kg Năng suất sữa 6.000 - 8.000 kg/chu kỳ Tỉ lệ mỡ sữa là 3,5 – 4,2%

Bò sữa Hà Lan có tính tình ôn hòa, dễ quản lý, thích hợp cho việc nuôi tại các trại chăn nuôi quy mô hộ gia đình

Năm 1920 bò HF được đưa vào Việt Nam Tuy nhiên, do có nguồn gốc từ Hà Lan, một nước có khí hậu khô lạnh nên giống này không phù hợp với điều kiện tại nước ta Để tăng khả năng thích nghi, bò đực HF thuần được lai giống với bò cái lai sind tạo thành bò 3 máu

Đặc điểm bò sữa lai:

- Bò lai F1:

Trang 14

Mang 1/2 máu HF chịu đựng tương đối tốt điều kiện nóng ẩm, ít bệnh tật, thành thục sớm, mắn đẻ Hầu hết bò F1 có màu lông đen, một số con có vết lang trắng ở dưới bụng, 4 chân, khấu đuôi, lưng hoặc sườn và trên trán Tuổi phối giống lần đầu là 17 -18 tháng Khối lượng cơ thể con cái: 380 – 450 kg; con đực 500 –

550 kg; bê sơ sinh: 25 - 30 kg Sản lượng sữa 2.500 – 3.000 kg/chu kỳ Ngày cao nhất đạt 15 – 20 kg Tỉ lệ mỡ sữa là 3,8 – 4,2%

Xét về mặt di truyền, năng suất sữa là chỉ tiêu di truyền số lượng được nhận từ

bố mẹ Tính trạng số lượng mang tính chất không ổn định Đơn vị ước lượng mức

độ ảnh hưởng của tính trạng là hệ số di truyền (h2) Tính toán hệ số di truyền trên các nhóm bò lai hướng sữa Việt Nam GS.Nguyễn Văn Thưởng và cộng sự cho biết:

Hệ số di truyền về năng suất sữa biến động trong phạm vi 0,27 - 0,36, tỷ lệ mỡ trong sữa là 0,31 - 0,37, tỷ lệ protein trong sữa là 0,28 - 0,36 Như vậy có thể thấy gần 40% năng suất sữa đạt được của bò cái chịu sự khống chế bởi khả năng di truyền của thế hệ trước Điều này cho thấy các giống bò khác nhau thường có sản lượng sữa khác nhau Đôi khi sự khác nhau trên từng cá thể trong một giống cũng thể hiện rõ rệt

2.5.2 Dinh dưỡng

Dinh dưỡng là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến sản lượng sữa, không chỉ vậy, dinh dưỡng còn là yếu tố góp phần quyết định đối với chất lượng

Trang 15

sữa và chất lượng bò đang khai thác Khi nhà chăn nuôi áp dụng khẩu phần kích thích sản xuất nhiều sữa (ít thức ăn thô, nhiều thức ăn tinh) sẽ làm giảm tỷ lệ mỡ sữa và tăng tỷ lệ vật chất khô không béo (SNF) và ngược lại Mức dinh dưỡng tốt thường làm tăng sản lượng sữa và hàm lượng lactose nhưng làm giảm tỷ lệ béo, protein, khoáng chất và ngược lại Điều này cũng dễ giải thích vì sản lượng sữa bao giờ cũng tỷ lệ nghịch với chất lượng Sản lượng sữa tăng, cơ thể bò không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu chất lượng trong sữa là tất yếu

Mức tăng giảm sản lượng trong cùng chu kỳ được chi phối bởi thành phần dinh dưỡng trong thức ăn, khi cung cấp thiếu protein thì sản lượng không đạt đến đỉnh cao rõ rệt, thiếu năng lượng thì sản lượng sữa giảm rất nhanh sau khi đạt đỉnh cao

2.5.3 Tuổi và tầm vóc thể trạng lúc sanh

Trong cùng một giống, bò có tầm vóc lớn sản xuất nhiều sữa hơn bò nhỏ con

Bò trưởng thành sản xuất nhiều sữa hơn bò mới đẻ lứa đầu do tầm vóc phát triển lớn hơn và bầu vú cũng phát triển đầy đủ hơn qua mỗi lần mang thai Ở từng cá thể, sản lượng sữa thường tăng dần theo lứa tuổi cho đến khi trưởng thành và sau đó giảm dần Nếu bò đẻ lứa đầu lúc 3 tuổi thì chu kỳ đầu sẽ cho nhiều sữa hơn bò đẻ lứa đầu lúc 2 tuổi, tuy nhiên nếu bò đẻ sớm thì khai thác được nhiều sữa và sản lượng sữa toàn đời sẽ tăng lên

Thể trạng lúc sanh cũng có ảnh hưởng lớn đến sức sản xuất trong chu kỳ ngay sau đó

Do phần lớn bò đều giảm trọng 50 – 100 kg trong những tuần lễ đầu chu kỳ nên nếu bò có thể trạng tốt lúc sanh thì sẽ có nhiều năng lượng dự trữ trong cơ thể dùng cho việc sản suất sữa trong giai đoạn quan trọng lúc đầu chu kỳ, giúp bò cho lượng sữa lúc đỉnh cao nhiều hơn và duy trì lâu hơn

Khi tuổi bò tăng lên hoặc số lứa đẻ tăng lên thì tỷ lệ mỡ sữa giảm dần, SNF cũng giảm dần (chủ yếu do giảm lactose) Tuy nhiên sau lứa thứ 5 thì sự thay đổi rất

ít Bò có thể trạng tốt lúc sanh có khuynh hướng sản suất sữa có tỷ lệ béo cao hơn

Trang 16

2.5.4 Giai đoạn trong chu kỳ và sự mang thai

Trong mỗi chu kỳ, sự sản xuất sữa bắt đầu ở mức cao, tăng dần rồi đạt đỉnh cao sau 6 – 10 tuần rồi giảm dần, tốc độ giảm này quyết định độ dài thực tế của chu

kỳ Ở bò không mang thai, sau khi đạt đến đỉnh cao, lượng sữa giảm rất từ từ (mỗi tháng giảm 5% so với tháng trước) Ở bò mang thai, sản lượng sữa giảm nhanh sau tháng thứ 5 của thai kỳ, đến tháng thứ 8 lượng sữa giảm rõ rệt và cạn sữa vì thời điểm này bào thai lớn làm giảm tính ngon miệng và giảm lượng thức ăn ăn vào dẫn đến giảm sản lượng sữa

2.5.5 Độ dài thời gian khô sữa

Bò có thời gian cạn sữa thích hợp sẽ cải thiện thể trạng lúc sanh dẫn đến việc tăng sản lượng và tỷ lệ mỡ sữa trong 3 tháng đầu chu kỳ Thời kỳ cạn sữa ngắn sẽ cho sản lượng sữa thấp hơn trong chu kỳ kế tiếp Thời kỳ cạn sữa quá dài sẽ kéo dài khoảng cách giữa 2 lứa đẻ làm giảm sản lượng sữa cả đời

2.5.6 Sự động dục

Trong quá trình động dục lượng estrogen trong máu tăng làm ức chế prolactin

và giảm lượng thức ăn ăn vào có thể làm giảm sản lượng sữa tạm thời Bò cao sản thường chậm động dục lại sau khi sinh

2.5.7 Kỹ thuật vắt sữa

Đây là yếu tố quan trọng thứ hai sau yếu tố dinh dưỡng ảnh hưỡng đến sản lượng và chất lượng sữa Vắt sữa đúng kỹ thuật có thể làm giảm sản lượng sữa Vắt sữa không kiệt thường chừa phần sữa có tỷ lệ béo cao trong bầu vú do đó hàm lượng béo trong lần vắt sữa đó bị giảm, đồng thời sữa tồn đọng trong bầu vú dễ gây viêm nhiễm ảnh hưởng đến sự sản xuất sữa

Để đảm bảo việc vắt sữa được thực hiện tốt cần chú ý:

- Cố định giờ vắt sữa

- Cố định nơi vắt sữa

- Cố định người vắt sữa và màu áo người vắt sữa

- Cố định phương pháp vắt và phương pháp kích thích

Trang 17

2.5.8 Sự tách bê

Điều này đặc biệt quan trọng đối với các giống bò thuộc nhóm Zebu vốn thường được vắt sữa với sự có mặt của bê con Khi bê con chết hay bị tách mẹ sẽ làm chu kỳ vắt sữa bị rút ngắn và sản lượng giảm Để đảm bảo sản lượng sữa chu

kỳ, không nên cho bò mẹ tiếp xúc với bê con ngay từ đầu

2.5.9 Nhiệt độ môi trường

Bò đang cho sữa sinh nhiệt gấp đôi so với bò không cho sữa nên rất dễ chịu ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường, bò càng cao sản chịu ảnh hưởng càng nhiều đặc biệt là trong giai đoạn đỉnh cao Sản lượng sữa sẽ không bị ảnh hưởng trong phạm

vi nhiệt độ không khí từ 5 - 210C Nhiệt độ thấp hơn 50C hoặc cao hơn 210C sản lượng sữa giảm từ từ Nhiệt độ cao hơn 270C sản lượng sữa giảm rõ rệt Tuy nhiên, nhiệt độ thích hợp tối đa và tối thiểu cho sức sản xuất sữa ở mỗi giống bò có khác nhau Sản lượng sữa của bò Holstein Friesian giảm đi nhanh chóng khi nhiệt độ môi trường cao hơn 210C, bò Brown Swiss và bò Jersey là khoảng 26 - 270

C, còn bò Brahman là 320C Nhiệt độ thích hợp tối thiểu ở bò Jersey khoảng 20

C, còn ở bò Holstein Friesian không bị ảnh hưởng, thậm chí ở -130

C

Đặc biệt ẩm độ môi trường càng cao bò càng ít bị stress nhiệt Nếu nuôi bò trong điều kiện khí hậu nóng như ở TP Hồ Chí Minh cần phải trang bị hệ thống làm mát cho bò, vừa hạ nhiệt độ chuồng nuôi vừa tăng độ ẩm để đảm bảo không bị giảm sản lượng sữa do stress nhiệt

2.5.10 Bệnh tật

Bất kỳ tình trạng bệnh tật nào cũng làm ảnh hưởng sản lượng sữa Viêm vú, sốt sữa, xáo trộn tiêu hóa và các bệnh truyền nhiễm đều làm giảm sản lượng trong thời gian bệnh và có thể ảnh hưởng đến lượng sữa toàn đời Nếu bò có tình trạng sức khỏe kém lúc đầu chu kỳ thì sản lượng sữa đỉnh cao và và lượng sữa toàn kỳ cũng giảm Sữa bò bị bệnh có hàm lượng Na và Cl cao phải bỏ do có vị mặn và vì

lý do cảm quan Sữa từ vú viêm cũng có hàm lượng Na, CL, globulin và albumin cao nhưng lượng lactose, kali và casein thấp Ảnh hưởng của sữa viêm là SNF giảm

Trang 18

2.5.11 Thuốc

Nhiều loại thuốc bao gồm kháng sinh và các loại thuốc khác dùng trong điều trị bệnh bò thường được thải vào sữa do đó sữa từ những bò bệnh cần được loại bỏ, sau khi ngưng thuốc 4 – 5 ngày sữa mới được sử dụng

2.6 Các kết quả nghiên cứu có liên quan

Từ trước đến nay đã có nhiều tác giả thực hiện việc khảo sát khả năng sản xuất sữa của giống bò Holstein Friesian Tuy nhiên ở các địa phương hay thời điểm khác nhau kết quả nghiên cứu thu được cũng khác nhau Qua thu thập, tôi tổng kết được một số tài liệu như sau:

Năm 2002: tác giả Nguyễn Văn Phục đã nghiên cứu đề tài “Khảo sát khả năng sản xuất của đàn bò sữa tại trại chăn nuôi bò sữa Châu Thành – An Giang”

Năm 2005: tác giả Phan Văn Trung thực hiện đề tài “ Khảo sát khả năng sản xuất sữa tại xí nghiệp chăn nuôi Thân Cửu Nghĩa Châu Thành Tiền Giang”

Năm: 2006: Tác giả Nguyễn Xuân Trường khảo sát khả năng sản xuất của đàn

bò sữa Holstein Friesian Chokchai tại xí nghiệp nhân giống bò sữa công nghệ cao Delta – huyện Hóc Môn Thành Phố Hồ Chí Minh

Năm 2009: tác giả Nguyễn Thanh Chiêu đã tiến hành đề tài “ Khảo sát khả năng sản xuất của đàn bò sữa nhập từ trại Chokchai , Thái Lan nuôi tại trại Delta, Hóc Môn, Thành Phố Hồ Chí Minh

Các kết quả thu được của từng đề tài rất khác nhau, tuy nhiên cũng có những điểm tương đồng Các chỉ tiêu như trọng lượng và khả năng sinh sản trong các đề tài đều bị ảnh hưởng ít nhiều bởi điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng Riêng chỉ tiêu khả năng sản xuất sữa ngoài chịu ảnh hưởng bởi điều kiện ngoại cảnh còn tăng dần theo năm khảo sát của các tác giả Có thể đây là sự phát triển về công tác giống cũng như kỹ thuật chăm sóc của nhà chăn nuôi

Trang 19

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT

3.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Thời gian và địa điểm

Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 02 đến tháng 06 năm 2012 tại trại bò sữa Cô Năm xã Tân Thạnh Tây huyện Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh

3.1.2 Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài này trên 76 con bò sữa sinh sản tại trại bò Cô Năm

3.2 Nội dung

Khảo sát khả năng sản xuất của đàn bò

3.3 Các chỉ tiêu khảo sát

3.3.1 Trọng lượng gia súc trong thời gian khảo sát (kg)

Dùng thước dây chuyên dùng đo bò sữa để đo vòng ngực của từng cá thể rồi so với kết quả trên thước đo để ước lượng trọng lượng của cá thể đó

3.3.2 Khả năng sinh sản

Khả năng sinh sản được khảo sát bằng cách phân theo nhóm giống: 1/2 máu HF; 3/4 máu HF; 7/8 máu HF tương ứng với F1; F2; F3

3.3.2.1 Tuổi phối giống lần đầu (tháng)

Là thời gian tính từ khi bê cái mới sinh cho đến khi phối giống lần đầu tiên Chỉ tiêu này được khảo sát bằng cách tra cứu sổ sách lưu tại trại

3.3.2.2 Tuổi đẻ lứa đầu (tháng)

Là thời gian tính từ khi bê cái sinh ra cho đến khi nó đẻ lứa đầu tiên

3.3.2.3 Hệ số phối (lần)

Là số lần phối giống để có một lần đậu thai

Trang 20

3.3.2.4 Thời gian phối giống lại sau khi sinh (ngày)

Là số ngày bò mẹ được phối giống lại sau khi sinh lần trước

3.3.2.5 Khoảng cách 2 lứa đẻ (ngày)

Là khoảng cách tính theo ngày giữa hai lứa đẻ của bò mẹ không tính sảy thai

3.3.2.6 Tỉ lệ sống, chết sau khi sinh (%)

Là tỉ lệ phần trăm giữa số bê chết trên tổng số bê con sinh ra còn sống

3.3.2.7 Tỉ lệ bê đực cái (%)

Là tỉ lệ phần trăm việc sinh ra bê đực, phần trăm sinh ra bê cái trên tổng

số bê con sinh ra và còn sống tại trại của nhóm khảo sát

3.3.3 Khả năng sản xuất sữa

Trong chỉ tiêu này chúng tôi khảo sát trên 76 bò cái sinh sản nhưng do có nhiều lần lấy sữa ở mỗi con nên số liệu tính toán dựa trên các lần lấy sữa tại trại

3.3.3.1 Sản lượng sữa theo tháng (kg)

Ở chỉ tiêu này chúng tôi thực hiện cân sản lượng sữa 3 lần mỗi tháng cho mỗi

cá thể bò Sau đó dựa vào tháng cho sữa của từng cá thể tính trung bình các số liệu thu được trong tháng tương ứng

3.3.3.2 Sản lượng sữa chu kỳ (kg)

Dựa vào năng suất sữa theo tháng ta tính được sản lượng sữa chu kỳ

3.3.4 Tiêu tốn thức ăn:

3.3.4.1 Tiêu tốn vật chất khô tổng thể (g/kg sữa)

Tiêu tốn vật chất khô tổng thể (g/kg sữa) = vật chất khô của khẩu phần ăn hằng ngày (g) / sản lượng sữa tương ứng (kg)

3.3.4.2 Tiêu tốn năng lượng tổng thể (Kcal/ kg sữa)

Tiêu tốn năng lượng tổng thể (Kcal/ kg sữa) = tổng năng lượng của khẩu phần ăn trong ngày (Kcal) / sản lượng sữa tương ứng (kg)

Trang 21

3.3.4 3 Tiêu tốn đạm thô tổng thể (g/ kg sữa)

Tiêu tốn đạm thô tổng thể (g/ kg sữa) = đạm thô của khẩu phần ăn trong ngày (Kcal) / sản lượng sữa tương ứng (kg)

3.4 Sơ bộ tính giá thành sản xuất sữa

Giá thành sản xuất 1 kg sữa = chi phí hàng ngày / sản lượng sữa hàng ngày

3.5 Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng phương pháp thống kê sinh học (phần mềm xử lý minitab 15)

Sử dụng Microsoft Office Excel

Trang 22

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Qua thời gian thực tập tại trại bò, chúng tôi thu được những kết quả như sau:

4.1 Cơ cấu đàn bò đang cho sữa

Cơ cấu đàn bò đang cho sữa tại trại Cô Năm tính đến tháng 6 năm 2012 được trình bày qua bảng 4.1

Bảng 4.1: Cơ cấu đàn bò cho sữa tại trại Cô Năm

4.2 Trọng lượng bò trong thời gian khảo sát

Trọng lượng của đàn bò được tính vào cuối đợt khảo sát (tháng 6 năm 2012)

và được trình bày trong bảng 4.2 và biểu đồ 4.1

Qua bảng 4.2 và biểu đồ 4.1 cho thấy trọng lượng đàn bò cao nhất thuộc nhóm 7/8 máu HF với 410,08 kg, nhóm 3/4 máu HF đứng thứ nhì với 404,89 kg và cuối cùng là nhóm 1/2 máu HF với 392,69 kg Sự khác biệt về trọng lượng tuy không nhiều nhưng có ý nghĩa về mặt thống kê với P < 0,05 Trọng lượng có xu hướng tăng dần theo tỉ lệ máu HF, điều này phù hợp với đặc tính sinh lý của các nhóm giống

Trang 23

Bảng 4.2: Trọng lượng đàn bò khảo sát qua các nhóm giống (kg)

Biểu đồ 4.1: Trọng lượng đàn bò khảo sát qua các nhóm giống

Sau đây là kết quả khảo sát của một số tác giả được trình bày trong bảng 4.3 Theo bảng 4.3 cho thấy:

- Nhóm F1: trọng lượng trung bình đàn bò sữa tại trại Cô Năm là: 392,69 kg tương đương với kết quả của tác giả Nguyễn Hoàng Duy (2003); cao hơn so với kết quả của tác giả Nguyễn Văn Phục (2002) và thấp hơn các tác giả khác

380390400410420

Trang 24

- Nhóm F2: trọng lượng trung bình của đàn bò khảo sát là 404,89 kg thấp hơn kết quả của những tác giả khác

- Nhóm F3: kết quả trọng lượng bò khảo sát tại trại là: 410,08 kg , cao hơn so với kết quả của Nguyễn Văn Phục (2002) và thấp hơn so với kết quả của các tác giả khác

- Nhìn chung trọng lượng đàn bò sữa nằm trong khoảng trung bình so với các khảo sát gần đây

Bảng 4.3: Trọng lượng bò do một số tác giả khảo sát gần đây

sát 1/2 HF 3/4 HF 7/8 HF

Nguyễn Văn Yên 1998 Đồng Nai 411,00 429,00 447,00

Lê Minh Vân 2001 Đồng Nai 417,40 417,20 427,30 Nguyễn Văn Phục 2002 An Giang 388,60 429,80 350,20 Nguyễn Hoàng Duy 2003 Đồng Nai 392,00 410,00 416,00 Phan Văn Trung 2005 Tiền Giang 451,30 455,50 460,40

4.3 Khả năng sinh sản

4.3.1 Tuổi phối giống lần đầu (tháng)

Kết quả khảo sát chỉ tiêu tuổi phối giống lần đầu của bò tại trại Cô Năm được trình bày qua bảng 4.4 và biểu đồ 4.2

Qua bảng 4.4 và biểu đồ 4.2 cho thấy tuổi phối giống lần đầu thấp nhất là bò nhóm máu F1: 16,3 tháng, kế tiếp là nhóm F3: 16,36 tháng cao nhất là F2: 16,69 tháng Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê với P > 0,05 Điều này phù hợp với quy luật sinh trưởng và phát dục của bò cái, thời gian phối giống lần đầu trong khoảng 16 – 18 tháng

Trang 25

Bảng 4.4: Tuổi phối giống lần đầu của bò (tháng)

Biểu đồ 4.2: Tuổi phối giống lần đầu của các nhóm bò

Bảng 4.5: Tuổi phối giống lần đầu của bò do một số tác giả khảo sát gần đây

sát

Tuổi phối lần đầu (tháng) Phạm Ngọc Thiệp, Nguyễn Xuân Trạch 2004 Lâm Đồng 16,84

Bảng 4.5 cho thấy tuổi phối giống trung bình của đàn bò khảo sát là 16,39 thấp hơn so với kết quả khảo sát của Phạm Ngọc Thiệp, Nguyễn Xuân Trạch (2004) và

Trang 26

Nguyễn Thanh Chiêu (2009) Tất cả kết quả của các tác giả đều nằm trong khoảng cho phép của chỉ tiêu này

4.3.2 Tuổi đẻ lứa đầu

Tuổi đẻ lứa đầu của đàn bò tại trại Cô Năm được trình bày qua bảng 4.6 và biểu đồ 4.3

Bảng 4.6: Tuổi đẻ lứa đầu của bò (tháng)

Ghi chú: ns không khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức P > 0,05

Biểu đồ 4.3: Tuổi đẻ lứa đầu của các nhóm bò

Qua bảng 4.6 chúng tôi nhận thấy tuổi đẻ lứa đầu của nhóm bò 7/8 máu HF là cao nhất: 29,68 tháng, đứng thứ hai là nhóm bò 3/4 máu HF: 29,64 tháng, thấp nhất

2828.52929.530

Trang 27

là nhóm 1/2 máu HF: 28,88 tháng Kết quả này giảm dần từ nhóm bò có máu HF cao đến nhóm có máu HF thấp rất phù hợp với đặc điểm sinh lý của đối tượng khảo sát Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê với P > 0,05 Bảng 4.7 trình bày kết quả khảo sát gần đây của một số tác giả

Bảng 4.7: Tuổi đẻ lứa đầu của bò do một số tác giả khảo sát

Nơi khảo sát

Tuổi đẻ lứa đầu Phạm Ngọc Thiệp, Nguyễn Xuân Trạch 2004 Lâm Đồng 27,87

Qua bảng 4.7 chúng tôi nhận thấy tuổi đẻ lứa đầu của đàn bò khảo sát nhỏ hơn kết quả của Nguyễn Thanh Chiêu (2009) nhưng lớn hơn kết quả của Phạm Ngọc Thiệp, Nguyễn Xuân Trạch (2004) đồng thời lớn hơn so với tiêu chuẩn là 26 - 28 tháng Khi tuổi phối giống lần đầu của đàn bò phù hợp với đặc tính sinh lý nhưng tuổi đẻ lứa đầu lại cao hơn mức cho phép, có thể nguyên nhân là do tỷ lệ phối giống lần đầu thành công còn thấp hoặc do tỷ lệ sảy thai cao

4.3.3 Hệ số phối

Hệ số phối là một thông số rất quan trọng của đàn bò sữa, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất của đàn Nếu hệ số phối cao thì đàn bò phải được phối giống nhiều lần làm tăng giá thành sản suất Mặc khác nhiều lần lên giống làm thay đổi hoạt động sinh lý của bò cái sẽ dẫn đến giảm lượng sữa, giảm hiệu suất khai thác của bò Ngược lại, hiệu quả kinh tế sẽ tăng nếu hệ số phối giảm

Hệ số phối của đàn bò sữa tại trại được trình bày trong bảng 4.8 và biểu đồ 4.4

Bảng 4.8 và biểu đồ 4.4 thể hiện hệ số phối tăng dần theo thứ tự F1, F2, F3 với các số liệu như sau: nhóm 1/2 máu HF: 2,05 lần; nhóm 3/4 máu HF: 2,17 lần; nhóm 7/8 máu HF: 2,23 lần

Trang 28

Bảng 4.8: Hệ số phối của bò ở các nhóm giống (lần)

Ghi chú: ns không khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức P > 0,05

Biểu đồ 4.4: Hệ số phối của bò ở các nhóm giống (lần)

Kết quả hệ số phối của đàn bò của các tác giả khác được trình bày ở bảng 4.9 Qua bảng 4.9 chúng tôi nhận thấy : nhìn chung kết quả khảo sát hệ số phối của chúng tôi thuộc nhóm cao so với các tác giả Cụ thể là:

- Nhóm bò 1/2 máu HF của đề tài này hệ số phối cao hơn các tác giả khác (2,05 lần so với 1,1; 1,6; 1,5; 1,07; 1,6; 1,58; 1,7 lần)

- Nhóm bò 3/4 máu HF của đề tài chúng tôi hệ số phối cũng cao hơn các tác giả khác (2,17 lần so với 1,2; 1,8; 1,6; 1,23; 1,7; 1,69; 1,8 lần)

1.9522.052.12.152.22.25

Trang 29

- Nhóm bò 7/8 máu HF của chúng tôi thấp hơn so với tác giả Phan Văn Trung (2005) nhưng cũng cao hơn các tác giả khác

Kết quả hệ số phối của bò do chúng tôi khảo sát cao như vậy sẽ góp phần giảm hiệu quả kinh tế của đàn bò sữa so với các đàn khác

Bảng 4.9: Hệ số phối giống của bò do một số tác giả khảo sát gần đây

Tác giả Năm Nơi khảo sát 1/2 HF 3/4 HF 7/8 HF

Nguyễn Văn Chồn 1998 Đồng Nai 1,60 1,80 1,90 Nguyễn Văn Yên 1998 Đồng Nai 1,50 1,60 2,10

Lê Minh Vân 2001 Đồng Nai 1,07 1,23 1,50 Nguyễn Văn Phục 2002 An Giang 1,60 1,70 2,00 Nguyễn Hoàng Duy 2003 Đồng Nai 1,58 1,69 2,14 Phan Văn Trung 2005 Tiền Giang 1,70 1,80 2,50

4.3.4 Thời gian phối lại sau sinh

Bò cái sau khi sinh khoảng 60 - 80 ngày là có thể phối lại Tuy nhiên tốt nhất nên phối giống vào giai đoạn 3 – 4 tháng sau sinh Lúc này cơ thể bò đã phục hồi và chuẩn bị tốt cho kỳ sản xuất sữa tiếp theo Phối giống lại vào thời gian thích hợp sẽ đảm bảo được sức khỏe của bò cái và nâng cao hiệu quả sản xuất

Thời gian phối lại sau sinh của đàn bò tại trại Cô Năm được trình bày trong bảng 4.10 và biểu đồ 4.5

Theo bảng 4.10 và biểu đồ 4.5, thời gian phối giống lại của nhóm bò có 3/4 máu HF là sớm nhất (96,62 ngày), nhóm bò mang 1/2 máu HF và 7/8 máu HF có kết quả bằng nhau là 100,43 ngày Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê

Thời gian phối giống lại sau khi sinh tại trại bò Cô Năm tương đối đồng đều giữa các nhóm giống và nằm trong khoảng thích hợp từ 3 – 4 tháng Điều này có thể

Trang 30

do trại chú trọng nhiều đến hiện tượng động dục của đàn bò và thực hiện phối giống hợp lý

Bảng 4.10: Thời gian phối giống lại sau sinh của bò ở các nhóm giống (ngày)

Ghi chú: ns không khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức P > 0,05

Biểu đồ 4.5: Thời gian phối lại sau sinh của bò ở các nhóm giống

Thời gian phối lại sau sinh cùa bò do một số tác giả khảo sát được trình bày trong bảng 4.11

Theo bảng 4.11 chúng tôi nhận thấy:

- Nhóm giống 1/2 máu HF: thời gian phối giống lại sau sinh của đề tài cao hơn kết quả khảo sát của Nguyễn Văn Chồn (1998); Nguyễn Văn Yên(1998); Lê Minh

9092949698100102104

Trang 31

Vân (2001); Nguyễn Văn Phục(2001); Nguyễn Hoàng Duy(2003) và Phan Văn Trung (2005) Nhưng lại thấp hơn so với kết quả của Nguyễn Cao Dũng (1996)

- Nhóm giống 3/4 máu HF: thời gian phối giống lại của trại Cô Năm cao hơn kết quả của Nguyễn Văn Chồn (1998); Nguyễn Văn Yên (1998); Lê Minh Vân (2001); Nguyễn Hoàng Duy (2003) và thấp hơn so với các tác giả Nguyễn Cao Dũng (1996); Nguyễn Văn Phục (2001)

- Nhóm giống 7/8 máu HF: kết quả khảo sát của chúng tôi cao hơn so với Nguyễn Văn Chồn (1998); Lê Minh Vân (2001) và thấp hơn so với nhiều tác giả Nguyễn Cao Dũng (1996); Nguyễn Văn Yên (1998); Nguyễn Văn Phục (2001); Nguyễn Hoàng Duy (2003); Phan Văn Trung ( 2005)

Bảng 4.11: Thời gian phối giống lại sau khi sinh của bò do các tác giả khảo sát gần

đây Tác giả Năm Nơi khảo sát 1/2 HF 3/4 HF 7/8 HF Nguyễn Cao Dũng 1996 ĐHNL 127,20 127,70 176,20 Nguyễn Văn Chồn 1998 Đồng Nai 66,60 72,50 77,40 Nguyễn Văn Yên 1998 Đồng Nai 71,00 76,00 119,00

Nguyễn Văn Phục 2001 An Giang 74,40 109,80 245,00 Nguyễn Hoàng Duy 2003 Đồng Nai 79,60 89,20 103,90 Phan Văn Trung 2005 Tiền Giang 98,70 114,30 195,70

4.3.5 Khoảng cách hai lứa đẻ

Khoảng cách giữa hai lứa đẻ là thời gian giữa hai lần đẻ kế tiếp của bò mẹ Chỉ tiêu này ảnh hưởng khá lớn đến khả năng tăng đàn và hiệu quả kinh tế của đàn bò Theo chu kỳ cho sữa tiêu chuẩn thì khoảng cách hai lứa đẻ là 365 ngày với chu kỳ cho sữa là 305 ngày Nếu khoảng cách giữa hai lứa đẻ quá dài sẽ làm giảm số lần

đẻ của bò mẹ đồng thời chu kỳ cho sữa kéo dài cũng không mang lại hiệu quả kinh

tế cho nhà chăn nuôi

Trang 32

Khoảng cách hai lứa đẻ trại trại được trình bày trong bảng 4.12 và biểu đồ 4.6

Bảng 4.12: Khoảng cách giữa hai lứa đẻ của bò các nhóm giống (ngày)

Ghi chú: ns không khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức P > 0,05

Biểu đồ 4.6: Khoảng cách giữa hai lứa đẻ của bò ở các nhóm giống

Qua bảng 4.12 và biểu đồ 4.6 chúng tôi nhận thấy thời gian giữa hai lần đẻ của

bò cái ở nhóm giống F2 là thấp nhất với 460,96 ngày, tiếp theo là nhóm F1 với

474,73 ngày, cao nhất là nhóm F3 với 483,19 ngày Sự chênh lệch giữa các nhóm giống là không đáng kể và cũng không có ý nghĩa về mặt thống kê Nhìn chung chỉ tiêu này của đàn bò còn cao hơn so với con số lý tưởng, tuy nhiên sự khác biệt này chưa ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của đàn bò

440450460470480490

Trang 33

Qua thu thập tư liệu, kết quả của một số tác giả khảo sát gần đây về chỉ tiêu khoảng cách giữa hai lứa đẻ được trình bày ở bảng 4.13

Bảng 4.13 cho thấy:

- Nhóm bò F1: thời gian giữa hai lứa đẻ kế tiếp của đàn bò sữa tại trại Cô Năm ngắn hơn so với kết quả của tác giả Phan Văn Trung (2005), nhưng dài hơn kết quả của các tác giả khác

- Nhóm bò F2: thời gian phối giống lại chúng tôi khảo sát được dài hơn của các tác giả khác

- Nhóm bò F3: cũng như ở F1, kết quả của tác giả Phan Văn Trung (2005) cao hơn của chúng tôi, còn lại các tác giả khác đều thấp hơn

Bảng 4.13: Khoảng cách giữa hai lứa đẻ của bò do một số tác giả khảo sát

sát 1/2 HF 3/4 HF 7/8 HF Nguyễn Cao Dũng 1996 ĐHNL 381,11 428,44 472,00 Nguyễn Văn Yên 1998 Đồng Nai 423,00 443,00 472,00

Lê Minh Vân 2001 Đồng Nai 383,00 397,00 402,00 Nguyễn Văn Phục 1002 An Giang - 323,00 465,00 Nguyễn Hoàng Duy 2003 Đồng Nai 384,00 395,00 399,00 Phan Văn Trung 2005 Tiền Giang 537,00 397,00 508,00

4.3.6 Tỉ lệ bê đực, cái và tỉ lệ bê còn sống sau khi sinh

Giá trị kinh tế của bê đực và bê cái khác nhau rất nhiều Vì vậy, tỉ lệ bê đực, cái góp phần rất quan trọng trong hiệu quả kinh tế và tốc độ tăng đàn của trại bò

Bảng 4.14 thể hiện tỉ lệ bê đực, cái và tỉ lệ bê còn sống sau khi sinh

Qua bảng 4.14 chúng tôi nhận thấy tỉ lệ bê cái của đàn bò nằm trong khoảng trung bình là 50,40 % Tỉ lệ bê cái của nhóm F1 và F2 là tương đương nhau và cao hơn so với nhóm F3 nhưng sự chênh lệch không có ý nghĩa về mặt thống kê Vì đây

là chỉ tiêu không bị chi phối bởi kiểu gen của bò mẹ nên sự đồng đều giữa các nhóm

Trang 34

giống là hợp lý Số bê chết cả đàn chiếm 3,28 % là con số trung bình chấp nhận được

Bảng 4.14: Tỉ lệ bê đực, cái và tỉ lệ bê còn sống sau sinh ở các nhóm giống bò (%)

Nhóm máu Số bê

sinh ra

4.4 Khả năng sản xuất sữa

4.4.1 Sản lượng sữa của nhóm 1/2 máu HF qua các tháng cho sữa

Sản lượng sữa của nhóm bò F1 được trình bày qua bảng 4.15

Bảng 4.15: Sản lượng sữa nhóm bò 1/2 máu HF qua các tháng cho sữa (kg)

Ngày đăng: 16/04/2018, 02:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w