BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y **************** NGUYỄN HẢI DU KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ SINH SẢN CỦA NHÍM TẠI TRẠI
Trang 1KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT MÔ HÌNH NUÔI NHÍM, MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH TRƯỞNG, SINH SẢN VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ TẠI TRANG TRẠI NHÍM MINH HÒA
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN HẢI DU
Lớp: DH08CN
Ngành: Chăn Nuôi
Niên khóa: 2008 – 2012
Tháng 08/2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
NGUYỄN HẢI DU
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ SINH SẢN
CỦA NHÍM TẠI TRẠI NHÍM MINH HÒA
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư Chăn Nuôi
Giảng viên hướng dẫn
TS NGUYỄN TIẾN THÀNH
Tháng 08/2012
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ tên sinh viên thực hiện: Nguyễn Hải Du
Tên đề tài: “Khảo sát mô hình nuôi nhím, một số chỉ tiêu sinh trưởng, sinh sản
và đánh giá hiệu quả kinh tế tại trang trại nhím Minh Hòa”
Đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp theo yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và ý kiến nhận xét góp ý của hội đồng chấm thi tốt nghiệp khóa ngày 16 – 17/08/2012
Giáo viên hướng dẫn
TS NGUYỄN TIẾN THÀNH
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên tôi xin gửi đến bố mẹ - đấng sinh thành luôn luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quãng thời gian vừa qua Cảm ơn anh chị trong gia đình với những lời khuyên để cho tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Trường đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Chăn Nuôi Thú Y
đã tạo điều kiện cho tôi học tập và thực hiên luận văn này Tiến sĩ Nguyễn Tiến Thành đã tận tình chỉ bảo và động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Ông Lương Minh Mẫn – chủ trang trại nhím Minh Hòa đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi thực hiện đề tài này
Cảm ơn
Tất cả bạn bè trong lớp DH08CN – các bạn đã cho tôi những kỉ niệm thật đẹp của một thời sinh viên, những khó khăn trong học tập và các hoạt động của lớp chúng ta cùng nhau sát cánh
Cảm ơn những người bạn đã từng sống tại “xóm trọ vui vẻ” trong suốt 4 năm đại học của tôi, các bạn đã cho tôi biết rất nhiều về một tình bạn
Trang 5SUMMARY
The survey was conducted in Minh Hoa porcupine farm, Binh Chanh District,
Ho Chi Minh City from 30/02/2012 to 30/06/2012 to investigate the porcupine rearing model, growth and reproductive parameters and economic efficiency The data was collected from interviewing the farm owner and workers and the secondary data was collected from difference references
The results of the survey showed that the farm is opened with the total surface area of 420 square meters The age structure of the farm is as follow: 10 small porcupines under 3 months of age, 50 from 3 – 12 months of age and 69 over 12 months of age The porcupines are weaned at the age of 2-3 months and selected for breeding The feed is applied twice daily and changed following the season Relating to the reproductive parameters, the gestation period varied from 90 to 115 days, the average newborn weight is 300 g and the accumulative weight gain is 1000g/month The average litter size is 2,2 and the newborn livability reached 100%, while the weaning livability is 90,9% Relating to the health problems, the survey results showed that porcupine often have diarrhea, skin sores and eye problems Finally, the annual profit of the farm with 34 pairs of porcupines is around 161.580.000 VNĐ
Trang 6TÓM TẮT
Đề tài: “ Khảo sát mô hình nuôi nhím, một số chỉ tiêu sinh trưởng, sinh sản và hiệu quả kinh tế tại trang trại nhím Minh Hòa” đã được thực hiện từ tháng 02/2012 đến tháng 06/2012 tại trại nhím Minh Hòa, thuộc Xã Tân Túc, Huyện Bình Chánh,
TP Hồ Chí Minh Đề tài được thực hiện theo các phương pháp: Thực hiện các chuyến tham quan tại trại, phỏng vấn chủ trại; trực tiếp tham gia các công việc ở trại; phỏng vấn chủ trại và công nhân trực tiếp chăm sóc; dùng phiếu khảo sát, chụp hình và tham khảo thông tin từ các tài liệu khác
Đề tài đạt được một số kết quả: chuồng trại được thiết kế theo dạng chuồng hở với tổng diện tích khoảng 420m2, cơ cấu đàn: 10 con dưới 3 tháng tuổi, 50 con từ 3 – 12 tháng tuổi và 69 con trên 12 tháng tuổi Nhím được cai sữa lúc đạt 2 -3 tháng tuổi và tất cả đều được chon làm giống Thức ăn thay đổi theo mùa, lượng thức ăn cho theo cảm tính và cho ăn thành 2 bữa: lúc 10 – 11 giờ và lúc 5 – 6 giờ Trọng lượng nhím sơ sinh trung bình đạt 300g, tăng trọng tích lũy đạt 1000g/tháng Số con sinh ra/lứa đạt 2,2 Tỉ lệ sơ sinh còn sống đạt 100% Tỉ lệ sống đến khi cai sữa đạt 90,9% Sinh sản lúc nhỏ hơn 12 tháng, thời gian mang thai từ 90 – 115 ngày Nhím nuôi thường mắc một số bệnh: tiêu chảy, ghẻ lở và nhặm mắt Nuôi 34 cặp nhím trong một năm mang lại lợi nhuận cho nhà chăn nuôi là 161.580.000 đồng
Trang 7MỤC LỤC
TRANG TỰA i
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ii
LỜI CẢM TẠ iii
TÓM TẮT v
MỤC LỤC vi
DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ ix
DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH x
Chương 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích – yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 3
TỔNG QUAN 3
2.1. Giới thiệu sơ lược về trại nhím Minh Hòa 3
2.1.1 Bối cảnh hình thành 3
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 3
2.1.3 Tổng quan chuồng trại 4
2.2. Sơ lược về phân loại 5
Trang 82.2.2 Mô tả loài nhím ở Việt Nam 13
2.3. Các loại thức ăn cho nhím 19
2.3.1 Thức ăn xanh 19
2.3.2 Thức ăn tinh 20
2.3.3 Thức ăn bổ sung 21
2.4. Giá trị từ con nhím: 25
2.5. Sơ lược về tình hình chăn nuôi nhím trên Thế giới và Việt Nam: 26
2.5.1 Trên thế giới 26
2.5.2 Tại Việt Nam 27
Chương 3 29
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Thời gian và địa điểm 29
3.2 Đối tượng nghiên cứu 29
3.3 Các nội dung nghiên cứu: 29
3.3.1 Điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng 29
3.3.2 Chỉ tiêu sinh trưởng 29
3.3.3 Chỉ tiêu sinh sản 29
3.3.4 Hiệu quả kinh tế 30
3.4 Phương pháp 30
Chương 4 32
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Chuồng trại 32
4.2 Chọn giống 34
4.3 Thức ăn và cách cho ăn 35
Trang 94.4 Sinh trưởng 37
4.4.1 Trọng lượng nhím sơ sinh 37
4.4.2 Trọng lượng tích lũy. 37
4.5 Sinh sản 38
4.6 Sự mang thai, sự đẻ, chăm sóc nhím mẹ sau khi đẻ và nhím con 38
4.8 Hiệu quả kinh tế 41
4.8.1 Các khoảng chi phí trong 1 năm 42
4.8.2 Doanh thu trong 1 năm 43
4.8.3 Lợi nhuận 44
Chương 5 47
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.1.1 Chuồng trại 47
5.1.2 Thức ăn 47
5.1.3 Chọn giống 47
5.1.4 Sinh trưởng 47
5.1.5 Sinh sản 48
5.2 Đề nghị 48
PHIẾU ĐIỀU TRA CHĂN NUÔI 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng một số loại thức ăn 23
Bảng 2.2 Hàm lượng các acid amin trong một số loại thức ăn 24
Bảng 4.1 Khả năng sinh sản của nhím qua các tháng tuổi 38
Bảng 4.2 Các bệnh thường gặp và cách điều trị 40
Bảng 4.3 Hiệu quả kinh tế cho các mức độ của một trại nhím trong 1 năm 46
Biểu đồ 4.1 Biến động giá cả nhím giống từ năm 2007 – 2012 42
Trang 11
DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 nhím Coendou prehensillis 6
Hình 2.2 nhím Coendou bicolor 6
Hình 2.3 nhím S insidiosus 6
Hình 2.4 nhím S spinosus 6
Hình 2.5 nhím S mexicanus 7
Hình 2.6 nhím S villosus 7
Hình 2.7 nhím S vestitus 7
Hình 2.8 nhím S ichillus 7
Hình 2.9 nhím S pruinosus 8
Hình 2.10 nhím S roosmalenorum 8
Hình 2.11 nhím S melanurus 8
Hình 2.12 nhím Erethizon dorsatum 8
Hình 2.13 nhím Chaetomys subspinosus 9
Hình 2.14 nhím Echinoprocta rufescens 9
Hình 2.15 nhím Hystrix cristata 9
Hình 2.16 nhím Hystrix pumila 9
Trang 12Hình 2.17 nhím Hystrix africaeaustralis 10
Hình 2.18 nhím Hystrix indica 10
Hình 2.19 nhím Hystrix brachyura 10
Hình 2.20 nhím Hystrix javanica 10
Hình 2.21 nhím Atherurus africanus 11
Hình 2.22 nhím Atherurus macrourus 11
Hình 2.23 nhím Trichys fasciculate 11
Hình 2.24 Các dạng lông nhím 12
Hình 2.25 Atherurus macrourus 13
Hình 2.26 Hystrix brachyuran (Phùng Mỹ Trung) 16
Hình 2.27 Cấu trúc xương đầu của nhím Hystrix brachyura 16
Hình 2.28 Dấu chân Hystrix brachyura 17
Hình 2.29 Một số sản phẩm từ lông nhím 25
Hình 2.30 Dạ dày nhím 26
Hình 4.1 Tổng quan về chuồng trại 33
Hình 4.2 Phân biệt giới tính nhím đực và cái 34
Hình 4.3 Các loại thức ăn cho nhím 36
Hình 4.4 Nhím bố mẹ chăm sóc nhím con 39
Trang 13Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Những năm gần đây, việc chăn nuôi các động vật truyền thống (heo, bò, gà
…) đã gặp nhiều khó khăn như dịch bệnh xuất hiện thường xuyên và khó kiểm soát (cúm gia cầm H5N1, cúm heo H1N1, lở mồm long móng …), giá con giống, thức ăn cao đã gây không ít thiệt hại cho người chăn nuôi vì thế nhiều hộ nông dân đã chuyển sang chăn nuôi các động vật khác – chăn nuôi thú hoang dã nhằm phát huy tiềm năng của các giống vật nuôi này: ít dịch bệnh, nguồn thức ăn dễ kiếm và ít cạnh tranh với con người, thị trường ưa chuộng Và con nhím cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ
Tuy nhiên, việc nhu cầu nuôi nhím tăng nhanh như giai đoạn vừa qua (2005 – 2011) đã gây không ít khó khăn cho nhà chăn nuôi, nhiều nông dân mới vào nghề bằng con nhím đã gặp phải thất bại vì chưa nắm rõ quy trình kỹ thuật chăn nuôi và giá nhím giống được đồn thổi lên quá cao khiến cho số vốn đầu tư lớn Hiện nay, thị trường nhím giống đã bão hòa vì hiệu quả kinh tế từ việc nuôi nhím cần phải được đánh giá lại đồng thời tìm hiểu quy trình kỹ thuật để ngành nuôi nhím phát triển bền vững hơn
Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại Học Nông Lâm TP HCM, sự đồng thuận của ông Lương Minh Mẫn –
Trang 14chủ trang trại nhím Minh Hòa và TS Nguyễn Tiến Thành, chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Khảo sát mô hình nuôi nhím, một số chỉ tiêu sinh trưởng, sinh sản
và hiệu quả kinh tế tại trang trại nhím Minh Hòa” để cung cấp một số thông tin
cơ bản về loài vật nuôi mới này
1.2 Mục đích – yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Tìm hiểu mô hình nuôi nhím; theo dõi sự sinh trưởng, phát triển; sự sinh sản của nhím nuôi tại trại nhím Minh Hòa; đánh giá hiệu quả kinh tế Qua đó tìm ra những ưu điểm của mô hình để phát huy và nhược điểm từ mô hình này để khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong tương lai
1.2.2 Yêu cầu
Người thực hiện đề tài phải có kiến thức chung về loài nhím
Quan sát và theo dõi sự sinh trưởng, phát triển nhím từ sơ sinh đến trưởng thành; sự sinh sản của nhím
Thống kê các số liệu để đánh giá hiệu quả kinh tế
Trang 15Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 Giới thiệu sơ lược về trại nhím Minh Hòa
2.1.1 Bối cảnh hình thành
Năm 1997, UBND thành phố HCM căn cứ các chỉ thị và quyết định trước đó của thủ tướng chính phủ về bảo vệ và phát triển động vật rừng (ĐVR) ra quyết định Số: 2399/QĐ-UB-KT Tại điều 4 của quyết định: Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư gây nuôi, phát triển ĐVR (Thư viện pháp luật – quyết định) Theo đó, không ít người dân ở thành phố HCM cũng như một số tỉnh lân cận: Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương …, và một số tỉnh miền Bắc: Sơn La, … đầu tư gây nuôi Trong đó có ông Lương Minh Mẫn – chủ trang trại nhím Minh Hòa, ban đầu ông Mẫn gây nuôi với 3 cặp nhím, đến năm 2000 khi 3 cặp nhím sinh sản nhiều ông đầu
tư xây dựng chuồng trại khang trang hơn và lấy tên là trại nhím Minh Hòa Được chi cục kiểm lâm thành phố cấp phép kinh doanh Từ năm 2000 đến nay trang trại
đã sản xuất và cung cấp cho thị trường rất nhiều nhím giống và nhím thịt Ông Mẫn
là một tấm gương sản xuất kinh doanh giỏi, được UBND thành phố Hồ Chí Minh phong tặng rất nhiều huân chương và giấy khen
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Trại có cơ cấu tổ chức theo kiểu hộ gia đình, vợ chồng và các con đều tham gia vào công việc của trại khi có thời gian rảnh Tuy nhiên, với sự tăng nhanh của
Trang 16trại: thu gom thức ăn, vệ sinh, chăm sóc, … để đảm bảo số lượng và chất lượng nhím cung cấp cho thị trường Từ đó chủ trại chuyên tâm hơn vào việc tìm kiếm thị trường và các giấy tờ hợp lệ cho các loài thú khác để trại hoạt động bền vững hơn
2.1.3 Tổng quan chuồng trại
Trại nhím Minh Hòa thuộc thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh Được xây dựng vào năm 2000, trại có diện tích khoảng 420 m2 với tường xây gạch bao xung quanh cao 2m, nối với tường là lớp lưới B40 cao 1,2m Mái được lợp bằng tôn với kiểu nóc đôi nên không khí nóng thoát ra ngoài dễ dàng, trên mái còn được thiết kế 2 tấm tôn 2 bên có thể di động bằng ròng rọc và dây kéo nhằm mục đích sử dụng ánh sáng tự nhiên và tăng thêm sự lưu thông không khí Nền chuồng được tráng xi măng ở các lối đi, trong ô chuông nuôi nhím được lót gạch men nên dễ dàng vệ sinh chuồng, có rãnh thoát nước giữa 2 dãy chuồng
Các ô chuồng nuôi nhím được bố trí thành 6 dãy dọc theo chiều dài của chuồng, mỗi dãy có trung bình 15 ô chuồng Với mỗi ô nuôi 2 con (1 đực, 1 cái), tuy nhiên thời điểm hiện nay thị trường nhím giống đã bão hòa, chủ trại đã cho giảm đàn và chuyển sang bán nhím thịt nên hiện tại trại có tổng đàn là 129 con trong đó có 69con trên 1 năm tuổi, 50 con từ 3 – 12 tháng, và 10 con dưới 3 tháng tuổi
Hệ thống nước được sử dụng cho nhím uống và xịt rửa chuồng trại là nước giếng khoan đã được xử lý bằng phương pháp lọc Với phương châm tiết kiệm chi phí đầu vào để hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tính cạnh tranh, chủ trại đã tận dụng tất cả các nguồn thực phẩm làm thức ăn cho nhím Với đặc điểm ăn được và tiêu hóa được nhiều loại thức ăn nên chủ trại đã thu gom lá rau muống từ các cơ sở chế biến rau muống bán cho các quán ăn; hạt mít, khoai lang, các loại hạt đậu không
đủ tiêu chuẩn làm thức ăn cho người để cho nhím ăn …, và thay đổi thức ăn tùy theo mùa
Trang 17Trại được cấp phép sản xuất, kinh doanh các loại thú hoang dã như trăn, nhím, chồn, …
Trong khuôn viên trại còn nuôi thêm chồn mướp, cá cảnh, chim, rùa tai đỏ … làm cho trại nhím Minh Hòa thêm phần sinh động và đa dạng hơn các loài vật hoang dã
2.2 Sơ lược về phân loại
2.2.1 Khái quát
Theo Phil Myers và ctv., 2009 thì nhím được phân loại khoa học như sau:
Giới (Kingdom) : Animalia
Trang 182.2.1.1 Erethizontidae (nhím lông Tân thế giới)
Nhím Brasil, Coendou prehensillis Nhím gai hai màu, Coendou bicolor
Hình 2.1 nhím Coendou prehensillis Hình 2.2 nhím Coendou bicolor
Nhím Koopman, Coendou koopmani
Nhím Rothschid, Coendou rothschildi
Nhím lùn Bahia, Sphiggurus insidiosus
Nhím cây Nam Mỹ, Sphiggurus spinosus
(Cuvier, 1823)
Hình 2.3 nhím S insidiosus Hình 2.4 nhím S spinosus
Trang 19Nhím cây Mexico, Sphiggurus mexicanus Nhím lùn lông cam, Sphiggurus villosus
Trang 20Nhím lùn lông mờ, Sphiggurus pruinosus Nhím Roosmalen, S roosmalenorum
Trang 21d Giống Chaetomys: nhím gai
lông cứng, Chaetomys subspinosus
Hình 2.13 nhím Chaetomys subspinosus
Echinoprocta rufescens (Gray, 1865)
Hình 2.14 nhím Echinoprocta rufescens
2.2.1.2 Hystricidae ( nhím lông Cựu thế giới)
a Giống Hystrix (nhím bờm): gồm các loài
Hình 2.15 nhím Hystrix cristata Hình 2.16 nhím Hystrix pumila
Trang 22Nhím Cape (nhím Nam Phi), Hystrix
africaeaustralis (Scotch MacAskill, 2011)
Hình 2.17 nhím Hystrix africaeaustralis
(Kerr, 1792)
Hình 2.18 nhím Hystrix indica Hình 2.19 nhím Hystrix brachyura
Nhím Sunda, H javanica (Montybruce, 2011)
Hình 2.20 nhím Hystrix javanica
Nhím Sumatra, Hystrix sumatrae
Nhím Borneo, Thecurus crassispinis
Trang 23b Giống Atherurus (nhím đuôi chổi): gồm các loài
Nhím đuôi chổi châu Phi, Atherurus africanus (Glamhag, 2011)
Hình 2.21 nhím Atherurus africanus
Nhím đuôi chổi châu Á, Atherurus macrourus
(Mjboloy_25, 2010)
Hình 2.22 nhím Atherurus macrourus
Trichys fasciculate (Jonas Liviet, 2008)
không cứng cáp, mọc đơn lẻ chứ không mọc thành cụm và chúng leo trèo cây rất
tốt, dùng nhiều thời gian sống trên cây Erethizontidae sống trong nhiều loại môi trường khác nhau: Coendou và Sphiggurus sống vùng cận nhiệt đới và được tìm thấy trong rừng đất thấp; Echinoprocta sống trong rừng núi giữa độ cao 800 –
Trang 24những loài nhím trong họ Hystricidae gần như chỉ sống trong mặt đất, tương đối to
lớn hơn, và các lông mọc thành cụm Cả 4 chi đều mập và ngắn Chi trước và sau đều có 5 ngón, kích thước ngón chân cái thì nhỏ hơn, móng chân ngắn Nhím thuộc
nhóm đi bằng gan (lòng) bàn chân Bộ lông của họ nhím Hystricidae thay đổi đáng
kể theo loài
Hình 2.24 Các dạng lông nhím
Ví dụ: trên giống Trychis, lông ngắn, dẹt Ngược lại trên giống Hystrix thì
lông dài đến 20cm nhưng bên trong lại rỗng Lông nhím phân thành những đoạn trắng và đen Lông phân bố dày hơn ở phần móng, lưng, đuôi, chúng phát ra âm thanh “lách tách” khá lớn mỗi khi lắc đuôi, đây cũng là cách cảnh báo kẻ thù Họ
Hystricidae được cho là tách ra từ cận bộ Hystricognathi từ 30 triệu năm về trước,
sớm hơn nhiều so với họ Erethizontidae (Phil Myers, 2001)
Cũng giống như thỏ, nhím có 2 đôi răng cữa sắc nhọn và dài ra liên tục giúp nhím có khả năng ăn được và tiêu hóa được nhiều loại thức ăn thực vật kể cả xương động vật Nhím hầu như không có dịch bệnh Hệ tiêu hóa của chúng khác với nhiều loài Nó có buồng gan rất lớn, chiếm 1/3 thể tích của khối nội tạng Nhím không có túi mật riêng Tuyến mật nằm trong gan và tiết trực tiếp mật vào dạ dày Nhím có một tuyến hôi dạng vòng xoắn nằm quanh hậu môn Chúng tiết ra một chất màu vàng cam và có mùi rất hôi Chính nhờ tuyến này mà chúng có thể phát hiện được con đực và con cái qua phân và nước tiểu trong mùa sinh sản (Nowak, 1993)
Trang 252.2.2 Mô tả loài nhím ở Việt Nam
Căn cứ vào sự phân bố thì loài nhím sinh sống ở Việt Nam là loài Atherurus
macrourus (Linnaeus, 1758) thuộc giống nhím đuôi chổi và loài Hystrix brachyura
(Linnaeus, 1758) thuộc giống nhím bờm, các loài thuộc họ này có kích cỡ trung bình, bên ngoài có bộ lông có gai và trâm nhọn cứng Thức ăn của chúng là thực vật, rễ cây, các loại côn trùng nhỏ
2.2.2.1 Giống nhím đuôi chổi châu Á – Nhím đuôi chổi châu Á còn gọi là
Hon, Đon (Việt) ; Tu hon (Tày) là loài thú nhỏ trong họ Hystricidae
a Sự phân bố
Xuất hiện khá nhiều ở khu vực Đông Nam Á như Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Đông Ấn Độ, Trung Nam Trung Quốc, Đảo Sumatra, Myanma, Thái Lan, Việt Nam (Chương trình bảo tồn đa dạng sinh học vùng châu Á – Asian regional centre for biodiversity conservation, 2004)
Trang 26Bề ngoài hơi giống chuột và khá mảnh khảnh Màu sắc của lông từ nâu đen
đến nâu xám Atherurus macrourus sở hữu những đôi chân chắc, khỏe, đôi tai tròn
và nhỏ, mắt nhỏ Trên đỉnh của lông có màu trắng, phần lông ngắn ở mặt bụng có màu trắng đục đến nâu nhạt Những lông nhọn trên lưng thì dẹt, giống lưỡi dao và
có rãnh Lông dài nhất nằm ở phần giữa lưng có thể dài 10 cm Ở phần thấp của lưng những lông tròn và đặc nằm rải rác Sau đó là đuôi có một túm lông màu trắng, chúng xếp dày đặc giống như vảy cá và phát ra âm thanh khi lắc Hành động này cũng là cách cảnh báo kẻ thù Đây là loài nhanh nhẹn có thể chạy, leo trèo và bơi nhanh Chân trước và chân sau đều có 5 ngón
c Tập tính, sinh thái
Ban ngày chúng nghỉ ngơi trong hang đất, đá, giữa các rễ cây, giữa các ụ mối
dưới bóng mát của cây Atherurus macrourus có thể sống ở độ cao 3000 m so với
mặt nước biển, chủ yếu tập trung ở rừng trên núi đá vôi hay nơi có nhiều đá lộ đầu,
ở trong các hang, hốc đá tự nhiên Thích đào hang ở tầng đất mềm, nơi nhiều cây như khu trồng trọt, rừng và ở gần nguồn nước
Đây là loài ăn thực vật, thỉnh thoảng chúng cũng ăn côn trùng hay xác chết Ban ngày họp thành nhóm ẩn nấp trong các gốc cây, ban đêm đi kiếm ăn riêng lẻ,
có thể đi xa 15 km mỗi đêm để kiếm ăn (Choe, 2006)
Atherurus macrourus sống thành đàn từ 4 đến 8 thành viên, trong đàn thường
có một cặp trưởng thành, một vài con non đang phát triển Chúng có khả năng thích nghi với nhiều môi trường khác nhau từ rừng nguyên sinh đến các vùng đất khác
d Đặc điểm sinh sản
Thời gian mang thai của nhím mẹ vào khoảng 100 - 110 ngày Mỗi lứa nhím
mẹ thường chỉ sinh ra một con nhím con duy nhất, và mỗi năm chúng thường sinh được hai lứa Thời gian con đực và cái trưởng thành sinh dục trung bình là 2 năm
Trang 27Những lông nhọn trên lưng con cái thường gây khó khăn cho con đực khi giao phối, và con cái có thể tấn công bằng lưng về phía con đực
Nhím con mới sinh ra rất lanh lợi và mở mắt chỉ vài giờ sau đó Do con sơ sinh rất nhỏ (chiếm 3% trọng lượng cơ thể mẹ) nên cần thời gian chăm sóc dài Cả
bố và mẹ đều tham gia vào quá trình chăm sóc con (Storch and Parker, 1990) Thời gian cai sữa: trung bình khoảng 2 tháng Sau 1 – 2 năm nhím con sinh ra có thể sinh hoạt độc lập
e Tình trạng
Số lượng Atherurus macrourus ở Việt Nam còn tương đối nhiều Tuy nhiên
cũng cần phải có biện pháp bảo vệ loài này trong tự nhiên
f Giá trị sử dụng
Đây là loại thực phẩm có giá trị cho đồng bào dân tộc, chúng có thể được săn bắt làm thịt Và là con mồi cho các loài ăn thịt lớn khác như: hổ, báo, sói … Tuy
nhiên Atherurus macrourus cũng là loài gây thiệt hại cho các sản phẩm nông lâm
nghiệp vì chúng đào bới các loại cây trồng như khoai mì, bắp, dứa, khoai tây … làm chết cây
2.2.2.1 Giống nhím bờm Mã Lai – Hystrix brachyuran
Tên khác: nhím bờm, Tu mỉn (Tày), Điền day (Dao), Amoa (Mnông), Ksoa
(ÊĐê) (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 2008)
a Phân bố
Hystrix brachyuranphân bố ở Malaysia, Singapore, Nepan, Ấn Độ, Butan,
Trung Quốc, Bangladesh, Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam …
Trang 28b Cấu tạo xương đầu của Hystrix brachyura
Hình 2.26 Hystrix brachyuran (Phùng Mỹ Trung)
Hystrix brachyura có cấu trúc của bộ gặm nhấm dạng nhím Ở xương đầu, lỗ
dưới hốc mắt chạy từ phần trước của hốc mắt tới mặt ngoài của mõm, kích thước rất lớn Thông qua lỗ hốc mắt, một phần của
cơ nhai giữa phình to và chạy ngang trên
mặt bên của mõm tới cung gò má Cơ
nhai trên bắt nguồn từ rìa phía trước của
xương gò má, còn cơ nhai bên trải rộng
trên phần lớn chiều dài của xương gò má
(Carleton và Musser, 2005)
Công thức răng: I 1/1, C 0/0, PM 1/1, M
3/3 = 20, răng hàm có hình vương miện
Nhím không có răng nanh
Với I = Răng cửa, C = Răng nanh, PM =
Răng tiền hàm, M = Răng hàm
Hình 2.27 Cấu trúc xương đầu của nhím Hystrix brachyura
Trang 29c Hình dạng
Trọng lượng trưởng thành: 10 – 30 kg Chiều dài cơ thể: 60 – 93 cm, trong đó chiều dài đuôi: 6,4 – 20 cm Là loài vật lớn nhất và nặng nhất trong bộ gặm nhấm
Hystrix brachyuran có đặc điểm riêng là những lông mảnh, dài trên phần đầu
và gáy tạo thành bờm Lông bờm dài 30 – 60 mm, màu nâu sẫm Đầu to, mõm ngắn, tai và mắt đều nhỏ Hình dáng nặng nề, thân mình tròn Có nhiều ria ở phần đầu, quanh miệng Bộ lông thô cứng, ngắn, màu đen hoặc nâu xẫm bao phủ đầu, cổ, vai, chân và mặt dưới bụng Dọc trên lưng có những lông cứng, nhọn, dài, mọc chĩa thẳng về phía sau Lông có những đoạn đen, trắng xen kẽ nhau và dài khoảng 50 – 450mm nhưng bên trong lại rỗng, thường dùng để tự vệ, mọc thành cụm Đuôi ngắn, lông phình ra thành hình cốc rỗng ruột, màu trắng, đuôi có thể phát ra âm
thanh khi lắc Chân trước của Hyxtrix có 5 ngón, ngón cái gần như bị thoái hóa
Chân sau có 5 ngón và ngắn hơn chân trước Nhím di chuyển bằng lòng bàn chân (Nowak, 1991; Grzimek, 1990)
d Tập tính, sinh thái
Nhím bờm Hystrix brachyura có khả
năng thich nghi với nhiều môi trường khác
nhau, từ rừng nguyên sinh đến rừng suy thoái
nhưng thích hợp là rừng gỗ thưa pha tre nứa
Trang 30Ban ngày nhím ngủ trong các hang hốc tự đào, hang rộng 50 cm, sâu 1 - 1,5 m; miệng hang có cây cỏ sum xuê, có nhiều cữa ngách Đi lại chậm chạp và khi đi túm lông đuôi phát tiếng kêu “lạch xạch” Kiếm ăn đêm trên mặt đât, giờ đi ăn phụ thuộc vào chu kì trăng, thường lúc tối trời và đi ăn về theo một lối nhất định
Khi gặp kẻ thù nhím thể hiện động tác đe dọa bằng cách nghiến răng, dậm chân, xù lông và rung đuôi tạo ra tiếng động “lách cách”, “lòe xòe” để dọa nạt kẻ thù và thông báo tín hiệu với những con cùng đàn để lẩn tránh Nếu không có kết quả thì chúng sẽ rút lui Tuy nhiên, nếu kẻ thù tiếp tục truy đuổi, chúng sẽ bỏ chạy nhanh, sau đó đột ngột dừng lại, làm cho kẻ thù bị đâm bởi lông của chúng Qua nghiên cứu cho thấy nhím lắc đuôi như vậy để thể hiện khả năng uy lực của mình trước kẻ thù (Chương trình bảo tồn đa dạng sinh học vùng Châu Á – Asian Regional Center for Biodiversity Conservation, 2004)
e Đặc điểm sinh sản
Hystrix brachyura dễ sinh sản Con đực trưởng thành sau 12 tháng, con cái sau
16 tháng tuổi Mỗi năm 1 con nhím cái đẻ khoảng 2 lứa Mùa sinh sản vào tháng 3
-4 và tháng 10 – 11 Khi lên giống, nhím cái sẽ tấn công những con đực nếu không quen biết, chỉ sau một khoảng thời gian làm quen, con cái mới cho phép con đực giao phối (Grzimek, 1990) Khi giao phối nhím cái sẽ cong đuôi lên, con đực nhảy lên và để 2 chân trước lên lưng con cái Nhím cái có 2 hay 3 cặp vú ở bên hông ngực Khi cho con bú nhím mẹ nằm úp bụng xuống đất
Thời gian mang thai: khoảng 100 – 112 ngày Mỗi lần đẻ khoảng 1 – 3 con, nhưng thường là 2 con Trọng lượng sơ sinh 230 – 445 g Nhím con sau khi sinh đã
mở mắt, có răng cửa, cơ thể đã có đầy đủ lông, nhưng phần lông trên lưng nhỏ và mềm Nhím con chiếm khoảng 3% trọng lượng cơ thể mẹ Nhím con có thể tập đi kiếm ăn sau một tuần; sau 2 – 3 tuần thì nhím con có thể ăn một số loại thức rắn
(“AnAge entry for Hystrix brachyura”, 2008)
Trang 31Khi nhím đực sắp trưởng thành (5 - 6 tháng) thì phải tách đàn nuôi riêng, nếu không nhím bố sẽ tấn công cho đến chết mới thôi (đó là qui luật tự nhiên để bảo tồn nồi giống) Tỷ lệ đực cái thích hợp là 1/8 - 10
Là một loài sống lâu, ngay cả trong hoang dã, chúng sống khoảng 12 - 15 năm Nếu nuôi trong môi trường nhân tạo tốt thì tuổi thọ cao nhất có thể lên đến 27 năm 4 tháng ( Vũ Ngọc Yến, trích dẫn 2009)
Tình trạng bảo tồn: SĐVN (2007): không; NĐ 32/2006/NĐ – CP: không;
IUCN (2007): VU; Cites (2006): không ( Đặng Ngọc Cần và ctv., 2008)
2.3 Các loại thức ăn cho nhím
Thức ăn cần thiết dành nuôi nhím có bốn loại là: thức ăn xanh, thức ăn tinh, thức ăn bổ sung và vitamin
2.3.1 Thức ăn xanh
Lượng thức ăn xanh trong khẩu phần ăn của nhím chiếm số lượng lớn nhất, khoảng 90% gồm nhiều loại lá cây, các thứ củ quả và cả phụ phế phẩm công nghiệp Trong thức ăn xanh do chứa nhiều nước, ăn ngon miệng nên nhím thích ăn
và ăn được nhiều Trong thức ăn xanh cũng có nhiều chất bổ dưỡng cần thiết như: protein, đường, canxi, phosphore là những chất cần thiết cho sự sinh trưởng của nhím
2.3.1.1 Các thứ lá: nhím có khả năng ăn được hầu hết tất cả các thứ cỏ lá và
ăn với số lượng nhiều
Các loại rau lang, rau muống, các loại lá cây như lá mít, lá tre, lá chuối, lá ổi… các loại cỏ đồng, cỏ cao sản, cỏ họ đậu …, đọt mía, đọt thơm, vỏ thơm, thân và lá cây bắp… các thứ rễ cây như rễ cau, rễ dừa
2.3.1.2 Các thứ củ, quả: củ khoai lang, khoai tây, khoai môn, khoai mì (sắn),
cà rốt, củ cải, và các thứ trái như bí đỏ (bí rợ), bí đao, bầu, mướp, dưa leo, chuối… đều là món ăn nhím rất ưa thích
Trang 32Thức ăn củ quả tuy nghèo protein và chất béo, nhưng lại chứa nhiều vitamine
A, C và nhiều chất bột đường, có vị ngọt, thơm, chứa nhiều nước nên kích thích sự thèm ăn của nhím
2.3.1.3 Các phụ phế phẩm công nghiệp: các phụ phế phẩm công nghiệp cho
nhím ăn như hèm rượu bia, xác mì, xác đậu nành…
Hèm rượu bia có giá trị dinh dưỡng cao, chứa nhiều khoáng chất và sinh tố, có thể ăn tươi có pha trộm cám gạo, bột bắp hay cám hỗn hợp
Xác mì là phế phẩm của khoai mì (sắn) sau khi đã chắt lọc hết tinh bột, nhưng hàm lượng tinh bột vẫn còn khá cao
Xác đậu nành là phụ phẩm của việc chế biến bột đậu nành (đậu tương) thành đậu hủ hay sữa đậu nành, có hàm lượng chất béo và protein cao
2.3.2 Thức ăn tinh
Lượng thức ăn tinh trong khẩu phần ăn của nhím không nhiều, chỉ cần 5g đến 10g cho mỗi nhím trưởng thành là đủ Thức ăn tinh dành nuôi nhím có các thức ăn chính sau đây:
2.3.2.1 Cám gạo: cám gạo là thức ăn tinh cung cấp năng lượng và chất đạm,
cám gạo có hai thứ: cám khô (còn gọi là cám to) và cám mịn (còn gọi là cám lau) Cám to còn lẫn vỏ trấu nên hàm lượng chất xơ cao hơn cám mịn, rẻ tiền hơn, nhưng bảo quản lâu ngày hơn Còn cám mịn có giá trị dinh dưỡng cao hơn cám to, nhưng
vì nó có độ ẩm cao nên khó bảo quản, để lâu ngày sẽ bị ôi mốc, cho nhím ăn dễ bị ngộ độc
Nuôi nhím để hạ giá thành thức ăn, ta có thể cho chúng ăn loại cám to, nhưng phải chọn thứ cám còn mới, có mùi thơm vị ngọt mới nhiều dưỡng chất
2.3.2.2 Bột bắp: bột bắp là thức ăn tinh có hàm lượng tinh bột cao, cung cấp
năng lượng và đạm Trong bột bắp có chứa nhiều nhất là chất khô, kế đó là protein
Trang 33thô, một ít khoáng chất và chất béo Bột bắp vàng có chứa nhiều caroten hơn bột bắp trắng
2.3.3 Thức ăn bổ sung
Thức ăn bổ sung trong khẩu phần ăn của nhím chỉ với số lượng nhỏ gồm chất khoáng, chất béo và vitamine Tuy số lượng không lớn nhưng không thể thiếu vì thức ăn chủ yếu để nuôi nhím là thức ăn xanh có nguồn gốc thực vật nên chất khoáng, chất béo và vitamine đều thiếu đến mức không bổ sung không được
2.3.3.1 Chất khoáng: cần cung cấp vào khẩu phần thức ăn của nhím là
phosphore (P) và calci (Ca) Phosphore có nhiều trong bột xương và calci có nhiều trong bột sò Trong khẩu phần ăn của nhím trưởng thành chỉ cần 1g P và 1g Ca là
đủ Trong tự nhiên nhím thường tha xương động vật hay sừng hươu, hoẵng vào hang gặm nhấm để tự bổ sung khoáng và mài răng cho ngắn lại và sắc hơn (Nowak, 1991)
2.3.3.2 Chất béo: cung cấp nhiệt lượng và nhiệt năng cho nhím, nếu trong
khẩu phần ăn của nhím đã có đầy đủ thức ăn tinh thì việc cho ăn bổ sung chất béo không là vấn đề đáng quan tâm nữa, vì trong cám gạo, bột bắp, đậu nành… thành phần chất béo tuy không cao nhưng cũng đủ cho nhím phát triển Nếu cần bổ sung thêm thì nên cho ăn thêm khô dầu đậu phộng, khô dầu dừa, khô dầu đậu nành
2.3.3.3 Vitamine: nhu cầu của nhím về vitamine không lớn Trong số đó
vitamine A, D, E được coi là cần thiết
Vitamine A có nhiều trong lá cây, rau lang, rau muống, cỏ tươi non và các loại
củ quả Vì vậy, nếu khẩu phần ăn của nhím có đầy đủ thức ăn xanh này thì không cần bổ sung thêm vitamine A
Vitamine D đồng hóa chất khoáng, giúp bộ khung xương cứng cáp Thiếu vitamine D nhím con bị còi xương, chậm lớn, đi lại khó khăn, nhím lớn xương mềm
Trang 34thiếu vitamine D, vì trong ánh nắng ban mai có tia cực tím tác động lên chất cholesterol trong mỡ sinh ra vitamine D giúp nhím sống khỏe mạnh
Vitamine E ảnh hưởng đến sự sinh sản của nhím đực, cái Vitamine E có trong cám nhuyễn, bột bắp, khô bánh dầu, lúa nảy mầm, giá sống Ta nên thường xuyên cung cấp cho nhím nuôi những thức ăn cần thiết này ( Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2007)