Hệ thống hóa các văn bản quy định về nghi thức nhà nước từ 1945 đến nay và đưara nhận xét Lời cam đoan Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong tiểu luận này là trung thực.M
Trang 1Tìm hiểu về lịch sử phát triển và đặc điểm của nghi thức nhà nước Hệ thống hóa các văn bản quy định về nghi thức nhà nước từ 1945 đến nay và đưa
ra nhận xét
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong tiểu luận này là trung thực.Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Tiểu luận này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong tiểu luận đã được ghi rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố
Lời mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới Quá trình hộinhập còn gặp phải không ít những khó khăn, thách thức và có cả những thời cơ Đứngtrước những thời cơ và thách thức đó đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ của nhà nước ta.Trong đó không thể không kể đến tầm quan trong của giao tiếp trong việc giải quyếtcông việc Giao tiếp tốt sẽ giúp đem lại thiện cảm đối với đối tượng giao tiếp Từ đómối quan hệ giữ người với người, giữa chúng ta với những người khác trở nên tốt đẹphơn Để đạt được đó chúng ta cần phải hiểu biết về các nghi thức nhà nước trongnhững lĩnh vực cụ thể
Mỗi lĩnh vực cụ thể được quy định tại các văn bản pháp luật về nghi thức nhànước khác nhau Yêu cầu chúng ta phải tuân thủ và thực hiện nghiêm chỉnh các quyđịnh đó Mỗi năm, nước ta đã đón tiếp rất nhiều các phái đoàn khác nhau từ nhiềunước khác nhau, đồng thời chúng ta cũng đến thăm, làm việc, học tập ở các nướckhác Vì vậy để đạt được hiệu quả tối đa trong các hoạt động trên đòi hỏi chúng taphải hiểu rõ các quy định của nhà nước về nghi thức nhà nước
Nghi thức nhà nước không những thể hiện chủ trương, chính sách đối nội, đốingoại của nước ta mà còn thẻ hiện những nét văn minh và bản sắc văn hoá của mộtdân tộc Thành công của ngoại giao với các nước có được là nhờ việc thực hiện tốtnghi thức nhà nước, bất kì một sai sót nào cũng sẽ dễ dẫn đến kết quả không tốt giữacác nước
Trang 2Cũng chính bởi những lý do nêu trên nên tôi quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu về lịch sử phát triển và đặc điểm của nghi thức nhà nước Hệ thống hoá các văn bản quy định về nghi thức nhà nước từ 1945 đến nay và đưa ra nhận xét”.
2 Lịch sử nghiên cứu
Nghi thức nhà nước ở nước ta xuất hiện từ rất sớm, từ năm 1945 đến nay có rấtnhiều văn bản quy định về nghi thức nhà nước Việc nghiên cứu các văn bản quy định
về nghi thức nhà nước cũng là một vấn đề dược nhiều người quan tâm và nghiên cứu
3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
-Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu sự phát triểm của nghi thức nhà nước, các đặcđiểm và các văn bản quy định việc thực hiện nghi thức từ năm 1945 đến nay Đồngthời đánh giá được ưu nhược điểm việc vận dụng nghi thức nhà nước
- Phạm vi nghiên cứu : Đề tài nghiên cứu về lịch sử phát triển và đặc điểm củanghi thức nhà nước Các văn bản quy định về nghi thức nhà nước của nước ta từ 1945đến nay
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
-Tìm hiểu về lịch sử phát triển của nghi thức nhà nước và đặc điểm của nghi thứcnhà nước qua đó hiểu rõ hơn về nghi thức nhà nước của nước ta hiện nay
- Hê thống hóa các văn bản quy định nhà nước mà nước ta đã ban hành từ năm
1945 đến nay
- Qua quá trình tìm hiểu về lịch sử phát triển, đặc điểm của nghi thức nhà nước
và các văn bản quy định về nghi thức nhà nước của nước ta để đưa ra nhận xét về ưunhược điểm của các văn bản đó
5 Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng
Để hoàn thành bài tiểu luận này em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứusau đây:
+ Phương pháp khảo sát
+ Phương pháp đối chiếu
+ Phương pháp so sánh
Trang 36.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài đánh giá và nhận xét những ưu, nhược điểm của văn bản quy định về nghithức nhà nước để từ đó tìm ra những giải pháp để khắc phục nhược điểm
Ngoài ra còn giúp cho bản thân có thêm kiến thức về nghi thức nhà nước phục
vụ cho công việc có liên quan sau này
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và lời kết đề tài gồm có 3chương:
Chương 1: Khái quát chung về nghi thức nhà nước và lịch sử hình thành, pháttriển của nghi thức nhà nước
Chương 2: Đặc điểm của nghi thức nhà nước
Chương 3: Hệ thống các văn bản quy định của Nhà nước về nghi thức nhà nước
từ 1945 đến nay Nhận xét, đánh giá
Chương 1: Khái quát chung về nghi thức nhà nước và lịch sử hình thành, phát triển của nghi thức nhà nước
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của nghi thức nhà nước
Ngay từ những ngày đầu của nền cộng hoà (1945), Đảng và Nhà nước ta đã quantâm đến công tác xây dựng lễ nghi nhà nước của chính quyền mới Các văn bản phápluật đã kịp thời được ban hành để điều chỉnh những vấn đề thuộc lĩnh vực này Ngaysau khi tuyên ngôn độc lập, ngày 5-9-1945, Chính phủ của nước Việt Nam mới đã có
Trang 4sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt nam dân chủ cộng hoà số 5 về việcbãi bỏ Cờ quẻ ly của chế độ cũ và ấn định Quốc kỳ mới của Việt Nam có “nền mầu
đỏ tươi, ở giữa có sao năm cánh mầu vàng tươi”
Vào cuối những năm 50, sau khi hoà bình lập lại, ngày 21-07-1956 Chính phủ đãban hành ba văn bản quan trọng là Điều lệ số 973/TTg về việc dùng Quốc huy, Điều
lệ số 974/TTg về việc dùng Quốc kỳ và Điều lệ số 975/TTg về việc dùng Quốc canước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Năm 1976, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có Nghịquyết ngày 2-7 về tên nước, Quốc kỳ, Quốc huy, Thủ đô, Quốc ca
Ngoài ra, còn nhiều văn bản khác quy định về tổ chức việc cưới, việc tang, việchội, hướng dẫn về lễ phục, y phục công chức, thời giờ làm việc, quy định một số nghi
lễ nhà nước và tiếp khách nước ngoài v.v
Như vậy, nghi thức nhà nước là những phương thức giao tiếp trong hoạt độngquản lý nhà nước nói chung, do đó, nội dung của nghi thức nhà nước bao gồm:
- Những vấn đề liên quan đến cách thức thể hiện và sử dụng các biểu tượng quốcgia (Quốc huy, Quốc kỳ, Quốc ca) và thể thức văn bản quản lý nhà nước
- Những vấn đề liên quan đến công tác lễ tân, hay tổ chức tiếp đãi khách (chàođón, hội đàm, chiêu đãi, tặng quà, tiễn đưa), đặc biệt là đối với khách nước ngoài
- Những vấn đề có liên quan đến kỹ năng giao tiếp (cử chỉ, lời ăn tiếng nói, trangphục ) của cán bộ, công chức trong giải quyết những công việc nội bộ nhà nước,cũng như trong hoạt động giao tiếp với các tổ chức và công dân
- Những vấn đề có liên quan đến tổ chức hoạt động quản lý như hội họp, lễ kỷniệm, cấp chứng chỉ, chứng thực, phong tặng, khen thưởng v.v…
- Những vấn đề có liên quan đến hình thức của công sở như kiến trúc, trang trí,bài trí mặt trước toà nhà cũng như nội thất
1.2 Khái niệm nghi thức nhà nước
Giao tiếp là hoạt động quan trọng trong đời sống xã hội, là nền tảng quan trọng
để xây dựng nên xã hội Nền văn minh nhân loại, nền văn hóa của mỗi dân tộc, quốc
Trang 5gia được kiến tạo thông qua hoạt động giao tiếp Hoạt động giao tiếp được thực hiệnnhằm trao đổi thông tin, nhận thức, tư tưởng, tình cảm, để bày tỏ mối quan hệ, cáchứng xử, thái độ giữa con người với con người và giữa nhân loại với thiên nhiên.
Hoạt động giao tiếp có thể được thực hiện bằng các phương tiện ngôn ngữ và phingôn ngữ Nhưng dù được thực hiện bởi phương thức nào đi nữa, hoạt động giao tiếpluôn luôn phải được đặt trong những bối cảnh nhất định, được thực hiện bởi những cơcấu nghi thức nhất định trong việc sử dụng các phương tiện giao tiếp tương ứng nhằmđạt tới mục tiêu đặt ra
Hoạt động quản lý nhà nước cũng không nằm ngoài những yêu cầu về giao tiếp
xã hội Nhà nước là một thể chế tổ chức cơ cấu phức tạp với chức năng quản lý đờisống cộng đồng của các tầng lớp dân cư trên một lãnh thổ nhất định Nhà nước đảmbảo cho việc thực hiện các quyết định quản lý của mình đối với các công dân củamình bởi nhiều biện pháp mang tính quyền lực Nhà nước như tính thuyết phục, kỷluật, kinh tế, cưỡng chế, và tính quyền lực đó còn được thể hiện bằng phương tiệnmang tính hình thức đặc thù thuộc phạm trù các nghi lễ như cách bài trí công sở (côngđường), trang phục, các hoạt động lễ tân Những phương tiện hình thức này có vaitrò quan trọng không kém những quy phạm được đưa ra trong các điều luật
Như vậy, những nghi thức, thủ tục mang tính nghi lễ được thực hiện trong hoạtđộng giao tiếp quản lý nhà nước là một bộ phận quan trọng của các phương thức tiếnhành hoạt động đó Nội dung của những nghi thức và thủ tục đó kiến tạo cơ bản kháiniệm nghi thức nhà nước
Các nhà nước phong kiến Trung Hoa, Việt Nam và một số nước Đông á kháctrước đây luôn coi trọng và áp dụng rộng rãi tư tưởng “lễ hình kết hợp”, tức luôn coitrọng “lễ” và “phép” (pháp)
Ngày nay, nghi thức nhà nước cần phải được hiểu là những phương thức giaotiếp trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung được quy định tại các văn bản phápluật của Nhà nước, theo tập quán truyền thống dân tộc hoặc quốc tế mà các bên thamgia quan hệ thủ tục quản lý nhà nước phải tuân thủ và thực hiện nghiêm chỉnh
Trang 61.3 Nội dung cấu thành nghi thức nhà nước
1.3.1 Biểu tượng quốc gia
Mỗi dân tộc, quốc gia trên thế giới đã lựa chọn cho mình những biểu tượng nhấtđịnh Những biểu tượng đó là Quốc hiệu, Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc huy, quốc ngữ,quốc thiều v.v tức là những gì phần lớn tạo nên quốc thể
Các biểu tượng quốc gia gồm có:
-Quốc hiệu: Là tên gọi của đất nước
Quy định về việc sử dụng Quốc hiệu, Quốc hiệu là tên gọi của đất nước Tronglịch sử, đất nước ta đã có nhiều tên gọi khác nhau như: Văn Lang, Âu Lạc, Giao Chỉ,Cửu Chân, Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt, An Nam… Ngày 02/09/1945 nước ViệtNam DCCH ra đời.Theo Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt NamDCCH số 49/SL ngày 12/10/1945, tiêu đề các văn bản nhà nước được ghi là: “ ViệtNam Dân Chủ Cộng Hòa” Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, tên nước là : “ Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Quốc hiệu cùng với tiêu ngữ: “Độc lập – Tự do–Hạnh phúc”cùng tạo thành tiêu đề văn bản, được in trên đầu trang nhất
Quốc huy: Là huy hiệu của một nước hoặc hình tượng trưng cho một nước
Theo quy định tại Điều 142 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam năm 1992: “Quốc huy nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền
đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh
xe răng cưa và dòng chữ “Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.Quốc huy của bất cứmột quốc gia nào đều mang một thông điệp, một ý nghĩa nhất định, Quốc huy ViệtNam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh tượng trưng cho ĐảngCộng Sản Việt Nam, cho lịch sử cách mạng của dân tộc Việt và tiền đồ xán lạn củanhân dân và đất nước Việt Nam
Việc sử dụng Quốc huy được quy định tại Hướng dẫn số 3420/HD-BVHTTDLngày 02/10/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 7Quốc kỳ: là cờ tượng trưng cho một Quốc gia, cũng chính là Cờ Tổ quốc Đồngthời đó cũng là biểu trưng một cách rõ ràng quyền lực của nhân dân ta, chủ quyềncủa mình đối với lãnh thổ, cương vực đã được phân định.
Quốc ca: Là bài hát được thừa nhận là chính thức của một Quốc gia
Việc sử dụng Quốc ca theo các quy định tại Điều lệ số 975/TTg của Thủ tướngChính phủ ngày 21-07-1956, theo Thông báo của Chính phủ số 31-TB ngày 15-02-1993
1.3.2 Văn hoá giao tiếp ứng xử, trang phục công sở
Có thể thấy, trong giao tiếp, con người luôn luôn thể hiện một lực hấp dãn nào
đó để thực hiện ý đồ giao tiếp của mình và cái hấp dẫn đó phần nào tiềm ẩn trongnăng lực ứng xử và khả năng khai thác năng lực đó ở mỗi cá nhân Sự hấp dẫn đóđược truyền đạt tới đối tượng giao tiếp thông qua trang phục, những cái bắt tay, giọngnói, vóc dáng, hoạt động nội tâm được biểu hiện bởi những yếu tố ngôn ngữ điệu bộđó
Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướngChính phủ ban hành Quy chế văn hoá công sở tại các cơ quan hành chính nhà nướcquy định về trang phục, giao tiếp và ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức khi thihành nhiệm vụ, bài trí công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước
+ Lễ phục của nam: bộ comple, áo sơ mi, cravat
+ Lễ phục của nữ: áo dài truyền thống, bộ comple nữ
+ Đối với CBCCVC là người dân tộc thiểu số, trang phục ngày hội dân tộc cũngcoi là lễ phục
Trang 8Trong giao tiếp và ứng xử với đồng nghiệp, CBCCVC phải có thái độ trungthực, thân thiện, hợp tác.
Khi giao tiếp qua điện thoạt, CBCCVC phải xưng tên, cơ quan, đơn vị nơi côngtác; trao đổi ngắn gọn, tập trung vào nội dung công việc; không ngắt điện thoại độtngột
1.3.3 Những vấn đề về công tác lễ tân, tiếp khách
Lễ tân nhà nước là một biểu hiện quan trọng của văn hóa quản lý ( văn hóa hay nói cách khác là văn trị = cai trị + giáo hóa) Trong tuyên bố về những chính sách văn hóa, UNESCO Mêhicô 1982: “trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay
có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý trí, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”
Trang 9Cán bộ công chức thực hiện tốt nghiệp vụ lễ tân nhà nước, góp phần nâng cao khả năng và kỹ năng nhận biết cái đẹp, sự tổng hòa những phẩm chất bên trong
và bên ngoài, những khả năng thể chất và tinh thần – một hình thức lý tưởng giáo dục con người Đó là sự tổng hòa mỹ-trí-dũng
Lễ tân hành chính là một nội dung tác nghiệp rất quan trọng, giúp cho việc
mở rộng, củng cố, thúc đẩy việc giải quyết các mối quan hệ có liên quan đến chức năng quản lý của mỗi cơ quan, tổ chức, Nhà nước Nghi thức lễ tân hành chính trong hoạt động của các cơ quan nhà nước xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước, thể hiện và phục vụ chính sách, pháp luật của Nhà nước Cho dù Nghi thức lễ tân hành chính không phải là nội dung chủ yếu của hoạt động hành chính nhưng lại là công việc cần thiết để tạo điều kiện cho hoạt động hành chính được tiến hành thuận lợi Nghi thức lễ tân hành chính là bộ phận cấu thành của hoạt động hành chính để thực hiện các chức năng của hoạt động hành chính nhà nước Nghi thức lễ tân vừa là công cụ chính trị của hoạt động hành chính của Nhà nước, vừa là phương tiện thực hiện và cụ thể hoá các nguyên tắc cơ bản của hoạt động hành chính Lễ tân giao tiếp vừa thể hiện trọng thị đối với các đối tượng vừa đảm bảo thực hiện đúng đường lối, chính sách của nhà nước và nghi thức lễ tân nhà nước
Lễ tân ngoại giao thể hiện và phục vụ đường lối, chính sách đối ngoại của Nhà nước Lễ tân ngoại giao không phải là nội dung chủ yếu của hoạt động ngoại giao nhưng lại là những công việc cần thiết để tạo điều kiện cho hoạt động ngoại giao tiến hành được thuận lợi Nó là bộ phận cấu thành của hoạt động đối ngoại, không chỉ thực hiện chính sách đối ngoại của một Nhà nước mà còn thể hiện những nét văn minh và bản sắc văn hóa của một dân tộc Do vậy, lễ tân thể hiện thái độ, quan điểm chính trị trong từng lễ tiết, như thái độ, hình thức đón tiếp thể hiện nội dung và mức độ quan hệ
Bất kỳ hoạt động ngoại giao nào giữa hai hoặc nhiều quốc gia đều cần tới các Nghi lễ tân ngoại giao: từ việc đón tiếp các phái đoàn chính thức, triệu tập các hội nghị quốc tế, đàm phán ký kết các hiệp định, đến việc bổ nhiệm, triệu hồi người
Trang 10đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, trình thư ủy nhiệm các vấn đề cụ thể như treo
cờ, cử quốc thiều, trang phục trong các lễ tiết… Mọi hoạt động Nghi Thức lễ tân diễn ra tốt hay xấu đều có ảnh hưởng tốt hoặc xấu tới quan hệ của các nước Nghi thức lễ tân ngoại giao vừa là công cụ chính trị của hoạt động đối ngoại của một Nhà nước, vừa là phương tiện thực hiện và cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bảncủa pháp luật quốc tế
Nghi thức lễ tân ngoại giao tạo khung cảnh và bầu không khí cho mối quan
hệ giữa các quốc gia được tiến hành thuận lợi; đề ra quy tắc cho các cuộc giao thiệp quốc tế; vận dụng các hình thức thích hợp trong các cuộc đàm phán ký kết các văn kiện quốc tế nhằm làm tăng giá trị và sự tôn trọng những điều đã ký kết Nghi thức lễ tân ngoại giao cố gắng đảm bảo quyền bình đẳng cho các quốc gia, tạo điều kiện để mỗi quốc gia, ngay cả trong trường hợp thù địch với nhau, có
sự tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng phẩm giá và quyền độc lập giữa các dân tộc, kể dân tộc nhỏ yếu nhất
1.3.4 Công tác tổ chức hội họp
Quyết định số 114/2006/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2006 của Thủ tướngChính phủ ban hành Quy định chế độ hội họp trong hoạt động của các cơ quan hànhchính nhà nước quy định này điều chỉnh việc tổ chức các cuộc họp trong hoạt độngquản lý, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước nhằm giảm bớt số lượng, nângcao chất lượng các cuộc họp trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ởcác cấp, các ngành, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc tổ chức các cuộchọp, góp phần tích cực tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả sự chỉ đạo, điềuhành của thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước, đáp ứng yêu cầu của cải cách hànhchính
1.3.4.1 Giấy mời họp:
Giấy mời họp phải được ghi rõ những nội dung sau đây: Người triệu tập và chủtrì; Thành phần tham dự; Người được triệu tập; người được mời tham dự; Nội
Trang 11dung cuộc họp; thời gian, địa điểm họp; Những yêu cầu đối với người được triệu tậphoặc được mời tham dự.
Giấy mời họp phải được gửi trước ngày họp ít nhất là 3 ngày làm việc, kèm theo
là tài liệu, văn bản, nội dung, yêu cầu và những gợi ý liên quan đến nội dung
cuộc họp, trừ trường hợp các cuộc họp đột xuất
1.3.4.2 Thành phần và số lượng người tham dự cuộc họp
Tuỳ theo tính chất, nội dung, mục đích, yêu cầu của cuộc họp, người triệu tậpcuộc họp phải cân nhắc kỹ và quyết định thành phần, số lượng người tham dự cuộchọp cho phù hợp, bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả
Thủ trưởng cơ quan, đơn vị được mời họp phải cử người tham dự cuộc họp đúngthành phần, có đủ thẩm quyền, năng lực, trình độ đáp ứng nội dung và yêu cầu củacuộc họp
1.3.4.3 Thời gian tiến hành cuộc họp
1 Thời gian tiến hành một cuộc họp thuộc các loại cuộc họp dưới đây được quyđịnh như sau:
a) Họp tham mưu, tư vấn không quá một buổi làm việc;
b) Họp chuyên môn từ một buổi làm việc đến 1 ngày, trường hợp đối với những
đề án, dự án lớn, phức tạp thì có thể kéo dài thời gian hơn, nhưng cũng không quá 2ngày;
c) Họp tổng kết công tác năm không quá 1 ngày;
d) Họp sơ kết, tổng kết chuyên đề từ 1 đến 2 ngày tùy theo tính chất và nội dungcủa chuyên đề;
đ) Họp tập huấn, triển khai nhiệm vụ công tác từ 1 đến 3 ngày tùy theo tính chất