1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổng hợp phèn chua từ nhôm phế liệu và bước đầu thử hoạt tính hóa học của sản phẩm

37 977 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 3.2: Hiệu suất tạo phèn khi cố định nồng độ KOH 0,643M Bảng 3.2: Hiệu suất tạo phèn khi cố định nồng độ KOH 0,643M Bảng 3.3: Hiệu suất tạo phèn khi cố định n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: Hoàng Thị Thúy Vững

Sinh ngày: 09/07/1993

Nơi sinh: xã Phú Định – huyện Bố Trạch – tỉnh Quảng Bình

Ngành học: Sư phạm Hóa Học Lớp: ĐHSP Hóa Học Khóa:

53

Khoa: Khoa học - Tự nhiên

Địa chỉ liên hệ: Hoàng Thị Thúy Vững - Lớp ĐHSP Hóa k53 – Trường ĐHQB

Điện thoại: 01642837508 Email:

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC BẢNG 4

DANH MỤC CÁC HÌNH 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5

A MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Mục tiêu nghiên cứu 6

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6

4 Tình hình nghiên cứu 7

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

6 Phạm vi đề tài 7

7 Phương pháp nghiên cứu 7

8 Đóng góp của đề tài 7

9 Cấu trúc đề tài 8

A MỞ ĐẦU 8

B NỘI DUNG 8

C KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 8

B NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1 9

TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 9

1.1 Khái quát phèn chua 9

1.2 Công dụng phèn chua 10

1.2.1 Trong công nghiệp 10

1.2.2 Trong lĩnh vực y dược và sức khỏe 11

1.2.3 Trong lĩnh vực sinh hoạt đời sống hàng ngày 14

Hình 1.1: Sử dụng phèn chua khi “thừa và thiếu” nước sinh hoạt 14

1.3 Ảnh hưởng của nhôm kim loại đến sức khỏe con người 15

1.3.1 Nhôm vào cơ thể từ những nguồn sau 15

1.3.2 Nhôm và vấn đề sức khỏe con người 17

1.4 Tác hại của phế liệu nhôm đến sự suy thoái của môi trường 17

1.4.1 Nhôm và vấn đề ô nhiễm môi trường 17

Hình 1.2: Tác hại của nhôm phế liệu đến sự suy thoái môi trường 18

1.4.2 Thực trạng môi trường do khai thác nhôm ở nước ta 18

CHƯƠNG II 21

NỘI DUNG VÀ THỰC NGHIỆM 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Nội dung nghiên cứu 21

2.2.1 Chuẩn bị phối liệu 21

2.2.2 Tổng hợp phèn chua từ nhôm phế liệu 22

2.3 Phương pháp nghiên cứu 23

2.3.1 Phương pháp tổng hợp 23

2.3.2 Phương pháp chuẩn độ 23

2.3.3 Phương pháp quan sát dưới kính hiển vi 24

2.3.4 Phương pháp đối chứng hoạt tính của sản phẩm so với mẫu chuẩn 24

2.4 Dụng cụ, thiết bị và hóa chất 24

2.4.1 Dụng cụ, thiết bị 24

2.4.2 Hóa chất 24

CHƯƠNG III 25

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25

3.1 Pha hóa chất 25

Trang 3

3.1.1 Pha dung dịch H 2 SO 4 9M 25

3.1.2 Pha dung dịch KOH 0,643M 26

3.1.3 Chuẩn độ dung dịch KOH bằng H 2 SO 4 26

3.2 Hiệu suất tổng hợp ở các nồng độ bazơ và axit khác nhau 28

3.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hiệu suất tổng hợp 29

3.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng kết tinh sản phẩm 29

3.5 Hiệu suất tổng hợp từ các nguồn nguyên liệu khác nhau 30

3.6 Quy trình tổng hợp phèn chua 31

3.6.1 Quy trình tổng hợp phèn chua trong phòng thí nghiệm 31

3.6.2 Đề xuất quy trình sản xuất phèn chua trong công nghiệp 32

3.7 Xác định hình thái và cỡ hạt của sản phẩm 33

3.8 Thử nghiệm tính chất hóa học của sản phẩm 33

3.9 Tính toán chi phí sản xuất và giá trị sản phẩm 34

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 36

1 Kết luận 36

2 Kiến nghị 36

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 3.2: Hiệu suất tạo phèn khi cố định nồng độ KOH 0,643M

Bảng 3.2: Hiệu suất tạo phèn khi cố định nồng độ KOH 0,643M

Bảng 3.3: Hiệu suất tạo phèn khi cố định nồng độ H2SO4 9M

Bảng 3.4: Khoảng pH dung dịch và hiệu suất tạo phèn

Bảng 3.5: Hiệu suất tổng hợp phèn nhôm từ các nguồn nguyên liệu khác nhau

Bảng 3.6: Bảng tính lợi nhuận về chi phí tổng hợp phèn chua

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 1.1: Sử dụng phèn chua khi “thừa và thiếu” nước sinh hoạt

Hình 1.2: Tác hại của nhôm phế liệu đến sự suy thoái môi trường Hình 2.1: Nhôm phế liệu

Hình 2.2: Tổng hợp phèn nhôm trong phòng thí nghiệm Hình 3.1: Quy trình tổng hợp phèn nhôm trong phòng thí nghiệm Hình 3.2: Ảnh quan sát dưới kính hiển vi

Hình 3.3: Thử nghiệm làm trong nước đục của sản phẩm

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

EPA

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phát triển của các ngành công

nghiệp chất dẻo và luyện kim kéo theo một lượng lớn rác thải nói chung và các mạt

nhôm, vỏ lon, dây điện …nói riêng ra môi trường

Các quá trình xử lý, thu gom nhôm phế liệu chưa triệt để dẫn đến sự ô nhiễm môi

trường ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người gây nên ngộ độc, viêm phổi, ung

thư ác tính…mức độ nặng thường dẫn tới tử vong nhanh chóng

Ở các tỉnh miền trung nước ta, đặc biệt tỉnh Quảng Bình về mùa mưa lũ tình trạng ô

nhiễm nguồn nước diễn ra nghiêm trọng, thiếu nước sinh hoạt, các bệnh mùa lũ là vấn

đề cấp bách

Các hoạt động sản xuất, tái chế nhôm phế liệu đem lại việc làm và thu nhập cao cho

con người nhưng trong quá trình sản xuất, kinh doanh họ chỉ chú tâm đến lợi nhuận

mà không thực sự quan tâm đến môi trường Điều đó đã tác động lớn đến sự suy thoái

của môi trường cũng như ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Phèn nhôm là loại hóa chất có tính keo tụ tham gia vào quá trình keo tụ nhằm làm

kết dính các loại hạt keo lơ lửng trong nước thành các hạt cặn lớn hơn có thể loại bỏ

được Nhờ hoạt tính này mà nhôm được sử dụng rộng rãi trong xử lý nước như: xử lý

nước giếng khoan, xử lý nước cặn bẩn để dùng trong sinh hoạt

Mặt khác, phèn chua có rất nhiều ứng dụng trong đời sống và sản xuất (làm thuốc,

phòng chống dịch bệnh mùa mưa lũ, xử lý nước dùng trong sinh hoạt,…) mà có thể

điều chế trực tiếp từ nhôm đặc biệt là nhôm phế liệu

Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Tổng hợp phèn chua từ

nhôm phế liệu và bước đầu thử hoạt tính hóa học của sản phẩm”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu ảnh hưởng của kim loại nhôm đến sức khỏe con người

- Tìm hiểu ảnh hưởng của phế liệu nhôm đến sự suy thoái của môi trường

- Tác dụng của phèn chua đối với con người

- Đề xuất quy trình tổng hợp phèn chua trong phòng thí nghiệm và trong công

nghiệp khi cần tổng hợp

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Trang 7

Phèn chua và quy trình điều chế phèn chua từ nhôm phế liệu như: mạt nhôm, vỏ lon

bia, lon nước ngọt, dây điện nhôm…

4 Tình hình nghiên cứu

Việc nghiên cứu tổng hợp phèn chua từ nhôm phế liệu chính xác có tính quyết định

về vấn đề ô nhiễm môi trường chung và sức khỏe con người Trên thế giới cũng như

trong nước ta đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này như: Nghiên cứu xử lý

nước thải lò đúc nhôm, nghiên cứu về đề xuất các biện pháp quản lý chất thải rắn,

nghiên cứu các bài thuốc từ phèn chua…Do đặc thù về điều kiện tự nhiên và điều kiện

xã hội mà mỗi đề tài lại mang tính đặc thù, ứng dụng riêng của từng địa phương, địa

bàn Ở tỉnh Quảng Bình, các đề tài nghiên cứu về xử lý nhôm phế liệu giảm thiểu sự ô

nhiễm môi trường còn ít, đặc biệt là tổng hợp phèn chua từ nhôm phế liệu - sản phẩm

được ưa chuộng và được sử dụng rộng rãi hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm giảm sự ô nhiễm môi trường do phế liệu nhôm gây ra

- Xây dựng được quy trình tổng hợp phèn chua từ nhôm phế liệu trong phòng thí

nghiệm và trong công nghiệp

- Thử hoạt tính làm sạch nước đục, nước bẩn của sản phẩm và so sánh với mẫu chuẩn

6 Phạm vi đề tài

- Nội dung:

- Thời gian: 6 tháng, bắt đầu từ tháng 11 năm 2013 và kết thúc tháng 4 năm 2014

- Địa điểm:

+ Phòng thí nghiệm hoá học, phòng thí nghiệm kỹ thuật xây dựng và phòng thí

nghiệm sinh học Trường Đại học Quảng Bình

7 Phương pháp nghiên cứu

- Tra cứu tài liệu liên quan về các phương pháp tổng hợp phèn chua

- Phương pháp thực nghiệm, phòng thí nghiệm

- Thu gom nhôm phế liệu, tiến hành các thí nghiệm tạo phèn chua và so sánh với

mẫu chuẩn ở phòng thí nghiệm

8 Đóng góp của đề tài

Trang 8

- Về mặt khoa học: Xây dựng và bổ sung thêm phương pháp tổng hợp phèn chua từ

nhôm phế liệu theo các tỉ lệ khác nhau và thử hoạt tính làm sạch nước đục của sản

phẩm so với mẫu chuẩn

- Về mặt thực tế: Giúp giảm tải sự ô nhiễm môi trường do phế liệu nhôm gây nên và

giúp người dân vùng lũ có thêm nước sinh hoạt

9 Cấu trúc đề tài

Đề tài có cấu trúc gồm 3 phần:

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục tiêu nghiên cứu

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Chương 1 Tổng quan lý thuyết

Chương 2 Nội dung và thực nghiệm

Chương 3 Kết quả và thảo luận

Trang 9

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1.1 Khái quát phèn chua

- Phèn là loại hợp chất có cấu tạo tinh thể thường là hình bát diện đều (có tám mặt

đều) Có công thức chung là:

MI

2SO4.MII(SO4)3.24H2O Hoặc MI

2MIII (SO4)2.12H2O Trong đó:

MI: là ion kim loại của kiềm hoặc NH4+

MIII: là ion kim loại của kim loại có hóa trị III như: Al,Cr, Fe, Mn, Co,

- Có 2 loại phèn nhôm là phèn đơn và phèn kép

+ Phèn nhôm đơn: Công thức phân tử phèn nhôm đơn là Al2(SO3)3.18H2O

Phèn đơn nhôm sunfat được sản xuất từ axit sunfuric và một vật liệu chứa nhôm như

đất sét, cao lanh, quặng bôxit, nhôm hydroxit Một vài cơ sở nhỏ sản xuất phèn chua

từ axit sunfuric và nhôm phế liệu

+ Phèn nhôm kép: Để sản xuất phèn kép, người ta cho thêm Kali sunfat hoặc

Amoni sunfat vào quá trình phản ứng tạo phèn đơn, tức là muối kép của sunfat nhôm

với sunfat kim loại kiềm hoặc amoni Ví dụ như: Kali nhôm sunfat hay phèn nhôm kali

(thường gọi là phèn chua, có công thức phân tử: KAl(SO4)2.12H2O hay

K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O) và amoni nhôm sunfat hay phèn nhôm amoni

[(NH4)2SO4.Al2(SO4)3.24H2O)] là tinh thể không màu, khối lượng riêng 1,65 g/cm3

- Phèn chua có tên khoa học alumen, là muối sunfat kép của nhôm và kali, ở

là K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O, trong đông y phèn chua còn gọi là Bạch phàn Nó được sử

dụng rộng rãi để làm tinh khiết nước, thuộc da, vải chống cháy và bột nở Phèn chua

đó là loại muối có tinh thể to nhỏ không đều, không màu hoặc trắng, cũng có thể trong

hay hơi đục

- Phèn chua có những tính chất sau:

+ Phèn chua không độc, có vị chát và chua, làm se lưỡi

+ Tan ít trong nước lạnh nhưng lại tan nhiều trong nước nóng Khi tan vào

nước nó thu nhiệt

+ Thu được từ Alunit tự nhiên (phèn đá)

Trang 10

+ Tồn tại dạng tinh thể màu trắng khi hòa tan trong nước tạo thành dung dịch

không màu

+ Nhiệt độ nóng chảy: 920C

+ Nhiệt độ sôi: 200C

+ Khối lượng riêng: 1,757g/ml

+ Khi hòa tan vào nước tạo môi trường acid có pH = 3 (đối với dung dịch 10%)

+ Không tan trong cồn tuyệt đối Khi hòa tan vào trong nước, một phần cho

phản ứng thủy phân tạo kết tủa keo Al(OH)3 Chính kết tủa này giúp cho phèn có

nhiều ứng dụng trong thực tế

1.2 Công dụng phèn chua

1.2.1 Trong công nghiệp

Từ rất lâu, phèn chua đã được sử dụng trong công nghiệp làm giấy, làm chất cắn

màu nhuộm vải, làm sơn

* Trong công nghiệp làm giấy

Vì có tác dụng gắn chặt các phân tử xenlulozo giúp làm cho giấy dai, chắc và bền

hơn, giấy sẽ lâu mục rã và không làm nhòe mực khi viết nên phèn chua đã trở thành

một phần quan trọng trong công nghiệp làm giấy về chất lượng làm giấy

- Cách sử dụng phèn chua trong sản xuất giấy:

Cách 1: Trong quá trình sản xuất, giấy được nhúng vào trong thùng chứa dung dịch phèn

(khoảng 27%), sau đó giấy được làm khô, rồi nén ép và cắt theo kích thước cần sử dụng

Cách 2: Phèn được cho vào bột giấy cùng với muối ăn Nhôm clorua (AlCl3) được tạo

ra do phản ứng trao đổi, bị thủy phân mạnh hơn tạo nên các hidroxit, các hidroxit này sẽ

kết dính những sợi xenlulozo với nhau làm cho giấy không bị nhòe mực khi viết

Nhờ dung dịch phèn mà trong quá trình bảo quản giấy lâu bị mục rã hơn

Ngoài ra nó còn ảnh hưởng đến độ sáng của giấy, vì vậy phèn dùng cho công

nghiệp làm giấy phải tinh khiết

* Trong công nghiệp nhuộm vải

Khi nhuộm vải, các hidroxit được sợi vải hấp phụ và giữ chặt trên sợi sẽ kết hợp với

phẩm nhuộm tạo thành màu bền, nên có tác dụng là chất cắn màu Nó có tác dụng làm

cho vải lâu bạc

Chính vì vậy nên ta có thể ngâm áo quần dễ phai màu vào nước phèn, hay ngày xưa

thường ngâm áo quần xuống bùn để giữ quần áo không bị phai màu

Trang 11

1.2.2 Trong lĩnh vực y dược và sức khỏe

Trong Đông y, phèn chua có tên là Bạch phàn, Minh phàn, nó có vị chua, tính hàn,

không độc, có tác dụng sát trùng, diệt khuẩn rất tốt nên được dùng phổ biến trong dân

gian Và do đặc tính se da nên phèn chua được xem là bài thuốc đem lại hiệu quả tốt

trong lĩnh vực y dược Các bài thuốc về phèn chua có kinh nghiệm, gia truyền sau đây

đã được dùng và có hiệu quả tốt trong dân gian

* Chữa hôi nách

Có thể dùng phèn chua để trị hôi nách theo các cách sau:

Cách 1: Chưng khoảng 50g phèn chua (phèn cục bình thường) đã giã nhỏ và cho

vào nồi nung, tốt nhất là nung bằng nồi đất Chưng nóng cho phèn rút hết nước, trở

thành phèn xốp nở phồng ra gấp 2-3 lần chúng ta gọi là phèn phi hay bột phèn chua

Sau khi tắm rửa sạch sẽ chà xát phèn chua lên nách và chân Tuần bôi 3-4 lần

Cách 2: Dùng 15g phèn chua, phụ tử, thanh mộc hương, vôi sống mỗi vị 30g Tất cả

nghiền thành bột mịn, trộn với phấn thơm xoa vào hai bên nách

Cách 3: Rang khô phèn chua sau đó giả mịn, trộn với 50% bột Talc, trứ trong lọ để

nơi khô thoáng Thoa bột vào vùng nách sau khi tắm

Cách 4: Mài phèn chua với nước hoặc ngâm phèn chua vào rượu, bỏ thêm 1 ít dầu

thơm vào dung dịch này Thoa dung dịch vào vùng nách sau khi tắm

Cách 5: Khi tắm, có thể thêm vào nước tắm 1 cục phèn chua nhỏ sẽ có tác dụng khử

mùi hôi hiệu quả

Cách 6: Cho 50g phèn chua vào trứng, dùng lửa nhỏ hơ đến khi phèn chảy nước,

đợi phèn cứng lại, sau đó giã nhuyễn thành bột, ngày bôi 2 lần

* Chữa hắc lào

Cho 4 phần phèn chua phi, 1 phần hàn the nung, hai vị tán nhỏ, rây mịn, trộn lẫn

cho vào lọ đậy kín, dùng dần Rửa sạch nơi bị hắc lào, chấm nước lá trầu không, sau

đó rắc thuốc bột trên bề mặt nơi bị tổn thương, ngày 2 lần cho đến khi khỏi hẳn

* Chữa rắn cắn

Phèn chua phi, cam thảo 2 vị bằng nhau, tán nhỏ, mỗi lần uống 3-6g, ngày uống 2-3

lần, chữa rắn rết độc cắn, cả khi đã bị cấm khẩu, mắt thâm quầng

* Chữa viêm dạ dạy, ruột cấp, mạn tính

Trang 12

Phèn chua phi 100g tán nhỏ, rây mịn, cho vào lọ nút kín, dùng dần Ngày uống

0.5-1g chia làm nhiều lần, chữa viêm dạ dày và ruột cấp tính, nôn mửa, viêm ruột mạn

tính, kiết lỵ mạn tính

* Chữa khí hư, bạch đới

Khô phàn, sà sàng tử ( hạt cây Giần sàng ) hai vị bằng nhau, tán nhỏ thành viên hay

sắc nước, dùng rửa âm hộ, âm đạo, chữa khí hư bạch đới

* Chữa nước ăn chân tay

Bệnh nước ăn chân tay là một bệnh thường gặp khi ta tiếp xúc nhiều với nước hoặc

do đặc thù của một số ngành nghề như đánh cá, làm ruộng,… phải thường xuyên ngâm

chân tay trong nước bẩn Để chữa trị bệnh này một cách hiệu quả, ta có thể áp dụng

bài thuốc dân gian từ phèn chua như sau: rửa sạch chân bằng nước muối, chú ý các kẽ

chân, lau khô, bôi dầu hỏa vào các kẽ chân, sau đó rắc bột phèn phi vào Ngày rắc

thuốc 2 lần, luôn để chân khô ráo

* Trị nhức đầu không muốn ăn do đờm kết

Lấy bạch phàn 1 lượng (40g), cho vào 2 bát nước, sắc còn lại 1 bát, trộn với mật

ong uống sẽ nôn đờm ra, nếu chưa nôn được cần uống thêm nước cho nôn ra

* Trị động kinh bởi phong đờm

Dùng hóa đờm hoàn Lấy bạch phàn 40g, tế trà (chè tàu) loại nhỏ cánh để lâu năm

càng tốt, tán bột tất cả rồi trộn với mật ong làm hoàn to bằng hạt đậu đen Trẻ con

uống từ 5 - 6 viên mỗi lần Người lớn uống 15 viên mỗi lần chiêu với nước nóng

Ngoài ra còn một số phương pháp chữa bệnh bằng phèn thường được sử dụng

- Chữa cao huyết áp: Phèn chua, uất kim lượng bằng nhau, nghiền thành bột, làm

thành viên hoàn, mỗi lần uống 6g, ngày uống 3 lần sau bữa ăn Mỗi liệu trình 20 ngày,

uống liền 2-3 liệu trình

- Chữa màng bao tinh hoàn tích dịch: Phèn chua, ngũ bội tử mỗi thứ 10 g, cho

khoảng 300 ml nước, sắc trong nửa giờ, ngâm bao tinh hoàn vào nước thuốc khi còn

ấm, ngày 2 lần mỗi, lần ngâm 20-30 phút

- Chữa viêm tai giữa mạn tính: Nhỏ nước phèn chua vào trong tai ngày một lần

- Chữa sốt rét: Phèn chua 2 g, uống vào mỗi buổi sáng khi ngủ dậy, bụng đang đói,

uống liền mấy ngày

Trang 13

Hoặc: Phèn chua 60 g, đậu xanh 120 g, nghiền thành bột Quấy bột gạo thành hồ,

cho thuốc vào, làm thành viên hoàn to như hạt tiêu, uống 20 viên với nước sôi để

nguội trước khi lên cơn sốt rét 1 giờ

- Chữa ho ra máu: Phèn chua 20 g, hài nhi trà 30 g, đem nghiền thành bột, bảo quản

trong lọ thủy tinh màu để dùng dần Nếu khạc ra máu ít thì mỗi lần uống 0,3 g; ngày 3

lần Nếu khạc ra máu mức trung bình thì mỗi lần uống 0,6 g; ngày 4 lần Nếu khạc ra

máu nhiều thì uống mỗi lần 0,6 g nhưng cứ 3-4 giờ uống một lần cho đến khi cầm

máu

- Chữa sa tử cung: Phèn chua, địa phu tử mỗi thứ 15 g, nấu lấy nước, xông rửa hằng

ngày

- Trị sản hậu bị cấm khẩu:

Dùng bạch phàn sống 1 chỉ (4g) tán bột hòa với nước lạnh và cho uống làm 2-3 lần

- Trị trẻ em bị miệng lưỡi trắng không bú được:

Phèn chua 1 chỉ (4g) tán bột mịn, lấy lông gà rà vào miệng nơi bị bệnh

- Trị đại tiểu tiện không thông:

Dùng bạch phàn 5 chỉ (20g) tán bột, người bệnh nằm ngửa bỏ vào rốn khiến cho khí

lạnh tác động một lúc sẽ đi tiêu, tiểu được

- Trị đinh nhọt sưng đau do thấp chẩn:

Lấy minh phàn và hùng hoàng hai vị lượng bằng nhau Lấy xác trà trộn vào cùng

hai vị này rồi đắp vào nơi đau

- Trị xuất huyết ở phổi (phương có tác dụng liễm huyết, chỉ huyết, trong nôn ra

máu, chảy máu cam, đi ngoài ra máu, băng lậu xuất huyết do dao cắt)

Dùng phương chỉ huyết tán gồm bạch phàn, hài nhi trà, các vị lượng như nhau, tán

bột Mỗi lần uống 3-4 phân (khoảng 1-1,5g) chiêu với nước ấm

- Trị hoàng đản (trong chứng vàng da do thấp nhiệt):

Minh phàn, thạch đai, tán bột cả 2 vị, trộn đều Mỗi lần uống từ 5 phân đến 1 chỉ

tức khoảng 2-4g Chiêu với nước ấm, ngày uống 2-3 lần Hoặc dùng phương Tiêu

thạch phàn, thạch phàn tán gồm hai vị tiêu thạch và phàn thạch lượng bằng nhau, tán

bột mịn trộn đều rồi lấy uống với nước cháo đại mạch Mỗi lần uống 1 chỉ (xấp xỉ 4g),

ngày uống 3 lần

- Trị lở ngứa:

Trang 14

Dùng khô phàn, lưu huỳnh, xà xàng tử mỗi thứ đều 1 lượng (40g), tán bột mịn trộn

với dầu vừng để bôi lên nơi lở ngứa nhiều lần bệnh sẽ khỏi

Trong y học hiện đại, phèn chua còn được dùng cho các thuốc vacxin, chữa môi

mép lỡ, cầm máu

Trong mỹ phẩm: dùng để tẩy da cho trắng bằng cách pha với lòng trắng trứng và

phèn chua còn có một phần trong thuốc tẩy làm trắng răng

1.2.3 Trong lĩnh vực sinh hoạt đời sống hàng ngày

Hình 1.1: Sử dụng phèn chua khi “thừa và thiếu” nước sinh hoạt

a, Thiếu nước sinh hoạt trong mùa lũ

b, Thiếu nước sinh hoạt trong lúc hạn hán

c, Cán bộ y tế hướng dẫn người dân sử dụng phèn chua để xử lý nước

d, Người dân sử dụng phèn chua để xử lý nước Phèn chua là một loại khoáng chất khá quen thuộc với đời sống của người dân, nhất

là những người dân sống trong vùng mưa lũ, ngập úng, tình trạng ô nhiễm nguồn nước

diễn ra nghiêm trọng, hạn hán thiếu nước sinh hoạt

“ Anh đừng bắc bậc làm cao Phèn chua em đánh nước nào cũng trong”

Đây chính là ứng dụng phổ biến nhất, rất cần thiết cho việc xử lý nước đục ở các

vùng lũ, để có nước dùng cho ăn uống, tắm, giặt, sinh hoạt

- Cách xử lí nước bằng phèn chua:

Trang 15

Lấy 1 xô đựng 20 lít nước bẩn và 1 ca múc nước, lấy 1 gam phèn chua (khoảng nửa

đốt ngón tay) cho vào ca nước khuấy đều cho phèn chua tan hết, sau đó đổ ca nước

vừa hòa tan phèn vào xô đựng 20 lít nước và khuấy đều Để lắng khoảng 30 phút, các

chất cặn bẩn sẽ bị keo tụ lại ở đáy xô, gạn lấy nước trong để sử dụng Nước làm trong

bằng phèn chua chỉ sử dụng để tắm rửa, nếu để ăn uống phải khử trùng hoặc đun sôi

Nếu muốn làm trong lượng nước nhiều hơn thì ta thay xô đựng 20 lít nước bằng các

dụng cụ khác có kích cỡ lớn hơn như chum, vại, thùng, bể nước rồi lấy lượng phèn

chua theo tỉ lệ “1 gam phèn dùng cho khoảng 20 lít nước” hòa tan để làm trong nước

Sau khi làm trong nước, ta gạn nước trong để sang các dụng cụ khác để dùng

- Cách xử lý nước giếng:

Theo tỉ lệ hòa tan phèn chua (1 gam phèn dùng cho khoảng 20 lít nước), ta hòa tan

phèn vào một thùng nước, sau đó tưới đều lên mặt nước giếng Thả gàu chìm sâu

xuống nước rồi kéo lên kéo xuống 10-15 lần và thay đổi vị trí để diện tiếp xúc rộng

hơn, có thể khuấy được nước ở khắp giếng Đợi từ 40 phút đến 1 giờ để cho cặn lắng

xuống hết Khi thấy nước giếng đã trong thì ta khử khuẩn để sử dụng cho ăn, uống

1.3 Ảnh hưởng của nhôm kim loại đến sức khỏe con người

Nhôm là kim loại có khắp mọi nơi trong môi trường sống của con người - tức là con

người “gặp” nhôm thường xuyên trong sinh hoạt hàng ngày Chính vì thế, các nhà

khoa học từ lâu đã nghiên cứu về ảnh hưởng của nhôm đối với sức khoẻ con người

1.3.1 Nhôm vào cơ thể từ những nguồn sau

Bởi vì nhôm hiện diện trong khắp môi trường sống và trong nhiều sản phẩm tiêu dùng,

không thể nào con người tránh được việc phơi nhiễm nhôm ở một mức độ nào đó, từ

những nguồn chủ yếu như sau

* Thực phẩm

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), nhôm hiện diện tự nhiên trong đa số thực phẩm

hoặc trong thực phẩm có chất phụ gia có chứa nhôm Tổ chức Health Canada (Y tế

Canada) ước tính khoảng 95% lượng nhôm đưa vào cơ thể hàng ngày đối với người

lớn đến từ thực phẩm

Nhôm cũng có thể thâm nhập vào thực phẩm từ các công cụ nấu nướng (nồi, chảo,

ấm…), vật dụng sinh hoạt và các loại bao gói… Nhưng nhiều nghiên cứu cho đến nay

cho thấy lượng nhôm những nguồn này là không đáng kể, nếu những vật dụng như thế

được sản xuất đúng theo tiêu chuẩn sản phẩm

Trang 16

Thực phẩm bị nhiễm nhôm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con

người.Bình thường, tế bào thần kinh không có ion nhôm Nhưng nếu trong thức ăn có

nhiễm ion nhôm, thì ion nhôm vốn có ái tính với các tế bào thần kinh, sẽ tích tụ tại đó

và làm cho tế bào thần kinh não bị biến tính, dẫn tới chứng “lú lẫn” (ngớ ngẩn) Biểu

hiện là trí nhớ giảm sút, phản ứng trì trệ, trí năng giảm, cử động chậm chạp, cười khóc

bất thường

Thực phẩm có nhôm cao là khoai tây, cải bi-na và trà Những sản phẩm chế biến từ

sữa, bột mì và sữa dinh dưỡng cho trẻ nhỏ có thể có hàm lượng nhôm cao nếu chúng

có chứa chất phụ gia có nhôm

* Dược phẩm

Theo WHO, lượng nhôm vào cơ thể hàng ngày có thể tăng mạnh ở những người sử

dụng thuốc có hàm lượng nhôm cao như antacid (chất làm giảm acid trong dạ dày) và

acetylsalicylic acid (ASA) có lớp bọc WHO ước tính những ai sử dụng đều đặn những

dược phẩm như thế có thể đưa nhôm vào cơ thể ở mức 5g mỗi ngày

* Nước uống

Theo WHO, nồng độ nhôm trong các nguồn nước tự nhiên trên thế giới khác nhau

rất nhiều, tuỳ thuộc vào các đặc điểm lý-hoá và khoáng vật học ở từng nơi

Nồng độ nhôm hoà tan trong các nguồn nước có giá trị pH gần mức trung tính

thường từ 0,001 đến 0,05 mg/lít trong nước chứa nhiều chất hữu cơ

Đối với nguồn nước bị nhiễm acid nặng, nồng độ nhôm hòa tan có thể đạt đến mức

90 mg/lít Lượng nhôm vào cơ thể qua nước uống là rất nhỏ, nhưng một số nhà

khoa học cho rằng nhôm trong nước uống được cơ thể hấp thụ tốt hơn nhôm trong

thực phẩm

Ngay cả khi nhôm đạt mức cao nhất cho phép trong nước uống là 0,2 mg/lít theo

tiêu chuẩn châu Âu, thì nếu một người uống 2 lít nước/ngày thì thì lượng nhôm vào cơ

thể chỉ là 0,4 mg, tức không bằng 1/10 mức trung bình của lượng nhôm vào cơ thể

hàng ngày từ thực phẩm

Theo Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA), nồng độ nhôm trong nước tự

nhiên (chưa xử lý) nói chung là từ 0,001 đến 1mg/l, mặc dù nồng độ có thể tăng cao

đến 26 mg/l ở một số khu vực nhất định

Trang 17

Trong nhiều trường hợp, mức nhôm tăng cao trong nước có liên quan đến độ pH

thấp hơn 5,5 hoặc nguồn nước có chứa nhiều chất hữu cơ Nói chung, nồng độ nhôm

trong nước rất khác nhau tuỳ theo chất lượng nguồn nước

* Không khí

Lượng nhôm vào cơ thể từ không khí không bị ô nhiễm nói chung là rất thấp, dưới

4 microgram/ngày Tuy nhiên, tại các khu vực công nghiệp, nơi mà lượng nhôm trong

không khí cao hơn rất nhiều, lượng nhôm đưa vào cơ thể có thể đạt đến 100

microgram/ngày Những công nhân phơi nhiễm nhôm do đặc điểm nghề nghiệp có thể

hít phải một lượng nhôm từ 3,5 - 7 mg/ngày

Theo tổ chức Alzheimer Scotland, một lượng nhôm từ không khí sẽ tiến vào phổi

nhưng khó có thể thâm nhập vào các bộ phận khác trong cơ thể

1.3.2 Nhôm và vấn đề sức khỏe con người

Việc hấp thụ nhôm của cơ thể sẽ khác nhau, tùy thuộc vào nhiều nhân tố, như loại

hợp chất nhôm, thành phần của thực phẩm được ăn, tuổi tác và sức khoẻ của người sử

dụng thực phẩm có chứa nhôm

- Theo Health Canada, việc đưa vào cơ thể một lượng lớn nhôm có thể gây ra bệnh

thiếu máu, chứng nhuyễn xương (osteomalacia), sự không dung nạp glucose và ngưng tụ

- Nhôm là nguyên nhân gây ra tình trạng bệnh lý như: bệnh não, bệnh xương, chứng

thiếu máu…

- Nhôm cũng là một nhân tố góp phần trong việc gây ra các bệnh suy thoái thần

kinh, trong đó có bệnh Alzheimer (sa sút trí tuệ ở người cao tuổi)

- Lượng nhôm đưa vào cơ thể có thể gây ra bệnh xơ cứng và teo cơ bên (bệnh Lou

Gehrig) và bệnh Parkinson (bệnh liệt rung, thường xảy ra ở người cao tuổi)

- Bụi nhôm cũng là một vấn đề lớn Người ta chỉ cần hít thở bụi nhôm, cũng bị

nhiễm bệnh khó thở, nghẹt phổi và các bệnh về phổi khác

Ngoài ra, trẻ em uống sữa có chứa nhôm làm tổn hại sự phát triển thần kinh trẻ nhỏ,

dẫn đến trở ngại phát triển trí lực

1.4 Tác hại của phế liệu nhôm đến sự suy thoái của môi trường

1.4.1 Nhôm và vấn đề ô nhiễm môi trường

Các loại phế liệu từ nhôm nếu không được thu gom và xử lý triệt để sẽ gây

hậu quả nặng nề đối với môi trường, dẫn đến sự suy thoái nghiêm trọng về môi

trường đất, nước và không khí

Trang 18

Hình 1.2: Tác hại của nhôm phế liệu đến sự suy thoái môi trường

a,Thu gom nhôm trong bãi phế liệu

b, Bãi phế liệu nhôm

c, Nước thải chảy đen ngòm, đặc quánh váng nhôm

d, Lò tái chế nhôm xả khói gây ô nhiễm môi trường

- Nhôm là một vấn nạn lớn trong nông nghiệp ở điểm là làm suy đồi đất đai

- Chất nhôm được dẫn qua nước chảy vào sông ngòi sẽ tiêu diệt tất cả mọi thủy sản,

tôm cá đều chết hết

- Với súc vật, nhôm có thể gây ra triệu chứng run rẩy giống như Parkinson, và

chết sớm

- Sau khi mỏ nhôm được khai thác, đất đai biến thành hàng dãy những lỗ hố khổng

lồ không thể lấp nổi, nước đọng ao tù đỏ quạnh, không có sinh vật gì sống sót

1.4.2 Thực trạng môi trường do khai thác nhôm ở nước ta

- Hiện nay, Việt Nam đang triển khai các dự án bauxite, alumina, aluminium (sau

đây gọi chung là dự án nhôm) ở khu vực Tây Nguyên Bauxite là một khoáng vật

tương đối phổ biến, thuộc số các khoáng vật chủ yếu trong cấu tạo của vỏ trái đất Hơn

90% bauxite được sử dụng cho sản xuất alumina và từ alumina sản xuất ra aluminium

Ngày đăng: 14/04/2018, 21:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Ngô Thị Mỹ Bình (2011), Tổng hợp hợp chất vô cơ, giáo trình ĐHSP Đà Nẵng Khác
[2]. Trịnh Ngọc Châu (2001), Thực tập hóa vô cơ, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội Khác
[3]. Hoàng Nhâm (2006), Hóa học vô cơ, tập 2, tr. 94, NXB giáo dục Khác
[4]. Lê Xuân Trọng và cộng sự (2008), Hóa học 12 nâng cao, NXB giáo dục Khác
[5]. Nguyễn Đức Vận (2006), Hóa học vô cơ, tập 2, NXB Khoa học và kỹ thuật Khác
[8]. Nguyễn Thị Thu Nga(2007), giáo trình hóa học phân tích-Hướng dẫn thực hành, NXB ĐH sư phạm Khác
[9]. Lê Đức Hải (2000), Cơ sở khoa học môi trường, NXB ĐH QG Hà Nội Khác
[10]. Lê Văn Khoa (1995), Môi trường và ô nhiễm, NXB giáo dục Khác
[11]. Các công ước quốc tế và bảo vệ môi trường (1995), NXB chính trị Quốc gia Khác
[12]. Vũ Cao Đàm (2002), Xã hội học môi trường, NXB Khoa học và Kỹ thuật Khác
[13]. Hoàng Hưng, Nguyễn Thị Kim Loan (2005), Con người và môi trường, NXB Đại học Quốc gia Khác
[14]. Tìm hiểu luật bảo vệ môi trường (2006), NXB Lao động Xã hội . [15]. Lê Văn Khoa (chủ biên) (2002), Khoa học môi trường, NXB GD Khác
[16]. Lê Thanh Vân (2004), Con người và môi trường, NXB ĐH SP Khác
[17]. Mai Đình Yên (1997), Môi trường và con người, NXB GD Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w