TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA: TỰ NHIÊN - KỸ THUẬT --- ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TỔNG HỢP CHẤT MÀU CHO GỐM SỨ TRÊN NỀN KHOÁNG SPINEN MAGIE FERIT Giảng viên hướng dẫn Sinh vi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA TỰ NHIÊN - KỸ THUẬT
-
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TỔNG HỢP CHẤT MÀU CHO GỐM SỨ TRÊN NỀN KHOÁNG SPINEN MAGIE FERIT
Quảng Bình, năm 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA: TỰ NHIÊN - KỸ THUẬT
-
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TỔNG HỢP CHẤT MÀU CHO GỐM SỨ TRÊN NỀN KHOÁNG SPINEN MAGIE FERIT
Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện Nguyễn Mậu Thành Dương Đình Quân
Nguyễn Thị Thiên Nga
Quảng Bình, năm 2013
Trang 3HỘI ĐỒNG NGHIỆM THU
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
-
- Chủ tịch:
- Thư ký:
- Ủy viên phản biện 1:
- Ủy viên phản biện 2:
- Ủy viên Hội đồng:
Trang 4A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ thủa sơ khai tới nay, các sản phẩm làm từ gốm sứ đều có rất nhiều ứng dụng trong đời sống và sản xuất Cùng với công nghệ hiện đại các sản phẩm gốm sứ ngày càng
đa dạng về chủng loại và tính đa năng ngày càng cao Các sản phẩm gốm sứ không chỉ để
làm đẹp, trang trí mà còn làm các vật liệu kỹ thuật cao trong nghành công nghiệp điện
tử
Hiện tại nghành công nghiệp gốm sứ đang có bước phát triển nhanh chóng do các sản phẩm gốm sứ ngày càng đáp ứng được thị hiếu của khách hàng Tuy vậy giá cả các
sản phẩm gốm sứ đang còn cao, một phần là do nước ta phải nhập chất màu từ nước ngoài
với giá thành rất cao
Sản xuất chất màu cho gốm sứ là một nghành tương đối mới ở nước ta Ở nước ta vẫn chưa có một nhà máy nào sản xuất chất màu phục vụ cho sản xuất gốm sứ, do đó mà
sức cạnh tranh của gốm Việt còn thấp Trong tự nhiên nước ta có nhiều khoáng vật có
màu nhưng hàm lượng không cao, nhiều tạp chất, không đáp ứng được tiêu chuẩn chất
màu gốm sứ Chất màu cho gốm sứ phải vừa chịu được tác động của nhiệt độ, phải có đặc
tính hóa lí tốt, hơn nữa phải có màu sắc đẹp
Các hợp chất spinen có giá trị rất lớn trong kỹ thuật Chúng được sử dụng làm bột màu, vật liệu chịu lửa, vật liệu kỹ thuật điện tử, đá quý,… Do đó vấn đề nghiên cứu tổng
hợp spinen và các tính chất, cơ, điện của chúng là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà
khoa học
Trong công nghiệp sản xuất chất màu cho gốm sứ thì các cấu trúc mạng lưới tinh thể thường dùng là: Spinen, Zircon, cordierrit, corundum, grenat trong đó hệ tinh thể
spien là phong phú nhất Các chất màu thuộc hệ này thường có màu sắc tươi sáng, bền
nhiệt và bền hóa tốt do đó được sử dụng rất phổ biến
Xuất phát từ thực tế cấp thiết trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là: "Tổng hợp chất màu cho gốm sứ trên nền khoáng spinen magie ferit"
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Từ hóa chất và dụng cụ có sẵn trong phòng thí nghiệm, tổng hợp spinen và chất màu
Trang 5- Nghiên cứu sản phẩm sau khi tổng hợp tổng hợp được và khả năng tạo màu của
nó
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Spinen và chất màu cho gạch men, gốm sứ
4 Tình hình nghiên cứu
Spinen magie ferit và chất màu pha tạp đồng đã được nghiên cứu tổng hợp và có
ứng dụng rỗng rãi trên thế giới tuy nhiên ở Việt Nam đây còn là một công việc khá mới
mẻ và chưa được quan tâm nhiều
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng được quy trình tổng hợp spinen trong phòng thí nghiệm
6 Phạm vi đề tài
- Nội dung: Tổng hợp spinen magie ferit và chất màu pha tạp đồng
- Thời gian: 6 tháng bắt đầu từ 11/2012 và kết thúc 4/2013
- Địa điểm: Phòng thí nghiệm thực hành hoá học - Trường Đại học Quảng Bình
7 Phương pháp nghiên cứu
- Tra cứu tài liệu nói về các phương pháp tổng hợp chất màu
- Phương pháp thực nghiệm, phòng thí nghiệm
- Áp dụng các phương pháp vật lý hiện đại để nghiên cứu cấu trúc spinen
8 Đóng góp của đề tài
+ Về mặt khoa học: Xây dựng và bổ sung thêm phương pháp tổng hợp spinen và
chất màu trong phòng thí nghiệm
+ Về mặt thực tiễn: Đánh giá phản ứng tổng hợp spinen ở pha rắn
9 Cấu trúc đề tài
Đề tài có cấu trúc gồm 3 phần
A Mở đầu:
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4 Tình hình nghiên cứu đề tài
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
6 Phạm vi đề tài
Trang 67 Phương pháp nghiên cứu
8 Đóng góp của đề tài:
9 Cấu trúc của đề tài
B Nội dung
Chương 1: Tổng quan về lý thuyết
Chương 2: Nội dung và thực nghiệm
Chương 3: Kết quả và thảo luận
C Kết luận, kiến nghị
Trang 7B NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT
1.1 CÁC KHÁI NIỆM GỐM SỨ
Hình 1.1 Một số sản phẩm gốm sứ
Gốm là danh từ chỉ những sản phẩm được gia công từ những nguyên liệu chủ yếu là cao lanh và đất sét được tạo hình, sấy và nung đến nhiệt độ kết khối Có thể chia gốm
thành hai loại theo cấu trúc của nó:
- Gốm thô: Là các sản phẩm chưa kết khối hoặc kết khối chưa cao, thường có màu nâu vò lẫn sắt, có thể tráng men hoặc không tráng men, bề mặt thô, cấu trúc không sít đặc,
cỡ hạt lớn
+ Vật liệu xây nhà: gạch chỉ, gạch rỗng, khối sành rỗng, tấm panen
+ Vật liệu lợp: ngói lợp + Sản phẩm ống sành, chum, vại + Sản phẩm trang trí: sành lát diện, gạch lát, các tấm hoa văn
- Gốm mịn: là những sản phẩm có độ kết khối cao, đồng nhất, cỡ hạt mịn, độ hút nước bé Sản phẩm thường được bọc một lớp men mỏng, đa số có màu trắng
+ Những sản phẩm có độ kết khối cao, sít đặc, cứng gồm sứ điện, sứ vệ sinh, sứ
dân dụng, sành dạng đá, sành dân dụng, sành chịu axit và sành chịu lửa
+ Những sản phẩm xốp: ít cứng hơn gồm bán sứ dân dụng, sành
+ Vật liệu chịu lửa: thiết bị làm việc được ở nhiệt độ cao như gạch dinat, samot, cromanhedi
+ Gốm đặc biệt: dùng trong lỹ thuật radio, trong kỹ thuật điện và điện tử, buồng
Trang 8đốt phản ứng hạt nhân, động cơ phản lực và tên lửa, các loại chịu lửa cao cấp
Vật liệu gốm sứ có đặc tính chung là có độ cứng cao, bền nhiệt và bền với môi trường nhưng có nhược điểm chung là giòn và dễ vỡ khi va chạm Vật liệu gốm có thể
phân chia thành 2 loại theo nguyên liệu và phương pháp sản xuất là gốm truyền thống và
gốm kỹ thuật
* Gốm truyền thống Gốm truyền thống thường làm từ cao lanh và đất sét, thành phần của nó chủ yếu là
silicat và aluminat Các công đoạn sản xuất gốm truyền thống thường là trộn phối liệu, tạo
hình, sấy khô và nung kết khối Một số sản phẩm đòi hỏi tính thẩm mĩ thì có thêm giai
đoạn tráng men và trang trí màu
* Gốm kỹ thuật Là hỗn hợp các oxit nguyên chất của các nguyên tố đất hiếm, ferit, zirconat, cacbua của các kim loại
1.2 CHẤT MÀU
1.2.1 Màu sắc
Bảng 1.1 Màu tia bị hấp thụ và màu tia ló trong vùng khả kiến
Bước sóng của dải hấp thụ
Chất màu cho gốm sứ có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, có khả năng bền màu
Trang 9dưới tác dụng của điều kiện khắc nhiệt
Màu của khoáng vật là do chúng hấp thụ ánh sáng có chọn lọc, nếu hấp thụ toàn bộ
ánh sáng trắng chiếu vào nó thì có màu đen, ngược lại nếu nó phản xạ toàn bộ các tia sáng
thì có màu trắng Khi chất màu hấp thụ một trong số các tia sáng thì chùm tia ló sẽ có
màu
1.2.2 Các yếu tố gây màu
Các khoáng vật có màu là do việc hấp thụ có chọn lọc các tia sáng, điều này được giải thích là do sự chuyển dịch điện tử trong phân tử chất màu dẫn tới sự hấp thụ bức xạ
điện từ bao gồm: Sự chuyển điện tử lên các mức năng lượng cao hơn trong các nguyên tố,
các ion hay giữa chúng với nhau, sự chuyển điện tử do khuyết tật hay sự chuyển mức
năng lượng
a Sự chuyển dịch electron trong các nguyên tố gây màu
Trong ion các kim loại chuyển tiếp có các electron ở phân lớp d và phân lớp f Khi chưa có kích thích, các electron này có mức năng lượng thấp chuyển động ở trạng thái cơ
bản Khi bị kích thích, có ánh sáng chiếu vào thì các electron này sẽ hấp thụ năng lượng
thích hợp ứng với một tia nào đó trong chùm ánh sáng chiếu vào để chuyển lên obitan có
mức năng lượng cao hơn (gọi là trạng thái kích thích) làm cho ánh sáng truyền qua có
màu
Khoáng vật có màu do sự chuyển mức năng lượng của các electron thuộc phân lớp 3d thường xảy ra trong các ion kim loại chuyển tiếp như Cr3+, Fe3+, Fe2+,… Còn với các
nguyên tố họ lantanoit màu được tạo ra thông qua sự chuyển mức năng lượng của các
electron 4f như các khoáng của nguyên tố họ f
b Sự chuyển electron giữa các nguyên tố trong cùng một tinh thể
Trong một tinh thể electron có thể chuyển từ nguyên tố này sang nguyên tố khác, giữa ion này với ion khác do sự kích thích bởi các tia sóng có mức năng lượng cao như tia
cực tím Electron có thể dễ dàng chuyển dịch khi các nguyên tố ở gần nhau, trong một
nguyên tố có nhiều mức oxi hóa và giữa các ion đồng hình thay thế
c Sự chuyển electron do khuyết tật trong mạng lưới tinh thể
Về mặt nhiệt động học sự hình thành khuyết tật ở một mức độ nào đó là có thuận lợi về mặt năng lượng Tinh thể hoàn thiện là tinh thể mà trong đó các tiểu phân (nguyên
Trang 10tử, ion ) được phân bố vào đúng vị trí nút mạng lưới của nó một cách hoàn toàn có trật
tự Tinh thể hoàn thiện như vậy chỉ là trường hợp lí tưởng và ở 00K Khi nhiệt độ tăng lên
thì các tiểu phân ở các mạng lưới dao động mạnh dần và có thểrời khỏi vị trí của nó để đi
vào các hốc trống giữa các nút mạng, còn vị trí nút mạng của nó thì trở thành lỗ trống
Mạng lưới lúc này sẽ có chỗ mất trật tự Có thể nói tất cả các tinh thể thực đều là mạng
lưới không hoàn thiện và có chứa các loại khuyết tật khác nhau Ngay như đơn tinh thể
kim cương được gọi là hoàn thiện nhất cũng có chứa khuyết tật tuy với nồng độ rất
nhỏ(<1%) Phần lớn các tinh thể thực có nồng độ khuyết tật tới trên 1%
1.2.3 Các tiêu chuẩn để đánh giá chất màu gốm sứ
- Gam màu: là tính đơn màu của màu sắc
- Tông màu: là tên gọi 1 màu, mô tả sắc điệu của màu, được quy định bởi bước sóng trội của màu
- Độ sáng: được đánh giá bằng phần trăm các tia phản chiếu so với tổng của chùm tia tới
- Cường độ màu: là khả năng phát màu
- Độ bền màu: là khả năng chống chịu của các chất màu trước các điều kiện so sánh
- Độ phân tán: là sự phân bố các hạt màu lên bề mặt sản phẩm
- Độ thuần sắc (độ bão hòa): mức độ tinh khiết của màu, được đánh giá bằng tỉ lệ
của độ ánh thành phần đơn sắc so với độ ánh chung Màu đơn sắc có độ thuần sắc
100% Màu vô sắc có độ thuần sắc 0%
- Độ sáng: mức độ sáng tối của 1 màu, được đánh giá bằng phần trăm của tia phản chiếu so với tổng chùm tia tới
1.2.4 Cơ sở hóa lí về tổng hợp chất màu cho gốm sứ
Các chất màu gốm sứ được tổng hợp trên cơ sở đưa các ion kim loại vào mạng lưới tinh thể của một chất nền Việc này xảy ra giữa các oxit, các muối trong pha rắn
Ion gây màu trong trạng thái xâm nhập, thay thế hoặc ở dạng tạp chất, vì có cấu trúc không hoàn chỉnh mà mạng lưới tinh thể bị biến đổi dẫn tới sự thay đổi cấu trúc lớp
vỏ điện tử dẫn tới sự hấp thụ ánh sáng có chọn lọc
Trang 111.2.5 Các nguyên tố gây màu và một số hợp chất tạo màu phổ biến
Các chất màu thường chứa các oxit các nguyên tố hóa trị II như Cu, Be, Mg, Ca,
Sr, Ba, Zn, Cd, Pb, Mn, Fe, Co, Ni, các nguyên tố hóa trị III như Al, Cr, Mn, Fe, Ga, In,
La, Ti, V, Sb Trong các nguyên tố này các phân lớp điện tử d, f chưa được lấp đầy điện
tử, vì vậy khi bị kích thích thì nó có thể phân mức năng lượng và hấp thụ có chọn lọc ánh
sáng
Bảng 1.2 Các hệ nguyên tố hóa học cơ bản sử dụng để sản xuất chất mầu gốm sứ
Màu
Xanh Xanh lá
Co-Zn Co-Cr-Zn Pb-Sb-Sn PbCrO 4
Fe-Cr-Mn
F e-Cr-Co-
C r-Cu
B aCrO 4
S rCrO 4
Z
Trang 12nCrO 4
Việc sử dụng các hệ hóa học trên có thể tạo ra một dãy các tông màu khác nhau khi thay đổi tỉ lệ các chất trong thành phần của chúng
a Hợp chất của côban ( Co)
Oxit coban CoO - bột màu ô liu, ở nhiệt độ 2800oC bắt đầu phân hủy giải phóng oxy, ở 18oC nó hấp thụ oxy tạo thành Co3O4 Thu nhận CoO bằng cách đun nóng Co hoặc
Co(OH)2 và Co(CO3)2
Clorit coban CoCl2.6H2O - tinh thể màu đỏ hoặc màu da cam, ở 49oC mất 2 phân tử nước, ở 58oC mất thêm 2 phân tử nước ở 90oC còn lại 1 phân tử nước, nó bị mất nước
hoàn toàn tạo ra CoCl2 ở 140oC có màu xanh tím
Nitrat coban Co(NO3)2.6H2O - tinh thể màu đỏ rực, hút nước và dễ tan trong nước
Sunfat coban CoSO4.7H2O - tinh thể màu hồng, dễ tan trong nước
Cacbonat coban CoCO3 - màu hồng, dễ phân hủy, dễ tan trong axit Axetat coban (CH3COO)2Co - tinh thể màu đỏ, tan trong nước
Co3O4 - bột màu nâu
Co2O3 - bột màu đen xám, không tan trong nước, tan trong axit tách O2 và tạo muối hóa trị II
b Các hợp chất của Crôm ( Cr )
Ôxit crôm Cr2O3 - hạt tinh thể khó nóng chảy, màu xanh lá cây sẫm, không tan trong nước cũng như axit hay kiềm đặc biệt nó rất bền với môi trường Trong thiên nhiên
thường gặp FeO.Cr2O3
Hidroxit crôm Cr(OH)3.2H2O - bột vô định hình màu xám hay là xanh xám, tan trong axit, không tan trong nước
Clorua crôm CrCl3.6H2O - tồn tại ở dạng tinh thể hoặc bột nhỏ màu xanh lá cây sẫm, không tan trong nước, tan trong axit
Nitrat crôm Cr(NO3)3.9H2O - tinh thể màu đen, dễ tan trong nước
Sunfat crôm Cr2(SO4)3.6H2O - bột màu xanh lá cây hoặc các phiến màu xanh lá
cây sẫm, tan trong nước
Phèn crôm K2Cr2(SO4).12H2O - các tinh thể màu tím sẫm, tan trong nước
Trang 13Crômit FeO.Cr2O3 có màu nâu đen, thường chứa tạp chất magie hoặc nhôm khi ở
dạng khoáng
Anhidric crôm CrO3 - tinh thể màu đỏ sẫm ngậm nước, là chất oxi hóa mạnh
Bicrômat kali K2Cr2O7 - tinh thể màu vàng da cam, dễ tan trong nước, ở nhiệt độ
cao dễ phân hủy
c Các hợp chất sắt ( Fe )
Sunfat sắt FeSO4.7H2O - tinh thể màu xanh lá cây sáng, dễ tan trong nước
Oxit sắt Fe2O3 - dạng bột màu gạch từ đỏ nho đến đỏ sẫm
Clorua sắt FeCl3.6H2O - tinh thể màu vàng, rất hút ẩm, tan trong nước, rượu và ete
Nitrat sắt Fe(NO3)3.9H2O - tinh thể trong suốt màu tím nhạt, tan trong nước
d Hợp chất mangan ( Mn )
Sunfat mangan MnSO4.nH2O ( n=1:7) có màu hồng nhạt Oxit mangan Mn2O3 - dạng bột màu nâu sẫm hoặc màu đen, ở nhiệt độ lớn hơn
940oC nó phân hủy tạo ra Mn3O4 và O2
Mangan dioxit MnO2 - bột màu đen, là một oxit lưỡng tính
e Hợp chất niken ( Ni )
Oxit niken NiO - bột màu vàng, bền ở nhiệt độ cao Không tan trong NH3 và axit đậm đặc
Nitrat niken Ni(NO3)2.6H2O - dạng tinh thể màu xanh lá cây pha vàng, tan trong nước và rượu
Sunfat niken NiSO4.7H2O - tinh thể màu xanh lá cây pha vàng, tan trong nước
Axetat niken (CH3COO)2Ni - tinh thể màu xanh lá cây, tan trong nước
Oxit niken Ni2O3 - bột màu đen, không tan trong nước, thường chứa một lượng nước thay đổi
f Các hợp chất của đồng ( Cu )
Oxit đồng Cu2O - bột tinh thể màu đỏ tươi, không tan trong nước
Oxit đồng CuO - dạng bột hoặc cục xốp màu đen, không tan trong nước nhưng tan trong dung dịch NH3 tạo ra dung dịch màu xanh
Nitrat đồng Cu(NO3)2.3H2O - tinh thể màu xanh đen, tan tốt trong nước và rượu
Sunfat đồng CuSO4.5H2O - tinh thể lớn màu xanh tím, dễ tan trong nước
Trang 14g Các hợp chất của kẽm ( Zn )
Oxit kẽm ZnO - bột màu trắng, không tan trong nước, đun nóng có màu vàng, để
nguội trở về màu trắng
Clorit kẽm ZnCl2 - tinh thể màu trắng, tan trong nước
Sunfat kẽm ZnSO4.7H2O - tinh thể mịn màu trắng, rất dễ tan trong nước
Axetat kẽm (CH3COO)2Zn.2H2O - tinh thể màu trắng, dễ tan trong nước
h Các hợp chất của chì ( Pb )
Chì oxit PbO - bột vô định hình màu vàng
Axetat chì (CH3COO)2Pb - tinh thể màu trắng, tan trong nước
Minium Pb3O4 - bột tinh thể mịn có màu từ đỏ da cam tới đỏ
1.2.6 Phân loại màu theo vị trí trang trí giữa men và màu
- Màu trên men hay chất màu nhẹ lửa: Chất màu trên men được sử dụng để trang trí các sản phẩm gốm xốp và sứ, chúng được phủ một lớp mỏng lên bề mặt sản phẩm đã
phủ men và nung sơ bộ Chúng tạo ra trên bề mặt một lớp phim mỏng, gắn chặt với
xương gốm khi nung trong lò nung ở nhiệt độ 7200C- 8500C Các chất màu sau khi nung
thường có độ bóng đẹp và tông màu rất sáng nhưng độ bền kém hơn so với các chất màu
dưới men Các loại màu trên men có chủng loại khá phong phú
- Màu dưới men hay màu nặng lửa: Chất màu dưới men thường được phủ trực tiếp lên các sản phẩm đã nung sơ bộ hoặc đã sấy khô sau đó được phủ men và nung cùng
nhau Các chất màu này bám chặt trên sản phẩm và có màu rất đẹp tuy vậy số lượng chất
màu loại này là không nhiều do phải chịu được nhiệt độ rất cao Do vậy các chất màu như
vậy trở nên rất quý giá và nội dung nghiên cứu của rất nhiều công trình
- Màu trong men: Chất màu được tổng hợp từ trước rồi được vào trong men Các hạt màu sẽ phân bố, hòa tan lẫn vào men nóng chảy
1.3 PHẢN ỨNG GIỮA CÁC PHA RẮN
1.3.1 Phản ứng giữa các pha rắn theo cơ chế khuếch tán Wagner
Khác với phản ứng ở pha khí và pha lỏng, các phản ứng ở pha rắn thường rất khó
xảy ra ở điều kiện thường, nó chỉ xảy ra ở nhiệt độ cao nhưng với tốc độ chậm, do các
phân tử chất rắn tồn tại ở trạng thái tinh thể, liên kết rất chặt chẽ với nhau trong mạng tinh
thể Phản ứng diễn ra qua hai giai đoạn là:
Trang 15Giai đoạn 1: Chuyển chất tới vùng phản ứng - miền khuếch tán (Tạo mầm) Giai đoạn 2: Thực hiện phản ứng trên bề mặt - miền động học (phát triển mầm) -> Giai đoạn chậm nhất quyết định tốc độ phản ứng
MgO + Fe2O3 -> MgFe2O4
Phản ứng là thuận lợi về mặt nhiệt động nhưng về mặt động học thì phản ứng xảy
ra rất chậm ngay cả khi được đun nóng ở nhiệt độ cao Trong quá trình phản ứng phải làm
đứt một số liên kết trong các chất, và phải khuếch tán được các ion vào miền động học do
vậy đòi hỏi một năng lượng rất lớn
Mô hình phản ứng:
Trên bề mặt Fe2O3/MgFe2O4: 3Mg2+ + 4Fe2O3 ->2Fe3+ + 3MgFe2O4
Ion Mg2+ và O2- khuếch tán qua lớp sản phẩm sang Fe2O3 và ngược lại ion Fe3+ và
O2- khuếch tán qua MgO do đó mà sản phẩm được tạo thành từ cả hai phía