Đây là dạng đề Nghị luận văn học (câu 5 điểm) đã được ra đề thi Đại học và Tốt nghiệp nhiều năm qua. Để có thể học tốt và có phương pháp kĩ năng làm tốt dạng đề này thì chuyên đề Nghị luận về nhân vật trong tác phẩm văn học sẽ giúp cho Giáo viên giảng dạy và học sinh có thể định hướng ôn thi có hiệu quả nhất Đặc biệt là có mô hình triển khai bài làm phù hợp với thiết kế hướng dẫn chấm của Bộ Giáo dục Đây cũng là tài liệu rất cần thiết cho việc bồi dưỡng Học sinh giỏi Ngữ văn thi HSG tỉnh và Quốc gia.
Trang 1SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HẬU GIANG
TRƯỜNG THPT CÂY DƯƠNG
BỘ MÔN: NGỮ VĂN
********
CHUYÊN ĐỀ
PHÂN TÍCH, CẢM NHẬN MỘT NHÂN VẬT (HÌNH TƯỢNG)
VĂN HỌC
Biên soạn: Thầy LÊ MINH TƯƠNG
Trang 2- Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm (hoàn cảnh sáng tác).
- Giới thiệu khái quát về nhân vật (hình tượng) văn học – giới hạn bài làm
Thân bài:
1 Phân tích các khía cạnh về nội dung của nhân vật (lần lượt phân tích kĩ các nộidung)
(có thể chia làm nhiều luận điểm tùy theo nhân vật văn học)
2 Phân tích các đặc sắc nghệ thuật trong xây dựng nhân vật của tác phẩm
3 Liên hệ mở rộng: So sánh, liên hệ mở rộng để làm sâu sắc thêm vấn đề đangphân tích (có thể xen kẽ vào từng nội dung ở ý 1 và ý 2)
Kết bài: - Khái quát những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật tiêu biểu Vị trí củanhân vật trong tác phẩm và sự nghiệp của nhà văn
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân
II THỰC HÀNH CỤ THỂ:
Câu 8 Hình ảnh con sông Đà qua sự cảm nhận của Nguyễn Tuân trong đoạn
trích tác phẩm Người lái đò sông Đà.
GỢI Ý TRẢ LỜI
1 Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân và tùy bút Người lái đò Sông Đà.
- Nêu vấn đề: trong đoạn trích tác phẩm Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân
đã làm sống dậy vẻ đẹp của sông Đà bằng một phong cách văn chương độc đáo
2 Thân bài:
- Hình ảnh con sông Đà “hung bạo”: HS cần phân tích được các chi tiết
Nguyễn Tuân miêu tả về THÁC, ĐÁ, VÁCH THÀNH, GHỀNH, GIÓ, SÓNG,NHỮNG CÁI HÚT NƯỚC,… trên sông Đà Nhà văn đã sử dụng nhứng ấn tượng thị
Trang 3giác, xúc giác, thính giác, kết hợp với những tri thức ở nhiều ngành khác nhau vànhững liên tưởng, so sánh mới mẻ, độc đáo,…để cho ta thấy cái dữ dội, hiểm trở vàsức mạnh ghê ghớm của dòng sông, đồng thời gợi lên hình ảnh một thiên nhiên kì vĩ,hoang sơ.
- Hình ảnh con sông Đà “trữ tình”:
+ Đẹp nhất là khi tác giả so sánh “Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóctrữ tình…” Lúc này con sông thoắt biến thành người con gái với vẻ đẹp gợi cảm,duyên dáng, đầy sức sống Nguyễn Tuân còn dõi theo sông Đà qua dòng chảy thờigian Nhà văn nhận ra sắc nước của dòng sông thay đổi theo mùa: mùa xuân dòngsông xanh màu ngọc bích, mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một ngườibầm đi vì rượu bữa Dường như nhà văn không phải đang miêu tả một dòng sông màmiêu tả diện mạo một con người trong sự biến thiên của cuộc đời
+ Vẻ trữ tình của sông Đà hiện lên đậm nét nhất khi nhà văn miêu tả một quãngsông “lặng tờ” Câu văn của Nguyễn Tuân lúc này trở nên êm ái, có những câu toànthanh bằng khiến ta lạc vào một giấc mơ êm đềm Con sông Đà là thực mà như là hư
ảo, như là tiên cảnh Những bãi ngô, những đám cỏ gianh ướt đẫm sương đêm, nhữngchú hươu thơ ngộ,… tạo nên một bức tranh lãng mạn, “hoang dại”
+ Trong cảm nhận của Nguyễn Tuân, sông Đà không chỉ chảy qua thời gian,không gian Nó còn chảy qua những áng thơ của Nguyến Qunag Bích, Tản Đà,…Thêm nữa, tác giả còn sử dụng lối so sánh rất đặc biệt khiến cho con sông như vừagần vừa xa, vừa thực vừa hư ả: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồnnhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa…”
3 Kết bài: Khẳng định “cái tôi” độc đáo của Nguyễn Tuân khi miêu tả hình ảnh sông
Đà: Nguyễn Tuân thích thú bao nhiêu trước vẻ dữ dội của sông Đà thì cũng say đắmbấy nhiêu trước vẻ trữ tình của nó Tả sự hung bạo, Nguyễn Tuân đưa ta đến với khúctráng ca; tả vẻ trữ tình, ông lại mang đến cho ta những trang văn như vần thơ trữ tình.Những trang văn như thế đã khơi dậy ở người đọc tình ywwu quê hương đất nướcmình
Câu 9 Vẻ đẹp con sông Hương trong đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng
sông?(Hoàng Phủ Ngọc Tường)
Trang 4GỢI Ý TRẢ LỜI
Câu hỏi yêu cầu HS làm rõ vẻ đẹp của sông Hương trong đoạn trích Ai đã đặt
tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngoạc Tường) Tham khảo gợi ý sau:
1 Mở bài:
- Ai đã đặt tên cho dòng sông? Là bài kí xuất sắc được Hoàng Phủ Ngọc Tường
viết tại Huế tháng 1 – 1981 và sau đó được in trong tập sách cùng tên Tập sách gồmtám bài kí, viết ngay sau chiến thắng mùa xuân năm 1975 nên vẫn bừng bừng khí thếchống giặc ngoại xâm và cảm hứng ca ngợi chủ nghĩa anh hùng
- Đoạn trích trong SGK Ngữ văn 12, tập một là đoạn văn xuôi súc tích và đầychất thơ về sông Hương với vẻ đẹp tự nhiên và vẻ đẹp lịch sử, vẻ đẹp đời thường và
vẻ đẹp thi ca
2 Thân bài:
a) Vẻ đẹp của sông Hương:
Vẻ đẹp tự nhiên của sông Hương:
- Sông Hương ở thượng lưu:
+ Sông Hương – “bản trường ca của rừng già”
+ Sông Hương – “cô gái Di-gan phóng khoáng và hoang dại”
- Sông Hương ở ngoại vi thành phố Huế:
+ Sông Hương – “người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở”
+ Sông Hương – “người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng ChâuHóa đầy hoa dại” được “người tình mong đợi” đến đánh thức
+ Sông Hương – “ vẻ đẹp “trầm mặc”, “như triết lí, như cổ thi”
- Sông Hương giữa lòng thành phố Huế:
+ Sông Hương – “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”
+ Sông Hương – “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”
+ Sông Hương – “người tình dịu dàng và chung thủy”
Vể đẹp lịch sử, vể đẹp đời thường và thi ca của sông Hương:
- Trong lịch sử, sông Hương mang vẻ đẹp của một bản hùng ca ghi dấu baochiến công oanh liệt của dân tộc
- Trong đời thường, sông Hương mang một vẻ đẹp giản dị của một người congái dịu dàng
Trang 5- Trong văn học, sông Hương đã khơi nguồn những cảm hứng khác nhau chocác văn nghệ sĩ, đặc biệt là các nhà thơ.
(Lưu ý: Với mỗi biểu hiện trên, HS cần tìm những dẫn chứng tiêu biểu và phân
tích giá trị của chúng đẻ làm nổi bật vẻ đẹp của sông Hương.)
b) Nghệ thuật thể hiện vẻ đẹp của sông Hương trong đoạn trích:
- Sức liên tưởng phong phú và dựa trên những kiến thức về địa lí, lịch sử, vănhóa, nghệ thuật,… và những trải nghiệm của chính tác giả
- Ngôn ngữ phong phú, uyển chuyển, giàu hình ảnh, giàu chất thơ, sử dụng cóhiệu quả các phép tu từ
- Có sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc và trí tuệ, chủ quan và khách quan
c) Tình cảm của tác giả với sông Hương.
3 Kết bài: Nêu cảm nhận, ấn tượng riêng của cá nhân về con sông Hương qua tùy
bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường
HẾT Câu 1 Phân tích ý nghĩa điển hình của nhân vật Chí Phèo.
-GỢI Ý TRẢ LỜI
Để giải quyết câu hỏi này, trước hết HS cần nắm vững khái niệm điển hình vàcác khía cạnh tạo nên tính cách điển hình của nhân vật; từ đó huy động những kiếnthức cụ thể về nhân vật Chí Phèo để làm sáng tỏ ý nghĩa điển hình của nhân vật.Tham khảo cách trình bày sau:
1 Mở bài:
- Là nhà văn sáng tác theo trường phái hiện thực, những sáng tác của Nam Caotrước Cách mạng tháng Tám 1945 đã phản ánh chân thực, sinh động cả diện mạo vàbản chất của xã hội đương thời bằng những điển hình sâu sắc
- Truyện ngắn Chí Phèo đã khẳng định vị trí Nam Cao trên văn đàn ở một
mảng đề tài vốn đã có nhiều cây bút tài năng khám phá và thể hiện – đề tài nông thôn
và người nông dân Góp phần làm nên thành công của Nam Cao chính là nghệ thuậtđiển hình hóa và xây dựng nhân vật điển hình Chí Phèo
2 Thân bài:
- Nêu khái niệm:
Trang 6+ Điển hình: sự kết hợp giữa cái riêng sắc nét và cái chung mang tính khái quátcao.
+ Nhân vật điển hình: người vừa mang tính cụ thể, cá thể, không lặp lại vừamang những phẩm chất, đặc điểm chung để trở thành đại diện cho một tầng lớp trong
xã hội
+ Các phương diện biểu hiện tính điển hình: tính cách, số phận, quan hệ xã hội,
…
- Phân tích nhân vật Chí Phèo – một nhân vật điển hình:
+ Tính cách của Chí Phèo là sản phẩm của hoàn cảnh, do hoàn cảnh:
● Thuở nhỏ: được cưu mang bởi những người lương thiện song cũng sớm phải
tự lập kiếm sống trong thân phận của kẻ đi ở, người làm thuê làm mướn Thời gian
đó, Chí là người lương thiện, hiền lành, thậm chí nhút nhát
● Từ năm 20 tuổi: phải đối mặt với xã hội đầy hiểm ác, thù địch với con người(bà ba Bá Kiến đầy dục vọng, Bá Kiến thâm độc, nhà tù thực dân đen tối,…), Chí thahóa và trở thành thằng du côn, thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại
● Khi gặp thị Nở, được đối xử như một con người, Chí đã thức tỉnh nhân cách,thèm làm người lương thiện, thèm được làm hòa với bà con
● Khi bị thị Nở từ chối, cùng đường tuyệt vọng, Chí trở nên liều lĩnh, quyếttâm trả thù và vứt bỏ sinh mạng của mình
+ Số phận Chí Phèo điển hình cho những đau khổ của người nông dân trướcCách mạng tháng Tám năm 1945:
● Bị bóc lột, đày đọa và xúc phạm: bị tước mất những niềm hạnh phúc vàquyền lợi tối thiểu (không cha, không mẹ, không tấc đất cắm dùi, không một mái ấmnương thân); sống vất vả, cơ cực trong thân phận của kẻ ăn người ở cho các nhà giàu;
bị lăng nhục (phải thỏa mãn nhu cầu của một bà chủ dâm đãng)
● Bị tha hóa, biến chất: bản tính Chí Phèo vốn lương thiện, nhưng khi bị BáKiến tước quyền tự do, Chí Phèo phải vào tù Nhà tù dạy Chí những bài học đầu tiên
để trở thành một thằng du côn Bá Kiến sau đó lại làm tiếp phần việc còn lại của nhà
tù thực dân: biến thằng du côn thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại Trong quá trình ấy,tình thế đơn độc và tình trạng u tối khiến Chí không thể kháng cự lại kẻ thù và cũngkhông đủ tỉnh táo để nhận ra sự bi thảm của số phận mình
Trang 7● Bị từ chối quyền làm người lương thiện: cuộc gặp gỡ với thị Nở làm Chíthức tỉnh nhân cách, thèm lương thiện và muốn làm hòa với mọi người nhưng quákhứ bất hảo khiến Chí bị từ chối Giải pháp mà Chí lựa chọn là đâm chết bá Kiến và
tự sát, kết thúc cuộc đời bi thảm của mình
Qua tính cách và số phận của Chí Phèo, ta thấy Chí không những bị bần cùnghóa, bị lưu manh hóa mà còn bị cự tuyệt quyền làm người Tính cách và số phận ấyvừa là của riêng Chí vừa mang những phẩm chất đặc điểm chung để trở thành đạidiện cho nhiều người thuộc giai cấp nông dân trong xã hội đương thời
+ Nghệ thuật điển hình hóa của Nam Cao:
● Xây dựng môi trường, hoàn cảnh có tính chất điển hình với những mâu thuẫncăng thẳng, gay gắt
● Đặt nhân vật trong nhưng quan hệ vừa đối kháng, vừa gắn bó
● Huy động tối đa sức mạnh của những chi tiết về cuộc đời, số phận, tâm lí,tính cách, quan hệ,…để làm nỗi bật nét riêng, màu sắc cá biệt của hiện tượng cũngnhư mối liên hệ giữa hiện tượng với các hiện tượng khác
- Đánh giá:
+ Thành công về mặt nghệ thuật: Xây dựng nhân vật Chí Phèo, Nam Cao thểhiện tài năng bậc thầy trong miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật, bút tích điển hìnhhóa và khả năng khái quát hiện thực cuộc sống bằng hình tượng nghệ thuật
+ Ý nghĩa tư tưởng và giá trị nội dung: Xây dựng hình tượng Chí Phèo, NamCao thể hiện tư tưởng nhân đạo mới mẻ và sâu sắc Qua hình tượng này, nhà vănkhông chỉ phản ánh được nỗi thống khổ và số phận bi kịch của con người mà còn gópphần lí giải nguyên nhân của nỗi thống khổ ấy Đồng thời, qua nhân vật, Nam Cao đãcất lên tiếng kêu cứu khẩn thiết: hãy cứu lấy nhân phẩm của con người được sốnglương thiện và hạnh phúc
3 Kết bài:
- Trong tác phẩm Chí Phèo, Nam Cao đã xây dựng được một điển hình sinh
động về người nông dân trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 với cá tính riêng sắcnét và số phận tiêu biểu cho nỗi thống khổ của con người Chân dung Chí Phèo sinhđộng và chân thực đến độ nó không chỉ là hình tượng trong tác phẩm mà còn bướcvào cuộc sống để sống tiếp đời sống phong phú của nó
Trang 8- Ở mảng đề tài nông thôn, nông dân, Nam Cao tuy là người đến sau nhưng đãnhanh chóng khẳng định được tên tuổi của mình Tầm vóc, tài năng cùng với sự sâusắc về tư tưởng đã giúp viết nên một truyện ngắn được xếp vào hạng xuất sắc nhấtcủa văn học Việt Nam hiện đại.
Câu 2: Phân tích tâm trạng của Chí Phèo qua đoạn trích sau:
Nhưng bây giờ thì hắn tỉnh, hắn bâng khuâng như tỉnh dậy sau một cơn say rất dài Cũng như những người say tỉnh dậy, hắn thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn Người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc Hay là đói rượu, hắn hơi rùng mình Ruột gan lại nôn nao lên một tí Hắn sợ rượu cũng như những người
ốm thường sợ cơm Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy… Chao ôi là buồn!
(Nam Cao, Chí Phèo, Ngữ văn 11, tập một, 2014, tr.149) GỢI Ý TRẢ LỜI
HS cần đọc kĩ đoạn trích để biết được vị trí của nó trong diễn biến của tácphẩm, từ đó phân tích được những biểu hiện tâm trạng của Chí Phèo trong đoạn tríchcũng như nghệ thuật thể hiện tâm trạng ấy Tham khảo các ý sau:
1 Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Giới thiệu nội dung của đoạn trích nêu trong đề bài
2 Thân bài:
- Nêu vị trí của đoạn trích: nằm ở phần giữa của tác phẩm Chí Phèo, diễn tả một
phần tâm trạng tỉnh táo của Chí Phèo trong buổi sáng gặp thị Nở, ăn nằm với thị, đaubụng và nôn mửa
- Tâm trạng của Chí:
+ Được diễn tả trực tiếp qua các từ ngữ chỉ cảm giác Ngôn ngữ kết hợp lời kểcủa tác giả và độc thoại nội tâm của nhân vật; đan xen giữa những câu kể, tả là nhữngcâu hỏi và câu cảm thán
+ Biểu hiện: Đoạn trích diễn tả những cung bậc cảm xúc khác nhau của ChíPhèo sau khi tỉnh rượu:
Trang 9● Đầu tiên là tâm trạng “bâng khuâng như tỉnh dậy sau cơn say rất dài” Đó là
sự luyến tiếc, nhớ thương xen lẫn một cái gì đó không rõ ràng
● Tiếp theo là cảm giác: “miệng đắng, lòng mơ hồ buồn Người thì bủn rủn,chân tay không buồn nhấc” Đó là những cảm giác thực của một người đang ở vàomột trận ốm, mệt mỏi rã rời nhưng lại cô đơn
● Rồi “Nghĩ đến rượu, hắn hơi rùng mình Ruột gan lại nôn nao lên một tí”.Chí hiểu chính rượu đã khiến hắn ra nông nỗi này, để rồi hắn “sợ rượu cũng nhưnhững người ốm thường sợ cơm”
● Sau đó, Chí nhận thấy: “Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cườinói của những người đi chợ Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá Những tiếng quenthuộc hôm nào chả có Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy… Chao ôi là buồn!” Đó
là những âm thanh rất bình thường của cuộc sống như giờ đây là mới mẻ đối với Chí.Những âm thanh ấy đã nhắc Chí nhớ lại những ước mơ bình dị mà giờ đây đã trở nênrất đỗi xa xôi – ước mơ về một cuộc sống bình thường và được sống dưới một máinhà yên ấm, giản dị Cái quá khứ trong mơ ấy giờ đây đối lập gay gắt với hiện thực
mà Chí đang sống
Những cảm giác này cho thấy Chí thực sự đã tỉnh táo về tâm lí cho dù ngườicòn đang rất mệt Khi triền miên trong những cơn say, Chí không hề cảm nhận thấynhững cảm giác đó của mình cũng như những âm thanh vui vẻ của cuộc sống.Thường trực trong Chí luôn là cảm giác uất hận, muốn gây sự, muốn chém giết; âmthanh mà Chí nghe thấy chính là giọng nói của mình, là tiếng chửi mỗi khi Chí say vàhọa chăng là những con chó cắn xao lên trong xóm mỗi khi nghe thấy những tiếngchửi ấy
3 Kết bài: Miêu tả những cảm giác, tâm trạng tỉnh táo của Chí Phèo sau cơn say dài
để từ đó nhận ra tình trạng bi đát của mình và khao khát trở lại làm người lươngthiện, Nam Cao đã thể hiện sự sâu sắc và tinh tế trong cảm nhận và miêu tả tâm trạngcon người
Câu 3 Suy nghĩ và bình luận về vai trò của nhân vật thị Nở trong truyện Chí
Phèo (Nam Cao).
GỢI Ý TRẢ LỜI
Trang 10Với câu hỏi này, HS cần vận dụng thao tác phân tích để xem xét, xác định và
đánh giá đặc điểm của nhân vật thị Nở trong truyện Chí Phèo (Nam Cao) Sau đó đặt
nhân vật trong mối quan hệ với nhân vật trung tâm (Chí Phèo) và toàn bộ tác phẩm đểchỉ ra vai trò của nhân vật trong việc thể hiện ý đồ nghệ thuật của nhà văn Thamkhảo cách trình bày ý cho bài viết như sau
1 Mở bài:
- Truyện Chí Phèo được Nam Cao viết vào năm 1941, phản ánh hiện thực về
con người và cuộc sống nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.Bức tranh hiện thực mà Nam Cao miêu tả trong truyện vô cùng phong phú với nhữngmối quan hệ phức tạp, chồng chéo, vừa gắn bó, phụ thuộc vào nhau lại vừa mâuthuẫn, xung đột với nhau Từ những mối quan hệ ấy, cả mộ hệ thống nhân vật hiệnlên cũng đa dạng và sinh động không kém để giúp nhà văn bộc lộc cách nhìn và thểhiện ý đồ nghệ thuật của mình
- Trong thế giới nghệ thuật của Chí Phèo, thị Nở tuy chỉ là một nhân vật phụ
song lại có vai trò quan trọng trong cấu trúc hình thức cũng như ý nghĩa nội dung củatoàn tác phẩm
2 Thân bài:
a) Đặc điểm và vai trò của nhân vật thị Nở:
- Những dấu hiệu, đặc điểm bên ngoài và ý nghĩa của nó: thị Nở - loại nhân vật cá
biệt, nhân vật xấu xí, dị dạng – một loại nhân vật được xây dựng khá nhiều trongnhững sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng Cũng như những nhân vật thuộc loạinày, thị Nở được ngòi bút Nam Cao đặc tả thật khách quan, trần trụi để thể hiện lênnhư là nơi hội tụ của tất cả những gì kém cỏi, xấu xí nhất ở cõi người: một người dởhơi, “ngẩn ngơ như người đần trong cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn”
+ Dở hơi, ngẩn ngơ: hành động hoàn toàn theo bản năng và không có khả năngnghĩ tới hậu quả, nghĩ rất lâu mới xong cả chuyện đơn giản nhất
+ Xấu ma chê quỷ hờn: từng đường nét trên gương mặt đều không giống vớinhững gì có thể có và nên có ở con người, nhất là người phụ nữ (mũi, môi, răng,gương mặt,…)
+ Nghèo và có mả hủi: được nói đến như những thứ “tội nợ” trong lí lịch đểngăn cản hạnh phúc, khiến thị không thể lấy chồng
Trang 11Nam Cao không hề vô tình khi miêu tả những đặc điểm này của thị Nở Cảgiọng điệu và từ ngữ mà ông sử dụng đều cho thấy điều đó Chẳng hạn: giọng hàihước pha lẫn chua chát, cụm từ “đã thế” lặp lại ba lần, “và thị lại” lập lại hai lần vớihàm ý nhấn mạnh để làm nổi bật vẻ thảm hại của thị Nở ở cả vẻ ngoài và lí lịch.
- Những phẩm chất bên trong và ý nghĩa của nó: Mục đích của Nam Cao khi xây
dựng nhân vật thị Nở không phải là để miệt thị, hạ thấp con người mà trước hết là đểlàm nổi bật những giá trị chân chính của con người Ở điểm này, Nam Cao đã cố ý sửdụng thủ pháp đối lập để thể hiện quan niệm rất hiện đại về hai chữ “con người”:không có con người hoàn toàn thánh thiện, cũng không có con người hoàn toàn xấu
xa, con người hiện diện với tất cả sự phức tạp của những mặt đối lập Và đối lập vớingoại hình bất thành nhân dạng ấy là một nội tâm tràn đầy nhân tính:
+ Tình thương: đối tượng của tình thương là Chí Phèo – một người ốm và côđơn – “ốm mà nằm còng queo một mình” Biểu hiện của lòng thương là nấu cháohành để giải cảm – cách chăm sóc người ốm đơn giản nhất; mang cháo sang cho Chívới thái độ ân cần chân thành Giá trị tình thương ấy rất lớn: vừa giải cảm, giải độccho Chí Phèo để Chí rũ bỏ cái vỏ quỷ dữ mà trở lại bản tính người có vừa khiến chochính thị Nở cũng trở nên có giá trị hơn khi trong mắt Chí, thị có duyên, đáng yêu vàđúng là người, khác hẳn với bà ba bá Kiến là con quỷ cái dâm đãng khiến Chí khinh
Ý nghĩa: thể hiện tư tưởng nhân đạo của Nam Cao khi phát hiện ra vai trò, giátrị và sức mạnh của tình thương trong cuộc sống của con người, đồng thời cảm thôngvới những khát khao chính đáng và trân trọng những giá trị người trong con người
- Quan hệ với nhân vật trung tâm và ý nghĩa của mối quan hệ đó:
+ Mục đích lớn nhất của Nam Cao khi xây dựng nhân vật thị Nở là tạo ra mộtchất “xúc tác” để thể hiện trọn vẹn vấn đề trung tâm của tác phẩm: tính chất bi thảmtrong bi kịch cuộc đời của Chí Phèo
Trang 12● Khi xuất hiện với tư cách một con người có tình thương ở bên cạnh Chí, thị
Nở khiến Chí hồi sinh: thoạt đầu là tỉnh rượu, tiếp đó là tỉnh ngộ rồi cuối cùng khátkhao làm người lương thiện, khát khao hoàn lương Nghĩa là: trong mối quan hệ vớithị Nở, Chí Phèo đã trở lại với tính người toàn vẹn
● Sự từ chối của thị Nở đã đẩy Chí từ đỉnh cao của khát khao hạnh phúc xuốngđến tận cùng của nỗi bất hạnh, tủi nhục, khốn khổ vì bị người đàn bà xấu ma chê quỷhờn từ chối Chí đau đớn, tuyệt vọng vì cánh cửa mở vào thế giới lương thiện đã bịđóng lại, con đường trở lại làm người lương thiện đã bị chặn đứng Chí uất ức, hậnthù vì bị khinh bỉ, coi thường, bị tước đi cơ hội sống như một con người, Tất cảnhững yếu tố tâm lý đẩy Chí đến chỗ tự sát một cách nhanh chóng, quyết liệt và bithảm
+ Ý nghĩa: xây dựng nhân vật thị Nở, Nam Cao đã làm nỗi bật khao khát sốngcủa Chí Phèo; đồng thời làm nỗi bật thực tế tàn bạo của xã hội ấy: con người muốnsống cho lương thiện thì đồng thời cũng phải chọn cho mình cái chết để bảo vệ phầnngười lương thiện ấy
b) Đánh giá:
- Thị Nở được xây dựng như một nhân tố quan trọng góp phần tạo nên một tìnhhuống đặc biệt của truyện (cuộc gặp gỡ Chí Phèo-thị Nở) và thúc đẩy quá trình diễnbiến của tác phẩm Trong tình huống truyện ấy, cả hai nhân vật điều bộc lộ trọn vẹnnhững gì tốt đẹp bấy lâu nay bị che khuất Trong diễn biến cốt truyện của Chí Phèo,
sự hiện diện của thị Nở một mặt tạo cho truyện cái vị trữ tình đặc biệt qua sự tỏa sángcủa tình thương, tình người, mặt khác tạo ra tính bước ngoặt cho mạch truyện khiếnchủ đề tư tưởng của tác phẩm trở nên sáng rõ
- Xây dựng nhân vật thị Nở, Nam Cao đã hé mở một phần hiện thực cuộc sốngcủa người phụ nữ nông thôn và thể hiện sâu sắc tấm bi kịch của người nông dân trướccách mạng thánh Tám năm 1945
3 Kết bài:
- Với thị Nở, cách xây dựng nhân vật của Nam Cao bề ngoài có vẽ theo chủnghĩa tự nhiên song trong chiều sâu ý nghĩa thì đó lại là tinh thần nhân đạo sâu sắc,bởi nó xuất phát từ thái độ trân trọng con người, đề cao vai trò, sức mạnh của tìnhthương đối với con người
Trang 13- Đọc tuyện Chí Phèo, ấn tượng ban đầu về thị Nở chỉ một người đàn bà xấu xí,
khốn khổ Song dấu ấn quan trọng nhất mà nhân vật để lại trong tác phẩm và tronglòng người đọc lại chính là cách sống giản dị đến thô mộc mà luôn ấm áp tình thương– dấu ấn đủ để mỗi người đọc cảm thấy một cách thấm thía ý nghĩa của tác phẩm này
Câu 4 Bi kịch của người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng qua nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời thừa của Nam Cao.
GỢI Ý TRẢ LỜI
Câu này yêu HS phân tích bi kịch của nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời thừa của
Nam Cao, từ đó khái quát bi kịch chung của người tri thức tiểu tư sản trước cáchmạng, đồng thời chỉ rõ tư tưởng của Nam Cao gửi gắm qua tác phẩm việc thể hiện bikịch này Bài viết cần nên được các ý sau:
1 Mở bài:
Đời thừa là truyện ngắn tiêu biểu cho mảng sáng tác về đề tài trí thức nghèo của
Nam Cao trước cách mạng năm 1945 Truyện tập trung đi sâu vào tấn bi kịch tinhthần đau đớn, dai dẳng của Hộ - người tri thức nghèo khao khát sống cuộc sống có ýnghĩa, ôm ấp một “hoài bão lớn” về sự nghiệp văn chương có ích cho xã hội nhưngrút cục vì gánh nặng cơm áo gia đình mà phải sống cuộc sống vô nghĩa, vô ích, một
“đời thừa” Chẳng những thế, trong tâm trạng bế tắc, đau khổ, con người có lòng vôcùng nhân hậu và coi tình thương là trên hết ấy đã nhiều lần có thái độ phũ phàng, thôbạo với vợ con, vi phạm vào lẽ sống tình thương của chính mình Qua nhân vật nhàvăn Hộ, Nam Cao đã phát biểu trực tiếp nhiều ý kiến tiến bộ, sâu sắc, thể hiện quanđiểm nghệ thuật nhân đạo của ông
2 Thân bài:
a) Bi kịch tinh thần của Hộ nói gọn lại nỗi đau không được sống cho ra sống
(không được sống cho xứng đáng là nhà văn, sống cho xứng đáng là con người ):nghĩa là đau đớn vì đang sống thừa, đang chết mòn Có thể xem là hai nỗi đau nốitiếp nhau
- Bi kịch của Hộ trong vai trò một nhà văn (bi kịch văn chương): Đây là bi kịch
của một người tri thức, có ý thức sâu sắc về sự sống, muốn được khẳng định và nângcao ý nghĩa đời sống của mình bằng một sự nghiệp văn chương có giá trị, được mọi
Trang 14người thừa nhận nhưng Hộ đã bị gánh nặng áo cơm hằng ngày đè bẹp, phải chấpnhận một cuộc sống vô ích, vô nghĩa, phải chịu kiếp “đời thừa”.
+ Hộ có những phẩm chất đẹp của một nhà văn chân chính:
Hộ có niềm đang mê mãnh liệt đối với văn chương
Không chỉ “mê” văn, Hộ còn có hoài bão cao đẹp, coi văn chương là lẽsống, là lí tưởng của cuộc đời
Hộ là một nhà văn có lương tâm nghề nghiệp
+ Tuy nhiên, thực tế đời sống đã lần lượt hủy hoại những phẩm chất cao qúy ấycủa nhà văn Hộ Tất ca những phẩm chất đẹp đẽ của mộ nhà văn chân chính, những lítưởng và khát vọng cao cả của Hộ lần lượt đổ vở tan tành, bị hủy hoại đau đới khianh phải đối diện với thực tế đời sống
Với riêng mình, khi không còn là một chàng trai độc thân, Hộ đã từng “khinhnhững nỗi lo lắng tủn mủn về vật chất” Hộ không mảy bận tâm đến “đói rét” và “cựckhổ” Với Hộ, lúc ấy nghệ thuật là tất cả Hộ hoàn toàn thanh thản trong cuộc sống eohẹp bởi cách viết thận trọng của mình
Từ khi có “một gia đình phải chăm lo”, Hộ đã hiểu thế nào là giá trị của đồngtiền, hiểu những nỗi khổ khi một người đàn ông thấy “vợ con mình bị đói rét” Hộphải ra sức kiếm tiền nuôi vợ con với một cách duy nhất là viết văn Và vì thế anhphải viết nhanh, viết nhiều, viết ẩu; phải lấy văn chương làm phương tiện kiếm tiềncũng có nghĩa là anh đã đi ngược lại hoàn toàn với lí tưởng sống của mình
Thực chất bị kịch của Hộ là không thể viết văn nhưng lại phải viết thứ vănchương không có tư tưởng, không có sáng tạo, nghĩa là anh phải từ bỏ hoài bão củamột nhà văn chân chính để làm một người thợ viết tầm thường Đó là bi kịch của mộngười tự ý thức sâu sắc là mình đành đánh mất chính mình, đang dần bị tha hóa màkhông có cách nào thoát ra được sự chi phối nghiệt ngã của đời sống áo cơm
Bi kịch đó càng sâu sắc hơn khi trước sau Hộ vẫn là người có lương tri, vẫnsuy nghĩ về “sống và viết”, vẫn luôn phải quằn quại đau đớn trong tấm bi kịch “đờithừa”
- Bi kịch của Hộ trong vai trò một người chồng, người cha (bi kịch tình thương):
Trang 15+ Hộ không vượt qua nỗi đau đớn và đã chà đạp, hủy hoại lẽ sống tình thươngcủa mình: Hộ luôn u uất, buồn bã Hộ tìm đến rượu để giải sầu, gặp bạn bè để nóichuyện văn chương, gợi ra những chương trình mà ngay trong lúc nói, Hộ đã biết làchẳng bao giờ có thể thực hiện được Khi say, Hộ mắng chửi vợ, thậm chí còn đánh,đuổi Từ ra khỏi nhà Hộ đã đem đến cho những người anh yêu thương bao nhiêu đaukhổ nặng nề, dai dẳng.
+ Khi tỉnh rượu, Hộ thấy nình đánh mất lương tri và không có gì có thể biện hộhoặc tha thứ cho bản thân Hộ khóc và coi mình là một thằng khố nạn
Cứ như thế, cuộc đời Hộ chìm trong những bế tắc, luẩn quẩn của bi kịch và tớikhi truyện kết thúc, vẫn chưa có gì đảm bảo là anh sẽ thoát ra được
Mâu thuẫn không thể giải quyết được, cứ trở đi trở lại giằng xé nội tâm nhânvật Hộ chủ yếu là mâu thuẫn giữa một bên là khát vọng sống cho thật có ý nghĩa, thật
vẻ vang và một bên là trách nhiệm chăm lo chu đáo cho cuộc sống gia đình; một bên
là cái hay cái đẹp, một bên là tình thương; một bên là lý tưởng, một bên là hiện thực
Thực ra lý tưởng xã hội và trách nhiệm gia đình vẫn thường nảy sinh mâuthuẫn Bi kịch của Hộ là ở chỗ không thể bỏ cái này để chọn cái kia; không thể tiếnhành đồng thời đã đành mà cũng không thể chọn cái nào làm trước, cái nào làm sau
Hộ không thể giải quyết được mâu thuẫn này bởi nó tiềm ẩm ngay trong bản thân đờisống xã hội đương thời, trong đó nhà văn nghèo không có cơ hội để thực hiện lýtưởng, hoài bão của mình khi đang phải vật lộn với sự nghèo túng
b) Bi kịch của Hộ cũng là bi kịch của người tri thức tiểu tư sản trong xã hội củ nói chung Nỗi đau của họ xuất phát từ mâu thuẫn không thể điều hòa giữa khát vọng và
khả năng thực hiện; giữa những phẩm chất cao đẹp với sự tha hóa tầm thường, đauxót Đó là tấn bi kịch tinh thần dai dẳng, thầm lặng và đau đớn khi nhưng lý tưởng,những hoài bão đẹp đẽ của những con người luôn có lương tri lần lượt bị hủy hoại, bịchà đạp khi đối diện với gánh nặng cơm áo
c) Phản ánh những bi kịch tinh thần dai dẳng, thầm lặng và đau đớn của người tríthức tiểu tư sản trong xã hội cũ, Nam Cao thể hiện khả năng thấu hiểu hiện thực vàbộc lộ tư tưởng nhân đạo sâu sắc,mới mẽ
3 Kết bài: Qua nhân vật Hộ, truyện Đời thừa vừa phơi bày cuộc sống cơ cực, bế tắc
của con người trong xã hội Việt Nam trước Cách mạng thánh Tám năm 1945; vừa ca
Trang 16tụng “lòng thương, tình bác ái, sự công bình” Có thể nói, con ngưới trong tác phẩmcủa Nam Cao dù vật vã, đau đớn những vẫn luôn kiên trì lẽ sống tình thương và giữvững lương tri.
Câu 5 Phân tích bi kịch của Vũ Như Tô trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng
Đài (trích vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng).
GỢI Ý TRẢ LỜI
Để thực hiện yêu cầu của câu hỏi, trước hết HS cần hiểu rõ khái niệm “bi
kịch”, từ đó, vận dụng vào việc tìm hiểu nhân vật Vũ Như Tô trong đoạn trích Vĩnh
biệt Cửu Trùng Đài Bài viết cần nêu được các ý sau:
1 Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Huy Tưởng và vở kịch Vũ Như Tô.
- Giới thiệu nhân vật Vũ Như Tô: là hình tượng trung tâm của vở kịch – mộtkiến trúc sư thiên tài Vốn là một nghệ sĩ chân chính, gắn bó với nhân dân song vìmượn quyền lực và tiền bạc của bạo chúa để thực hiện khát vọng của mình nên Vũ
Như Tô đã rơi vào bi kịch Đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài đã tập trung làm nổi
bật bi kịch ấy
2 Thân bài:
a) Giải thích khái niệm “bi kịch” và nêu khái quát bi kịch của Vũ Như Tô:
- “Bi kịch” là “tình cảnh éo le, mâu thuẫn dẫn đến đau thương” mà nhân vật rơivào và không thể giải quyết được Mâu thuẫn này diễn ra căng thẳng và quyết liệt đếnmức nhân vật thường chí thoát ra khỏi nó bằng cái chết bi thảm, gây nên những suy
tư và tác động mạnh mẽ đối với công chúng
- Bi kịch của Vũ Như Tô: vốn là một nghệ sĩ chân chính, có tài năng, Vũ Như
Tô ôm ấp khát vọng nghệ thuật cao cả song lại rơi vào một mâu thuẫn không thể hóagiải nổi: mâu thuẫn giữa tài năng, ước vọng cao cả, niềm khát khao và đam mê sángtạo với thực tế phũ phàng, ngang trái của xã hội
b) Phân tích bi kịch của Vũ Như Tô:
- Vẻ đẹp con người Vũ Như Tô:
+ Có tài năng: Vũ Như Tô là một kiến trúc sư tài ba, có thể “sai khiến gạch đánhư ông tướng cầm quân, có thể xây những lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hềtính sai một viên gạch nhỏ”, “chỉ một vẩy bút là chim, hoa đã hiện trên mãnh lụa,thần tình biến hóa như cảnh hóa công” Trong đánh giá của cung nữ Đan Thiềm thì
đó là “tài trời” và có thể đem ra để “điểm tô” cho đất nước
Trang 17+ Có khát vọng cao cả, lớn lao: “đem hết tài ra xây cho nòi giống một tòa đàihoa lệ, thách cả những công trình sau trước, tranh tinh xảo với hóa công” Xây CửuTrùng Đài với Vũ Như Tô vừa là để bộc lộ trọn vẹn cái tài trời phú, vừa để thực hiệngiấc mộng lớn – giấc mộng sáng tạo một công trình nghệ thuật kì vĩ, mĩ lệ, cao cả,huy hoàng, một “cảnh Bồng Lai” giữa cõi trần lao lực, góp phần điểm tô cho đấtnước Cửu Trùng Đài chính là tâm huyết, là linh hồn của Vũ Như Tô: “Tôi sống vớiCửu Trùng Đài, chết cũng với Cửu Trùng Đài Tôi không thể xa Cửu Trùng Đài mộtbước Hồn tôi để cả đây…”.
+ Có bản lĩnh cứng cỏi, mạnh mẽ: trước đây khi mới bị Lê Tương Dực bắt về
để xây Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô đã không chịu khuất phục trước uy quyền của bọnthống trị Theo lời khuyên của Đan Thiềm, Vũ Như Tô chấp nhận mượn tay LêTương Dực, dựa vào quyền thế và tiền bạc của hắn để thực hiện khát vọng nghệ thuậtcủa mình Khi xảy ra loạn lạc, Vũ Như Tô không nghe theo lời khuyên của ĐanThiềm, không bỏ trốn mà kiên quyết ở lại để bảo vệ Cửu Trùng Đài: “người quân tửkhông bao giờ sợ chết Mà vạn nhất có chết, thì cũng phải để cho mọi người biết rằngcông việc mình làm là chính đại quang minh” Nghĩa là, bản lĩnh của Vũ Như Tô làbản lĩnh của một nghệ sĩ dám dồn sức, dồn tài năng, tâm huyết cho nghệ thuật, sẵnsàng chết để bảo vệ cái đẹp
- Thực tế đời sống:
+ Mục đích và bản chất của tầng lớp thống trị phong kiến: Lê Tương Dực cũngkhao khát xây dựng Cửu Trùng Đài song không phải để tạo cho đất nước một côngtrình nghệ thuật mà chỉ đơn giản là để làm nơi vui chơi với các cung nữ Cửu TrùngĐài trong mục đích của Lê Tương Dực chính là hiện thân của cuộc sống xa hoa đầylạc thú Nó sẽ tiêu tốn tiền của công khố, bòn rút mồ hôi xương máu của nhân dân
+ Cuộc sống của nhân dân khi Cửu Trùng Đài được xây dựng: vô cùng lầmthan, khốn khổ (“mấy nghìn người chết vì Cửu Trùng Đài, mẹ mất con, vợ mấtchồng”) Tình cảnh khốn khổ ấy tất sinh biến loạn: khi quân phản nghịch nổi lên, thợxây Cửu Trùng Đài quá nửa theo về quân phản nghịch
- Bi kịch của Vũ Như Tô trong đoạn trích:
+ Bị hiểu lầm và kết tội: Vì mượn tay Lê Tương Dực để thực hiện khát vọngnghệ thuật của mình nên Vũ Như Tô bị đánh đồng với kẻ xa hoa tàn ác, với tên hônquân bạo chúa, bị coi là kẻ gây tội ác: “ai ai cũng cho ông là thủ phạm Vua xa xỉ là vì
Trang 18ông, công khố hao hụt là vì ông, dân gian lầm than là vì ông, man di oán giận là vìông, thần nhân trách móc là vì ông” Trong hoàn cảnh ấy, cả Vũ Như Tô và CửuTrùng Đài đều trở thành mục tiêu của sự oán giận, trở thành đối tượng để nhân dân vàquân phiến loạn tàn phá, hủy hoại, giết hại Chỉ có Đan Thiềm là người duy nhất hiểuđược khát vọng và quý trọng tài năng của ông nhưng Đan Thiềm cũng hoàn toàn bấtlực, không thể khuyên nhủ cũng không thể bảo vệ được Vũ Như Tô.
+ Bị vỡ mộng: Cho đến phút cuối cùng, Vũ Như Tô vẫn không thể hiểu vàkhông thể tin rằng việc mình làm là trái với quyền lợi của nhân dân Ông vẫn mộtmực khẳng định rằng mình không có tội và vì sao dân chúng nổi lên phá Cửu TrùngĐài, không hiểu vì sao xây dựng Cửu Trùng Đài là việc làm hại nước, hại dân Điều
bi thương nhất của Vũ Như Tô là sự lạc lõng của ông giữa những kẻ nông nổi và tàn
ác, là sự cô đơn đến đáng thương trước lòng hận thù của nhân dân Khi Cửu TrùngĐài bị đốt cháy cũng là lúc Vũ Như Tô vỡ mộng, bừng tỉnh, đau đớn đến tuyệt vọng:
“Trời ơi! Phú cho ta cái tài làm gì? Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!”
c Đánh giá:
- Nguyên nhân của bi kịch: Do Vũ Như Tô quá chìm đắm trong niềm đam mê cáiđẹp nên đã mơ mộng, ảo vọng khi mượn tay Lê Tương Dực để xây Cửu Trùng Đài.Khát vọng nghệ thuật của ông là cao đẹp nhưng lại đặt nhầm chỗ, lầm thời và xa rờithực tế nên phải trả giá bằng sinh mạng và cả công trình nghệ thuật Vũ Như Tô làhiện thân của tài năng, nhân cách và hoài bão lớn lao nhưng đi ngược lại với lợi íchcủa nhân dân nên rơi vào bi kịch
- Ý nghĩa bi kịch của Vũ Như Tô: thể hiện những vấn đề sâu sắc và có ý nghĩamuôn thuở về cái đẹp, về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ và nhân dân, giữa nhữngkhát vọng nghệ thuật muôn thuở với quyền lợi trực tiếp của quần chúng
- Qua việc xây dựng bi kịch của Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng đã thể hiện tàinăng và tấm lòng của mình:
+ Tài năng: ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao, nhịp điệu của lờithoại nhanh, phản ánh tình thế nguy cấp, khẩn trương Tính cách, tâm trạng nhân vậtđược thể hiện sinh động, rõ nét; các lớp kịch linh hoạt, tự nhiên, liền mạch
+ Tấm lòng: cảm thông với bi kịch của Vũ Như Tô, tôn trọng tài năng và hoàibão của người nghệ sĩ khát khao sáng tạo cái đẹp cho đời sống cũng không đồng tình
Trang 19với Vũ Như Tô và những người nghệ sĩ chỉ biết đến khát vọng và quyền lợi của cánhân mà xa rời lợi ích của quần chúng, xa rời thực tế cuộc sống của nhân dân.
3 Kết bài:
- Tài năng, khát vọng nghệ thuật của người nghệ sĩ rất đáng trân trọng song họcần phải gắn bó với nhân dân; nghệ thuật chân chính phải xuất phát từ mục đích vìcuộc sống, vì con người Chỉ khi giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nghệ thuật vàcuộc sống, giữa nghệ sĩ và nhân dân thì nghệ thuật mới có cơ sở để tồn tại và pháttriển
- Vũ Như Tô chính là điển hình của mẫu nghệ sĩ có tài năng, có nhân cách, cóhoài bão lớn lao, đẹp đẽ song vì xa rời thực tế, ảo tưởng nên đã rơi vào bi kịch Việc
Vũ Như Tô phải trả giá đắt cho việc làm của mình có ý nghĩa như một bài học thứctỉnh những người nghệ sĩ đồng bệnh với ông
Câu 6 Phân tích chân dung biếm họa nhân vật Khải Định trong truyện ngắn
“Vi hành” (Nguyễn Ái Quốc).
BÀI VĂN THAM KHẢO
Nếu như bước vào thế giới Số đỏ (Vũ Trọng Phụng) ta được chứng kiến những
cái mặt nạ che đậy những bộ mặt thật của một lễ hội các-na-van lộn ngược thì đến với
“Vi hành” (Nguyễn Ái Quốc), người đọc gặp gỡ với một chân dung - chân dung biếmhọa Khải Định được vẽ từ hai hướng nhìn, trong một “hoàn cảnh sáng tác” rất độcđáo, thú vị
Nếu coi mỗi tác phẩm là một cơ thể sống thì chi tiết cấu tạo nên nó chính làlinh hồn của cơ thể ấy Đặc biệt, đối với thêt loại truyện ngắn thì chi tiết càng đóngvai trò quan trọng Dường như ý thức được rất rõ điều đó, tác giả Nguyễn Ái Quốc đãsáng tạo nên chi tiết “nhầm lẫn” Qua chi tiết này, bộ mặt tên vua bù nhìn An Namhiện lên rõ ràng, sinh động từ ngoại hình đến phẩm chất bên trong:
‘- Hắn đấy!
- Đâu phải!
- Đúng mà! Anh đã bảo là chính hắn đấy.”
Tác giả đã rất khéo léo khi khơi gợi trí tò mò của người đọc Ngay lập tức, mộtcâu hỏi được đặt ra: “Hắn” là ai?
Trang 20Nhân vật “hắn” hiện lên sau đó qua sự mô tả thứ nhất- cái nhìn của đôi bạn trẻ.Hắn có “cái mũi tẹt”, “đôi mắt xếch” và cái mặt “bủng như vỏ chanh”, “Hắn” đượcđặt trong dáng điệu “nhút nhát, lúng ta lúng túng, có cả cái chụp đèn lên cái đầu quấnkhăn, các ngón tay thì đeo đầy những nhẫn” Nếu không có những lời kể tiếp theo củanhân vật “tôi”, hẳn không ai trong chúng ta có thể tưởng tượng mình đang đượcchiêm ngưỡng đấng hoàng thượng người đứng đầu nước An Nam Vậy mà chẳngkhác nào một tên hề trong rạp xiếc, thậm chí nếu không có những lời miêu tả hoạtđộng thì ông vua này hiện lên chẳng khác nào một ma-nơ-canh kì dị dưới mắt ngườiPháp Ta nhớ đến một hình ảnh tương tự trong Số đỏ: “Tuy vận âu phục, vua Xiêmcũng đội cái mũ bản xứ bằng kim ngân châu báu, trông như một cái tháp cao, vì nó cótới chín tầng gác ” Nếu đặt hai ông vua này ở cạnh nhau hẳn cái “kho giải trí” củangười Pháp trở nên đầy ắp Ngôn ngữ trào phúng đã phát huy tác dụng của nó Chỉbằng vài câu nói chuyện trao đổi bâng quơ, trong một tình huống khó mà phân biệt là
có thật hay là tưởng tượng của tác giả, nhân vật đã bị phơi trần và đã kích khôngthương tiếc Nguyễn Tuân cũng đã sử dụng cách để nhân vật Huấn Cao xuất hiệntrước hết là qua con mắt viên quản ngục Chính vì thế mà sự oai phong, hiên ngang,kiêu bạc của Huấn Cao càng được tô đậm Khải Định cũng vậy Nhân vật này khôngtrực tiếp đặt bộ mặt của mình lên trang giấy Nhưng cũng chính qua cái nhìn kháchquan của người Pháp, chân dung của hắn cứ lồ lộ nổi lên rõ ràng và chi tiết Về ngoạihình, khuôn mặt An Nam hiện lên với các đặc trưng “mũi tẹt”, “mắt xếch”, “mặt bủngnhư vỏ chanh” mà Khải Định đã mang đại diện Điều này vỗn dĩ đã được miêu tả àmngười đọc hình dung rất rõ nét Tuy nhiên, có thể đổ cho đặc trung xứ sở, cũng như takhó mà phân biệt được người Tây, chỉ thấy ai cũng da trắng, mắt xanh, mũi lõ,…nhưng hãy xem tư thế của một đấng hoàng thượng: “nhút nhát, lúng ta lúng túng” đếnnỗi làm cho họ- những người dân nước Pháp bật cười Nhất là những thứ “ngọc ngàchâu báu” ở nước ta thì trong mắt người Pháp đã trở thành “bộ lụa là, bộ hạt cườm”.Trong trang phục của hoàng đế, Khải Định chẳng những không tạo nổi vẻ uy nghi,lẫm liệt mà chỉ càng khiến thiên hạ bật cười Chi tiết “cái chụp đèn chụp lên cái đầuquấn khăn” đã hoàn thành nốt bức chân dung lố bịch của một tên hề Khải Định Thanôi! Giá trị của một đức vua chỉ ngang với một tên hề! Không dừng lại ở chổ đó, đoạnvăn ghi lại lời đôi trai gái so sánh Khải Định với các trò mua vui khác càng nhấn