1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích sự vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa MácLênin của Nguyễn Ái Quốc trong Cương Lĩnh Chính Trị đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

13 1,1K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 127,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích sự vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa MácLênin của Nguyễn Ái Quốc trong Cương Lĩnh Chính Trị đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam.Phân tích sự vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa MácLênin của Nguyễn Ái Quốc trong Cương Lĩnh Chính Trị đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam.Phân tích sự vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa MácLênin của Nguyễn Ái Quốc trong Cương Lĩnh Chính Trị đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam.Phân tích sự vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa MácLênin của Nguyễn Ái Quốc trong Cương Lĩnh Chính Trị đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam.Phân tích sự vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa MácLênin của Nguyễn Ái Quốc trong Cương Lĩnh Chính Trị đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Trang 1

BÁO CÁO MÔN HỌC ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

ĐỀ TÀI: Phân tích sự vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa Mác-Lênin của

Nguyễn Ái Quốc trong Cương Lĩnh Chính Trị đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

GVHD: Nguyễn Hữu Tỷ Kỵ Danh sách nhóm 5:

MINH,

2015

S TT

1 Huỳnh Phạm So Ny (NT)

51202655

3 Nguyễn Trương Quang Bảo

21200195

4 Cao Nguyễn Linh Tú 71304628

5 Vũ Hoàng Vương 51204675

Trang 2

MỤC LỤC

Chương 1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ NỘI DUNG CỦA CƯƠNG LĨNH CHÍNH

TRỊ LẦN ĐẦU TIÊN 2

1.1 Hoàn cảnh lịch sử: 2

1.2 Nội dung: 2

1.2.1 Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam 2

1.2.2 Nhiệm vụ 2

1.2.3 Lực lượng cách mạng 3

1.2.4 Lãnh đạo Cách mạng: 3

1.2.5 Quan hệ quốc tế 4

Chương 2 SỰ VẬN DỤNG SÁNG TẠO CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VÀO CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN .5

2.1 Sự tuân theo chủ nghĩa Mác-Lênin 5

2.2 Sự vận dụng sáng tạo 5

2.3 Về phương hướng chiến lược: 5

2.4 Về nhiệm vụ 6

2.5 Về lực lượng 6

Chương 3 GIẢI THÍCH TẠI SAO “CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN SAU KHI RA ĐỜI LẠI BỊ PHẢN ỨNG RẤT LỚN CỦA QUỐC TẾ CỘNG SẢN” 7

3.1 Những hạn chế của Quốc tế Cộng sản ảnh hưởng đến Đảng và cách mạng VN 7

3.2 Nguyên nhân 10

Chương 4 TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 3

Chương 1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ NỘI DUNG CỦA CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ LẦN

ĐẦU TIÊN

1.1 Hoàn cảnh lịch sử:

Cuối năm 1929, những người Cách mạng Việt Nam trong các tổ chức Cộng sản đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập 1 Đảng Cộng sản thống nhất, chấm dứt sự chia trong phong trào Cộng sản ở Việt Nam 6/1-7/2/1930 Hội nghị hợp nhất Đảng ở Hương Cảng, Trung Quốc do Nguyễn Ái Quốc chủ trì Thông qua Chính Cương Vắn Tắt, Sách lược vắn tắt Của Đảng, Chương Trình Tóm Tắt của Đảng hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam

1.2 Nội dung:

 Hội nghị thành lập Đảng (6/1-7/2/1930) đã thông qua Chính Cương Vắn Tắt, Sách lược vắn tắt , Chương Trình Tóm Tắt của Đảng Đó là các văn kiện của cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo Cương lĩnh đã xác định những vấn đề cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam

 Về tính chất kinh tế Việt Nam: Cương lĩnh chỉ rõ chủ nghĩa đế quốc đã nắm toàn quyền thống trị, thi hành chính sách độc quyền về kinh tế ở nước ta, làm cho tư bản bản xứ đã thuộc tư bản Pháp Cương Lĩnh vạch rõ: “Tư bản Pháp hết sức ngăn trở sức sinh sản làm cho công nghệ bản xứ không thể mở mang được Còn về nông nghệ một ngày một tập trung đã phát sinh ra lắm khủng hoảng, nông dân thất nghiệp nhiều Vậy tư bản bản xứ không có thế lực gì ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn về phế đế quốc chủ nghĩa”

 Về tính chất xã hội Việt Nam: Là xã hội thuộc địa và nửa phong kiến, tồn tại 2 mâu thuẫn cơ bản là:Mâu thuẫn dân tộc, giữa dân tộc ta với đế quốc xâm lược mà lúc này là

đế quốc Pháp và mâu thuẫn giai cấp, giữa nhân dân với địa chủ phong kiến chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến trong đó cương lĩnh xác định mâu thuẫn dân tộc là cơ bản nhất quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết

1.2.1 Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam

Phương hướng chiến lược Cách mạng Việt Nam được nêu rõ ở Chánh cương vắn tắt của Đảng Cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Chánh cương vắn tắt khẳng định đế quốc và phong kiến đều là đối tượng phải đánh đổ trong cách mạng dân tộc dân chủ, nhưng hai nhiệm vụ này không thực hiện đồng loạt Nhiệm vụ chống

đế quốc, giải phóng dân tộc phải đặt lên hàng đầu, còn nhiệm vụ chống phong kiến, đem lại ruộng đất cho dân cày sẽ thực hiện từng bước, nhằm tập trung vào kẻ thù chính là bọn đế quốc xâm lược và bọn phong kiến tay sai

1.2.2 Nhiệm vụ

Ngoài phương hướng chiến lược Cách mạng, Chánh cương vắn tắt còn chỉ rõ những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn tư sản dân quyền cách mạng về các phương diện xã hội, chính trị và kinh tế:

Về chính trị: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước

Việt Nam được hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông

Trang 4

Về kinh tế: thủ tiêu hết các thứ Quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn (như

công nghiệp, vận tải, ngân hàng,…) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công nông binh quản lý; tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo;

mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8giờ

Về văn hóa - xã hội: dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền; phổ thông

giáo dục theo công nông hóa

Các nhiệm vụ cách mạng bao hàm hai nội dung: dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và phong kiến tay sai, trong đó nổi bật lên là nhiệm vụ dân tộc, mục tiêu trước mắt là giành lấy độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc Việt Nam

1.2.3 Lực lượng cách mạng

 Đường lối tập hợp và lôi kéo quần chúng được đề ra trong “Sách lược vắn tắt ” của Đảng

 Sách lược vắn tắt nêu rõ giai cấp công nhân và giai cấp nông dân là lực lượng chính, là quân chủ lực của cách mạng, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo

 Ngoài ra, phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh Niên, Tân Việt, v.v., để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ

 Xuất phát từ đường lối đã xác định trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt chủ trương thu hút rộng rãi các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh đoàn kết rộng rãi của toàn dân tộc chống đế quốc Đồng thời, Sách lược vắn tắt vẫn nhấn mạnh nguyên tắc hợp tác giai cấp của Đảng, trong khi liên lạc với các giai cấp, phải thận trọng, không nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào con đường thoả hiệp

1.2.4 Lãnh đạo Cách mạng:

Cùng với lực lượng Cách mạng, Sách lược vắt tắt khẳng định vai trò lãnh đạo Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng

 Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến

 Đảng phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi

ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia

Ngoài ra, trong Điều lệ tóm tắt quy định những vấn đề quan trọng về mục tiêu, tổ chức, hoạt động và kỷ luật của Đảng

Điều lệ vắn tắt của Đảng, xác định tên gọi, tôn chỉ mục đích, hệ thống tổ chức, trách nhiệm Đảng viên, quyền lợi Đảng viên, các cấp uỷ Đảng, kinh phí và kỷ luật của Đảng Những vấn đề ghi trong Điều lệ vắn tắt của Đảng đã xác định tính chất và nguyên tắc tổ chức của chính Đảng mắc-xít chân chính và cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam

Trang 5

1.2.5 Quan hệ quốc tế

 Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, đứng trong mặt trận cách mạng của các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân thế giới mà đội quân tiên phong của mặt trận này là Liên Xô Sách lược vắn tắt ghi rõ: "Trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp"

 Để thực hiện những nhiệm vụ trên, văn kiện “Chương trình tóm tắt của Đảng” đã nêu những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Đảng trong giai đoạn tư sản dân quyền cách mạng

 Chương trình tóm tắt của Đảng, do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, cũng gồm năm điểm, trong đó xác định những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách về xây dựng Đảng; về tập hợp quần chúng công nông chuẩn bị thổ địa cách mạng và lật đổ bọn địa chủ và phong kiến; làm cho công nông thoát khỏi ách của tư bản; lôi kéo, tập hợp các tầng lớp tiểu tư sản, tư sản bậc trung, trí thức và trung nông v.v., đánh đổ bọn phản cách mạng v.v.; đoàn kết, hợp tác giai cấp nhưng không hy sinh lợi ích của công nông; nêu khẩu hiệu "Việt Nam tự do"; đoàn kết với vô sản và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, nhất là vô sản Pháp

 Sự ra đời của Cương lĩnh và Đảng Cộng sản Việt Nam là bước ngoặc lớn đối với Cách mạng Việt Nam Với sự ra đời của các tác phẩm này, đường lối và phương pháp, chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam - nhất là của cách mạng giải phóng dân tộc, tính chất và nguyên tắc tổ chức Đảng - đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam đã được hình thành và từng bước cụ thể hoá Đây thực sự

là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, có ý nghĩa chỉ đạo đối với toàn bộ quá trình cách mạng, nhất là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam Các tác phẩm này thể hiện tinh thần cách mạng triệt để và sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc khi kết hợp lý luận với thực tiễn, nhất là vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào việc giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường của cách mạng vô sản Thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trước hết là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đã chứng minh tính khoa học và cách mạng của các tác phẩm lịch sử này

Chánh cương vắn tắt

Trang 7

Chương 2 SỰ VẬN DỤNG SÁNG TẠO CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VÀO CƯƠNG

LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN.

2.1 Sự tuân theo chủ nghĩa Mác-Lênin

Năm 1917, cách mạng tháng 10 Nga thành công Quốc tế cộng sản, bộ tham mưu của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức toàn thế giới được thành lập Từ đó đánh dấu vai trò quan trọng của chủ nghĩa Mác-Lênin trong công cuộc đấu tranh chống mâu thuẫn giai cấp Suốt quãng thời gian dài tại nước ngoài tìm hiểu, chủ nghĩa Mác-Lênin, chân lý cách mạng của thời đại đã sớm được khẳng định trong nhận thức tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc Từ đây, người nhận diện được vai trò quan của trọng của chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc xây dựng đường lối trong công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam, đó là cách mạng vô sản Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, để dẫn dắt cuộc cách mạng thành công thì lực lượng cách mạng chính là bộ phận bị áp bức nặng nề nhất lúc bấy giờ, cụ thể là liên minh công-nông Sau đó đoàn kết họ lại, nhận thức họ bằng một quan điểm chính trị tiến bộ, nâng cao dân trí để có thể kết hợp giữa đấu tranh chính trị và vũ trang Nguyễn Ái Quốc đã áp dụng những nền tảng của tư tưởng này vào quá trình giải phóng dân tộc Việt Nam

2.2 Sự vận dụng sáng tạo

Ngay chính Lênin từng dạy rằng: “ Lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng, và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo Lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ thực tiễn sinh động” Vì vậy, việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin của Nguyễn Ái Quốc không hề máy móc rập khuôn mà rất sáng tạo

2.3 Về phương hướng chiến lược:

Điều kiện xã hội của Việt Nam lúc bấy giờ khác với xã hội thời Các Mác và Lênin xây dựng chủ nghĩa của mình Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam để giai cấp vô sản đứng lên giành chính quyền, chống lại giai cấp tư sản ngay trong chính quốc gia của họ.Tuy nhiên trong bối cảnh bấy giờ, Việt Nam là nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến Con người Việt Nam bị ba tầng áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư sản Mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ gay gắt, nhưng mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và Thực dân Pháp còn gay gắt hơn Nếu áp dụng rập khuôn chủ nghĩa Mác-Lênin, có nghĩa là giải quyết mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ phong kiến, thì lực lượng đấu tranh lúc này chỉ có những nông dân nghèo khổ, dân trí thấp, trong khi địa chủ phong kiến đã mạnh nay còn mạnh hơn do Pháp chống lưng Còn nếu giải quyết mâu thuẫn lớn, là mâu thuẫn mang tính dân tộc, lực lượng sẽ rất hùng mạnh, bao gồm tất cả những con người Việt Nam có tinh thần yêu nước, căm phẫn thực dân Pháp, mong muốn đánh đuổi chúng để bảo vệ quyền lợi của mình Đối với nông dân, thời phong kiến họ bị áp bức dẫn tới nghèo khổ, nhưng từ khi Pháp xâm lược dẫn tới việc bị bần cùng hóa Những bộ phận khác trước khi nằm ngoài vòng mâu thuẫn nhưng từ khi Pháp xâm lược, quyền lợi của họ cũng bị ảnh hưởng

Vì vậy phương hướng chiến lược của Đẳng Cộng Sản Việt Nam đó là tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng, từ đó đi lên xã hội cộng sản Có nghĩa vấn đề dân tộc sẽ là vấn

đề then chốt, sau khi thắng lợi sẽ tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh chống địa chủ phong kiến Hai vấn đề này sẽ diễn ra đồng thời, giúp không phải thực hiện thêm một cuộc cách mạng khác

Trang 8

2.4 Về nhiệm vụ

Do xác định rõ phương hướng Vì vậy nhiệm vụ của ĐCSVN có sự khác biệt so với tư tưởng

mà chủ nghĩa Mác-Lênin đã vạch ra Đối với vấn đề tịch thu tài sản, tài sản cua tư bản đế quốc thì ắt hẳn phải tịch thu hết Nhưng với địa chủ, không phải với địa chủ nào cũng tịch thu hết ruộng đất của họ, vì vẫn còn bộ phận địa chủ vừa và nhỏ có tinh thần dân tộc Nếu ta tịch thu ruộng đất của họ, họ sẽ căm phẫn, từ đó trở thành tay sai cho Pháp, gây gia tăng lực lượng đối đầu

2.5 Về lực lượng

Do khách biệt về phương hướng chiến lược, nên lực lượng cách mạng mà ĐCSVN hướng đến cũng khác biệt với lực lượng trong chủ nghĩa Mác-Lênin Do giải quyết vấn đề dân tộc

là then chốt, vì vậy lực lượng lúc này rất hùng hậu Tương tự như chủ nghĩa Mác-Lênin thì

bộ phận đông đảo nhất là liên minh công-nông, bộ phận bị áp bức nặng nề nhất trong xã hội, tinh thần đấu tranh mạnh mẽ nhất Ngoài ra, còn có thêm cả tiểu tư sản, trí thức, trung nông Những bộ phận trung lập như tiểu địa chủ và tư sản An Nam thì phải lôi kéo họ vào lực lượng cách mạng Lý do họ trung lập vì cơ bản họ đã có tinh thần yêu nước, nhưng họ chưa thể ủng hộ cách mạng vì chưa thấy sự khả quan của cuộc cách mạng đó Nếu ta thực hiện một số cuộc cách mạng thành công thì sẽ gây dựng niềm tin, khiến bộ phận này nghiêng hẳn

về phe chống Pháp, giúp gia tăng lực lượng đáng kể Tuy nhiên trong quá trình xây dựng lực lượng thì phải đi theo con đường chính thống, không được dẫn tới nhượng bộ, thỏa hiệp

Vì vậy, có thể thấy rằng, việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin của Nguyễn Ái Quốc

cơ bản đã giải quyết được vấn đề cấp thiết nhất lúc bấy giờ cho Việt Nam, đó là mâu thuẫn dân tộc, không phải mâu thuẫn giai cấp Việc đi theo phương phướng này không chỉ giúp gia tăng lực lượng, mà còn xây dựng sự đoàn kết của dân tộc, tạo tiền đề để giải quyết mâu thuẫn giai cấp

Trang 9

Chương 3 GIẢI THÍCH TẠI SAO “CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN SAU KHI RA

ĐỜI LẠI BỊ PHẢN ỨNG RẤT LỚN CỦA QUỐC TẾ CỘNG SẢN”

Chịu sự chi phối của khuynh hướng “tả” của Quốc tế Cộng Sản (QTCS) đã phủ nhận quan điểm mới, sáng tạo, độc lập của nguyễn Ái Quốc

3.1 Những hạn chế của Quốc tế Cộng sản ảnh

hưởng đến Đảng và cách mạng VN

QTCS do V.I.Lênin sáng lập không những chỉ ra con đường giải phóng dân tộc cho nhân dân các nước bị áp bức, mà còn tích cực giúp đỡ họ trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự

do Tuy nhiên, do nhiều yếu tố, khách quan và chủ quan, QTCS không tránh khỏi những hạn chế về lý luận cũng như trong thực tiễn đã ảnh hưởng đến Đảng và Cách mạng VN

1 Trong Cương lĩnh và chương trình nghị sự, QTCS đã nêu vấn đề cách mạng thuộc địa và coi

việc giúp đỡ cách mạng thuộc địa là 1 trọng tâm trong sự nghiệp hoạt động của mình Nhưng trong thực tế, QTCS chưa coi trọng đúng mức loại hình cách mạng này Một trong những nguyên nhân của tình trạng đó là lý luận của QTCS về chiến lược và sách lược đối với các nước thuộc địa và nửa thuộc địa còn có mặt hạn chế QTCS cho rằng cách mạng thuộc địa không thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc, mà nó phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc Trong Tuyên ngôn được thông qua tại Đại hội thành lập QTCS năm 1919

có đoạn viết: “Sự giải phóng các thuộc địa có thể được chỉ cùng với sự giải phóng giai cấp công nhân ở các chính quốc Công nhân và nông dân không chỉ ở An Nam, Angiêri, Bengalia, mà cả ở Iran và Ácmênia sẽ chỉ nhận được khả năng sống độc lập khi công nhân Anh và Pháp lật đổ Lôít Gióocgiơ và Clêmăngxô giành chính quyền nhà nước về tay mình” Quan điểm đặt cách mạng giải phóng dân tộc phụ thuộc trực tiếp vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc đã tồn tại một thời gian dài trong QTCS Cho mãi đến Đại hội VI năm 1928, Đề cương về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa vẫn khẳng định như vậy…

Như vậy, QTCS chỉ mới thấy mối liên hệ một chiều, sự chi phối của cách mạng vô sản

ở chính quốc đến cách mạng thuộc địa Tư tưởng này đã làm giảm tính năng động cách mạng của các phong trào ở thuộc địa, đã tạo ra tư tưởng trông chờ, ỷ lại, thụ động của nhiều Đảng ở các nước thuộc địa Tuy nhiên, Đảng ta hoàn toàn không bị chi phối bởi quan điểm trên Bởi vì, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sớm nhìn thấy mối quan hệ biện chứng giữa cách mạng vô sản và cách mạng thuộc địa Người nhận thấy không những cách mạng vô sản ảnh hưởng đến cách mạng thuộc địa mà cách mạng thuộc địa cũng tác động đến cách mạng vô sản Người đã dự báo cách mạng thuộc địa có thể thắng lợi trước và đã vận dụng thành công…

2 Đại hội VI QTCS đã đánh giá chưa chính xác, có phần tả khuynh đối với giai cấp tư sản, đặc

biệt là giai cấp tư sản dân tộc, nhấn mạnh mặt dao động của họ

Nhận định tả khuynh này lúc đó đã chi phối hành động của các Đảng Một số Đảng viên CS, thậm chí cả một số Đảng CS ở các nước thuộc địa, căn cứ vào luận điểm trong Đề cương về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa được thông qua tại Đại hội VI về khuynh hướng thỏa hiệp với chủ nghĩa đế quốc của giai cấp tư sản, về tính dao động của giai cấp tư sản, đã rút ra kết luận: chỉ khi nào giai cấp tư sản bị gạt ra ngoài cương

vị lãnh đạo phong trào thì cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mới có thể thắng lợi…

Ở VN và Đông Dương, một thuộc địa lớn của Pháp, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu, nên đặc điểm của sự ra đời và phân hóa trong giai cấp tư sản khác rất nhiều

Trang 10

nước Vì vậy, việc thực hiện chủ trương này của QTCS đã dẫn đến những biểu hiện tả khuynh trong tập hợp lực lượng cách mạng

Đầu 4/1931, Xứ ủy Trung Kỳ đã ra chỉ thị “thanh Đảng” và phổ biến xuống tận cơ sở Nội dung chính của chỉ thị thanh Đảng là đưa ra khỏi Đảng những ai xuất thân là trí thức, giàu có hoặc con em các quan lại lớn nhỏ Đặc biệt, trong Chỉ thị thanh Đảng của Xứ ủy Trung Kỳ có những câu gay gắt: “Thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ” Trong Chỉ thị truyền đạt của Tỉnh ủy Nghệ An cũng có những câu tương tự Đây là 1 biểu hiện tả khuynh Điều đó gây ra sự hoang mang, tiêu cực trong những Đảng viên xuất thân từ các giai cấp trên đã từ bỏ giai cấp mình, tích cực tham gia phong trào cách mạng của công nông, làm cho phong trào đã khó khăn khi bị đàn áp lại càng khó khăn hơn…

3 Là một tổ chức chính trị cao nhất của phong trào CS và công nhân quốc tế, nhưng do áp dụng

cơ chế tập trung quan liêu trong khi việc nắm thông tin, hiểu biết thực tiễn còn bất cập…, nên QTCS không tránh khỏi có lúc cứng nhắc, chưa sát thực tế, đã áp đặt, giáo điều trong việc xác định đường lối Đối với Đảng CSVN và cách mạng VN, QTCS cũng có những biểu hiện khó tránh khỏi này

Các văn kiện của Hội nghị thành lập Đảng CSVN được Ban chấp hành QTCS nghiên cứu kỹ lưỡng Ngoài việc khẳng định ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng ta, QTCS còn đánh giá rằng: “Hội nghị thống nhất tiến hành hợp nhất các nhóm CS khác nhau vào 1 Đảng

CS chung nhất đã phạm hàng loạt sai lầm, sai lầm chính trong số những sai lầm đó là sự thống nhất được tiến hành thiếu phân định trước một cách đầy đủ và sự lựa chọn từ các nhóm CS đang tồn tại những lực lượng thực sự cách mạng Vào thời điểm thoái trào cách mạng, tâm trạng thất bại là người bạn đồng hành của những người đã vào Đảng thời kỳ cao trào mà thiếu sự kiểm tra một cách đầy đủ”

QTCS đã gửi cho VN một bức thư với nội dung gồm hàng loạt vấn đề bổ sung liên quan đến đường lối và nhiệm vụ cách mạng VN Trong bức thư đó cũng đặt vấn đề đổi tên Đảng CSVN thành Đảng CS Đông Dương Dựa trên cơ sở 3 nước Đông Dương ở cùng một

vị trí địa lý, có điều kiện chính trị, kinh tế như nhau, cùng là thuộc địa của Pháp và muốn áp dụng mô hình Liên bang Xô viết nên QTCS đã chủ trương thành lập 1 Đảng CS duy nhất ở Đông Dương… Bên cạnh đó, cũng có thể do quan điểm của 1 vài cán bộ lãnh đạo QTCS về các vấn đề dân tộc và vấn đề đấu tranh giai cấp ở tầm vĩ mô có phần cực đoan Vì vậy QTCS

đã buộc Đảng CSVN đổi tên thành Đảng CS Đông Dương

Việc thành lập Đảng CSVN cùng với việc thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt thấm nhuần tư tưởng mácxít-lêninnít và không làm giảm tính giai cấp, phẩm chất cách mạng của Đảng Làm như vậy là phù hợp với lý luận Mác-Lênin về xây dựng Đảng ở các nước, vừa phù hợp với thực tế cách mạng ở 3 nước Đông Dương lúc bấy giờ Giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó mang bản chất quốc tế trong sáng, song trước hết nó mang tính chất dân tộc-giai cấp và Đảng CS phải xây dựng trong một quốc gia dân tộc cụ thể Đảng phải ủng hộ quyền lợi chính đáng của các dân tộc trên thế giới, song trước hết phải chịu trách nhiệm với giai cấp và dân tộc của mình Việc lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng CSVN và cách giải quyết mối quan hệ giữa 3 dân tộc Đông Dương trong khuôn khổ mỗi nước riêng biệt là phù hợp với lý luận và thực tiễn cách mạng, thể hiện 1 quan điểm đúng đắn về việc vận dụng tính quốc tế và tính dân tộc trong xây dựng Đảng Đúng như Nguyễn Ái Quốc đã giải thích về vấn đề đặt tên Đảng cho các đại biểu dự Hội nghị hợp nhất:

“Cái từ Đông Dương rất rộng, và theo nguyên lý của chủ nghĩa Lênin, vấn đề dân tộc là 1 vấn đề rất nghiêm túc, người ta không thể bắt các dân tộc khác gia nhập Đảng, làm như thế

là trái với nguyên lý chủ nghĩa Lênin Còn cái từ An Nam thì hẹp, vì An Nam chỉ là miền

Ngày đăng: 14/04/2018, 19:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w