Với vai trò quan trọng nêu trên, việc thực hiện các quy định pháp luật về tổ chức quản lý công ty cổ phần là một vấn đề trọng tâm không thể thiếu được trong nền kinh tế hàng hoá với cơ c
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I QUÁ TRÌNH TÌM HIỂU TẠI ĐƠN VỊ THỰC TẬP 4
1 Thời gian thu thập thông tin 4
2 Phương pháp thu thập thông tin 4
3 Nguồn thông tin thu thập được 4
4 Kết quả xử lý thông tin 5
* Cấu trúc vốn của công ty cổ phần 6
* Cơ cấu tổ chức CTCP 7
* Cơ cấu thành viên của CTCP 13
* Quy mô hoạt động của CTCP 14
PHẦN II NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Ở nước ta hiện nay, việc thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với vai trò là trung tâm của hoạt động của nền kinh tế thì doanh nghiệp có vị trí vô cùng quan trọng Một nền kinh tế thị trường đa dạng về thành phần kinh tế cùng các hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ta đã và đang củng cố, phát triển nhằm phù hợp với yêu cầu của tình hình hiện nay Trong đó, xu hướng thành lập các doanh nghiệp, công ty ngày càng gia tăng ở nước ta Tuy nhiên, vấn đề pháp lý
về hoạt động của doanh nghiệp theo hình thức nào càng trở nên quan trọng và rất chú trọng
Trải qua một thời gian dài, Luật doanh nghiệp ra đời và phát triển đã tạo nên khung pháp lý cơ bản, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho các hoạt động tư vấn về thành lập doanh nghiệp Hiện nay, Luật Doanh nghiệp 2014 đã quy định một cách chi tiết và cụ thể về vấn đề thành lập doanh nghiệp; tuy nhiên trong thực tế việc áp dụng những quy định của pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều vướng mắc cần được giải quyết
Với vai trò quan trọng nêu trên, việc thực hiện các quy định pháp luật về tổ chức quản lý công ty cổ phần là một vấn đề trọng tâm không thể thiếu được trong nền kinh tế hàng hoá với cơ chế mở cửa hội nhập kinh tế trong khu vực và trên thế giới như hiện nay Thế nhưng, quá trình áp dụng pháp luật về vấn đề này ở nước ta dưới góc nhìn của của doanh nghiệp nói chung và tại công ty cổ phần dược An Thái nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, bất cập, còn có những khoảng cách giữa lý
luận và thực tiễn Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về tổ chức quản lý công ty cổ phần dược An Thái” làm chuyên đề thực
tập là việc làm cần thiết và cấp bách góp phần phát hiện những hạn chế của pháp luật về về tổ chức quản lý công ty cổ phần nói chung cũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi tại Công ty dược An Thái nói riêng Thông qua quá trình thực tập tại đơn vị trên, bản thân tôi đã có sự ghi chép, phân tích, tổng
Trang 3hợp, đánh giá và từ đó, đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về tổ chức quản lý công ty cổ phần ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, với mong muốn trước hết là đưa ra một bức tranh toàn cảnh để cho mọi người hiểu rõ và sâu sắc hơn về vấn đề này ở nước ta, qua đó nêu ra một số thành tựu đã đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại trong quá trình áp dụng pháp luật về tổ chức quản lý công ty cổ phần và kèm theo một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tư vấn thành lập doanh nghiệp ở nước ta trong thời gian tới Những năm trở lại đây, việc thực hiện các quy định pháp luật về tổ chức quản
lý công ty cổ phần luôn được áp dụng một cách có hiệu quả Đây cũng là vấn đề được nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều đối tượng quan tâm Chọn vấn đề này làm chuyên đề thực tập và trên cơ sở khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về thực hiện các quy định pháp luật về tổ chức quản lý công ty cổ phần dược An Thái từ đó rút ra những ưu, hạn chế của pháp luật và vướng mắc trong quá trình thực thi Từ đó, đề xuất những giải pháp góp phần phát triển và hoàn thiện pháp luật, tìm hướng khắc phục những khó khăn trong tổ chức thực hiện
Kết cấu bài làm được tổ chức thành ba phần: mở đầu, phần nội dung và kết luận Trong đó phần nội dung được chia thành hai phần chính:
Phần I: Thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về tổ chức quản lý công ty
cổ phần dược An Thái
Phần II: Một số giải pháp và kiến nghị
Trang 4PHẦN I QUÁ TRÌNH TÌM HIỂU TẠI ĐƠN VỊ THỰC TẬP
1 Thời gian thu thập thông tin
Tên công ty: Công ty cổ phần dược An Thái
- Địa chỉ: Số nhà 216, đường Cù Chính Lan, tổ 21, Phường Phương Lâm, Thành phố Hoà Bình, Hòa Bình
- Mã số thuế: 5400316462 (05-06-2009)
- Ngày hoạt động: 05-06-2009
- Giấy phép kinh doanh: 5400316462
- Lĩnh vực: Bán buôn đồ dược phẩm
Thời gian thực tập từ 29/05/2017 đến 21/07/2017, tôi được tiếp cận được sự vận hành, hoạt động của công ty cổ phần An Thái nói chung ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Tại công ty, người viết được tiếp cận và làm quen với những vấn đề thực tế theo quy định của pháp luật nói chung về vấn đề sinh viên đã lựa chọn làm chuyên đề tốt nghiệp những quy định của pháp luật về quy định pháp luật về tổ chức quản lý công ty cổ phần được áp dụng tại đơn vị
2 Phương pháp thu thập thông tin
Thông qua việc nghiên cứu các quy định của pháp luật thì các quy định về tổ chức quản lý công ty cổ phần bằng các phương pháp:
+ Nghiên cứu quy định của pháp luật về vấn đề này
+ Đọc thu thập thông tin bằng phương pháp phân tích
+ Sử dụng phương pháp so sánh để so sánh là luật cũ và luật mới
Trang 53 Nguồn thông tin thu thập được
- Thông tin ,tài liệu thu thập được tại công ty cổ phần dược An Thái Những
số liệu thu thập dược chủ yếu là do các nhân viên của công ty cung cấp qua sổ sách, báo cáo và hợp đồng ký kết với các đối tác Đây là những số liệu vô cùng quan trọng nó giúp người viết nhìn rõ quá trình thực thi pháp luật về vấn đề này Sau đây
là một số tài liệu thống kê tôi được cung cấp tham khảo :
+ Bảng thống kê số liệu của công ty
+ Quy định của pháp luật về tổ chức và quản lý công ty cổ phần
4 Kết quả xử lý thông tin
Công ty cổ phần là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau (gọi là cổ phần); Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp và có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác (trừ một số trường hợp đặc biệt) Công ty cổ phần có quyền phát hành
cổ phần các loại để huy động vốn Do sự linh động trong việc huy động vốn, ngày càng có nhiều doanh nghiệp được tổ chức hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần
CTCP là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần Công ty được phát hành cổ phần huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế Các cá nhân hay tổ chức nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp cổ phần gọi là cổ đông Cổ đông được quyền tham gia quản lý, kiểm soát, điều hành công ty thông qua việc bầu cử và ứng cử vào các vị trí quản lý trong công ty Ngoài ra, cổ đông còn được quyền hưởng các khoản lợi nhuận do công ty tạo ra cũng như chịu lỗ tương ứng với mức độ góp vốn
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm
vi số vốn đã góp vào công ty;
Trang 6- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết;
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa
- CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/Giấy chứng nhận đầu tư và có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán
- CTCP phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc) Đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban kiểm soát
* Cấu trúc vốn của công ty cổ phần
CTCP là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn Cơ cấu tổ chức bộ máy quản
lý, những vấn đề quản lý nội bộ, quyền và nghĩa vụ của các cổ đông được giải quyết chủ yếu dựa trên nguyên tắc đối vốn (nghĩa là dựa trên giá trị cổ phần mà các
cổ đông nắm giữ) Mặt khác với cấu trúc vốn linh hoạt, khả năng chuyển cổ phần
dễ dàng trên thị trường làm cho công ty cổ phần có phạm vi, quy mô kinh doanh lớn, số lượng cổ đông đông đảo Khi tham gia vào CTCP các cổ đông không quan tâm đến nhân thân của nhau mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp Cổ phần của công
ty gồm: cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi
Sự đa dạng hóa các loại cổ phần với các quyền và mức độ khác nhau cho phép công ty cổ phần tạo lập được cấu trúc vốn linh hoạt phù hợp với khả năng, yêu cầu phát triển cũng như yêu cầu quản lý công ty
Với tính chất đa sở hữu, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, cơ chế quản lý trong CTCP dựa trên sức mạnh kinh tế của các nhóm sở hữu trong công ty Trong cơ cấu
tổ chức bộ máy quản lý trong công ty có sự phân chia quyền lực rõ ràng giữa các
bộ phận Sự phân chia quyền lực này trước hết phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp của các
cổ đông, nhằm đảm bảo một cơ cấu tổ chức quản lý chặt chẽ, bảo vệ đến mức tối đa
Trang 7quyền lợi của các cổ đông Về cơ bản, bộ máy quản lý của doanh nghiệp đối vốn có
sự phân chia quyền lực và cơ cấu hoàn chỉnh, rõ ràng hơn so với doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh CTCP là một trong những loại hình doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức chặt chẽ nhất và hoàn thiện nhất, có sự phân chia quyền lực rõ ràng nhất đồng thời cơ cấu tổ chức này chịu sự chi phối quyết định của cấu trúc vốn
* Cơ cấu tổ chức CTCP
CTCP là một hình thức công ty hoàn thiện cả về mặt vốn và tổ chức CTCP có kết cấu chặt chẽ nhằm bảo vệ cao nhất quyền lợi các cổ đông, tạo các điều kiện tốt nhất cho việc quản lý công ty dân chủ, có hiệu quả Các thiết chế trong công ty cổ phần bao gồm: đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, giám đốc và các chức danh quản lý khác
Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ): ĐHĐCĐ gồm tất cả cổ đông có quyền biểu
quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của CTCP CTCP có nhiều loại cổ đông khác nhau, trong đó có cổ đông có quyền bầu cử và cổ đông không có quyền bầu cử Quyền bầu cử của cổ đông phụ thuộc vào số lượng cổ phần và loại cổ phần họ sở hữu CTCP có thể tự mình quy định trong điều lệ một tỷ lệ cổ phần nhất định có một lá phiếu biểu quyết như 50 cổ phần được một lá phiếu hoặc 100 cổ phần có một phiếu… là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất của công ty gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết Cổ đông có thể trực tiếp hoặc ủy quyền bằng văn bản cho một người khác dự họp đại hội đồng cổ đông Là cơ quan tập thể, đại hội đồng cổ đông không làm việc thường xuyên mà chỉ tồn tại trong thời gian họp và ra quyết định trên cơ sở biểu quyết tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến của các cổ đông có quyền biểu quyết bằng văn bản.Bên cạnh đó các cổ phần ưu đãi như ưu đãi cổ tức,
ưu đãi hoàn lại và các cổ phần ưu đãi khác mà cổ đông tự nguyện từ bỏ quyền bầu
cử để đổi lấy tỷ lệ lợi tức cao hơn thì cũng không có quyền bầu cử Là sự tập trung cao nhất ý chí, nguyện vọng của cáccổ đông công ty-các chủ sở hữu công ty, ĐHĐCĐ có quyền quyết định các vấn đề quan trọng nhất của công ty, các vấn đề
Trang 8mang tính cơ bản, lâu dài, định hướng Điều 135 – Luật Doanh nghiệp 2014 quy định bao gồm:
1 Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần.
2 Đại hội đồng cổ đông có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Thông qua định hướng phát triển của công ty;
b) Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; quyết định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần;
c) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên; d) Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều
lệ công ty không quy định một tỷ lệ hoặc một giá trị khác;
đ) Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
e) Thông qua báo cáo tài chính hằng năm;
g) Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại;
h) Xem xét và xử lý các vi phạm của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát gây thiệt hại cho công ty và cổ đông công ty;
i) Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty;
k) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
Như vậy, ĐHĐCĐ thường niên mỗi năm họp 1 lần và khi thấy cần thiết có thể
tổ chức những cuộc họp ĐHĐCĐ bất thường ngoài các ĐHĐCĐ thường kỳ mỗi năm theo yêu cầu và trong các trường hợp nói trên Đồng thời, Luật doanh nghiệp không hạn chế số lần họp ĐHĐCĐ bất thường là bao nhiêu trong một năm Quy định này mang tính mềm dẻo, thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho các CTCP hoạt động có hiệu quả, bởi lẽ trong quá trình kinh doanh, có những vấn đề phát sinh đột xuất đòi hỏi cần được giải quyết kịp thời, mà vấn đề đó lại thuộc thẩm quyền
Trang 9của ĐHĐCĐ nên nếu không quy định cuộc họp bất thường thì không thể đáp ứng được nhu cầu kinh doanh của công ty vì không thể cứ phải chờ đến cuộc họp thường niên của ĐHĐCĐ vốn mỗi năm chỉ họp một kỳ Trên thực tế, để giải quyết vấn đề này và cũng để không phải tiến hành ĐHĐCĐ bất thường, các CTCP
thường quy định việc ĐHĐCĐ uỷ quyền một số vấn đề cho HĐQT, theo đó trong
thời gian giữa các kỳ ĐHĐCĐ thường niên, thì các vấn đề phát sinh thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ sẽ do HĐQT quyết định trên cơ sở sự uỷ quyền này Mặt khác, việc thông qua quyết định của ĐHĐCĐ là do chính cổ đông thể hiện ý chí của mình, còn việc thông qua quyết định của Hội đồng quản trị là nơi thể hiện ý chí của các thành viên, và nhiều khi hai luồng ý chí này là không phù hợp nhau Do đó, việc uỷ quyền quyết định của ĐHĐCĐ cho HĐQT là một cách làm đem lại sự “tiện lợi” (về mặt hình thức) cho các CTCP nhằm tránh việc phải triệu tập họp ĐHĐCĐ bất thường vốn rất phức tạp và tốn kiếm, nhưng rõ ràng việc uỷ quyền này là sai về mặt nguyên lý và bản chất hoạt động của hai loại cơ quan này với hai cách thức ra quyết định hoàn toàn khác nhau
Hội đồng quản trị (HĐQT): HĐQT là cơ quan quản lý công ty, có toàn
quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ HĐQT không quá 11 thành viên, số lượng cụ thể ghi trong điều lệ công ty HĐQT có các quyền
và nhiệm vụ sau theo quy định tại Điều 149 - Luật doanh nghiệp 2014 Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty có không ít hơn 3 thành viên và không quá 11 thành viên Số lượng thanh viên phải thường trú ở Việt Nam do điều lệ công ty quy định Hội đồng quản trị có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông
2 Hội đồng quản trị có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
Trang 10a) Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty;
b) Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại;
c) Quyết định bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền chào bán của từng loại; quyết định huy động thêm vốn theo hình thức khác;
d) Quyết định giá bán cổ phần và trái phiếu của công ty;
đ) Quyết định mua lại cổ phần theo quy định tại khoản 1 Điều 130 của Luật này;
e) Quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giới hạn theo quy định của pháp luật;
g) Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ;
h) Thông qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ hoặc giá trị khác Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng và giao dịch quy định, tại điểm d khoản 2 Điều 135, khoản 1 và khoản 3 Điều 162 của Luật này;
i) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị; bổ nhiệm, miễn nhiệm, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy định; quyết định, tiền lương
và quyền lợi khác của những người quản lý đó; cử người đại diện theo ủy quyền tham gia Hội đồng thành viên hoặc Đại hội đồng cổ đông ở công ty khác, quyết định mức thù lao và quyền lợi khác của những người đó;
k) Giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác trong điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty;