PHẦN MỞ ĐẦU Việt Nam với những bước phát triển của nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các thành phần kinh tế được tự do và bình đẳng trong kinh doanh. Trong điều kiện như vậy, tranh chấp xảy ra không những là vấn đề khó tránh khỏi mà ngày càng trở nên phức tạp. Để đảm bảo quyền tự do cho các chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, thì việc tạo dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp thỏa đáng và hiệu quả góp phần tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn để thúc đẩy kinh tế phát triển, giữ vững trật tự và ổn định xã hội là đặc biệt quan trọng. Thực tế cho thấy thương lượng và hòa giải là phương thức khá phổ biến để giải quyết các tranh chấp trong đời sống kinh tế xã hội nói chung và trong tranh chấp dân sự nói riêng. Nhà nước ta đã cố gắng cải thiện, đổi mới hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự nhằm tạo ra nhiều phương thức giải quyết tranh chấp dân sự khác nhau phù hợp với thông lệ và tập quán quốc tế để các nhà kinh doanh có cơ hội lựa chọn giải pháp cho họ. Sự đổi mới này diễn ra trong cả lý luận và thực tiễn, trong luật nội dung cũng như luật tố tụng và luật về tổ chức bộ máy. Tuy nhiên, phải thừa nhận một thực tế là hoạt động dân sự đang ngày càng phát triển nhanh chóng và nảy sinh nhiều vấn đề mà hệ thống pháp luật đôi khi không kịp điều chỉnh và dẫn đến hậu quả có những bất cập. Thương lượng và hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp dân sự với những ưu việt của nó, nhưng trong các văn bản pháp luật thì thương lượng và hòa giải chỉ dừng lại ở việc quy định đó là một phương thức giải quyết tranh chấp cho nên trong thực tiễn áp dụng, phương thức này chưa bộc lộ hết ưu điểm vốn có của mình, đặc biệt là vấn đề thực thi khi thương lượng và hòa giải giữa các bên được hoàn thành đang bị bỏ ngỏ. Vì thế, phương thức không những không phát huy được ưu việt của nó mà đôi khi còn trở thành vướng mắc trong quá trình giải quyết gây thiệt hại cho các bên trong quan hệ tranh chấp, đặc biệt là thiệt hại cho những nhà kinh doanh nhỏ, thiếu kinh nghiệm. Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng đúng phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng và hòa giải chắc chắn sẽ hỗ trợ không chỉ trong những tranh chấp dân sự nói riêng mà còn trong các tranh chấp của đời sống xã hội nói chung. Mặt khác, việc tìm ra các biện pháp để đưa phương thức giải quyết tranh chấp dân sự bằng thương lượng và hòa giải trở nên phổ biến và ngày càng được giới kinh doanh lựa chọn là một trong những công việc rất quan trọng và cấp bách hiện nay.
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2PH N M Đ U Ầ Ở Ầ
Việt Nam với những bước phát triển của nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các thành phần kinh tế được tự do và bình đẳng trong kinh doanh Trong điều kiện như vậy, tranh chấp xảy ra không những là vấn đề khó tránh khỏi mà ngày càng trở nên phức tạp Để đảm bảo quyền tự do cho các chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, thì việc tạo dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp thỏa đáng và hiệu quả góp phần tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn để thúc đẩy kinh tế phát triển, giữ vững trật tự và ổn định xã hội là đặc biệt quan trọng Thực tế cho thấy thương lượng
và hòa giải là phương thức khá phổ biến để giải quyết các tranh chấp trong đời sống kinh tế - xã hội nói chung và trong tranh chấp dân sự nói riêng Nhà nước ta đã cố gắng cải thiện, đổi mới hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự nhằm tạo ra nhiều phương thức giải quyết tranh chấp dân sự khác nhau phù hợp với thông lệ và tập quán quốc tế để các nhà kinh doanh có cơ hội lựa chọn giải pháp cho họ Sự đổi mới này diễn ra trong cả lý luận và thực tiễn, trong luật nội dung cũng như luật tố tụng và luật về tổ chức bộ máy Tuy nhiên, phải thừa nhận một thực tế là hoạt động dân sự đang ngày càng phát triển nhanh chóng và nảy sinh nhiều vấn đề mà hệ thống pháp luật đôi khi không kịp điều chỉnh và dẫn đến hậu quả có những bất cập
Thương lượng và hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp dân sự với những ưu việt của nó, nhưng trong các văn bản pháp luật thì thương lượng và hòa giải chỉ dừng lại ở việc quy định đó là một phương thức giải quyết tranh chấp cho nên trong thực tiễn áp dụng, phương thức này chưa bộc lộ hết ưu điểm vốn có của mình, đặc biệt là vấn đề thực thi khi thương lượng và hòa giải giữa các bên được hoàn thành đang bị bỏ ngỏ Vì thế, phương thức không những không phát huy được ưu việt của nó
mà đôi khi còn trở thành vướng mắc trong quá trình giải quyết gây thiệt hại cho các bên trong quan hệ tranh chấp, đặc biệt là thiệt hại cho những nhà kinh doanh nhỏ, thiếu kinh nghiệm Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng đúng phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng và hòa giải chắc chắn sẽ hỗ trợ không chỉ trong những tranh chấp dân sự nói riêng mà còn trong các tranh chấp của đời sống xã hội nói chung Mặt khác, việc tìm ra các biện pháp để đưa phương thức giải quyết tranh chấp dân sự bằng thương lượng và hòa giải trở nên phổ biến và ngày càng được
Trang 3giới kinh doanh lựa chọn là một trong những công việc rất quan trọng và cấp bách hiện nay
Trong bất kỳ thỏa thuận dân sự, hợp đồng dân sự các bên luôn thỏa thuận hòa giải là biện pháp ưu tiên khi giải quyết tranh chấp Bởi nó thể hiện sự cấp tiến trong tư duy kinh doanh và thể hiện sự tôn trọn với mối quan hệ đối tác Tuy nhiên để hòa giải
và thương lượng có hiệu quả, tùy điều kiện và tình tiết vụ án, cố gắng thực hiện các thủ tục hòa giải và thương lượng vừa có lợi cho hai bên đương sự, đồng thời có lợi cho việc giải quyết vụ án
Căn cứ các quy định của Bộ Luật Dân sự và Bộ Luật Tố tụng dân sự: Trong quan
hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt bên nào Các thỏa thuận của các bên không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội
Do vậy, khi có tranh chấp dân sự việc hòa giải và thương lượng của các bên được pháp luật khuyến khích
Chính vì những lý do trên, em chọn đề tài: “Giải quyết tranh dân sự bằng thương lượng và hòa giải” để làm đề tài nghiên cứu của mình.
Trang 4PH N N I DUNG Ầ Ộ
CH ƯƠ NG 1: NH NG LÝ LU N CHUNG V GI I QUY T TRANH CH P DÂN S Ữ Ậ Ề Ả Ế Ấ Ự
B NG TH Ằ ƯƠ NG L ƯỢ NG VÀ HÒA GI I Ả
ơ
1.1 Khái quát chung v tranh ch p dân s ề ấ ự
1.1.1 Đ nh nghĩa ị
Tranh chấp dân sự là những tranh chấp xảy ra giữa các chủ thể tham gia vào quan
hệ pháp luật dân sự về các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản được pháp luật bảo vệ Phổ biến có các loại tranh chấp dân sự sau: tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, tranh chấp về hợp đồng dân sự, tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, các vấn
đề về ly hôn, các yêu cầu về tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố chết
Tranh chấp dân sự là điều tất yếu trong mọi mối quan hệ phức tạp, mẫu chốt của tranh chấp dân sự là những xung đột, tranh chấp về quyền và lợi ích hợp pháp của con người Để bảo vệ quyền và lợi ích này, pháp luật Việt Nam đã cho ra bộ luật dân sự với phạm vi điều chỉnh rộng nhất trong tất cả các bộ luật
Từ đó, chúng ta có thể hiểu rằng: Giải quyết tranh chấp dân sự chính là việc các bên trong quan hệ dân sự có thể hòa giải được bất đồng để đi đến một điểm chung dựa trên việc dung hòa lợi ích giữa các bên
1.1.2 Đ c đi m ặ ể
Đối với các vụ việc tranh chấp dân sự các chủ thể tham gia có thể thỏa thuận với nhau hoặc yêu cầu tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Đặc thù của tố tụng dân sự là những người tham gia vào quan hệ tranh chấp có nghĩa vụ cung cấp chứng
cứ và tự chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp, có căn cứ giải quyết
Vì vậy đối với các vụ việc dân sự các bên đương sự cần phát huy tính chủ động, tích cực cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết liên quan một cách chính xác, khách quan và đầy đủ, đưa ra các lý lẽ, các quan điểm khác nhau, viện dẫn các quy định của pháp luật có liên quan để giải quyết vụ án
Bên cạnh những chuẩn bị về mặt nội dung vụ việc, các đương sự tham gia vụ án dân sự cần nắm rõ quy trình, thủ tục tố tụng tại tòa án, am hiểu về pháp luật tố tụng để xác định được những cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc, thời gian giải quyết
vụ việc và quy trình xử lý vụ việc
Trang 51.1.3 Các lo i tranh ch p dân s ạ ấ ự
Theo điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm2015, các dạng tranh chấp dân sự sau thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án:
- Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân
- Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này
- Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính
- Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật tài nguyên nước
- Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền
sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng
- Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí
- Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
- Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
- Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
- Các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của
cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật
Tuy nhiên không phải bất cứ dạng tranh chấp dân sự nào cũng sẽ được Tòa án giải quyết, theo điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, 6 yêu cầu dưới đây thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự của Tòa án và xem xét giải quyết:
- Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Trang 6- Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó
- Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích
- Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết
- Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam
- Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
- Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án
- Yêu cầu công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 470 của Bộ luật này
- Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung
để thi hành án và yêu cầu khác theo quy định của Luật thi hành án dân sự
- Các yêu cầu khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật
1.1.4 Ph ươ ng th c gi i quy t tranh ch p dân s ứ ả ế ấ ự
Thứ nhất, phương thức phi tòa án: Hòa giải và thương lượng.
Phương thức này đòi hỏi cả hai bên phải thực sự có thiện chí và sẵn sàng hòa giải
+ Ưu điểm : không tốn thời gian tiền bạc, kết thúc hòa bình, tránh được những xung đột không đáng có
+ Nhược điểm: Rất khó để thực hiện, vì vốn dĩ khi đã có tranh chấp liên quan đến lợi ích bên nào cũng muốn quyền lợi của mình được bảo vệ và bên nào cũng cho rằng mình đúng Mặt khác, nếu có thực hiện được thì tính áp dụng thực thi cũng không cao
Thứ hai, phương thức Tòa án: Khởi kiện
Thực tế những tranh chấp dân sự thường phức tạp và thường thì các bên sẽ không thể tự giải quyết được các vấn đề và lúc đó thì việc khởi kiện về yêu cầu Tòa án để có thể giải quyết thường được áp dụng
Trang 7+Ưu điểm: Và là tiến hành giải quyết tranh chấp tại Tòa án, quyết định của Tòa mang tinh chất quyền lực Nhà nước buộc các tổ chức cá nhân phải thực hiện
+Nhược điểm: Thủ tục thời gian kéo dài gây tốn kém chi phí của các bên
1.2 Gi i quy t tranh ch p b ng th ả ế ấ ằ ươ ng l ượ ng và hòa gi i ả
1.2.1 Khái ni m th ệ ươ ng l ượ ng
Thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp mà theo đó các bên cùng nhau bàn bạc, thoả thuận để tự giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ hợp đồng của mình mà không có sự tham gia của bên thứ ba
- Thương lượng là một phương pháp tự giải quyết tranh chấp của các bên
- Thương lượng không mang tính chất bắt buộc trừ khi hợp đồng có quy định và không đòi hỏi sự can thiệp hành chính của bất cứ một thiết chế nào Thương lượng được áp dụng tương đối phổ biến để giải quyết tranh chấp dân sự thời gian và chi phí giành cho cuộc thương lượng thông thường phụ thuộc vào tính chất và trị giá tranh chấp Tuy nhiên, trong thực tế thương lượng lại phụ thuộc vào thiện trí của các bên và cách thức thương lượng là thương lượng trực tiếp hay thông qua thư tín, telex, fax Việc giải quyết tranh chấp bằng thương lượng nhằm gạt bỏ các ý kiến bất đồng
để đạt tới sự thống nhất, thiện trí là một phương pháp giải quyết tranh chấp rất phổ biến ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia Á Đông
Thứ nhất: Thương lượng bằng cách gặp gỡ trực tiếp: Thương lượng bằng cách
gặp nhau trực tiếp là việc các bên cử đại diện của mình gặp mặt nhau tại một địa điểm nhất định trong một thời gian xác định để bàn bạc vấn đề tranh chấp nhằm đưa ra các giải pháp giải quyết tranh chấp
Thứ hai: Thương lượng thông qua thư từ, điện tín, telex: Với sự phát triển vượt
bậc của công nghệ điện tử Internet, email thì việc thương lượng giữa các bên đương sự được thực hiện hết sức thuận lợi Tuy vậy tất cả các thư từ điện tín email đều phải được trả lời một cách nhanh chóng cho dù nguyên nhân tranh chấp là do phía mình gây ra cũng cần phải được trả lời sớm, để giải quyết thoả đáng nếu trì hoãn hoặc cố tình quên không trả lời sẽ gây ấn tượng xấu Khi xem xét những điểm cơ bản về phương pháp giải quyết tranh chấp dân sự thông qua thương lượng cho thấy rằng
Trang 8phương pháp này cũng có một số điểm hạn chế nhất định, cụ thể do sự thành công hay thất bại của việc thương lượng chủ yếu phụ thuộc vào thái độ thiện chí của các bên tranh chấp nên chỉ cần một trong các bên đương sự thiếu thiện chí thì quá trình thương lượng có thể đi đến chỗ bế tắc buộc các bên phải tìm kiếm hình thức giải quyết tranh chấp khác
Ưu điểm nổi bật của phương thức giải quyết này là sự thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, tính linh hoạt, hiệu quả và ít tốn kém Mặt khác, giải quyết tranh chấp bằng thương lượng còn bảo vệ uy tín cho các bên tranh chấp cũng như bí mật của các bên dân sự Các bên dân sự hơn ai hết tự biết bảo vệ quyền lợi của bản thân, hiểu rõ những bất đồng và nguyên nhân phát sinh tranh chấp nên quá trình đàm phán, thương lượng dễ hiểu và cảm thông với nhau hơn để có thể thỏa thuận các giải pháp tối ưu theo nguyện vọng mỗi bên mà không phải cơ quan tài phán nào cũng làm được Bởi vậy, nếu thương lượng thành công không những các bên đã loại bỏ được những bất đồng phát sinh mà mức độ phương hại đến mối quan hệ giữa các bên cũng thấp, tăng cường sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau trong tương lai
Tuy nhiên nó cũng có những hạn chế nhất định Thương lượng thành công hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết, thái độ thiện chí, hợp tác của các bên Khi một hoặc các bên thiếu sự hiểu biết về lĩnh vực đang tranh chấp, không nhận thức được vị thế của mình, khả năng thắng thua nếu phải theo đuổi vụ kiện tại cơ quan tài phán hoặc không có thái độ nỗ lực hợp tác, thiếu sự thiện chí, trung thực trong quá trình thương lượng thì khả năng thành công là rất mong manh, kết quả thường bế tắc
1.2.2 Khái ni m hòa gi i ệ ả
Hoà giải là một phương pháp để giải quyết tranh chấp, trong đó bên thứ ba là người đóng vai trò trung gian hoà giải tham gia vào các cuộc họp chung giữa các bên
và tham gia vào các phiên họp riêng với từng bên để điều hoà lợi ích các bên, phân tích cho họ thấy nội dung, thực chất của tranh chấp và cố gắng giúp các bên tìm ra một giải pháp để giải quyết tranh chấp
Từ khái niệm đó hoà giải mang những đặc điểm chủ yếu sau:
Trang 9- Các bên tranh chấp thoả thuận bên thứ 3 tạo điều kiện thuận lợi cho việc đàm phán
- Bên thứ 3 không có quyền quyết định tranh chấp;
- Khi các bên đạt được sự nhất trí trong việc giải quyết tranh chấp, thì sự nhất trí phải được thể hiện bằng văn bản và văn bản này có giá trị pháp lý ràng buộc các bên Việc hoà giải thành công hay không là do sự kết hợp hai yếu tố chủ chốt trong bất kỳ cuộc thương lượng nào, sự trao đổi thông tin và sự tin cậy lẫn nhau Vì vậy, bên thứ 3 phải là người mà các bên tranh chấp đủ tin cậy để có thể trao đổi những lập trường riêng đích thực của họ trong vụ tranh chấp Quá trình hoà giải mang tính chất
tự nguyện, mềm dẻo và không bắt buộc, thông thường việc hoà giải diễn ra nhanh chóng với chi phí vừa phải Các vụ giải quyết tranh chấp bằng hoà giải có thể rất đơn giản hoặc có thể lớn và phức tạp, có thể chỉ có hai bên hay nhiều bên tham gia tranh chấp
Trong quá trình hoà giải tính đối kháng của các bên ít quyết liệt hơn so với các hình thức giải quyết tranh chấp bằng toà án hoặc trọng tài do vậy đặc trưng của việc hoà giải là cho phép duy trì mối quan hệ làm ăn lâu dài và đưa ra những giải pháp hữu hiệu Các bên có thể xoá bỏ vai trò của người hoà giải vào bất cứ thời điểm nào mà họ muốn, người hoà giải không áp đặt quan điểm riêng của mình cho các bên mà để các bên thoả thuận và thể hiện bằng văn bản có giá trị bắt buộc cho cả hai bên Khi người hoà giải nắm được các sự kiện, nguyên nhân các tình tiết của vụ tranh chấp đồng thời lại biết được những chi tiết riêng tư trong lập trường của từng bên thì họ có thể tháo gỡ hoặc góp phần làm giảm đi những bất đồng, những rào cản và khác biệt trong quan điểm của các bên theo những cách thức, lập luận, dẫn dắt của mình nếu chỉ có các bên tranh chấp với nhau cùng với những lập trường riêng của họ thì không thể giải quyết nổi
Nhìn chung hoà giải là phương pháp giải quyết tranh chấp nhanh, tiết kiệm chi phí, nỗ lực giải quyết tranh chấp của các bên cùng với sự đóng góp của hoà giải viên
sẽ làm cho tiến trình hoà giải diễn ra nhanh chóng và mang lại kết quả theo mong muốn của các bên
Ưu điểm của phương thức hòa giải là đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, sự linh hoạt, hiệu quả, ít tốn kém Hòa giải còn có thêm ưu điểm vượt trội do người thứ ba
Trang 10(thường là người có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm, am hiểu lĩnh vực đang tranh chấp) mang lại Họ sẽ là người biết cách làm cho ý chí của các bên dễ gặp nhau trong quá trình đàm phán để loại trừ tranh chấp Trường hợp các bên tranh chấp khả năng nhận thức hạn chế trong lĩnh vực đang tranh chấp thì dùng phương thức hòa giải
sẽ có khả năng thành công cao hơn thương lượng Kết quả hòa giải được ghi nhận và chứng kiến của người thứ ba nên mức độ tôn trọng và tuân thủ các cam kết đạt được trong quá trình hòa giải cũng cao hơn
Hạn chế của hòa giải là dù có sự trợ giúp của người thứ ba làm trung gian mà một bên không trung thực, thiếu sự thiện chí, hợp tác trong quá trình đàm phán thì hòa giải cũng khó có thể đạt được kết quả mong đợi Ngoài ra, chính phải sử dụng đến bên trung gian nên uy tín, bí mật của các bên cũng dễ bị ảnh hưởng hơn quá trình thương lượng Bên cạnh đó, chi phí cho quá trình giải quyết bằng hòa giải cũng tốn kém hơn
do phải trả phí cho bên trung gian
1.2.3 Hi u l c c a th ệ ự ủ ươ ng l ượ ng, hòa gi i ả
Thương lượng, hòa giải là các phương thức giải quyết tranh chấp trên cơ sở tự nguyện của các bên Biên bản thỏa thuận, hòa giải không phải là một bản án nên việc thực hiện phương án thương lượng, hòa giải mà các bên đã đạt được không mang tính cưỡng chế Đây là điểm làm hạn chế hiệu lực thi hành các kết quả thu được từ quá trình giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải
1.2.4 Ý nghĩa c a th ủ ươ ng l ượ ng và hòa gi i trong gi i quy t tranh ch p ả ả ế ấ tranh ch p ấ
Thứ nhất: Nâng cao đạo đức trong đời sống sinh họat và giá trị xã hội Lành
mạnh các quan hệ xã hội “lấy thiện bỏ ac, lấy minh bỏ tham” Tăng tính tích cực của
xã hội dân sự lấy “đối thọai” thay cho “đối đầu”
Thứ hai: Ý thức tự giác xã hội cao của các chủ thể, tiến tới xã hội văn mình, ổn
định, cùng tồn tại hòa bình, cùng nhau phát triển
Thứ ba: Giảm bớt chi phí tranh chấp và khối lượng công việc của Tòa án.