1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Huyền axit việt ngữ học đại cương giữa kì

37 197 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 98,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngôn ngữ càng phát triển tất yếu sẽ kéo theo sự xuất hiện của các thành ngữ, tục ngữ mới, chúng xuất hiện cùng với sự biến đổi của đời sống xã hội và phản ánh chân thực nhất những nét mớ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TIỂU LUẬN GIỮA KỲ MÔN: VIỆT NGỮ HỌC ĐẠI CƯƠNG

Đề tài: Khảo sát đặc điểm sử dụng thành ngữ, tục ngữ và các cụm từ cố

định mới trong tiểu thuyết “Quái nhân” của Hữu Đạt.

Sinh viên thực hiện: Phạm Thanh Huyền

Mã số sinh viên: 15035914Ngày sinh: 09 – 04 - 1997Lớp: K60 Văn học

Trang 2

MỤC LỤC

A Mở đầu………3

B Nội dung……….7

Chương I……….7

Chương II……… 19

Chương III……… 24

C Kết luận……….……….32

Phụ lục……… ……… 33

Trang 3

Ở Việt Nam, tiểu thuyết xuất hiện lần đầu có lẽ là Hoàng lê nhất thống chí đại diện cho dòng tiểu thuyết chương hồi ảnh hưởng từ phương Bắc Khi Pháp đặt ách đô hộ dần dần lên đất nước ta, sự giao thoa văn hóa, văn học, sự phổ biến của chữ quốc ngữ đã làm cho tiểu thuyết hiện đại ra đời Hẳn chúng ta không thể quên những nhà văn lãng mạn trong Tự lực Văn đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng, các nhà văn hiện thực như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,

Cách mạng tháng Tám thành công, nền văn học đi theo định hướng của Đảng là phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến, phục vụ quần chúng lao động

Vì vậy có thể nói đây là thời kỳ nở rộ của văn học, đặc biệt là tiểu thuyết về đề tài chiến tranh Phải đến trước Đổi mới một vài năm, văn học ca ngợi chiến tranh mới giảm dần Những tiểu thuyết anh hùng ca bị thế chỗ bởi những tác phẩm về sự thật chiến tranh, cuộc sống thời hậu chiến và những vấn đề nhức nhối trong xã hội Đặc biệt phải kể đến hai đề tài nổi bật: Thân phận thực sự của người lính trong chiến tranh và Văn hóa – Giáo dục Đã có những tác phẩm viết xong để đó, phải đợi Đại hội VI thông qua mới dám đi in Độc giả hẳn vẫn nhớ Lê Lựu mở đầu với Thời xa vắng, sau đó Bảo Ninh có Thân phận của tình yêu, Nguyễn Đình Tú ra mắt Xác phàm, Tất thảy đó là những nhà văn với tiểu thuyết về sự thật của cuộc chiến

Trang 4

Trong đề tài giáo dục, người ta chỉ dám viết truyện ngắn lúc mới được cởi trói tư

tưởng như Phạm Hoàng Hải với truyện ngắn “Một giờ học bình thường”.

Ở mỗi thời đại, giáo dục luôn có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của xã hội, là vấn đề chiến lược và cấp thiết cho mọi quốc gia Hiểu được tầm quantrọng của giáo dục, không ít tiểu thuyết đã viết về đề tài này, để nói lên thực trạng của ngành giáo dục nói chung và tầng lớp tri thức nói riêng dưới sự chuyển biến

của xax hội, Trong đó có tiểu thuyết “Quái nhân” của tác giả Hữu Đạt đã thể hiện

sâu sắc vấn đề này, trong đây cũng có nhiều hiện tượng ngôn ngữ và kết cấu đáng được chú ý

Việc sử dụng các cụm từ cố định, thành ngữ, tục ngữ trong tác phẩm một cách linh hoạt và độc đáo đã giúp tiểu thuyết đi sâu vào trong lòng người đọc, để lại

ấn tượng mạnh mẽ trong mỗi người Có thể nói thành ngữ, tục ngữ, cụm từ cố đijnh

là một bộ phận quan trọng trong hệ thống từ vựng tiếng Việt Ngôn ngữ càng phát triển tất yếu sẽ kéo theo sự xuất hiện của các thành ngữ, tục ngữ mới, chúng xuất hiện cùng với sự biến đổi của đời sống xã hội và phản ánh chân thực nhất những nét mới, sự thay đổi trong đời sống xã hội của người Việt Không chỉ dừng lại ở đờisống xã hội thực tế mà cả trong các tiểu thuyết, truyện ngắn hiện nay

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thành ngữ, tục ngữ và các định ngữ mới

- Phạm vi nghiên cứu: Trong nghiên cứu này, tôi tập trung khảo sát trong tiểu

thuyết “Quái nhân” của tác giả Hữu Đạt.

3 Mục đích nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu

- Mục đích: Trên cơ sở nguồn ngữ liệu mà tôi điều tra, mục đích chính của bài tiểu luận này là tìm hiểu và làm rõ đặc điểm bao gồm cách sử dụng, sự sáng tạo các thành ngữ, tục ngữ, các cụm từ cố định mới của tác giả trong tác

Trang 5

phẩm Từ đó rút vai trong của việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ, các cụm từ

cố định trong việc xây dựng tính cách, tâm lí nhân vật để làm nên thành côngcủa tác phẩm

- Ý nghĩa: Góp phần nhỏ vào phân tích giá trị sử dụng của thành ngữ, tục ngữ và

các cụm từ cố định mới trong tiểu thuyết “Quái nhân”.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đọc, tìm hiểu và khảo sát thành ngữ, tục ngữ, các cụm từ cố định trong tác

phẩm “Quái nhân” của tác giả Hữu Đạt So sánh, miêu tả, phân tích để thấy được

sử dụng tài tình, linh hoạt, khéo léo các cụm từ cố định

Tìm kiếm tài liệu về cơ sở lí thuyết của ngôn ngữ học: thành ngữ, tục ngữ, cụm từ cố định mới

5 Phương pháp nghiên cứu

Với mong muốn tìm hiểu cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ và các cụm từ cố

định mới trong tiểu thuyết “Quái nhân” của Hữu Đạt cũng như những sáng tạo của

tác giả khi sử dụng chúng, tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Khảo sát ngữ liệu và tư liệu

- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa

- Phương pháp thống kê và phân tích số liệu…

6 Bố cục tiểu luận

A Phần mở đầu

B Phần nội dung

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Giới thiệu tác giả Hữu Đạt và tác phẩm “Quái nhân”

Chương 3: Đặc điểm của thành ngữ, tục ngữ và những cụm từ cố định mới trong

tác phẩm “Quái nhân”

Trang 6

C Phần kết luận

Phụ lục

Trang 7

B- NỘI DUNG

1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Thành ngữ

1.1.1 Định nghĩa

Hoàng Phê (2006): Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà

nghĩa thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó.

Nguyễn Thiện Giáp (1985): Thành ngữ là những cụm từ cố định cừa có

tính hoàn chỉnh về ngữ nghĩa, vừa có tính gợi cảm.

Nguyễn Lân (2003): Thành ngữ là những cụm từ cố định dùng để diễn đạt

một khái niệm Thành ngữ có ba từ trở lên và nếu có hai từ thì là từ ghép.

Từ những ý kiêsn trên, tôi thấy thành ngữ tiếng Việt là những cụm từ mang ngữ nghĩa cố định (phần lớn không tạo thành câu hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp, không thể thay thế và sử đổi về mặt ngôn từ) và độc lập riêng rẽ với từ ngữ hay hình ảnh mà thành ngữ sử dụng, thành ngữ thường được sử dụng trong việc tạo thành những câu nói hoàn chỉnh Thành ngữ mang tính biểu trưng, khái quát và giàu hình tượng nên thường dùng nghệ thuật tu từ ẩn dụ hoặc nghệ thuật tu từ hoán dụ

Ví dụ: Chó cắn áo rách, Rách như tổ đỉa, mẹ tròn con vuông,…

Trang 8

Loại này bao gồm những thành ngữ có cấu trúc là một cấu trúc so sánh Ví

dụ: Lạnh như tiền, Rách như tổ đỉa, Cưới không bằng lại mặt,

Mô hình tổng quát của thành ngữ so sánh giống như cấu trúc so sánh thông thường khác:

A ss B: Ở đây A là vế được so sánh, B là vế đưa ra để so sánh, còn ss là từ

so sánh: như, bằng, tựa, hệt,

Tuy vậy, sự hiện diện của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt khá đa dạng, không phải lúc nào ba thành phần trong cấu trúc cũng đầy đủ Chúng có thể có các kiểu:

A.ss.B: Đây là dạng đầy đủ của thành ngữ so sánh Ví dụ: Đắt như tôm tươi,

Nhẹ tựa lông hồng, Lạnh như tiền, Dai như đỉa đói, Đủng đỉnh như chĩnh trôi sông, Lừ đừ như ông từ vào đền,

(A).ss.B: Ở kiểu này, thành phần A của thành ngữ không nhất thiết phải có mặt Nó thể xuất hiện hoặc không, nhưng người ta vẫn lĩnh hội ý nghĩa của thành

ngữ ở dạng toàn vẹn Ví dụ: (Rẻ) như bèo, (Chắc) như đinh đóng cột, (Vui) như mở

cờ trong bụng, (To) như bồ tuột cạp, (Khinh) như rác, (Khinh) như mẻ, (Chậm) như rùa,

ss.B: Trường hợp này, thành phần A không phải của thành ngữ Khi đi vào hoạt động trong câu nói, thành ngữ kiểu này sẽ được nối thêm với A một cách tuỳ

nghi, nhưng nhất thiết phải có A là của câu nói và nằm ngoài thành ngữ Ví dụ: Ăn

ở với nhau, Xử sự với nhau, Giữ ý giữ tứ với nhau, …như mẹ chồng với nàng dâu

Có thể kể ra một số thành ngữ kiểu này như: Như tằm ăn rỗi, Như vịt nghe sấm,

Như con chó ba tiền, Như gà mắc tóc, Như đỉa phải vôi, Như ngậm hột thị,

Trang 9

Đối với thành ngữ so sánh tiếng Việt, có thể nêu một vài nhận xét về cấu trúc của chúng như sau:

 Vế A (vế được so sánh) không phải bao giờ cũng buộc phải hiện diện trên cấu trúc hình thức, nhưng nội dung của nó thì vẫn luôn luôn là cái được "nhận ra" A thường là những từ ngữ biểu thị thuộc tính, đặctrưng hoặc trạng thái hành động, nào đó Rất ít khi chúng ta gặp những khả năng khác

 Từ so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng Việt phổ biến là từ như; cònnhững từ so sánh khác, chẳng hạn như tựa, tựa như, như thể, bằng,

tày, (Gương tày liếp, Tội tày đình, Cưới không bằng lại mặt, ) chỉ

xuất hiện hết sức ít ỏi

 Vế B (vế để so sánh) luôn luôn hiện diện, một mặt để thuyết minh, làm rõ cho A, mặt khác, nhiều khi nó lại chỉ bộ lộ ý nghĩa của mình trong khi kết hợp với A, thông qua A Ví dụ: Ý nghĩa "lạnh" của tiền

chỉ bộ lộ trong Lạnh như tiền mà thôi Các thành ngữ Nợ như chúa

Chổm, Rách như tổ đỉa, Say như điếu đổ, Say khướt cò bợ, cũng

tương tự như vậy

Mặt khác, các sự vật, hiện tượng, trạng thái, được nêu ở B phản ánhkhá rõ nét những dấu ấn về đời sống văn hoá vật chất và tinh thần củadân tộc Việt Đối chiếu với thành ngữ so sánh của các ngôn ngữ khác,

ta dễ thấy sắc thái dân tộc của mỗi ngôn ngữ được thể hiện một phần

ở đó

 Vế B có cấu trúc không thuần nhất:

B có thể là một từ Ví dụ: Lạnh như tiền, Rách như tổ đỉa, Nợ như chúa Chổm, Đắng như bồ hòn, Rẻ như bèo, Khinh như mẻ,

Trang 10

B có thể là một kết cấu chủ-vị (một mệnh đề) Ví dụ: Như đỉa phải vôi, Như chó nhai giẻ rách, Lừ đừ như ông từ vào đền, Như thầy bói xem voi, Như xầm sờ vợ,

Ngoài những điều nói trên, khi đối chiếu các thành ngữ so sánh với cấu trúc

so sánh thông thường của tiếng Việt, ta thấy:

 Các cấu trúc so sánh thông thường có thể có so sánh bậc ngang hoặc

so sánh bậc hơn Ví dụ: Anh yêu em như yêu đất nước (so sánh bậc ngang), Dung biết mình đẹp hơn Mai (so sánh bậc hơn),

 Từ so sánh và các phương tiện so sánh khác (chỗ ngừng, các cặp từ phiếm định hô ứng, ) được sử dụng trong các cấu trúc so sánh thôngthường, rất đa dạng: như, bằng, tựa, hệt, giống, chẳng khác gì, y như

- Thành ngữ miêu tả ẩn dụ

Trang 11

Thành ngữ miêu tả ẩn dụ là thành ngữ được xây dựng trên cơ sở miêu tả một sự kiện, một hiện tượng bằng cụm từ, nhưng biểu hiện ý nghĩa một cách ẩn dụ.

Xét về bản chất, ẩn dụ cũng là so sánh, nhưng đây là so sánh ngầm, từ so sánh không hề hiện diện Cấu trúc bề mặt của thành ngữ loại này không phản ánh cái nghĩa đích thực của chúng Cấu trúc đó, có chăng chỉ là cơ sở để nhận ra một nghĩa "sơ khởi", "cấp một" nào đó, rồi trên nền tảng của "nghĩa cấp một" này người

ta mới rút ra, nhận ra và hiểu lấy ý nghĩa đích thức của thành ngữ

Từ các hiểu cái nghĩa cơ sở của cấu trúc bề mặt này, người ta rút ra và nhận lấy ý nghĩa thực của thành ngữ như sau: Gặp tình huống tưởng như không may nhưng thực ra lại là rất may (và thích gặp tình huống đó hơn là không gặp bởi vì có lợi hơn là không gặp)

Căn cứ vào nội dung của thành ngữ miêu tả ẩn dụ kết hợp cùng với cấu trúccủa chúng, có thể phân loại nhỏ hơn như sau:

Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu một sự kiện Trong các thành ngữ này, chỉ có một sự kiện, một hiện tượng nào đó được nêu Chính vì vậy, cũng chỉ một

hình ảnh được xây dựng và phản ánh Ví dụ: Ngã vào võng đào, Nuôi ong tay áo,

Nước đổ đầu vịt, Chó có váy lĩnh, Hàng thịt nguýt hàng cá, Vải thưa che mắt

thánh, Múa rìu qua mắt thợ,

Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương đồng Ở đây, trong mỗi thành ngữ sẽ có hai sự kiện, hai hiện tượng được nêu, được phản ánh Chúng

tương đồng hoặc tương hợp với nhau (hiểu một cách tương đối) Ví dụ: Ba đầu sáu

tay, Nói có sách mách có chứng, Ăn trên ngồi trốc, Mẹ tròn con vuông, Hòn đất ném đi hòn chì ném lại,

Trang 12

Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương phản Ngược lại với loại trên, mỗi thành ngữ loại này cũng nêu ra hai sự kiện, hai hiện tượng tương

phản nhau hoặc chí ít cũng không tương hợp nhau Ví dụ: Một vốn bốn lời, Méo

miệng đòi ăn xôi vò, Miệng thơn thớt dạ ớt ngâm, Bán bò tậu ễnh ương, Xấu máu đòi ăn của độc,

Bên cạnh việc phân loại thành ngữ tiếng Việt theo cơ chế cấu tạo và cấu trúc, còn có thể phân loại chúng theo số tiếng Một nét nổi bật đáng chú ý ở đây là các thành ngữ có số tiếng chẵn (bốn tiếng, sáu tiếng, tám tiếng) chiếm ưu thế áp đảo về số lượng (xấp xỉ 85%) Điều này có cơ sở của nó Người Việt rất ưu lối nói cân đối nhịp nhàng và hài hoà về âm điệu Ngay ở bậc từ ta cũng thấy rằng hiện nay các từ song tiết (hai tiếng) chiếm tỉ lệ hơn hẳn các loại khác

Và đến lượt mình, tỉ lệ 85% thành ngữ đó gây nên một áp lực về số lượng,

khiến cho những cụm từ như: Trăng tủi hoa sầu, Tan cửa nát nhà, Tháng đợi năm

chờ, Ăn gió nằm mưa, Lót đó luồn đây, Gìn vàng giữ ngọc, nhanh chóng mang

dáng dấp của các thành ngữ và rất hay được sử dụng

1.2 Tục ngữ

1.2.1 Định nghĩa

Hoàng Phê (2006): Tục ngữ là câu ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết

tri thức của nhân dân.

Nguyễn Lân (2003): Tục ngữ là những câu hoàn chỉnh, có ý nghĩa trọn vẹn,

nói lên hoặc một nhận xét về tâm lí, hoặc lời phê phán, khen hay chê, hoặc một câu khuyên nhủ, hoặc một kinh nghiệm về nhận thức tự nhiên hay xã hội,…

Nguyễn Nghĩa Dân (1960): Tục ngữ là câu nói thường ngắn gọn, có vần

điệu hoặc không có vần, có nhịp điệu hoặc không có nhịp điệu, đúc kết kinh

Trang 13

nghiệm sản xuất hay đấu tranh xã hội, rút ra một chân lí phổ biến, ghi lại một nhận xét về tâm lí, phong tục, tập quán của nhân dân.

Nội dung tục ngữ thường phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất, ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội, hoặc thể hiện triết lí dân gian của dân tộc

Ví dụ: Ăn cây táo rào cây sung, Bụt chùa nhà không thiêng, Cái răng cái

tóc là vóc con người, …

Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác phẩm văn học bằng con đường dângian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài

Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữthường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng Tục ngữ có tính chất đúc kết khái quát hóa những nhật xét cụ thể thành những phương châm, chân lí Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngôn ngữ được xây dựng từ những biệp pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ,…

Đa số tục ngữ đều có vần, gồm hai loại: vâfn liền và vần cách Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chúc ngôn ngữ thơ ca… Sự hòa đoói là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ Hình thúc đối: đối thanh, đối ý Tục ngữ có thể có một vế, chứa một phán đoán nhưng cũng có thể có nhiều vế, chứa nhiều phán đoán

Các kiểu suy luâj: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả

Trang 14

1.2.2 Phân loại

Từ trước đến nay có nhiều cách phân loại tục ngữ khác nhau, thường là phân theo nội dung của chúng Trước năm 1930, nhiều nhà nghiên cứu phân loại tục ngữ theo các mục: trời đất, năm tháng, tiền của,…

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Ngọc phân loại tục ngữ theo câu ngắn câu dài,trình bày theo thứ tự latin Trong khi đó Vũ Ngọc Phan phân loại theo nội dung, nêu lên nhiều mục lớn như quan hệ thiên nhiên, quan hệ gia đình xã hội, và mục lớn lại gồm nhiều mục nhỏ như trong gia đình lại gồm có hôn nhân, vợ chồng, con cái,…

Sau Cách mạng, nhất là khi giải phóng miền Bắc, nhiều nhà nghiên cứu dưới chế độ mới đã phân loại tục ngữ theo thời kì lịch sử, Tuy nhiên cách này rất khó xác định được đâu là tục ngữ trước phong kiến, sau phong kiến, thời đô hộ, thời Pháp – Nhật thuộc, thời Dân chủ Cộng hòa,… chưa kể phân loại như vậy năng tính chính trị, không phù hợp với một nền học thuật phát triển cao mà chúng ta đang hướng đến

1.3 Cụm từ cố định

1.3.1 Định nghĩa

Cụm từ cố định là đơn vị dùng là chất liệu cơ sở để tạo ra câu – đơn vị giao tiếp – không phải chỉ có từ Ngoài từ ra, còn có một loại đơn vị gọi là cụm từ cố định Có thể nêu một khái niệm giản dị cho cụm từ cố định điển hình như sau:

Cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại, tồn tại với tư cách một đơn

vị có sẵn như từ, có thành tối cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định như từ

Trang 15

Cụm từ cố định có đặc điểm tưowng đương với từ: có tư cách của những đơn vị được làm sẵn trong ngôn ngữ; tương đương về chức năng định danh, và chức năng tham gia tạo câu.

1.3.2 Phân loại

Cách xây dựng, tạo lập cụm từ cố định trong các ngôn ngữ khác nhau

không hoàn toàn như nhau

Vì thế, cụm từ cố định trong các ngôn ngữ khác nhau có thể được phân loại khác nhau Chẳng hạn, N.M Shanskij (1985) đã phân loại các cụm từ cố định trongtiếng Nga hiện đại như sau:

 Phân loại theo mức độ tính chất về ngữ nghĩa: tách ra 5 loại;

 Phân loại theo đặc điểm các từ trong thành phần của cụm từ cố định: tác ra 4 loại;

 Phân loại theo mô hình cấu trúc: tách ra 16 loại;

 Phân loại theo nguồn gốc: tách ra 6 loại

Việc nghiên cứu cụm từ cố định của tiếng Việt tuy chưa thật sâu sắc và toàndiện nhưng đã có không ít kết quả công bố trong một số giáo trình giảng dạy trong nhà trường đại học và tạp chí chuyên ngành

Nếu tạm thời chấp nhận tên gọi mà chưa xác định ngay nội dung khái niệm của chúng, thì có thể tóm tắt một trong những bức tranh phân loại cụm từ cố định tiếng Việt như sau:

Trang 16

1.4 Cụm từ cố định mới

1.4.1 Sự hình thành của cụm từ cố định mới trong tiếng Việt

Trong quá trình phát triển của tiếng Việt, những cụm từ cố định mới(như thành ngữ mới) được hình thành từ những quan sát, cảm nhận riêng của người Việt

và rộng hơn là sự ràng buộc của lịch sử, thời đại, thậm chí cả thời điểm mà chúng

ra đời Do vậy, khi sự vật được đề cập đến trong cụm từ cố định mới cùng tâm lí tiếp nhận sự thay đổi, tất nhiên sẽ có hệ quả là sự thay đổi trong nội dung và cấu trúc của chúng Cụm từ cố định mới chủ yếu được hiện thực trong khẩu ngữ - bởi sắc thái tâm lí, sự đánh giá đôi khi mang tính chủ quan của chủ thể đối với sự vật, hiện tượng, nhằm nhấn mạnh sự vật, hiện tượng

Do đó, chúng rõ ràng không phải là cái bất biến (mà hình thức, nội dung của chúng có thể biến đổi theo thời gian, yếu tố lịch sử) Điều đó đã khiến cho số lượng cụm từ cố định mới sẽ ngày càng nhiều, đồng thời sẽ có một số cụm từ cố định lui vào hậu trường, thay thế vào đó là những cụm từ cố định mớihợp với tâm

lí, có tính thời sự hơn, phản ánh đúng với sự vật hiện tượng của thời kì hiện đại hơn Đây chính là cơ hội cho những biến dạng cố tình để cụm từ cố định mới ra đời nhằm phục vụ giao tiếp (thêm từ quan hệ vào trước sau, dùng từ đồng nghĩa, gần nghĩa, thậm chí trái nghĩa; đảo vế, đảo từ, nói lái, thay cặp biểu trưng này bằng cặp biểu trưng khác, )

Trang 17

Sự phát triển của thời đại đã làm cho một số cụm từ cố định không còn đúng hoặc tự trở thành gián cách với tâm lí và nhận thức của con người hiện đại (đặc biệt là giới trẻ) Sự khác biệt cũ/mới, ngày xưa/hiện đại nằm ở chỗ từ ngữ biểuhiện cho thời đại lịch sử.

Về mặt tổ chức cú pháp - ngữ nghĩa, để biến đổi cụm từ cố định gốc hay tạo

ra những cụm từ cố định mới thì phải nắm rõ được những đặc điểm về quy luật tạo nghĩa Tức là vẫn vận dụng cách thức/mô hình tổ chức cú pháp-ngữ nghĩa của các cụm từ cố định gốc trong việc cố định hoá tạo ra cụm từ cố định mới

Cụm từ cố định mới có tính thời sự cao, do nó ra đời trong hoàn cảnh xã hộikhác nhau, phản ánh cách nghĩ, cách đánh giá của con người về sự kiện, một hiện tượng xã hội nào đó đang diễn ra Thời kì nào thì cũng cần đúc rút kinh nghiệm, bàihọc về đối nhân xử thế, quan niệm về cuộc sống mà những điều này từ xa xưa đã có

1.4.2 Đặc điểm cấu tạo – ngữ nghĩa của cụm từ cố định mới

Từ thực tế cũng như lí luận, cụm từ cố định mới tiếng Việt sẽ được hình thành ở haidạng như sau:

- Loại cụm từ cố định biến đổi

- Loại cụm từ cố định mới hình thành

1.4.2.1 Loại cụm từ cố định biến đổi

Dựa vào những cách thức biến đổi khác nhau chúng ta lại có được 4 loại khách nhau khi phân chia những cụm từ cố định mới hình thành bằng con đường biến đổi những cụm từ cố định gốc (tức là có liên hệ với cụm từ cố định gốc)

 Cấu tạo bằng cách thay thế, thêm, bớt từ

 Cấu tạo bằng cách biến đổi ngữ âm

Trang 18

 Cấu tạo cụm từ cố định mới bằng cách đảo trật tự

 Tiếp nối thêm vào cụm từ cố định gốc

1.4.2.2 Cụm từ cố định mới hình thành

Cụm từ cố định mới hình thành là sản phẩm của xu hướng tìm tòi của giới trẻ (là chủ yếu) nhằm diễn đạt những vấn đề trong cuộc sống, nguồn ngữ liệu để hình thành nên những cụm từ cố định mới trong tiếng Việt

 Dựa trên mô hình cấu trúc cú pháp của cụm từ cố định gốc Ví dụ:

Sai đâu sửa đấy, Nhất thân nhì quen, Chân ngoài dài hơn chân trong, Đầu to óc bằng quả nho, Đầu to mắt cận, Mắt xanh mỏ đỏ, Nhà mặt phố bố làm to, Hi sinh đời bố củng cố đời con, Học tài thi lí lịch, Trên đông dưới hè,…

 Cụm từ cố định mới mang tính hòa phối ngữ âm

Cố định hóa một đoạn phát ngôn Ví dụ: Bỗng dưng muốn khóc,

Chuyện thường ở huyện, Thánh họ, Mình phục mình quá, Cầm đèn chạy trước ô tô, Anh thề anh hứa anh đảm bảo,…

2 CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ HỮU ĐẠT VÀ “QUÁI NHÂN”

2.1 Giới thiệu tác giả Hữu Đạt

Tác giả Hữu Đạt, tên khai sinh là Nguyễn Hữu Đạt, nguyên quán tại Ba Vì,

Hà Nội Sau khi tốt nghiệp khóa 16 Khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Hữu Đạt trở thành nghiên cứu sinh tại Liên bang Xô viết và bảo vệ thành côngluận án tiến sĩ Ngữ văn tại Viện Ngôn ngữ học, Viện Hàn lâm Khoa học Nga

Cũng từ đây, con đường sáng tác của Hữu Đạt bắt đầu với những tác phẩm

như Dưới cờ đại nghĩa (ca kịch cải lương, năm 1979), Chuyện thường ngày ở

Ngày đăng: 13/04/2018, 20:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w