1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dạy học chủ đề thực vật theo thuyết đa trí tuệ cho trẻ 5 6 tuổi (2014)

69 380 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu dạy học mỗi chủ đề theo các loại hình trí thông minh, thì đầu ra sẽ tạo nên một đứa trẻ được phát triển một cách toàn diện trên các mặt năng lực trí tuệ.. Nhưng thực chất, việc vận d

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Người hướng dẫn khoa học ThS NGUYỄN THỊ HƯƠNG

HÀ NỘI, 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô giáo trong ngành Giáo dục Mầm non khoa Giáo dục Tiểu học, đã hết lòng tận tình giảng dạy cho em trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ThS Nguyễn Thị Hương, là người đã nhiệt tình hướng dẫn em trong suốt quá trình hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình và bạn

bè, những người luôn khuyến khích và là nguồn động viên rất lớn đối với em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Mặc dù có nhiều cố gắng, song kiến thức của em còn nhiều hạn chế, không tránh được nhiều thiếu sót Vì vậy, em rất mong được các thầy, cô giáo, cùng toàn thể các bạn chỉ bảo, đóng góp ý kiến để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2014

Sinh viên

Đinh Thị Hoa

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan khóa luận được hoàn thành do sự cố gắng và sự nỗ lực của bản thân cùng với sự hướng dẫn tận tình của ThS Nguyễn Thị Hương

Khóa luận của em không trùng với bất kì đề tài nào khác Nếu sai, em hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 05 năm 2014

Sinh viên

Đinh Thị Hoa

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 3

PHẦN 2 NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ THỰC VẬT THEO THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI 4

1.1 Cơ sở lí luận của việc dạy học chủ đề Thực vật theo thuyết đa trí tuệ cho trẻ 5 - 6 tuổi 4

1.1.1 Một số vấn đề về Thuyết đa trí tuệ 4

1.1.2 Đặc điểm của trẻ 5 - 6 tuổi 13

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học chủ đề Thực vật theo thuyết đa trí tuệ cho trẻ 5 - 6 tuổi 18

1.2.1 Đặc điểm của chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi trong chương trình Giáo dục Mầm non hiện hành 18

1.2.2 Mục tiêu của chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi trong chương trình Giáo dục Mầm non hiện hành 19

1.2.3 Nội dung chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi theo quan điểm của Lê Thu Hương 21

1.2.4 Đặc trưng về phương pháp của chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi trong chương trình Giáo dục Mầm non hiện hành 23

Trang 5

1.2.5 Những định hướng xây dựng nội dung chủ đề Thực vật cho trẻ 5 -

6 tuổi theo thuyết đa trí tuệ 24

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29

CHƯƠNG 2 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP DẠY HỌC CHỦ ĐỀ THỰC VẬT THEO THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI 30

2.1 Nguyên tắc xây dựng nội dung chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi theo thuyết đa trí tuệ 30

2.1.1 Đảm bảo tính mục đích 30

2.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 32

2.1.3 Phù hợp với đặc điểm của trẻ 5 - 6 tuổi 33

2.2 Đề xuất biện pháp dạy học chủ đề Thực vật theo thuyết đa trí tuệ cho trẻ 5 - 6 tuổi 34

2.2.1 Đánh giá các loại hình trí thông minh 34

2.2.2 Thiết kế mục tiêu giáo dục theo các loại hình trí thông minh 34

2.2.3 Sử dụng các phương pháp dạy học theo tiếp cận đa trí tuệ 40

2.2.4 Thiết kế bảng ma trận đa trí tuệ 44

2.3 Minh họa 51

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

1 Kết luận 56

2 Kiến nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 PHỤ LỤC

Trang 6

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trẻ em trong xã hội ngày nay phát triển rất khác nhau, không đứa trẻ nào giống với đứa trẻ nào cả, có đứa trẻ không giỏi về các môn khoa học nhưng lại hát rất hay, vẽ rất đẹp, có đứa trẻ học giỏi về ngôn ngữ, toán học nhưng lại không thực sự giỏi về thể chất Các nhà giáo dục đã nghiên cứu và khẳng định rằng, mỗi một đứa trẻ sẽ có những loại hình trí thông minh đa dạng khác nhau Đa trí tuệ ở trẻ mầm non là một cách tiếp cận mới và phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học, có một vai trò quan trọng nhằm phát triển được các năng lực trí tuệ của trẻ Thuyết đa trí tuệ (trí thông minh đa dạng) đã mang lại một cái nhìn mới mẻ và cần thiết kêu gọi phụ huynh và giáo viên coi trọng sự đa dạng về trí tuệ ở mỗi trẻ, mỗi loại trí tuệ đều quan trọng và mỗi trẻ đều có ít nhiều khả năng theo nhiều khuynh hướng khác nhau Khi vận dụng đa trí tuệ trong giờ học, giáo viên cần vận dụng các phương pháp dạy học tích hợp một cách linh hoạt đa dạng và phù hợp với các loại trí thông minh khác nhau của trẻ

Sự phát triển của trẻ về trí tuệ và sự gia tăng về khối lượng tri thức, sự phong phú đa dạng của các nhu cầu hứng thú nhận thức hiện nay đã đặt ra những yêu cầu mới Đặc biệt nhu cầu nhận thức và phản ánh của trẻ 5 - 6 tuổi

về chủ đề Thực vật rất lớn Cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh ở trường mầm non thông qua chủ đề Thực vật vừa là điều kiện, phương tiện, vừa là mục tiêu nhưng đồng thời cũng là đối tượng để trẻ nghiên cứu Trẻ luôn muốn biết mọi thứ và thường đặt ra những câu hỏi để tìm hiểu về chủ đề thế giới Thực vật

Tổ chức hoạt động dạy chủ đề Thực vật trong trường mầm non cho trẻ

5 - 6 tuổi theo thuyết đa trí tuệ, đã trở thành một nội dung quan trọng trong

Trang 7

chương trình giáo dục của nhiều nước trên thế giới Thông qua thuyết đa trí tuệ, trẻ có khả năng nhận biết những kiến thức về thế giới thực vật bằng nhiều kênh khác nhau tùy thuộc vào khả năng trí tuệ của mình Do vậy, việc tổ chức dạy chủ đề Thực vật cho trẻ thông qua nhiều con đường và hình thức khác nhau, sẽ giúp cho trẻ thuận lợi hơn trong quá trình học tập, tạo cơ hội cho trẻ tiếp cận và lĩnh hội tri thức theo cách riêng của mình làm phong phú và sinh động giờ học Cách vận dụng thuyết đa trí tuệ trong thiết kế nội dung dạy học chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi, là một cách tiếp cận mới và phù hợp với xu hướng đổi mới dạy học thông qua thuyết đa trí tuệ Nếu dạy học mỗi chủ đề theo các loại hình trí thông minh, thì đầu ra sẽ tạo nên một đứa trẻ được phát triển một cách toàn diện trên các mặt năng lực trí tuệ Nhưng thực chất, việc vận dụng thuyết đa trí tuệ trong tổ chức các hoạt động dạy học cho trẻ chưa được thực hiện một cách sâu sắc, chưa khảo sát, chưa đánh giá được đầu vào, điểm xuất phát của các loại hình trí thông minh ở mỗi đứa trẻ Việc giáo dục thì đánh đồng mới chỉ dựa trên những cảm tính, cảm nhận riêng của giáo viên,

mà chưa đi vào tìm hiểu sâu nhu cầu đặc điểm của trẻ Trong quá trình giảng dạy giáo viên chưa thực sự hiểu và quan tâm tới trẻ, đồng thời việc áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, thiết bị còn hạn chế

Chính những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu của mình

là: “Dạy học chủ đề Thực vật theo thuyết đa trí tuệ cho trẻ 5 - 6 tuổi”

2 Mục đích nghiên cứu

- Trên cơ sở tìm hiểu về thuyết đa trí tuệ của trẻ, đề xuất biện pháp dạy học

chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi theo thuyết đa trí tuệ, nhằm nâng cao hiệu quả hướng dẫn trẻ khám phá chủ đề Thực vật

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học chủ đề Thực vật theo thuyết đa trí tuệ cho trẻ 5 - 6 tuổi

Trang 8

- Đề xuất biện pháp dạy học chủ đề Thực vật theo thuyết đa trí tuệ cho trẻ 5 - 6 tuổi

4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Việc dạy học chủ đề Thực vật theo thuyết đa trí tuệ cho trẻ 5 - 6 tuổi

Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi

5 Phạm vi nghiên cứu

Trong chương trình Giáo dục Mầm non hiện hành

6 Các phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Mục đích: Thu thập những thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ các vấn đề lý luận của đề tài cần nghiên cứu

- Cách tiến hành: đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai, nghiên cứu thực tiễn

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp phỏng vấn

Trang 9

PHẦN 2 NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ THỰC VẬT THEO THUYẾT ĐA TRÍ

TUỆ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI

1.1 Cơ sở lí luận của việc dạy học chủ đề Thực vật theo thuyết đa trí tuệ cho trẻ 5 - 6 tuổi

1.1.1 Một số vấn đề về Thuyết đa trí tuệ

1.1.1.1 Khái niệm

Thuyết đa trí tuệ (Multiple Intelli - gences theory) với tính nhân văn thể hiện ở quan điểm “Tất cả mọi học sinh đều thông minh, mỗi cá nhân các em đều có một kiểu thông minh khác nhau” [11]

Khi bàn về Thuyết đa trí tuệ, năm 1983 tiến sĩ Howard Gardner - một nhà tâm lý học nổi tiếng của Đại học Harvard đã xuất bản một cuốn sách có nhan đề “Frames of Mind”, trong đó ông đã công bố các nghiên cứu và lí thuyết của mình về sự đa dạng của trí thông minh, ông đưa ra bảy loại hình trí thông minh bao gồm: thông minh lôgic - toán, thông minh về ngôn ngữ - lời nói, thông minh không gian, thông minh thể chất, thông minh âm nhạc - giai điệu, thông minh giao tiếp, thông minh đạo đức

Sau này, các tái bản của “Frames of Mind” bổ sung thêm định nghĩa về thông minh thứ tám: thông minh thiên nhiên.Và hiện tại đang xem xét kết nạp thêm dạng thông minh thứ chín đó là thông minh sinh tồn Ông cũng đã từng cân nhắc tới phạm trù thông minh tinh thần, nhưng về sau ông đã quyết định không đưa vào

Trang 10

Lý thuyết này đã gây nên sự chú ý đặc biệt, kéo theo sự tranh luận sôi nổi trong cộng đồng các nhà tâm lý học và giáo dục Nhiều nhà tâm lý học đã phản đối cách đặt vấn đề của Howard Gardner, vì họ cho rằng ông xây dựng

lý thuyết này dựa trên trực giác của mình nhiều hơn là các dữ liệu hay kinh nghiệm Họ cho rằng, cách phân loại dạng thông minh của ông chỉ là cách gọi tên khác đối với các dạng năng khiếu cá nhân Bất chấp những tranh cãi đó, lý thuyết này đã được các nhà giáo dục đón nhận và cho đến bây giờ cách phân loại thuyết đa trí tuệ thành tám loại hình trí thông minh, được sử dụng và áp dụng trong các chương trình dạy học trong trường mầm non

Khi đưa ra khái niệm về trí thông minh, đã có nhiều những quan niệm rất khác nhau.Wechsler đã nhiều lần định nghĩa trí thông minh như là “Năng lực tổng thể hoặc năng lực chung của cá nhân để hành động có mục đích, để suy nghĩ hợp lí và để ứng phó có hiệu quả với môi trường của mình” [12]

Ngoài ra, còn có cách định nghĩa trí thông minh là: “Khả năng ứng phó thành công với hoàn cảnh, điều kiện mới và năng lực học hỏi được từ kinh nghiệm đã trải qua của các cá nhân khác” [15]

Theo Howard Gardner trí thông minh được ông quan niệm: “Là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra những sản phẩm mới có giá trị trong một hay nhiều nền văn hóa khác nhau” [18]

Theo điều tra tâm lý và quan điểm của các nhà tâm lý học Trung quốc

“Trí thông minh bao gồm khả năng quan sát, khả năng của trí nhớ, sức suy nghĩ, óc tưởng tượng, kỹ năng thực hành và sáng tạo Trí thông minh chính là

sự phối hợp các năng lực đó để làm thành một kết cấu hữu hiệu”

Như vậy, các nhà nghiên cứu đã có rất nhiều những quan niệm khác nhau về trí thông minh Bản thân tôi cho rằng theo quan niệm của Howard Gardner đã thể hiện một cách rõ nét nhất về trí thông minh, trí thông minh

Trang 11

được ông quan niệm: “Là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra những sản phẩm mới có giái trị trong một hay nhiều nền văn hóa khác nhau” [18]

1.1.1.2 Bản chất của thuyết đa trí tuệ

Thuyết đa trí tuệ ra đời từ sự tổng kết, đánh giá từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, là kết quả của những khảo sát thực nghiệm của Howard Gardner trên rất nhiều công trình nghiên cứu trong thời gian tương đối dài Theo tác giả những năng lực trí tuệ này không nhất thiết bộc lộ hết ở một con người, mỗi con người có khả năng biểu đạt tri thức của mình theo tám cách khác nhau và học theo cách như thế nào là tốt nhất, và đem lại hiệu quả cao nhất? Trong trường mầm non cũng thế, mỗi đứa trẻ sẽ có những năng lực trí tuệ khác nhau không đứa trẻ nào giống đứa trẻ nào cả Đối với bản thân một đứa trẻ thì nó sẽ không nhất thiết bộc lộ hết các loại trí thông minh của mình ra,

mà nó sẽ có những khả năng biểu đạt theo các cách khác nhau thông qua hoạt động học tâp vui chơi một cách tích cực Trong trường mầm non, khi học âm nhạc một đứa trẻ hát không hay không có nghĩa là đứa trẻ đó không có trí thông minh âm nhạc, có thể không hát hay nhưng trẻ lại có khả năng cảm nhận và hưng phấn với âm nhạc rất tốt

Ngoài ra, thuyết đa trí tuệ còn cho rằng mỗi cá nhân hầu như đều đạt đến một mức độ nào đó ở từng “phạm trù thông minh” khác nhau Đặc biệt mức độ này không phải là “hằng số” trong suốt cuộc đời của mỗi người, mà

có thể thay đổi (tăng hay giảm) tùy vào sự trau dồi của mỗi cá nhân Khi vận dụng thuyết đa trí tuệ vào trường mầm non, giáo viên không nên đòi hỏi, đưa

ra những điều kiện nhằm thúc đẩy đứa trẻ phát triển theo khuôn mẫu có đầy

đủ tám loại trí thông minh Vì mỗi đứa trẻ trong lớp học sẽ có những mức độ khác nhau và nếu như trong quá trình học tập giáo viên không cho trẻ trau dồi, thực hành thường xuyên thì trí thông minh đó của trẻ có thể giảm đi

Trang 12

Các cá nhân phát triển một hoặc nhiều kiểu trí thông minh thông qua

sự di truyền của gen, giáo dục và xã hội hóa của các giá trị văn hóa Nói cách khác, các kiểu trí thông minh này tiến hóa qua sự tương tác giữa các tố chất sinh học và những cơ hội do môi trường sống của cá nhân mang lại Có những nguyên thủ quốc gia của nhiều đất nước không có trí thông minh về chính trị

xã hội, nhưng lại có trí thông minh đạo đức được mọi người yêu mến nên được người dân cho lên lãnh đạo đất nước

Như vậy, chúng ta có thể thấy được rằng về bản chất trí thông minh là một cấu trúc phức hợp, đa diện, đa thành tố, hòa nhập nhiều loại năng lực, có tính độc lập tương đối ổn định, nhưng không tĩnh tại mà phát triển nhờ sự trải nghiệm của cá nhân, qua sự tương tác giữa các tố chất sinh học và những cơ hội do môi trường sống của cá nhân đó Chúng ta cần làm cho mọi năng lực của trẻ đều được phát huy đầy đủ và nâng cao dần, đồng thời làm cho những năng lực đó của trẻ phối hợp đồng bộ và hoạt động đều Khi dạy trong trường mầm non giáo viên không nên áp đặt, lạm dụng khái niệm thông minh của chỉ

số IQ, mà phải sử dụng các phương pháp linh hoạt nhằm phát huy các năng lực cho trẻ, sử dụng lý thuyết đa trí tuệ để giúp trẻ thành công và phát triển đúng sở trường của chính mình

1.1.1.3 Phân loại các dạng trí tuệ của con người

Ở mỗi cá nhân, một số kiểu trí tuệ có những đặc tính nổi trội hơn, đồng thời một số kiểu trí tuệ khác lại phát triển yếu hơn, nhưng sự khác biệt này không có nghĩa cá nhân này thông minh hơn cá nhân khác, chúng chỉ đơn thuần cho thấy mỗi cá nhân trẻ có phương pháp học tập, tư duy và đạt được những thành tích, kết quả khác nhau Dưới đây là phần tóm lược tám kiểu thông minh của trẻ theo quan điểm của thuyết đa trí tuệ:

Trang 13

Thứ nhất là thông minh ngôn ngữ

Là khả năng suy nghĩ bằng từ ngữ và sử dụng ngôn ngữ để diễn tả những khái niệm phức tạp Sự thông minh này cho phép trẻ hiểu được trật tự,

ý nghĩa của từ, học ngữ pháp rất nhanh và áp dụng các kỹ năng ngôn ngữ thành thạo Trẻ em có trí thông minh kiểu này thường có sự tinh nhạy về khả năng đọc hiểu ngôn ngữ, hiểu từ và dùng từ biểu thị câu, viết văn, làm thơ, các em thường say mê viết thơ, viết văn, đọc sách, kể chuyện Đây cũng là kiểu thông minh có ở nhiều người nhất, và thể hiện rõ ràng ở các nhà văn, nhà thơ, phóng viên, biên tập viên hay các diễn giả

Ví dụ:

+ Trẻ thích các trò chơi về từ ngữ, tạo từ láy, làm thơ lục bát

+ Trẻ là người giỏi kể chuyện hoặc viết văn giỏi

+ Trẻ thích chơi ô chữ, đoán chữ, cũng như những câu đố về chữ

+ Trẻ 3 - 4 tuổi có thể hiểu, trả lời câu hỏi của cô giáo, bạn bè, biết đặt câu hỏi về sự vật, hiện tượng mà trẻ quan tâm

+ Trẻ 4 - 5 tuổi thì đã biết sử dụng ngôn ngữ mạch lạc để nhận xét các

sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ, biết đặt câu hỏi cho mọi người xung quanh

+ Đối với trẻ 5 - 6 tuổi trẻ đã biết sử dụng thành thạo ngôn ngữ mạch lạc để thể hiện kết quả khám phá, trao đổi, giải thích các sự vật, hiện tượng xung quanh

Thứ hai là thông minh âm nhạc

Là khả năng cảm nhận độ cao thấp, nhịp điệu, âm sắc, nói chung là nhạy cảm với các kiểu âm thanh Trẻ có khiếu âm nhạc thường sở hữu đôi tai rất nhạy, chỉ cần nghe âm thanh là có thể cảm nhận giai điệu, nhịp độ cao thấp, hiểu âm luật, hát được theo nhạc Trẻ còn nhận biết được những nốt nhạc hay âm thanh mà bạn đồng lứa tuổi bỏ ra, không để ý

Trang 14

Ngoài ra, trí thông minh về âm nhạc còn có trong tiềm thức của bất cứ

cá nhân nào, miễn là người đó có khả năng nghe tốt, có thể hát theo giai điệu, biết dành thời gian cho âm nhạc và nghe được nhiều tiết mục âm nhạc khác nhau với sự chính xác và sáng suốt của giác quan

Ví dụ:

+ Trẻ có thể chơi một nhạc cụ

+ Trẻ hưng phấn khi nghe giai điệu bài hát

+ Trẻ đung đưa theo giai điệu bài hát

+ Thông thường trẻ có thể nhớ được một giai điệu chỉ sau một vài lần nghe

+ Trẻ thường hay gõ nhịp theo điệu nhạc

+ Trẻ có thể phân biệt được âm điệu của những nhạc cụ khác

Thứ ba là thông minh về lôgic - toán học

Là khả năng tính toán, xác định số lượng, cân nhắc các giả thiết và thực hiện những hoạt động toán học Trẻ sở hữu kiểu thông minh này, thường sớm bộc lộ năng khiếu về lôgic - toán học liên quan đến khả năng tư duy xử lí những bài toán, những phương trình thường gặp trong trắc nghiệm Nó cũng cho phép trẻ hiểu những khái niệm trừu tượng, có kĩ năng tranh luận, suy nghĩ theo lối quy nạp và suy diễn

Theo Howard Gardner thì những người có trí thông minh này có khả năng phát hiện, suy diễn ra các trình tự lý do và tư duy lôgic tốt, tư duy theo dạng nguyên nhân - kết quả

Ví dụ:

+ Trẻ thích làm việc với những con số và tính nhẩm rất tốt

+ Trẻ thích thú với những thức thách của các trò chơi trí tuệ hoặc toán

đố cần nhiều suy nghĩ lôgic

Trang 15

+ Toán học và các môn tự nhiên là những môn học yêu thích của trẻ trong trường

Thứ tư là thông minh thể chất

Là khả năng vận động và dùng rất nhiều kỹ năng đa dạng của cơ thể

Nó bao gồm khả năng điều khiển hoàn hảo những cử động của mình, gồm cả cảm giác về tính toán thời gian và sự kết hợp giữa tâm trí và cơ thể Howard Gardner thấy rằng có sự liên hệ giữa hoạt động của trí óc và hoạt động thể chất Trẻ em sở hữu kiểu thông minh này biết cách phối hợp cơ bắp tốt, nhạy bén trong việc điều khiển cơ thể để có hành động và phản ứng trước những tình huống tự nhiên

Ví dụ:

+ Trẻ tham gia thể thao hoặc tham gia biểu diễn múa thể dục, võ hoặc những môn tương tự

+ Trẻ có xu hướng tự tay thực hiện những việc thủ công lắp ráp

+ Trẻ không ngại nhảy trước đám đông

+ Trẻ thích những trò chơi mạo hiểm tại các hội chợ, trung tâm vui chơi giải trí

+ Trẻ sử dụng các cử chỉ tay chân và cơ thể để diễn đạt suy nghĩ của mình

+ Trẻ thích chơi những trò chơi nghịch ngợm và phá bĩnh với bạn khác

Thứ năm là thông minh không gian

Là khả năng nghĩ “ba chiều” bao gồm trí tưởng tượng, suy luận trong không gian, vận dung hình ảnh, các kỹ năng đồ họa và nghệ thuật Thông minh về tri giác không gian liên quan đến suy nghĩ bằng hình ảnh hình tượng

và khả năng cảm nhận, chuyển đổi và tái tạo lại những góc độ khác nhau của thế giới không gian trực quan Những trẻ sở hữu loại trí thông minh về không gian ở mức độ cao thường có một độ nhạy cảm sắc bén với những chi tiết cụ

Trang 16

thể trực quan và có thể hình dung được một cách sống động, vẽ ra hay phác họa những ý tưởng của trẻ dưới dạng hình ảnh, đồ họa cũng như họ có khả năng tự định hướng bản thân trong không gian ba chiều cách dễ dàng Thế giới của các em luôn đầy màu sắc qua những trò chơi ghép hình, xếp hình khối, các trò chơi mê cung hoặc vẽ tranh, nặn tượng

Ví dụ:

+ Trẻ thường vẽ vời khi chép hoặc suy nghĩ

+ Trẻ thích chơi các game về hình ảnh như ghép hình và mê cung + Trẻ khá thành thạo trong việc tháo rời từng bộ phận ra và ráp lại + Trẻ thích đọc chuyện, tài liệu có hình ảnh minh họa

Thứ sáu là thông minh giao tiếp

Là khả năng hiểu và tương tác hiệu quả với người khác bao gồm khả năng giao tiếp hiệu quả bằng lời và không bằng lời, khả năng nhận biết sự độc đáo của mỗi người và nhạy cảm với tâm trạng của người khác Trẻ có năng khiếu này biết tiếp xúc, giao lưu, thông cảm, an ủi, chia sẻ, tạo cảm hứng, thấu hiểu và dẫn dụ người khác rất dễ dàng

Ví dụ:

+ Thảo luận nhóm trong các giờ học

+ Trẻ thích làm việc với những người khác trong một nhóm

+ Trẻ là một người thích giao tiếp, thích tham dự một bữa tiệc hơn là ở nhà xem ti vi một mình

+ Trẻ có nhiều người bạn thân

+ Trẻ giao tiếp tốt với nhiều người và có thể hòa giải được những mối tranh chấp

Thứ bảy là thông minh đạo đức

Là khả năng hiểu được bản thân một cách sâu sắc cũng như những suy nghĩ và cảm xúc của chính mình và sử dụng những hiểu biết đó trong việc lập

Trang 17

kế hoạch và định hướng cuộc sống Trí thông minh đạo đức còn được thể hiện

ở sự yêu thương, kính trọng, chan hòa của trẻ với mọi người, trẻ luôn biết yêu quý, lễ phép với mọi người và sự vật hiện tượng xung quanh trẻ Mặt khác, trẻ

có thể là người có tính độc lập mạnh mẽ, tính thẳng thắn cao độ và cực kỳ tự giác, có kỷ luật

Ví dụ:

+ Trẻ thường dành những thời gian yên tĩnh suy nghĩ những vấn đề quan trọng trong cuộc sống của mình

+ Trẻ thường đặt mục tiêu cho mình bạn biết mình sẽ đi đâu

+ Trẻ là là một người suy nghĩ độc lập, hiểu những suy nghĩ trong đầu mình và tự đưa ra các quyết định cho bản thân

+ Trẻ luôn nhìn mọi thứ theo hướng tích cực, vui vẻ

+ Trẻ hiểu một cách thực tế những điểm mạnh và điểm yếu của mình

Thứ tám là thông minh về thiên nhiên

Là thiên hướng thích khám phá, tìm hiểu về đời sống của các loài trong

tự nhiên và tỏ ra nhạy cảm với những thay đổi của các hiện tượng tự nhiên diễn ra xung quanh mình Trẻ có năng khiếu về thiên nhiên rất nhạy bén với những thay đổi về thời tiết hoặc phân biệt thành thạo trạng thái, sắc thái khác nhau của một số lượng lớn vật thể giống nhau Để rèn luyện kiểu thông minh này, hãy tạo mọi cơ hội để trẻ gần gũi với thiên nhiên, picnic, dã ngoại, tham gia các nhiệm vụ bảo vệ môi trường sống, chăm sóc vườn cây

Những người có trí thông minh về thiên nhiên luôn hòa hợp với thiên nhiên và thích thú với sự nuôi trồng, khám phá thiên nhiên, tìm hiểu về các sinh vật

Ví dụ:

+ Trẻ thích nuôi thú trong nhà

+ Trẻ có thể nhận ra và nhớ tên nhiều loại cây và hoa khác nhau

Trang 18

+ Trẻ quan tâm tới sự thay đổi của thời tiết, sự vật hiện tượng, cây cối hoa lá xung quanh trẻ

+ Trẻ thích chăm sóc cây cảnh, vườn tược

+ Trẻ am hiểu và có hướng thú đối với những vấn đề về môi trường toàn cầu

1.1.2 Đặc điểm của trẻ 5 - 6 tuổi

1.1.2.1 Đặc điểm tâm lý của trẻ 5 - 6 tuổi

Độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở tuổi mầm non, tức là lứa tuổi trước khi đến trường phổ thông Ở giai đoạn này, những quá trình tâm lý đặc trưng của trẻ trong độ tuổi mẫu giáo lớn vẫn tiếp tục phát

triển mạnh Tâm lý của trẻ phát triển theo các hướng sau:

Sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày

Lứa tuổi mẫu giáo là thời kỳ bộc lộ tính nhạy cảm cao đối với các hiện tượng ngôn ngữ, điều đó khiến cho ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ khá nhanh và đến cuối tuổi mẫu giáo thì hầu hết biết sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày một cách thành thục Sự phát triển đó là điều kiện để trẻ phát triển trí thông minh ngôn ngữ ở trẻ mầm non: trẻ biết mô tả, diễn đạt những hiểu biết, mong muốn của bản thân, kể chuyện, đọc thơ

Sự hoàn thiện tiếng mẹ đẻ ở mẫu giáo lớn theo các hướng sau:

- Về mặt ngữ âm: Ở cuối tuổi mẫu giáo do sự tiếp xúc ngôn ngữ được

mở rộng trong những năm trước đây, tai âm vị được rèn luyện thường xuyên

để tiếp nhận các ngữ âm khi người lớn nói, mặt khác các cơ quan phát âm đã trưởng thành tới mức trẻ phát âm tương đối chuẩn kể cả những âm khó của tiếng mẹ đẻ (như: uềnh oàng, khúc khuỷu…) khi nói năng, trí thông minh ngôn ngữ và thông minh giao tiếp ở trẻ đang dần được hoàn thiện

- Về ngữ điệu: Trẻ đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếp hay nội dung của câu chuyện mà trẻ kể, điều đó nói lên rằng trí

Trang 19

thông minh ngôn ngữ và thông minh giao tiếp đang được phát triển: biết kể chuyện, đọc thơ một cách diễn cảm, thể hiện sắc thái tình cảm khi kể chuyện Trẻ thường nói những lời nói nhẹ nhàng cùng những cử chỉ âu yếm, vỗ về để thể hiện tình cảm yêu thương trìu mến Ngược lại, khi giận dữ trẻ lại thường dùng những cử chỉ thô và mạnh Khả năng này được thể hiện khá rõ khi trẻ kể những câu chuyện mà trẻ thích cho người khác nghe

- Về vốn từ và cơ cấu ngữ pháp

Trẻ 5 - 6 tuổi vốn từ của trẻ tăng bình quân 1.033 từ, đây cũng là giai đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ Trẻ nắm được vốn từ trong tiếng mẹ đẻ đủ để diễn đạt trong sinh hoạt hàng ngày, bên cạnh

đó trẻ còn nắm được các kỹ năng kết hợp các từ trong câu theo nguyên tắc ngữ pháp Tuy nhiên, việc này còn phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện môi trường sống và hiệu quả của quá trình giáo dục đối với trẻ

Trẻ 5 - 6 tuổi số lượng câu đơn, câu ghép và các kiểu câu ghép trong lời nói đang tăng lên Đặc biệt là khi kể lại chuyện, số lượng câu đơn mở rộng chiếm tới 85%, khi kể lại chuyện sáng tạo thì trẻ sử dụng câu ghép với tỉ lệ cao nhất (25,2%)

Sự lĩnh hội ngôn ngữ, còn được quyết định bởi tính tích cực của bản thân đứa trẻ đối với ngôn ngữ Những đứa trẻ mà thích giao tiếp, tích cực tìm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ (tức là ngôn ngữ đã trở thành đối tượng của ý thức) thì không những hiểu được từ ngữ và nắm ngữ pháp một cách rõ ràng,

mà còn “sáng tạo” ra những từ ngữ những cách nói mà chưa hề có trong ngôn ngữ của người lớn Sự phát triển đó cho chúng ta thấy được rằng, trí thông minh ngôn ngữ và thông minh giao tiếp của trẻ đang phát triển, như trường hợp của bé Thúy Giang Thúy Giang đã làm bài thơ đầu tiên vào lúc gần 6 tuổi:

Trang 20

Cái vườn nho nhỏ

Cô giáo đến chơi

Cô đưa võng nhỏ

Ru chú mặt trời

- Sự phát triển của ngôn ngữ mạch lạc

Ngôn ngữ mạch lạc của trẻ phát triển tương đối cao không chỉ về phương diện ngôn ngữ mà cả phương diện tư duy nữa Trước đây, trẻ sử dụng ngôn ngữ tình huống là chủ yếu, khi giao tiếp với người xung quanh trẻ sử dụng nhiều yếu tố trong tình huống để hỗ trợ cho ngôn từ của mình Một kiểu ngôn ngữ khác cũng đang phát triển trong độ tuổi mẫu giáo lớn đó là kiểu ngôn ngữ giải thích Kiểu ngôn ngữ mạch lạc có ý nghĩa rất quan trọng đối với viêc hình thành những mối quan hệ qua lại trong nhóm trẻ và với những người xung quanh, đặc biệt là với sự phát triển các năng lực trí tuệ của trẻ và

nó được thể hiện rõ nét nhất ở đó là thông minh giao tiếp của trẻ

Sự xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý

Đến cuối tuổi mẫu giáo trẻ hiểu được mình là người như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh mình đối xử với mình ra sao và tại sao mình lại có những hành động này hay hành động khác Trẻ nắm được những kỹ năng so sánh mình với người khác, điều này là cơ sở tự đánh giá mình một cách đúng đắn hơn và cũng là cơ sở để trẻ noi gương người tốt, việc tốt

Tới lứa tuổi mẫu giáo lớn, sự tập trung chú ý đã bền vững hơn Điều đó thể hiện qua thời gian chơi và “tiết học” được kéo dài hơn, đặc biệt là khi trẻ xem tranh Thời gian xem tranh có thể gấp đôi so với độ tuổi mẫu giáo bé, trẻ

5 - 6 tuổi đã có thể hiểu tranh vẽ hơn, tách biệt được tranh vẽ về nhiều mặt và chi tiết lý thú với mình hơn Ở giai đoạn này, ghi nhớ của trẻ cũng có tính chủ định nhiều hơn do sử dụng một số phương thức như nhắc lại hay liên hệ lại

Trang 21

các sự kiện với nhau do người lớn gợi ý cho Tuy nhiên, cho tới cuối tuổi mẫu giáo lớn, các quá trình tâm lý không chủ định vẫn chiếm ưu thế trong hoạt động tâm lý của trẻ, ngay cả trong hoạt động trí tuệ Cũng ở độ tuổi này bên cạnh trò chơi đóng vai theo chủ đề còn xuất hiện khá nhiều trò chơi có luật, hành động tâm lý bên trong được biến đổi rõ rệt, từ quá trình tâm lý không chủ định chuyển sang quá trình tâm lý có chủ định như: tri giác có chủ định, chú ý có chủ định, ghi nhớ có chủ định

Như vậy, sự xuất hiện của sự tự ý thức và tính chủ định trong tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn là điều rất quan trọng, khiến cho nhân cách của trẻ được khẳng định và phát huy được ở trẻ các năng lực trí thông minh ngôn ngữ và thông minh giao tiếp một cách toàn diện

1.1.2.2 Đặc điểm sinh lý của trẻ 5 - 6 tuổi

Hệ tuần hoàn: Tim của trẻ có tốc độ phát triển khá nhanh Ở độ tuổi này, tim của trẻ có trọng lượng nặng gấp 5 lần so với các lứa tuổi trước, nhưng vẫn còn khá nhanh so với người lớn

Thành phần máu của trẻ 5 - 6 tuổi cũng tăng lên và biến đổi về chất, huyết sắc tố 80 - 90 %, hồng cầu 4,5 - 5 triệu đơn vị, bạch cầu 7 - 10 nghìn, tiểu cầu 200 - 300 nghìn

Hệ thần kinh: Sự hoạt động của trẻ 5 - 6 tuổi là thời kì phát triển nhanh, rõ nhất trong cả đời người Kết cấu thần kinh của não có xu thế sớm trưởng thành, song ở lứa tuổi này do khả năng hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh chưa ổn định nên nếu trẻ làm gì đơn thuần và kéo dài và đơn thuần sẽ bị mệt mỏi

Hệ hô hấp: Hệ hô hấp của trẻ đã phát triển, tuy nhiên chưa đầy đủ như

ở người lớn Vì vậy, trẻ phải hít thở nhiều hơn để nhận đủ lượng cần ôxy cần thiết Càng nhỏ, nhịp thở càng nhanh và nông (khoảng 20 - 25 lần trên 1 phút)

Trang 22

Như vậy, ở thời kì này các cơ quan và hệ cơ quan của trẻ phát triển mạnh nên người lớn cần cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng, rèn luyện cơ thể trẻ giúp cho các cơ quan và hệ cơ quan phát triển Đây chính là điều kiện giúp trẻ phát huy các trí thông minh thể chất và thông minh không gian, qua trí thông minh này trẻ có thể: chạy, nhảy, vẽ… và khám phá chủ đề Thực vật xung quanh trẻ một cách toàn diện thông qua các loại hình trí thông minh

1.1.2.3 Đặc điểm về sự phát triển trí tuệ của trẻ 5 - 6 tuổi

Tư duy trực quan sơ đồ đã tạo ra cho trẻ một khả năng phản ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan mà không phụ thuộc vào hành động hay ý muốn chủ quan của bản thân đứa trẻ Sự phản ánh những mối liên hệ khách quan là điều kiện cần thiết để lĩnh hội những tri thức vượt ra ngoài khuôn khổ của việc tìm hiểu những sự vật riêng lẻ, với những thuộc tính sinh động của chúng để đạt tới tri thức khái quát

Tư duy trực quan sơ đồ vẫn giữ tính chất hình tượng, song bản thân hình tượng cũng trở nên khác trước, hình tượng đã bị mất đi các chi tiết rườm

rà mà chỉ còn giữ lại các yếu tố chủ yếu giúp trẻ phản ánh một cách khái quát, chứ không phải là từng sự vật riêng lẻ

Độ tuổi mẫu giáo lớn còn xuất hiện kiểu tư duy lôgic, điều này giúp trẻ hiểu rằng có thể biểu thị một sự vật hay một hiện tượng nào đó bằng từ ngữ hay các kí hiệu khi giải những bài toán tư duy độc lập

Một số nghiên cứu cho thấy rằng, trẻ mẫu giáo lớn cũng có thể lĩnh hội được một số khái niệm đơn giản trong điều kiện được dạy dỗ đặc biệt, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi Điều đó giúp trẻ thay đổi khá nhiều trong tư duy của chúng, biểu hiện nảy sinh những yếu tố tư duy lôgic, tất nhiên là phải có

sự dạy dỗ đặc biệt

Ở độ tuổi này trẻ đã lĩnh hội được các chuẩn về âm thanh và màu sắc,

tư duy hình tượng cần thiết cho mọi hoạt động sáng tạo, ngay cả trong nghiên cứu của các nhà khoa học, chúng ta cần phải phát triển tư duy hình tượng

Trang 23

ngay cả đối với trẻ mẫu giáo lớn Thông qua các trò chơi, qua “tiết học”, trong sinh hoạt hàng ngày hay tham quan giáo viên cần gợi mở, khuyến khích để trẻ phát triển quan sát, tập phân tích, so sánh, khái quát tổ chức cho trẻ trực tiếp quan sát, tự mình phân tích, so sánh, khái quát và đánh giá từ đó phát triển các thao tác của trí tuệ, các quá trình của tư duy Bên cạnh đó, cần quan tâm tới tư duy trừu tượng của trẻ, chỉ cần sử dụng để giới thiệu với trẻ một số khái niệm đơn giản (hay tiền khái niệm) cần thiết cho việc làm quen với thế giới xung quanh Đồng thời, cần phát huy được ở trẻ các dạng trí thông minh một cách toàn diện Cần tránh cho trẻ quá sớm đi vào tư duy lôgic theo kiểu người lớn,

“khôn trước tuổi”, điều đó sẽ làm mất đi tính ngây thơ hồn nhiên và tính mềm dẻo của các loại hình trí tuệ

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học chủ đề Thực vật theo thuyết đa trí tuệ cho trẻ 5 - 6 tuổi

1.2.1 Đặc điểm của chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi trong chương trình Giáo dục Mầm non hiện hành

Tính thực tiễn

Đối với trẻ thơ, chủ đề Thực vật thật gần gũi thân quen và đáng yêu như những người bạn xung quanh trẻ vậy Các trẻ đều yêu thích cỏ cây hoa trái thiên nhiên xung quanh trẻ, vì nó xuất hiện thường xuyên và có trong bữa

ăn, trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, trong hoạt động học tập vui chơi, thăm quan, trong các câu chuyện kể, bài thơ… của trẻ Chủ đề thế giới Thực vật vô cùng phong phú và hấp dẫn, muôn màu muôn vẻ và luôn gợi lên cho trẻ những thắc mắc: Đây là cái gì? Tại sao lá cây lại có màu xanh? Cây có tác dụng gì? Tổ chức cho trẻ làm quen với thế giới thực vật giúp trẻ trả lời cho các câu hỏi đó

Tính tích hợp

Ở trường mầm non, trẻ được tìm hiểu và khám phá chủ đề Thực vật thông qua nhiều hình thức như: Tiết học (hoạt động chung), hoạt động vui

Trang 24

chơi, thăm quan, lao động trong thiên nhiên, trong hoạt động hàng ngày…Trong đó, tiết học là hình thức cơ bản để trẻ khám phá chủ đề Thực vật một cách có hệ thống sâu sắc và toàn diện Trẻ làm quen với chủ đề Thực vật ở độ tuổi 5 - 6 chủ yếu được thông qua giờ học cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh, đồng thời nó còn được tích hợp với các giờ học khác như: tạo hình, giáo dục âm nhạc, làm quen với văn học, làm quen với biểu tượng toán, thể chất, với các hình thức khác nhau như: thăm quan, dạo chơi, hoạt động ngoài trời, giờ ăn… Khám phá thế giới chủ đề Thực vật được tiến hành dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu và hứng thú của trẻ theo phương châm “chơi mà học, học mà chơi” thông qua các trò chơi học tập, trò chơi xây dựng và trò chơi vận động trẻ khám phá ra thế giới thực vật ở xung quanh trẻ, khám phá ra chức năng và tính chất của chúng Trong các trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ khám phá được các mối quan hệ giữa con người với thế giới thực vật, giữa thế giới thực vật với nhau, trẻ học cách giao tiếp, thể hiện tình cảm và thái độ với thế giới thực vật Ngoài ra, học qua vui chơi là phương thức học tập hiệu quả và phù hợp để trẻ có cơ hội tiếp cận và lĩnh hội tri thức, nâng cao chất lượng học tập

Như vậy, chủ đề Thực vật vừa là môi trường sống, điều kiện sống, vừa

là đối tượng nghiên cứu của trẻ, đồng thời là phương tiện để học và nghiên cứu vui chơi

1.2.2 Mục tiêu của chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi trong chương trình Giáo dục Mầm non hiện hành

Trang 25

+ Biết ích lợi của một số thực phẩm nguồn gốc thực vật với sức khỏe của bản thân

+ Hình thành một số thói quen tốt trong sinh hoạt hàng ngày, có hành vi

vệ sinh trong ăn uống (ăn quả được rửa sạch, gọt vỏ, thức ăn chín, đã được chế biến )

+ Trẻ biết ăn uống đủ chất và chăm chỉ tập thể dục để cơ thể khỏe mạnh

và cân đối

1.2.2.2 Phát triển nhận thức

+ Quan sát, hiểu và giải thích được quá trình phát triển của cây, biết phán đoán một số mối quan hệ đơn giản giữa sự phát triển cây cối với môi trường sống của cây (đất, nước, không khí, ánh sáng)

+ Tiếp tục dạy trẻ biết phân tích, so sánh, nhận xét đặc điểm giống nhau

và khác nhau của các loại cây, hoa, quả (khuyến khích trẻ tìm tòi, phát hiện ra những đặc điểm mới, chi tiết mới)

+ Biết được ích lợi của cây cối, thiên nhiên và môi trường với đời sống con người

+ Biết so sánh phân biệt một số đặc điểm giống nhau và khác nhau của một số cây, hoa, quả Biết cách phân loại một số cây loại rau: ăn lá, ăn củ, ăn quả theo 2 - 3 dấu hiệu theo loài, nơi sống hoặc theo lợi ích của cây và giải thích tại sao (tìm ra dấu hiệu chung của nhóm)

+ Khuyến khích trẻ tìm tòi và phát hiện ra những loại cây mới

+ Tiếp tục dạy trẻ nhận biết, gọi tên, nêu đặc điểm (về cấu tạo, màu sắc, hình dáng, môi trường sống…) của một số loại cây, hoa, quả phổ biến

+ Nhận biết được số lượng, chữ số và số thứ tự trong phạm vi 8 Tách, gộp các đối tượng trong phạm vi 8 Biết đo độ dài (chiều cao) bằng một đơn

vị đo nào đó

Trang 26

+ Phân biệt được đặc điểm khối hình chữ nhật, khối trụ, khối vuông Phân loại hình khối theo 2 - 3 dấu hiệu và tìm ra dấu hiệu chung

1.2.2.3 Phát triển ngôn ngữ

+ Biết sử dụng vốn từ của mình để mô tả những điều trẻ quan sát được

về các cây cối trong thiên nhiên, vườn trường

+ Biết trả lời các câu hỏi về nguyên nhân tại sao, vì sao

+ Nhận biết được một số chữ cái và phát âm được những âm của chữ cái trong cách chỉ tên các loại cây, hoa, củ, quả

1.2.3 Nội dung chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi theo quan điểm của Lê Thu Hương

- Một số cây lương thực

+ Tên gọi

+ Phân biệt các loại cây lương thực khác nhau

+ Cách chăm sóc và điều kiện sống của cây

+ Lợi ích của cây với sinh hoạt của con người (sản phẩm, môi trường) + Các món ăn: cơm, bánh các loại làm từ bột (gạo, khoai, sắn, ngô ) + Cách bảo quản, sử dụng các loại lương thực

- Một số loại cây

Trang 27

+ Phong tục tập quán, các món ăn ngày Tết

+ Những đặc điểm giống và khác nhau của thời tiết Mùa xuân với các mùa khác

- Một số loài hoa

+ Tên gọi các loại hoa

+ Phân biệt, so sánh và tìm ra những đặc điểm nổi bật của các loại hoa + Cách chăm sóc và môi trường sống của các loài hoa

+ Lợi ích

+ Cách bảo quản

- Một số loại rau - quả

+ Tên gọi các loại rau, các loại quả

+ Phân biệt những đặc điểm giống và khác nhau qua đặc điểm của các loại rau: rau ăn lá, rau ăn củ, rau ăn quả

+ Sự phát triển của cây và mối quan hệ với môi trường sống, cách chăm sóc và bảo vệ cây

+ Lợi ích của các loại rau, quả với sức khỏe con người

+ Các cách chế biến món ăn từ rau: ăn sống, nấu chín, trần, tái

+ Cách bảo quản: đồ tươi, đóng hộp, để lạnh

Trang 28

+ An toàn khi sử dụng một số loại quả

1.2.4 Đặc trưng về phương pháp của chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi theo chương trình Giáo dục Mầm non hiện hành

Chủ đề Thực vật rất gần gũi, đa dạng, luôn luôn kích thích tính tò mò,

sự hiểu biết và óc tưởng tượng, sáng tạo của bản thân trẻ Ngoài ra, chủ đề Thực vật còn là phương tiện để giáo dục phát triển toàn diện cho trẻ

Thực tế hiện nay ở hầu hết các trường mầm non việc tổ chức khám phá chủ đề Thực vật ở trẻ 5 - 6 tuổi vẫn chưa phát huy được hết các mặt của trẻ Trong các trường mầm non vẫn còn tồn tại kiểu dạy học “bảo gì nghe thế” và trong giờ học giáo viên vẫn là “nhận vật trung tâm”, giáo viên vẫn chú trọng

sử dụng phương pháp dạy học truyền thống là đàm thoại, quan sát, chưa áp dụng rộng rãi các phương pháp dạy học hiện đại Vì thế, giáo viên luôn là người phải có ý thức trong việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức cho trẻ khám phá chủ đề Thực vật theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức cho trẻ

Trong quá trình giảng dạy, hầu hết giáo viên luôn là người chủ động thực hiện, trẻ thụ động tiếp thu các kiến thức, ít cho trẻ tự tìm hiểu và tự trải nghiệm, trẻ dễ bị phân tâm bởi các hoạt động khác Những điều đó làm cho đứa trẻ không phát huy được những tiềm năng, tính sáng tạo của bản thân trẻ Qua đó, giáo viên cần phải tích cực cho trẻ tìm hiểu và trải nghiệm về chủ đề Thực vật xung quanh trẻ: thường xuyên tổ chức các buổi dã ngoại, hoạt động ngoài trời… giúp trẻ chuẩn bị hòa nhập vào cuộc sống, thêm yêu thích cái đẹp

và sự phong phú đa dạng của chủ đề Thực vật Việc sử dụng các phương tiện thiết bị dạy học còn chưa mang lại hiệu quả, điều này có thể là do trình độ của giáo viên còn thấp hay do điều kiện cơ sở vật chất của trường, lớp còn yếu kém Vì vậy, khi lựa chọn đồ dùng dạy học cho trẻ làm quen với chủ đề Thực vật giáo viên cần tận dụng các phương tiện có sẵn trong môi trường tự nhiên,

Trang 29

gần gũi với trẻ, đảm bảo yêu cầu về nhận thức và ngoài ra cần sử dụng các phương tiện hiện đại để thu hút sự tập trung chú ý của trẻ và phát huy được trí

thông minh của trẻ một cách toàn diện

1.2.5 Những định hướng xây dựng nội dung chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi theo thuyết đa trí tuệ

Trong học thuyết của mình, Howard Gardner đã thiết lập được các yêu cầu cần thiết đặc trưng mà mỗi loại trí thông minh phải đạt được để có đủ điều kiện xác định đó là một loại trí thông minh Sau đây là 4 trong số các tiêu chuẩn ấy:

Đặc điểm 1: Mỗi trí thông minh có khả năng được biểu tượng hóa Thuyết đa trí tuệ đã đưa ra một khía cạnh về khái niệm trí thông minh, cho rằng khả năng biểu tượng hóa trong tư duy con người hay khả năng diễn đạt những ý tưởng, kinh nghiệm thông qua sự miêu tả các hình ảnh, con số và các

từ ngữ, là dấu hiệu để xác nhận đó là trí thông minh của con người Những nhà soạn nhạc hoặc nhạc sĩ thường hay sử dụng các nốt nhạc trầm bổng, để biểu tượng hóa các giai điệu và tiết tấu của họ Ngoài ra, cũng còn các ký hiệu mang tính xã hội, chẳng hạn như cái vẫy tay, chào tạm biệt và những ký hiệu của cái tôi

Đối với trẻ mầm non, khả năng biểu tượng hóa cũng được thể hiện một cách rõ nét, trẻ 5 - 6 tuổi khi nhìn sự vật, cỏ cây hoa lá trẻ có thể biết được sự phong phú, đa dạng của chúng, biết được sự thay đổi, sự phát triển và các mối liên hệ, quan hệ đơn giản giữa các sự vật hiện tượng Đồng thời, trẻ biết sử dụng ngôn ngữ mạch lạc của mình để thể hiện kết quả khám phá, trao đổi, giải thích về chủ đề thế giới Thực vật

Đặc điểm 2: Mỗi trí thông minh đều có một lịch sử của riêng nó Trí thông minh không phải là một điều gì lạ thường có tính tuyệt đối như những người trung thành với quan niệm về trí thông minh theo kiểu chỉ số IQ Theo

Trang 30

thuyết đa trí tuệ, mỗi loại trí thông minh biểu hiện ra vào một bước thời điểm xác định trong thời thơ ấu, chúng đều có một chu kỳ bộc lộ và phát triển tiềm năng rực rỡ trong chiều dài cuộc đời, và bao gồm cả việc mỗi loại có một hình mẫu duy nhất về quá trình suy giảm nhanh chóng hay từ từ khi một người bị già đi Nhà soạn nhạc vĩ đại Mozart đã sáng tạo ra những âm điệu đơn giản từ khi lên 3 tuổi và viết được những bản giao hưởng vào năm 9 tuổi Tương tự như vậy, mỗi loại trí thông minh có một mô hình tăng trưởng, phát triển và suy giảm theo cách riêng của mình trong vòng đời của con người Một đứa trẻ khi mới sinh ra sẽ không biết nói, sau đó nó sẽ đến giai đoạn nói bi bô một vài tiếng, rồi đứa trẻ đến trường nói được những từ đơn giản rồi câu hoàn chỉnh, đến 4 - 5 tuổi đứa trẻ có thể sáng tác được một số bài thơ, kể chuyện sáng tạo theo ý thích của trẻ Như vậy, trí thông minh của trẻ đều có lịch sử và biểu hiện vào một thời điểm nhất định, bộc lộ theo một chu kỳ

Đặc điểm 3: Mỗi trí thông minh đều sẽ tổn thương và biến mất khi có các tác động xâm phạm và gây hại đến những vùng đặc trưng riêng biệt của

nó trong bộ não người Thuyết đa trí tuệ tiên đoán rằng trong thực tế trí thông minh có thể bị cô lập khi bộ não bị tổn thương Đối với lứa tuổi mầm non, mỗi đứa trẻ cần được chăm sóc và bảo vệ tuyệt đối về mọi mặt, một đứa trẻ đang phát triển bình thường bị thương tích ở thùy trước trán trong bán cầu não trái thì đứa trẻ này sẽ không thể nói và viết bình thường được, nhưng vẫn có thể hát, nhảy múa và vẽ bình thường được Như vậy, trong trường mầm non mỗi đứa trẻ cần được chăm sóc, tránh những tổn thương về tinh thần, thể xác

vì những tổn thương đó sẽ làm mất hay suy giảm đi những loại hình trí thông minh của trẻ

Đặc điểm 4: Mỗi loại trí thông minh có những nền tảng giá trị văn hóa riêng của nó Thuyết đa trí tuệ cho rằng, những biểu lộ của trí thông minh được đánh giá một cách tốt nhất bằng việc nhìn vào những khả năng đóng góp

Trang 31

cao nhất của nó đối với xã hội, chứ không phải là việc giành được kết quả tốt hay không trong các cuộc kiểm tra Thuyết đa trí tuệ cho rằng cách tốt nhất để chúng ta có thể học được những điều thông minh là nghiên cứu, học tập những ví dụ về các công trình văn hóa có ích nhất cho xã hội chúng ta

Bổ sung thêm vào các đặc điểm nội dung trên, thuyết còn đưa ra ý kiến

là mỗi loại thông minh có một quá trình xử lý nhận thức riêng biệt của mình trong các hoạt động của trí nhớ, sự tập trung, tri giác và cách giải quyết vấn

đề Ví dụ trong trường mầm non đứa trẻ không thể nhớ các giai điệu, nhưng lại nhớ hình ảnh gương mặt và con số

Hiểu được những đặc điểm, yêu cầu của thuyết đa trí tuệ Bản thân tôi mạnh dạn đưa ra những định hướng xây dựng nội dung chủ đề Thực vật theo thuyết đa trí tuệ như sau:

- Hoạt động vui chơi, học tập và các nhiệm vụ lao động phù hợp với trẻ được lồng ghép với các hình thức khác nhau, để triển khai khám phá về chủ

đề Thực vật một cách tốt nhất, nhằm phát huy các năng lực trí tuệ ở trẻ Xây dựng các mảng nội dung của chủ đề phải xuất phát từ sự hình thành thuộc tính tâm lý, những kỹ năng sống phù hợp và đồng thời nhằm phát triển toàn diện nhân cách của trẻ trên các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, xã hội

và thẩm mĩ và giúp trẻ có khả năng biểu đạt tri thức của mình theo tám loại hình thông minh khác nhau và học theo cách tốt nhất như thế nào?

- Nội dung chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi được thiết kế theo các chủ

đề trọng tâm, xuất phát từ bản thân trẻ, mối quan hệ qua lại giữa trẻ với chủ

đề Thực vật xung quanh, quen thuộc, gần gũi, phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ và có tác động nhằm phát huy các năng lực trí tuệ nổi trội của trẻ thông qua thuyết đa trí tuệ

- Cho phép giáo viên linh hoạt trong việc xác định, lựa chọn và tổ chức các phương pháp dạy học và kỹ năng sử dụng tài liệu, các thiết bị dạy học

Trang 32

phong phú hơn, đa dạng hơn Giáo viên trong lớp học sử dụng thuyết đa trí tuệ khác với trong lớp học truyền thống, trong lớp học sử dụng thuyết đa trí tuệ giáo viên phải linh hoạt thay đổi phương pháp và khéo léo chuyển từ lối dạy ngôn ngữ sang lối dạy không gian rồi lối dạy âm nhạc, hay vận động, giao tiếp… Giáo viên cần lồng ghép, đan cài các hoạt động, chuyển tải nội dung

về chủ đề Thực vật đến trẻ một cách đồng bộ và thống nhất nhằm phát huy được các loại hình năng lực trí tuệ của trẻ

- Khuyến khích giáo viên áp dụng, phối hợp các phương pháp giáo dục dạy và học khác nhau một cách sáng tạo, việc tổ chức dạy học bằng áp dụng linh hoạt tổng hợp các phương pháp kỹ thuật dạy học tích cực mà Bộ giáo dục

và Đào tạo đang tích cực triển khai gần đây như đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, bản đồ tư duy…sẽ tạo ra môi trường học tập đa trí tuệ rất hiệu quả Xây dựng các góc hoạt động chủ đề Thực vật khoa học phù hợp, trên cơ

sở để tích cực hóa hoạt động tư duy của trẻ thông qua các trò chơi, trải nghiệm, thí nghiệm, quan sát, gợi suy nghĩ phát hiện vấn đề bằng các câu hỏi

mở, động não thể hiện qua các hoạt động âm nhạc tạo hình, khuyến khích trẻ biểu đạt những suy nghĩ và giải quyết vấn đề bằng lời nói và phát triển nhân cách trẻ một cách toàn diện Qua đó, giáo viên cần coi trọng sự đa dạng về trí tuệ ở mỗi trẻ, mỗi loại trí tuệ đều quan trọng và mỗi trẻ đều có ít nhiều khả năng theo nhiều khuynh hướng khác nhau Nhà trường, cô giáo, cha mẹ phải

là nơi giúp đỡ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo các khuynh hướng khác nhau cho các chủ nhân tương lại của đất nước

- Giáo viên cần dự kiến các hoạt động dạy - học Xuất phát từ đặc điểm của quá trình nhận thức và tâm lý của trẻ: thời gian tập trung ngắn, hứng thú của trẻ còn chưa bền vững nên khi cho trẻ làm quen với chủ đề thế giới Thực vật, cần tạo nhiều hoạt động khác nhau để kích thích sự tập trung chú ý, duy trì hứng thú của trẻ, qua đó phát huy các năng lực trí tuệ của trẻ trong giờ học

Trang 33

thông qua thuyết đa trí tuệ Giáo viên cần tạo ra các điều kiện, cơ hội và tổ chức các hoạt động để cho trẻ tích cực tìm tòi, phát hiện những điều thú vị về thế giới Thực vật, tạo ra các tình huống và tổ chức các hoạt động cho trẻ tiếp xúc, trải nghiệm với các sự vật hiện tượng của môi trường, thông qua đó trẻ hiểu biết về đặc điểm, thuộc tính của sự vật, các mối quan hệ qua lại, sự thay đổi và phát triển của chúng xung quanh trẻ

Trang 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Đã có rất nhiều tranh luận khác nhau về loại hình trí thông minh, nhưng chúng tôi đồng ý với quan niệm của Howard Gardner: Là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm, mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa

Chủ đề Thực vật rất thích hợp và có tiềm năng trong việc vận dụng thuyết đa trí tuệ cho trẻ, bởi lẽ bản thân chủ đề có những mục tiêu và nội dung

cụ thể giúp giáo viên dễ dàng đưa ra các nội dung thuyết đa trí tuệ và lựa chọn chính xác các phương pháp để dạy học chủ đề Thực vật theo thuyết đa trí tuệ cho trẻ Từ đó, giáo viên đưa ra các biện pháp để việc vận dụng thuyết đa trí tuệ trong chủ đề Thực vật được toàn diện

Tuy nhiên, trong thực tế giáo viên không có kỹ năng, chưa có các phương pháp để vận dụng thuyết đa trí tuệ cho trẻ Vì số lượng trẻ trong một lớp quá đông, cơ sở vật chất chưa đầy đủ, kinh nghiệm chuyên môn của giáo viên còn hạn chế Bên cạnh đó, do đặc điểm tâm - sinh lý của trẻ lứa tuổi 5 - 6 tuổi nên trẻ chưa có những phương pháp dạy hợp lý Như vậy, việc vận dụng thuyết đa trí tuệ trong dạy học chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế

Ngày đăng: 13/04/2018, 16:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w