Nhằm thực hiện mục đích đã nêu, phạm vi nghiên cứu của Báo cáobao gồm: - Xem xét một cách đồng bộ các mặt được và chưa được trong khuônkhổ chính sách về trợ giúp pháp lý và các nội dung
Trang 1Trợ giúp pháp lý ở Việt Nam Thực trạng và định hướng hoàn thiện
Trang 2Tham gia biên soạn
TS Ngô Đức Mạnh (Trưởng Nhóm nghiên cứu)
TS Lương Minh Tuân
CN Hoàng Minh Hiếu
Trang 3CáC Từ VIếT TắT
AUSAID Tổ chức hỗ trợ phát triển quốc tế của Chính phủ
AustraliaCIDA Tổ chức hợp tác và phát triển Canada
DIHR Viện nhân quyền Đan Mạch
NOVIB Tổ chức hợp tác và phát triển quốc tế Hà Lan
SIDA Tổ chức hợp tác và phát triển Thuỵ Điển
UNDP Chương trình phát triển của Liên hợp quốc
Trang 4
Mục lục
I Giới thiệu
1 Bối cảnh thực hiện báo cáo
2 Mục đích và phạm vi thực hiện của báo cáo
3 Phương pháp nghiên cứu
II Đánh giá thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý
1 Những kết quả đạt được
1.1 Về mặt chính trị - xã hội
1.2 Về khuôn khổ pháp lý
1.3 Hình thành hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý
1.4 Phát triển đội ngũ cán bộ và cộng tác viên
1.5 Hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện miễn phí cho đối tượng
1.6 ủng hộ tích cực của tổ chức quốc tế
1.7 Sự tham gia rộng rãi của các cơ quan, tổ chức
1.8 Kết quả thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý
1.9 Những bài học kinh nghiệm
Trang 52.4 Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và kinh phí hoạt động thiếu thốn
1.3 Nhu cầu lớn về trợ giúp pháp lý
1.4 Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện
2 Phương hướng chung
3 Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý
3.1 Tiếp tục hoàn thiện chính sách
3.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật
3.3 Kiện toàn tổ chức, bộ máy
3.4 Nâng cao năng lực hoạt động của các chuyên viên, cộng tác viên 3.5 Mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý và đổi mới phương thức
trợ giúp pháp lý
3.6 Tăng cường phối hợp với các tổ chức có liên quan
3.7 Xã hội hoá hoạt động trợ giúp pháp lý
3.8 Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật
3.9 Bảo đảm điều kiện và phương tiện làm việc
3.10 Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế
Trang 6IV Kết luận
Phụ lục
Phụ lục I Báo cáo tổng hợp kết quả phỏng vấn sâu
Phụ lục II Kết quả khảo sát tại 11 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Phụ lục III Báo cáo tổng hợp kết quả điều tra
Phụ lục IV Danh mục văn bản về trợ giúp pháp lý
Tài liệu tham khảo
Trang 7I GIớI THIệU
1 Bối cảnh thực hiện báo cáo
Kể từ năm 1986, Việt Nam chính thức tiến hành sự nghiệp đổi mớitoàn diện đất nước Cùng với việc đẩy mạnh cải cách kinh tế, đổi mới hệthống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,
do dân và vì dân, Nhà nước Việt Nam đã thông qua Chiến lược toàn diện về
tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo (Chiến lược xóa đói giảm nghèo), trong
đó có chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách
Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương “thực hiện tốt dân chủ xã hội chủ
nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân”, “vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”(1) Để góp phần
thực hiện các mục tiêu trên, Đảng và Nhà nước đã quan tâm chỉ đạo “cần
phải mở rộng loại hình tư vấn pháp luật phổ thông, đáp ứng nhu cầu rộng rãi, đa dạng của các tầng lớp nhân dân cần nghiên cứu lập hệ thống dịch
vụ tư vấn pháp luật không lấy tiền để hướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo pháp luật”(2)
Thực hiện các quan điểm nêu trên, ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chínhphủ đã ban hành Quyết định số 734/TTg về việc thành lập tổ chức trợ giúppháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách Từ đó đến nay, qua hơn 7năm triển khai thực hiện Quyết định số 734/TTg của Thủ tướng Chính phủ
và các văn bản hướng dẫn thi hành, công tác trợ giúp pháp lý đã phát triển
cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đạt được những kết quả quan trọng Hệthống tổ chức trợ giúp pháp lý đã được hình thành từ trung ương đến địaphương, bao gồm Cục trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư pháp và Trung tâm trợgiúp pháp lý ở 63 tỉnh(3), thành phố trực thuộc trung ương với đội ngũ
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, H 1996, tr 7.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam (Văn phòng Trung ương Đảng), Thông báo số 485/CV-VPTW
ngày 31-5-1995 về ý kiến chỉ đạo của Ban bí thư, tr 1.
3 Lai Châu là tỉnh mới được tách ra và chưa kịp thành lập Trung tâm trợ giúp pháp lý.
Trang 8chuyên viên và cộng tác viên trợ giúp pháp lý đông đảo Các tổ chức trợgiúp pháp lý đã đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu giúp đỡpháp lý của người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu
số, đồng thời, trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống phápluật của xã hội Hoạt động của các tổ chức trợ giúp pháp lý đã góp phầnthực hiện chủ trương xoá đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, bảo đảm côngbằng xã hội của Đảng và Nhà nước, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng vàcác cơ quan nhà nước khác giải quyết các vụ việc một cách khách quan,chính xác, đúng pháp luật, giải toả những vướng mắc pháp luật của nhândân, góp phần ổn định tình hình chính trị, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; tạolập cơ chế bảo đảm công bằng xã hội; góp phần giữ vững và tăng cườngpháp chế xã hội chủ nghĩa
Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước đã thúc đẩy nền kinh tế pháttriển và đã mang lại những kết quả nổi bật trong công cuộc xoá đói, giảmnghèo, nhưng vẫn còn một bộ phận đáng kể người dân còn nghèo Mặt tíchcực của nền kinh tế thị trường là giải phóng mọi năng lực sản xuất, thúc đẩykinh tế phát triển nhưng cũng tiềm ẩn không ít những mặt tiêu cực vốn cócủa nó là sự phân hóa giàu nghèo tăng lên, tệ nạn xã hội phát triển, tranhchấp gia tăng v.v ; nhu cầu trợ giúp pháp lý miễn phí cho các đối tượngnghèo và đối tượng chính sách vẫn còn lớn
Trong khi đó, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động trợ giúp pháp
lý còn chưa được hoàn thiện, hiệu lực chưa cao Hiện nay chỉ có Quyết định
số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập tổ chứctrợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách, một số thông tư
liên tịch và quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Những văn bản pháp lý
trên chưa tương xứng với vị trí, vai trò và ý nghĩa của hoạt động trợ giúp pháp lý Hơn nữa, có nhiều mối quan hệ trong hoạt động trợ giúp pháp lý
chưa được điều chỉnh hoặc điều chỉnh chưa toàn diện như: mối quan hệ vớicác cơ quan tiến hành tố tụng, các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệmphối hợp của các cơ quan có liên quan, vị trí của người tiến hành trợ giúp
Trang 9pháp lý, việc tham gia trợ giúp pháp lý của các tổ chức chính trị - xã hội, tổchức nghề nghiệp đã phát sinh nhưng chưa có quy phạm nào điều chỉnhmức độ tham gia, cơ chế hoạt động nên chưa huy động được tối đa nguồn
lực này Những hạn chế nêu trên đã và đang ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt
động trợ giúp pháp lý.
Mặt khác, nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hộichủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân mà Hiến pháp năm 1992 quy định đangtích cực được triển khai đòi hỏi phải tiếp tục nâng cao hiểu biết pháp luậtcủa người dân và phát huy vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội để bảođảm thực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam.Thực hiện mục tiêu này, trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước đã chủtrương đẩy mạnh cải cách tư pháp, cải cách hành chính để tạo điều kiện chongười dân thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình và về mặtNhà nước là tránh phiền hà, sách nhiễu nhân dân, giảm thiểu việc điều tra,truy tố và xét xử oan sai
Trong thời gian qua, đã có tám tổ chức quốc tế và nước ngoài tích cựcủng hộ nhằm tăng cường năng lực và mở rộng các hoạt động trợ giúp pháp
lý ở Việt Nam bằng cách hỗ trợ kinh phí, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm vớicác đối tác Việt Nam Các nhà tài trợ cũng mong muốn có sự nhìn nhận,đánh giá một cách tổng thể hoạt động trợ giúp pháp lý để có thể tham gia,tiếp tục duy trì hoặc mở rộng việc tài trợ vì các mục tiêu cao cả của hoạtđộng trợ giúp pháp lý
Từ những điều đã được phân tích ở trên, trong khuôn khổ Dự án VIE
02/015 của Bộ Tư pháp về “Hỗ trợ việc thực hiện chiến lược phát triển hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010” đặt ra vấn đề là cần phải nghiên
cứu, đánh giá một cách tổng thể về những thành tựu đã đạt được, những vấn
đề khó khăn, tồn tại trong hoạt động trợ giúp pháp lý và kết quả hợp tác vớicác nhà tài trợ quốc tế, trên cơ sở đó nâng cao nhận thức và đề ra phươnghướng, giải pháp đẩy mạnh hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam
Trang 102 Mục đích và phạm vi của báo cáo
Mục đích của Báo cáo nghiên cứu này là nhằm đánh giá một cách toàndiện về thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý hiện nay ở Việt Nam để từ đó,
đề xuất phương hướng và các giải pháp phù hợp, đồng bộ, cụ thể để tiếp tụcnâng cao chất lượng hoạt động này trong thời gian tới vì mục tiêu phát triểnbền vững và góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Nhằm thực hiện mục đích đã nêu, phạm vi nghiên cứu của Báo cáobao gồm:
- Xem xét một cách đồng bộ các mặt được và chưa được trong khuônkhổ chính sách về trợ giúp pháp lý và các nội dung khác có liên quan;
- Hệ thống các văn bản pháp luật về trợ giúp pháp lý và các quy địnhkhác có liên quan;
- Thực tiễn tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý ở trung ương và cácđịa phương;
- Kết quả hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này;
- Đề xuất phương hướng và giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượnghoạt động trợ giúp pháp lý trong thời gian tới
3 Phương pháp nghiên cứu
Việc thực hiện Báo cáo được tiến hành bằng cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, bao gồm:
- Nghiên cứu và rà soát tài liệu
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành tập hợp và rà soát tổng số 16 văn bảnquy phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý; 7 văn bản pháp luật khác có liênquan và 13 Hiệp định tương trợ tư pháp ký kết giữa Việt Nam và các nước(Phụ lục IV); nghiên cứu các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước có liên
hệ trực tiếp đến hoạt động trợ giúp pháp lý như Chương trình tổng thể cải
cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 (Chương trình cải cách
Trang 11hành chính), Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo (Chiến lược xóa đói giảm nghèo), các chính sách về cải cách tư pháp, đền
ơn đáp nghĩa, chính sách dân tộc….; xem xét 7 Báo cáo công tác của Bộ Tưpháp, Cục trợ giúp pháp lý về trợ giúp pháp lý qua các năm 2002 - 2004,Báo cáo của Cục trợ giúp pháp lý về tình hình hoạt động của Quỹ trợ giúppháp lý, về hoạt động trợ giúp pháp lý của các tổ chức chính trị - xã hội;Báo cáo công tác sáu tháng đầu năm 2004 ở 11 tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương trong phạm vi khảo sát và các báo cáo nghiên cứu của một sốnhà tài trợ như của Novib, SCS, SDC… (Phụ lục IV)
- Phỏng vấn sâu
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành 87 lượt phỏng vấn sâu (Phụ lục I(A))cho cả ba nhóm đối tượng gồm: 43 người là các nhà hoạch định chính sách,các nhà quản lý ở các cơ quan trung ương, các tổ chức chính trị - xã hội, cơquan thông tin đại chúng; 22 người là các chuyên viên, cộng tác viên trợgiúp pháp lý và 22 đối tượng trợ giúp pháp lý ở 11 tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương, ba gồm: Sơn La, Hà Nội, Thái Bình, Nghệ An, Đà Nẵng,Khánh Hoà, Bình Thuận, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Cà Mau, TâyNinh để thu thập các ý kiến nhận xét, đánh giá và đề nghị của những đốitượng này về các vấn đề đang đặt ra trong hoạt động trợ giúp pháp lý
Ngoài ra, có 4/9 nhà tài trợ có Văn phòng đại diện hoặc có dự án tàitrợ trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý ở Việt Nam, gồm có SCS Thụy Điển,SDC Thụy Sỹ, UNDP và SIDA Thụy Điển đã có ý kiến đánh giá qua Mẫuphỏng vấn về kết quả hợp tác quốc tế và các vấn đề có liên quan trong lĩnhvực trợ giúp pháp lý Các ý kiến này và ý kiến của các nhà tài trợ tại cuộcTọa đàm để chuẩn hóa Đề cương nghiên cứu và các Báo cáo nghiên cứu củacác nhà tài trợ đã được xem xét cẩn thận, tham khảo trong quá trình nghiêncứu (Phụ lục I(B))
- Điều tra
Trang 12Phương pháp này nhằm thu thập các thông tin có tính chất định lượng
về thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý của Việt Nam trong thời gian qua
và đề xuất phương hướng cho việc đổi mới hoạt động trợ giúp pháp lý trongthời gian tới Nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra xã hội học 3 nhóm đốitượng gồm các nhà hoạch định chính sách là đại biểu Quốc hội, cán bộ của 9
cơ quan trung ương, của văn phòng trợ giúp pháp lý ở 4 tổ chức chính trị
-xã hội, tổ chức -xã hội - nghề nghiệp; người làm công tác quản lý như lãnhđạo Sở Tư pháp, lãnh đạo Trung tâm trợ giúp pháp lý; các chuyên viên,cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý và các đối tượng thụ hưởng trợgiúp pháp lý (Phụ lục III)
Về địa bàn điều tra, Nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra ở 10 địa
bàn gồm 9 tỉnh, thành phố trong cả nước và 01 địa bàn ở cấp trung ương làcác đại biểu Quốc hội và cán bộ ở các cơ quan nhà nước ở trung ương như
đã nêu ở trên Các địa phương điều tra được tính toán hợp lý để có sự cânđối về vùng miền và tính cân bằng giữa các loại đối tượng được điều tra làcán bộ của Sở Tư pháp, chuyên viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý, cộngtác viên, người thụ hưởng là người nghèo hoặc người dân tộc thiểu số Sốphiếu cụ thể như sau: Hà Nội 100 phiếu, Thái Bình 70 phiếu, Sơn La 70phiếu, Đà Nẵng 100 phiếu, Khánh Hoà 70 phiếu, Tây Ninh 70 phiếu, CầnThơ 100 phiếu, Cà Mau 70 phiếu, Nghệ An 70 phiếu) và đại biểu Quốc hội,cán bộ ở các cơ quan trung ương 280 phiếu
Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên, phân tầng theo cụm
Kích thước mẫu phát ra cho 1.000 người theo tỷ lệ sau: 280 đại biểu Quốc
hội và cán bộ công chức các cơ quan trung ương, 270 cán bộ, cộng tác viênthực hiện dịch vụ trợ giúp pháp lý, 450 người thụ hưởng thuộc các nhóm
khác nhau trong đó có 18,7% là người dân tộc Nhóm đối tượng đã chọn ở
phần trên và được phân bổ cụ thể theo tỷ lệ sau:
- Các nhà hoạch định chính sách chiếm 28% Trong đó bao gồm cácđối tượng là đại biểu Quốc hội và cán bộ, công chức làm việc tại các cơquan như: Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Kế
Trang 13hoạch đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểmsát nhân dân tối cao, Uỷ ban Dân tộc miền núi, Hội Nông dân, Hội Cựuchiến binh, Hội liên hiệp phụ nữ, Trung ương Đoàn thanh niên.
- Cán bộ, cộng tác viên thực hiện dịch vụ trợ giúp pháp lý chiếm 27%.Trong đó làm việc tại Sở Tư pháp là 15,6%, Trung tâm trợ giúp pháp lý là14,8%, Đoàn luật sư, Hội luật gia là 23% và nơi khác là 46,7%
- Đối tượng được hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý chiếm 45% Trong
đó, theo nhóm nghề nghiệp có cán bộ công chức chiếm 1,5%, công nhânchiếm 3,7%; nông dân chiếm 39,3%; nghề khác chiếm 55,4%; trong số 450người có 18,7% là người dân tộc
Để đánh giá một cách chính xác, mỗi loại đối tượng điều tra đượcyêu cầu trả lời theo những mẫu phiếu điều tra được thiết kế riêng, phù hợpvới vị trí của họ và mục đích của cuộc điều tra Các số liệu thu thập đượcqua cuộc điều tra được tổng hợp, xử lý bằng phần mềm SPSS 1.10 và đượcphân tích, sử dụng trong quá trình soạn thảo Báo cáo nghiên cứu
Ngoài những tỉnh, thành phố tiến hành điều tra, hoạt động khảo sátcòn được tiến hành thêm ở thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Thuận.Ngoài ra, Nhóm nghiên cứu còn tổ chức toạ đàm với đại diện các nhàtài trợ; thường xuyên tổ chức các buổi làm việc theo nhóm, đặc biệt là đãtiến hành trao đổi, thảo luận với lãnh đạo và các chuyên viên của Cục trợgiúp pháp lý, trong một cuộc họp bàn về đề cương và nội dung nghiên cứu
đã có sự tham gia của cán bộ của Chương trình phát triển Liên hợp quốc(UNDP) tại Hà Nội
Trang 14II ĐáNH GIá THựC TRạNG HOạT ĐộNG TRợ GIúP PHáP Lý
Cùng với hoạt động hoà giải cơ sở và hoạt động của các cơ quan tưpháp, trợ giúp pháp lý đã giải quyết được nhiều vướng mắc, nhiều tranhchấp kéo dài, giữ gìn đoàn kết, tương thân, tương ái trong nhân dân, củng cốđược lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Tâm lý chung củangười Việt Nam chúng ta là ngại tham gia vào kiện tụng Hoạt động hoà giải
cơ sở là hình thức trợ giúp pháp lý nặng về mặt tình cảm, vận động, thuyếtphục các bên tranh chấp tự giải quyết vướng mắc trên cơ sở pháp luật vàđạo đức xã hội Vì vậy, nhiều khi không giải quyết được tận gốc và dứtđiểm các tranh chấp trong nhân dân Khắc phục được những nhược điểm đó,lợi thế của trợ giúp pháp lý là một hoạt động gần dân, gắn kết được hoà giảivới việc giải quyết theo pháp luật nên ngày càng được người dân tin tưởng
và tiếp cận
Trong quá trình khảo sát thực tế, gặp và phỏng vấn các nhà hoạch định chính sách, những người trực tiếp cung cấp dịch vụ, đối tượng thụ hưởng cũng như ý kiến của các nhà tài trợ đều đánh giá cao hiệu quả và ý nghĩa xã hội của công tác trợ giúp pháp lý Số liệu điều tra cũng cho thấy rõ
điều này Trong tổng số 989 người trả lời của cả ba nhóm đối tượng điều tra,
có 61% người đánh giá hoạt động này ở mức độ tốt; chỉ có 8% đánh giá
hiệu quả của hoạt động này là chưa tốt Xem Biểu đồ 1
Trang 15Thiếu biểu đồ
Biểu đồ 1: Nhận xét chung về kết quả hoạt động trợ giúp pháp lý
Thứ hai, hoạt động trợ giúp pháp lý tạo ra hiệu quả tích cực trên cả
ba phương diện: nhà nước, xã hội và người dân
- Về phía nhà nước, các tổ chức trợ giúp pháp lý đã mang lại những
lợi ích chính trị, là cầu nối giúp chính quyền các cấp tháo gỡ, khắc phục những vướng mắc của chính quyền và tạo diễn đàn “đối thoại” giữa chính
quyền với dân Đặc biệt, các cuộc trợ giúp pháp lý lưu động, đã thực sự tạo
ra một cơ chế “ba cấp tiếp dân”1 để giải quyết những vấn đề còn tồn tạitrong nhân dân
Đồng thời, hoạt động trợ giúp pháp lý giúp các cơ quan tiến hành tốtụng và các cơ quan nhà nước khác giải quyết công việc một cách chính xác,
1 Ý kiến ở Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Thái Bình: trong các cuộc trợ giúp pháp lý lưu động luôn có đại diện của cả 3 cấp là cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh.
Trang 16khách quan, công bằng và đúng pháp luật; góp phần tích cực thực hiện cảicách tư pháp, mở rộng điều kiện để thực hiện nguyên tắc tranh tụng trướctoà, bảo đảm người nghèo không có điều kiện thuê luật sư tư cũng có luật sưmiễn phí bảo vệ Hoạt động này của Chính phủ đã góp phần nâng cao vị thếcủa Việt Nam trên trường quốc tế trong việc bảo vệ nhân quyền, phù hợp xuthế phát triển chung của thế giới, đặc biệt là chiến lược xoá nghèo toàn cầu
và từng quốc gia
- Về phía xã hội, thông qua việc hướng dẫn, giải thích pháp luật và
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người nghèo và đối tượng chính sách,các tổ chức trợ giúp pháp lý giúp cho các đối tượng này nâng cao hiểu biếtpháp luật để mỗi người đều có thể tự lựa chọn những hành vi xử sự phù hợpvới pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của họ được bảo vệ, tạo niềm tinvào pháp luật, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ vữngtrật tự, an toàn xã hội và ổn định tình hình chính trị
- Về phía người dân, hoạt động trợ giúp pháp lý đã góp phần giải toả
vướng mắc pháp luật và giảm bớt khiếu kiện trong cộng đồng dân cư, bảođảm công bằng cho mọi tầng lớp nhân dân trong việc tiếp cận với pháp luật;
góp phần “xóa đói, giảm nghèo” cho người dân trong lĩnh vực pháp luật để
họ có thể tự lựa chọn những hành vi xử sự đúng pháp luật Đặc biệt, nhưmột đối tượng được trợ giúp pháp lý ở Bình Thuận nhận xét, trợ giúp pháp
lý đã giúp cho người dân tiếp cận với các cơ quan công quyền một cáchnhanh chóng và hiệu quả hơn, nhất là với tư cách của một tổ chức do Nhànước thành lập để đại diện cho quyền lợi của người dân
Chính vì những ưu điểm này mà câu hỏi “nếu có điều kiện lựa chọn
giữa trợ giúp pháp lý và việc thuê các dịch vụ tư vấn thì ông (bà) lựa chọn
sử dụng hình thức nào” của Nhóm nghiên cứu đưa ra, đã có 427 người trong
tổng số 443 đối tượng được điều tra là các đối tượng thụ hưởng trợ giúppháp lý (chiếm 97,9%) trả lời sẽ lựa chọn hình thức trợ giúp pháp lý miễnphí thay vì hình thức thuê các dịch vụ pháp lý khác
Trang 17Thứ ba, việc ban hành chính sách trợ giúp pháp lý đã góp phần tích cực vào mục tiêu chung là xoá đói, giảm nghèo và là sự bổ sung cần thiết vào chính sách tổng thể về phát triển bền vững ở Việt Nam Báo cáo Chính
trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Thực hiện
chương trình xoá đói, giảm nghèo thông qua những biện pháp cụ thể, sát với tình hình từng địa phương, sớm đạt mục tiêu không còn hộ đói, giảm mạnh các hộ nghèo” 1 Như đã trình bày, trợ giúp pháp lý là một nội dung
quan trọng của Chiến lược xoá đói, giảm nghèo và đồng thời, “Giảm đói
nghèo không chỉ là một trong những chính sách xã hội cơ bản, được Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm, mà còn là một bộ phận quan trọng của mục tiêu phát triển” 2
Đối với hoạt động trợ giúp pháp lý, Chiến lược xóa đói, giảm nghèo
cũng xác định: “hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, tăng cường trợ giúp pháp
lý và khả năng tiếp cận pháp lý cho người nghèo Mở rộng mạng lưới trợ giúp pháp luật để người nghèo ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa có thể tiếp cận với các dịch vụ trợ giúp pháp luật” Như vậy, Chiến lược đã ghi nhận
hoạt động trợ giúp pháp lý với tính cách là một bộ phận quan trọng trongtổng thể Chương trình quốc gia xoá đói, giảm nghèo Trợ giúp pháp lý trướchết có mục đích xoá đói nghèo về mặt pháp luật, nâng cao tri thức hiểu biết
pháp luật trong nhân dân Do đó, trợ giúp pháp lý là một bộ phận quan
trọng góp phần thực hiện thành công các chủ trươn, chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước.
1.2 Về khuôn khổ pháp lý
- Thứ nhất, đã hình thành hệ thống các văn bản về trợ giúp pháp lý miễn phí với các quy định ngày càng đầy đủ và cụ thể hơn Đã có 16 văn
bản pháp luật trực tiếp quy định về trợ giúp pháp lý bao gồm Quyết định củaThủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý miễn phícho người nghèo và đối tượng chính sách; các quyết định của Bộ Tư pháp,
1 Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, H.2001, tr.106.
2 Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, tr.1.
Trang 18của Cục trợ giúp pháp lý và các thông tư liên tịch giữa Bộ Tư pháp, Bộ Tàichính, Bộ Nội vụ và Bộ Lao động thương binh và xã hội (Phụ lục V)
Các văn bản pháp luật này đã quy định về nhiều vấn đề cụ thể của công tác trợ giúp pháp lý như:
+ Hệ thống cơ cấu tổ chức trợ giúp pháp lý miễn phí;
+ Phương thức, phạm vi trợ giúp pháp lý;
+ Lĩnh vực trợ giúp pháp lý miễn phí;
+ Tiêu chuẩn và phương thức hoạt động, chế độ chính sách của ngườithực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí, bao gồm các chuyên viên và cộng tácviên trợ giúp pháp lý;
+ Các đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí;
+ Tổ chức và hoạt động của Quỹ trợ giúp pháp lý Việt Nam;
+ Mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước hữu quan trong hoạt độngtrợ giúp pháp lý
- Thứ hai, các văn bản về trợ giúp pháp lý là cơ sở để người dân, nhất
là các đối tượng nghèo và chính sách được tiếp cận với pháp luật, được
quyền sử dụng trợ giúp pháp lý như là một trong những hình thức hữu hiệu
và phù hợp với hoàn cảnh để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình.Bởi vậy, khi được hỏi về vai trò của trợ giúp pháp lý miễn phí, có 411 ngườitrong tổng số 443 người được hỏi là đối tượng thụ hưởng trợ giúp pháp lý(chiếm 92,8%) cho rằng trợ giúp pháp lý có vai trò quan trọng đối với ngườidân, đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn
- Thứ ba, các văn bản pháp luật về trợ giúp pháp lý đã tạo nên khuôn khổ pháp lý cần thiết quy định về cơ cấu tổ chức của hệ thống trợ giúp pháp
lý Cụ thể là tổ chức của Cục trợ giúp pháp lý và các đơn vị thuộc Cục, các
trung tâm trợ giúp pháp lý ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Các vănbản pháp luật này đã quy định các phương thức hoạt động của các tổ chứctrợ giúp pháp lý từ trung ương đến địa phương, quy định về quyền và nghĩa
Trang 19vụ pháp lý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động này như: các
cơ quan nhà nước ở trung ương, các cộng tác viên, người thụ hưởng, chínhquyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội và một số hoạt động củacác tổ chức quốc tế trong việc thực hiện trợ giúp pháp lý
- Thứ tư, các văn bản về trợ giúp pháp lý đã quy định khá cụ thể và tương đối đồng bộ về các vấn đề như xác định 5 lĩnh vực pháp luật được trợ giúp pháp lý bao gồm:
+ Hình sự và tố tụng hình sự;
+ Dân sự, hôn nhân gia đình và tố tụng;
+ Hành chính, khiếu nại tố cáo;
+ Lao động, việc làm;
+ Đất đai, nhà ở
Các văn bản quy phạm pháp luật cũng quy định các hình thức tư vấnpháp luật phong phú như tư vấn trực tiếp bằng miệng, văn bản, điện thoại,thư tín; tư vấn lưu động; mời cộng tác viên tư vấn, bào chữa hoặc đại diện
và theo các phương thức khác Phạm vi trợ giúp pháp lý gồm 6 loại như: + Giải đáp pháp luật;
+ Hướng dẫn, soạn thảo văn bản;
+ Hướng dẫn thủ tục cần thiết;
+ Hòa giải, đại diện hoặc tham gia trong các giao dịch pháp lý;
+ Trực tiếp kiến nghị hoặc đề xuất kiến nghị với cơ quan có thẩmquyền giải quyết các vấn đề liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý;
+ Trực tiếp hoặc mời luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cácđối tượng được trợ giúp pháp lý; các vấn đề về đối tượng và tiêu chuẩn cộngtác viên
Trang 20- Thứ năm, các Hiệp định tương trợ tư pháp được ký kết giữa Việt Nam với các nước khác mở ra khả năng cho các công dân Việt Nam được trợ giúp pháp lý miễn phí ở nước ngoài và công dân nước ngoài được trợ giúp pháp lý ở Việt Nam
Đến tháng 8 năm 2004, Việt Nam đã ký kết Hiệp định tương trợ tưpháp với 15 nước (Phụ lục V) gồm các Hiệp định với Ba Lan, Bêlarút,Bungari, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, CuBa, Hungari, Lào, Liên
Xô cũ (Cộng hoà liên bang Nga kế thừa), Mông Cổ, Nga, Pháp, Tiệp Khắc(Séc, Xlovakia kế thừa), Trung Quốc, Ucraina, Hàn Quốc Trong số này, 13Hiệp định đang có hiệu lực, các Hiệp định giữa Việt Nam với Cộng hoà dânchủ nhân dân Triều Tiên và Việt Nam với Hàn Quốc sẽ có hiệu lực trongthời gian tới
Qua rà soát 13 Hiệp định tương trợ tư pháp đang có hiệu lực (2 Hiệpđịnh chưa có hiệu lực, chúng tôi chưa có điều kiện tiếp cận) cho thấy nộidung về trợ giúp pháp lý được đề cập trong 3 Hiệp định đã ký kết với TrungQuốc, Cộng hòa Pháp và Ucraina Trong Hiệp định tương trợ tư pháp giữaViệt Nam và Trung Quốc, hai bên cam kết:
“Công dân của Bên ký kết này được miễn, giảm án phí và được trợ
giúp pháp lý miễn phí trên lãnh thổ của Bên ký kết kia theo cùng điều kiện
và mức độ công dân của Bên ký kết kia” (Điều 3 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Trung Quốc)
Trong Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Cộng hòa Pháp,hai bên cam kết:
“Công dân của Nước ký kết này trên lãnh thổ của Nước ký kết kia
được trợ giúp pháp lý như công dân của nước ký kết kia, phù hợp với pháp luật của nước ký kết được yêu cầu trợ giúp pháp lý” (Điều 7 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa
Pháp)
Trang 21Trong Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Ucraina, hai bêncam kết:
“Căn cứ theo quy định pháp luật của các Bên ký kết, công dân Bên ký
kết này được hưởng sự trợ giúp pháp lý không mất tiền và được miễn án phí tại Tòa án và lệ phí tại các cơ quan khác của Bên ký kết kia theo cùng những điều kiện và mức độ như công dân của Bên ký kết kia” (Điều 15 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Ucraina.
Theo thông tin từ Cục trợ giúp pháp lý thì một số người nước ngoài đãđược trợ giúp pháp lý theo quy định của các Hiệp định này và chủ yếu là đốivới các công dân của Trung Quốc ở sát vùng biên giới Việt Nam - TrungQuốc Tuy chưa có điều kiện để xác định số lượng người Việt Nam đượchưởng trợ giúp pháp lý ở lãnh thổ của các Bên ký kết nhưng rõ ràng là cácHiệp định tương trợ tư pháp này là cơ sở pháp lý để tiến hành một cáchnhanh chóng và có hiệu quả các hoạt động tương trợ tư pháp trong lĩnh vựcdân sự, lao động, thương mại, hôn nhân - gia đình và hình sự trên cơ sở có
đi có lại giữa các Bên ký kết Đồng thời, thông qua các Hiệp định này, tạo ramối liên kết và mở ra khả năng tăng cường hợp tác về trợ giúp pháp lý củaViệt Nam và các nước khác Do vậy, các Hiệp định tương trợ tư pháp màViệt Nam sẽ ký kết với các nước khác trong thời gian tới nên có các quyđịnh về vấn đề trợ giúp pháp lý
sự quản lý hành chính trực tiếp của Sở Tư pháp và đồng thời chịu sự chỉ đạo
về chuyên môn, nghiệp vụ của Cục trợ giúp pháp lý Kết quả khảo sát chothấy, đa số các trung tâm trợ giúp pháp lý được thành lập từ năm 1998 (ĐàNẵng, Tây Ninh, Khánh Hòa, Cà Mau v.v ), số ít được thành lập sớm hơn
Trang 22như Nghệ An (1997) và mới được thành lập gần đây như Tuyên Quang(2002) Theo Báo cáo số 176/BC-TGPL ngày 31 tháng 5 năm 2004 của Bộ
Tư pháp, các trung tâm trợ giúp pháp lý đã xây dựng được 606 chi nhánh, tổtrợ giúp pháp lý ở cấp huyện và trên 100 điểm trợ giúp pháp lý ở cấp xã
Hiện tại, hệ thống các cơ quan trợ giúp pháp lý ở Việt Nam được tổ chức từ trung ương đến địa phương theo mô hình sau đây:
Trang 23Phòng hành chính, tổng hợp UBND tỉnh
Trung tâm TG PL
Phòng
Kế toán
Phòng quản
lý và bồi dưỡng nghiệp vụ
Chi nhánh Thái Nguyên và TPHCM
Phòng Tư pháp
Chi nhánh/ Tổ
Ban Tư pháp
Trang 24- Thứ hai, Cục trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư pháp được thành lập
vào tháng 10 năm 1997 đã phát huy vai trò của mình là cơ quan đầu mốigiúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động trợgiúp pháp lý trong phạm vi cả nước và thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phícho người nghèo và các đối tượng chính sách Theo Quyết định số 752/QĐ-BTP ngày 24 tháng 10 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Cục trợ giúp
pháp lý có các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
+ Xây dựng, tham gia xây dựng các văn bản pháp luật về trợ giúppháp lý miễn phí cho người nghèo và các đối tượng chính sách để Bộ Tưpháp trình Chính phủ hoặc Bộ Tư pháp ban hành theo thẩm quyền và tổchức thực hiện các văn bản đó;
+ Trình Bộ Tư pháp ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền củaCục các quy định về chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ đối với công tác trợgiúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và các đối tượng chính sách vàhướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định đó;
+ Chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ trợ giúp pháp lý đốivới các trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương;
+ Thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và các đốitượng chính sách trong trường hợp cần thiết;
+ Thực hiện việc hợp tác quốc tế về trợ giúp pháp lý;
+ Quản lý Quỹ trợ giúp pháp lý theo phân công của Bộ trưởng Bộ Tưpháp;
+ Tổ chức bồi dưỡng, đào tạo về chuyền môn, nghiệp vụ và kỹ năngtrợ giúp pháp lý cho đội ngũ cán bộ trợ giúp pháp lý và cộng tác viên;+ Tham gia việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho người nghèo và cácđối tượng chính sách;
Trang 25+ Quản lý cán bộ, cơ sở vật chất của Cục theo đúng quy định của Nhànước.
Theo Báo cáo số 176/BC-TGPL, tính đến cuối tháng 5/2004, Cục trợgiúp pháp lý có 35 người, trong đó có 20 biên chế chính thức, 7 hợp đồngdài hạn thực hiện các công tác hậu cần, kỹ thuật và 8 hợp đồng theo vụ việc.Trong số biên chế chính thức có 1 tiến sỹ luật, 1 người đang chuẩn bị bảo vệluận án tiến sỹ luật học, 5 thạc sỹ và 2 người đang học cao học luật
Để thực hiện nhiệm vụ trợ giúp pháp lý cho các đối tượng, Cục trợ giúp pháp lý có 4 đơn vị trực thuộc, bao gồm:
+ Trung tâm trợ giúp pháp lý được thành lập theo Quyết định số256/2002/QĐ-BTP của Bộ trưởng Bộ Tư pháp trên cơ sở Phòng trợ giúppháp lý thuộc Cục;
+ Chi nhánh của Cục trợ giúp pháp lý tại bộ phận thường trực phíaNam của Văn phòng Bộ Tư pháp tại thành phố Hồ Chí Minh được thành lậptheo Quyết định số 874/1998/QĐ-BTP ngày 27 tháng 11 năm 1998;
+ Chi nhánh của Cục trợ giúp pháp lý ở phía Bắc tại tỉnh Hoà Bìnhthành lập theo Quyết định số 255/2002/QĐ-BTP ngày 10/7/2002 của Bộtrưởng Bộ Tư pháp (nay đã chuyển đến Thái Nguyên vào cuối năm 2004);+ Văn phòng trợ giúp pháp lý cho phụ nữ được thành lập theo Quyếtđịnh số 123/QĐ-TGPL năm 2002 của Cục trưởng Cục trợ giúp pháp lý chỉthực hiện trợ giúp pháp lý cho phụ nữ là nạn nhân của bạo lực trong gia đình
Trang 26pháp lý mà Cục trợ giúp pháp lý hỗ trợ địa phương là 1.588 trong tổng số3.934 vụ việc mà Cục thực hiện, chiếm tỷ lệ 40,3%1
Qua nghiên cứu Báo cáo kết quả 7 năm thực hiện Quyết định số734/TTg của Thủ tướng Chính phủ về trợ giúp pháp lý miễn phí cho người
nghèo và đối tượng chính sách (Báo cáo 165/CTGPL-NV) cho thấy, tính đến
tháng 5 năm 2004, Cục trợ giúp pháp lý đã tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Tưpháp phối hợp với các bộ, ngành hữu quan soạn thảo và ban hành theo thẩmquyền 15 văn bản pháp luật điều chỉnh tương đối toàn diện các vấn đề vềxây dựng, kiện toàn bộ máy tổ chức, cán bộ, cơ sở vật chất, đối tượng phục
vụ, cách thức hoạt động, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ
Về công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, hàng năm, Cục trợ giúp
pháp lý được tổ chức tập huấn toàn quốc cho giám đốc và chuyên viên củaTrung tâm trợ giúp pháp lý nhằm cập nhật những văn bản pháp luật mới vànâng cao trình độ nghiệp vụ kỹ năng trợ giúp pháp lý Trên cơ sở đó cáctrung tâm tổ chức tập huấn cho chuyên viên và cộng tác viên trợ giúp pháp
lý ở địa phương Riêng năm 2004, Cục trợ giúp pháp lý đã tổ chức 05 đợt
+ Tập huấn về Quyền trẻ em tại thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh ĐồngNai và Trại giáo dưỡng tỉnh Ninh Bình trong khuôn khổ Dự án SCS; tậphuấn về quyền trẻ em và một số vấn đề về Tư pháp người chưa thành niêncho cán bộ phường Hàng Trống - quận Hoàn Kiếm - thành phố Hà Nội;+ Tập huấn toàn quốc cho giám đốc và chuyên viên trợ giúp pháp lýcủa các trung tâm trợ giúp pháp lý tại Ninh Bình;
1 Số liệu do Cục trợ giúp pháp lý cung cấp.
Trang 27+ Tập huấn về quyền của bị can, bị cáo, người tạm giữ, tạm giam chocán bộ điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và 7 tỉnhlân cận (Bình Dương, Tây Ninh, Bà Rỵa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Long An,Đồng Nai, Bình Phước).
- Thứ ba, đã xác lập được các mối quan hệ giữa Cục trợ giúp pháp lý
thuộc Bộ Tư pháp với các Sở Tư pháp, theo đó, Cục trợ giúp pháp lý chỉđạo các Sở Tư pháp về việc xây dựng, kiện toàn tổ chức và hoạt động trợgiúp pháp lý miễn phí ở địa phương Cục trợ giúp pháp lý phối hợp với Sở
Tư pháp trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụtrợ giúp pháp lý miễn phí đối với các trung tâm thuộc các Sở Tư pháp Theoquy định tại Điều 21 của Quy chế tổ chức và hoạt động của Cục trợ giúppháp lý (Quy chế Cục trợ giúp pháp lý) thuộc Bộ Tư pháp thì Cục trưởngCục trợ giúp pháp lý có nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn Sở Tư pháp về việcxây dựng, kiện toàn tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí ở địaphương nhằm vừa bảo đảm tính thống nhất trong toàn quốc, vừa phù hợpvới đặc thù của từng địa phương và nâng cao hiệu quả hoạt động này
- Thứ tư, xác định các mối quan hệ giữa trung tâm trợ giúp pháp lý với
Sở Tư pháp và giữa trung tâm với Cục trợ giúp pháp lý Các trung tâm trợgiúp pháp lý là đơn vị trực thuộc Sở, chịu sự quản lý, chỉ đạo và kiểm tracủa Giám đốc Sở và đồng thời thường xuyên báo cáo tình hình tổ chức, hoạtđộng của Trung tâm mình cho Cục trợ giúp pháp lý; phản ánh đề xuất kiếnnghị về các vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động của trung tâm cho cả Sở
Tư pháp và Cục trợ giúp pháp lý
Kết quả khảo sát cho thấy, Cục trợ giúp pháp lý đã có mối quan hệchặt chẽ với các trung tâm trợ giúp pháp lý Cụ thể là về kinh phí hoạt động,tài liệu, tờ gấp, tờ rơi, tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ Hàng năm, Cụctrợ giúp pháp lý chuyển rất nhiều đầu sách, văn bản hướng dẫn về cho cáctrung tâm (từ năm 2003 đến nay có khoảng 108 đầu sách)(1) Trong 6 tháng
1 Khảo sát tại Khánh Hòa.
Trang 28đầu năm, Cục đã ban hành 40 Công văn hướng dẫn nghiệp vụ trợ giúp pháp
lý (Báo cáo số 176/BC-TGPL).
- Thứ năm, các trung tâm trợ giúp pháp lý có những nhiệm vụ, quyền
hạn nhất định trong việc tổ chức các hoạt động trợ giúp pháp lý, tổ chức
mạng lưới cộng tác viên và phối hợp với các tổ chức chính quyền các cấp ở
địa phương, nhất là ở cơ sở để triển khai các hoạt động trợ giúp pháp lý Cụ
thể, các trung tâm trợ giúp pháp lý có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Trợ giúp pháp lý cho các đối tượng theo các lĩnh vực pháp luậtkhông thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại;
+ Tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng trợ giúppháp lý;
+ Quản lý, theo dõi hoạt động trợ giúp pháp lý của cộng tác viên củatrung tâm;
+ Đề xuất, kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổsung, thay thế các văn bản pháp luật không còn phù hợp với thực tế;
+ Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và trao đổi kinh nghiệmcho chuyên viên và cộng tác viên trợ giúp pháp lý;
+ Đề xuất việc khen thưởng cho tập thể, cá nhân của trung tâm cóthành tích trong công tác;
+ Quản lý cán bộ, công chức, tài chính và cơ sở vật chất của trungtâm
- Thứ sáu, bước đầu hình thành mối quan hệ phối hợp giữa Bộ Tư
pháp với các bộ, ban, ngành hữu quan Theo đó, Bộ Tư pháp, cụ thể là Cụctrợ giúp pháp lý làm đầu mối phối hợp với các bộ, ngành như Bộ Tài chính,
Bộ Văn hoá - Thông tin, Đài truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam,Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các tổ chức chínhtrị - xã hội và các tổ chức nghề nghiệp… để thực hiện các nội dung côngviệc có liên quan
Trang 29Trong 6 tháng đầu năm 2004, Cục trợ giúp pháp lý đã giúp Bộ Tưpháp phối hợp với Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhândân tối cao dự thảo Thông tư liên tịch về phối hợp hoạt động trợ giúp pháp
lý trong hoạt động tố tụng; phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam, Đàitiếng nói Việt Nam, Bộ Văn hóa - Thông tin, Bộ Bưu chính - Viễn thông dựthảo Thông tư liên tịch phối hợp hoạt động trợ giúp pháp lý trong công tácthông tin
1.4 Phát triển đội ngũ cán bộ và cộng tác viên
- Thứ nhất, đội ngũ cán bộ làm công tác trợ giúp pháp lý đã hình thành và từng bước được củng cố, tăng cường Các chuyên viên trợ giúp
pháp lý là cán bộ, công chức nhà nước công tác tại các tổ chức trợ giúp pháp
lý, được giao nhiệm vụ thực hiện trợ giúp pháp lý Các quy định của phápluật hiện hành về các tiêu chuẩn để được công nhận là chuyên viên trợ giúppháp lý, về các quyền, nghĩa vụ cũng như những quy tắc nghiệp vụ bắt buộcphải tuân theo trong quá trình làm việc của chuyên viên, đội ngũ cán bộ trợgiúp pháp lý đã đạt được một mặt bằng chung về trình độ, năng lực và phẩmchất đạo đức Cụ thể, các chuyên viên trợ giúp pháp lý phải đáp ứng tiêuchuẩn nghiệp vụ của ngạch công chức ngành tư pháp từ chuyên viên pháp lýtrở lên quy định tại Quyết định số 483/TCCB-QĐ ngày 26/7/1993 của Bộtrưởng Bộ Tư pháp1 và phải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý
do Bộ Tư pháp tổ chức
Theo Báo cáo số 165/CTGPL-NV ngày 20 tháng 5 năm 2004 của Cục
trợ giúp pháp lý (Báo cáo số 165/CTGPL), tính đến cuối tháng 5 - 2004, cả
nước có 423 cán bộ, chuyên viên trợ giúp pháp lý Đa số các trung tâm trợgiúp pháp lý có từ 4 đến 5 chuyên viên, một số trung tâm có từ 7 đến 10
1 Theo đó, chuyên viên trợ giúp pháp lý phải là công chức chuyên môn nghiệp vụ thuộc hệ thống tư pháp và phải có trình độ tối thiểu:
- Tốt nghiệp Đại học Luật, đã qua thời gian tập sự nghiệp vụ;
- Qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hành chính theo nội dung, chương trình của Học viện Hành chính Quốc gia;
- Biết một ngoại ngữ (đọc, hiểu được sách chuyên môn).
Trang 30biên chế như Bình Dương, Khánh Hòa, Cần Thơ, Cà Mau, Lâm Đồng, thànhphố Hồ Chí Minh…
- Thứ hai, hình thành đông đảo đội ngũ cộng tác viên là luật sư, luật
gia, cán bộ tư pháp, pháp chế cấp huyện, xã và cả những luật gia đã nghỉhưu có trình độ pháp luật, am hiểu kiến thức xã hội, có phẩm chất chính trị
và đạo đức Các cộng tác viên trợ giúp pháp lý là đội ngũ quan trọng bổsung nhân lực cho hoạt động của các tổ chức trợ giúp pháp lý Cộng tác viêntham gia hoạt động trợ giúp pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcho người nghèo, đối tượng chính sách và đối tượng được trợ giúp pháp lýkhác theo quy định của pháp luật, góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật chocác đối tượng này
Cũng theo Báo cáo số 165/CTGPL, hiện nay có khoảng 6.500 cộngtác viên trợ giúp pháp lý trong toàn quốc, tính trung bình mỗi trung tâm trợgiúp pháp lý có khoảng 100 cộng tác viên, trong đó có 1.287 cộng tác viêncấp tỉnh, 1.623 cộng tác viên cấp huyện và 3.554 cộng tác viên ở cấp xã Số
vụ việc do các cộng tác viên thực hiện chiếm 48,3%, đặc biệt là các vụ đạidiện, bào chữa chủ yếu do cộng tác viên là luật sư thực hiện
K t qu kh o sát v ết quả khảo sát về đội ngũ cộng tác viên ở các tỉnh, ả khảo sát về đội ngũ cộng tác viên ở các tỉnh, ả khảo sát về đội ngũ cộng tác viên ở các tỉnh, ề đội ngũ cộng tác viên ở các tỉnh, đội ngũ cộng tác viên ở các tỉnh,i ng c ng tác viên các t nh,ũ cộng tác viên ở các tỉnh, ội ngũ cộng tác viên ở các tỉnh, ở các tỉnh, ỉnh,thành phố
Trang 3111 Sơn La 48 01
- Thứ ba, chất lượng của đội ngũ cộng tác viên ngày càng được nâng cao Các cộng tác viên trợ giúp pháp lý phải có đủ những tiêu chuẩn là công
dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam; có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;
cử nhân luật; người có bằng trung cấp luật đã tham gia công tác pháp luật từ
3 năm liên tục trở lên, trừ những người đang đảm nhiệm các chức danh Điềutra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán; có năng lực hành vi đầy đủ; khôngphải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người đang chấp hànhhình phạt, người chưa được xoá án, đang bị quản chế hành chính Đối vớicác địa phương ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, nếu chưa có người
đủ tiêu chuẩn quy định trên thì cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn, tổ viên
tổ hoà giải, già làng, trưởng bản, trưởng thôn và các cán bộ chuyên ngànhkhác được xét làm cộng tác viên trợ giúp pháp lý
Tại 11 địa phương nơi khảo sát, hầu hết các ý kiến đều có nhận xét tốt
về đạo đức và trình độ của cộng tác viên Rất nhiều cộng tác viên hăng hái,nhiệt tình trong công việc, sẵn lòng phục vụ nhân dân Khi được hỏi về động
cơ tham gia trợ giúp pháp lý, nhiều cộng tác viên nói rằng, tuy khoản chi trảthấp nhưng họ rất vui và tự nguyện tham gia trợ giúp pháp lý để giúp đỡngười nghèo, bị thiệt thòi, coi đó là trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng.Tại Cần Thơ, có rất nhiều luật sư làm công tác trợ giúp pháp lý miễn phí.Một số địa phương nơi khảo sát đã có luật sư hoạt động như là luật sư cônglàm việc trực tiếp tại Văn phòng Trung tâm 8 giờ/ngày và tham gia trợ giúplưu động như Tây Ninh, Thái Bình…
Kết quả điều tra cũng cho thấy, các cộng tác viên và những người tựnguyện tham gia trợ giúp pháp lý có chất lượng khá cao Có 302 ngườitrong tổng số 443 người được hỏi là các đối tượng thụ hưởng trợ giúp pháp
lý (chiếm 68,2%) cho rằng các cộng tác viên thực sự là những người cónăng lực, trình độ
Trang 321.5 Hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện miễn phí cho đối tượng
Điểm đáng chú ý là các hoạt động trợ giúp pháp lý theo hệ thống Bộ
Tư pháp là miễn phí cho đối tượng trợ giúp pháp lý Kinh phí hoạt động trợgiúp pháp lý do ngân sách Nhà nước bảo đảm Đây chính là một trongnhững điểm khác biệt lớn giữa hoạt động trợ giúp pháp lý và các hoạt động
tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghềnghiệp khác
Hiện nay, có hai nguồn kinh phí của nhà nước cho hoạt động trợ giúppháp lý ở địa phương: thông qua Quỹ trợ giúp pháp lý Việt Nam do Bộtrưởng Bộ Tư pháp thành lập vào tháng 7 năm 2002 và nguồn kinh phí từngân sách địa phương do Sở tư pháp đề nghị và được Uỷ ban nhân dân xemxét và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê duyệt
Theo Quyết định số 258/2002/QĐ-BTP của Bộ Tư pháp, Quỹ trợ giúppháp lý Việt Nam là quỹ của Nhà nước đặt tại Cục trợ giúp pháp lý - Bộ Tưpháp để tiếp nhận nguồn tài chính từ ngân sách Nhà nước, từ tổ chức, cánhân trong nước và nước ngoài nhằm hỗ trợ tài chính cho hoạt động trợ giúppháp lý trong phạm vi toàn quốc theo quy định của pháp luật Cục trợ giúppháp lý có trách nhiệm quản lý nguồn tài chính của Quỹ theo quy định.Theo Báo cáo của Cục trợ giúp pháp lý ngày 01 tháng 10 năm 2004, trongnăm 2003 và 2004, Quỹ đều được cấp 900.000.000 đồng/năm Trong năm
2003 đã thực chi 801.999.300 đồng và đã hỗ trợ 714.827.500 đồng cho 22trung tâm trợ giúp pháp lý về 3 hoạt động chính là trợ giúp pháp lý lưuđộng, trang bị tủ sách và xây dựng băng hình, catset tiếng dân tộc và87.999.300 đồng cho việc tập huấn nâng cao trình độ nghiệp vụ, mua sắmthiết bị làm việc
Qua kết quả khảo sát tại 11 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chothấy việc bố trí kinh phí hoạt động hàng năm của các trung tâm trợ giúppháp lý tùy thuộc vào khả năng ngân sách của từng địa phương và căn cứvào nhu cầu trợ giúp pháp lý và trong một chừng mực nhất định là sự quan
Trang 33tâm của các cấp chính quyền Trên thực tế, có nhiều tỉnh, thành phố có khảnăng tự cân đối được ngân sách, trong khi đó, có nhiều tỉnh, nhất là ở miềnnúi phía Bắc, Tây nguyên không thể cân đối được nên có sự chênh lệch khálớn về kinh phí được cấp cho các trung tâm trợ giúp pháp lý Kết quả khảosát cho thấy, kinh phí hàng năm của Trung tâm trợ giúp pháp lý Tây Ninh là
75 triệu đồng, Đà Nẵng nhận được 110 triệu đồng, Hà Nội là 180 triệu đồng,Nghệ An là 300 triệu đồng, thành phố Hồ Chí Minh 400 triệu đồng
Về phần mình, các trung tâm trợ giúp pháp lý được cấp ngân sách nhànước lấy từ nguồn ngân sách địa phương Tính trung bình ở 11 tỉnh, thànhphố đã tiến hành khảo sát, ngân sách hàng năm của các trung tâm vàokhoảng 150 triệu đồng/năm dùng để chi vào các công việc như duy trì bộmáy, thực hiện các hoạt động trợ giúp pháp lý, tập huấn, tổ chức tuyêntruyền, phổ biến pháp luật và chi bồi dưỡng cho cộng tác viên tham gia thựchiện trợ giúp pháp lý
1.6 ủng hộ tích cực của các tổ chức quốc tế
Hoạt động trợ giúp pháp lý đã được sự quan tâm, ủng hộ tích cực củacác tổ chức quốc tế với nhiều hình thức hỗ trợ thiết thực như cung cấp kinhphí, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm cho các đối tác Việt nam Cho đến nay,
đã có 8 nhà tài trợ trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, bao gồm: SDC - ThụySỹ; SIDA - Thụy điển; Novib - Hà Lan; Radda Barnen (nay là SCS) - ThụyĐiển; Quỹ châu á - Hoa Kỳ; DIHR - Đan Mạch; CIDA - Tổ chức hợp tác vàphát triển Canada và NZAID - Tổ chức hỗ trợ phát triển quốc tế củaNiuZilân; UNDP - Chương trình phát triển Liên hợp quốc
Trong các địa phương được tiến hành khảo sát, có nhiều địa phương
đã nhận được sự tài trợ của các tổ chức quốc tế và nước ngoài Cụ thể là:
- Trung tâm trợ giúp pháp lý Hà Nội nhận được sự tài trợ của tổ chứcRadda Barnen (nay là SCS) - Thụy Điển trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý chotrẻ em, người chưa thành niên;
Trang 34- Trung tâm trợ giúp pháp lý Đà Nẵng nhận được hỗ trợ của Quỹ châu
á - Hoa Kỳ để tổ chức Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý tại hai xã;
- Trung tâm trợ giúp pháp lý Khánh Hòa nhận được sự hỗ trợ củaNovib - Hà Lan trong thời gian 4 năm (2000 - 2004) để mua sắm trang thiết
bị văn phòng và chi phí cho một số hoạt động pháp lý;
Trung tâm trợ giúp pháp lý Cần thơ nhận được sự hỗ trợ của Novib
-Hà Lan để trợ giúp pháp lý cho người nghèo từ năm 1997 đến năm 2004;
- Trung tâm trợ giúp pháp lý Nghệ An nhận được sự hỗ trợ của Novib
- Hà Lan để trợ giúp pháp lý cho người nghèo từ năm 1997 đến năm 2004.Kết quả khảo sát tại các trung tâm trợ giúp pháp lý và ý kiến của cácnhà tài trợ đều cho rằng, các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này là
có hiệu quả, thiết thực Cụ thể là, thứ nhất, năng lực của các chuyên viên pháp lý, cộng tác viên trợ giúp pháp lý được nâng cao Thứ hai, có thêm
nguồn kinh phí và điều kiện kỹ thuật để mở rộng các hình thức trợ giúppháp lý; tăng thêm số lượng các các đối tượng được trợ giúp, trong đó mởrộng thêm diện được hỗ trợ đặc biệt như trẻ em, phụ nữ, đồng bào dân tộcthiểu số; tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức của các đối
tượng và các cơ quan nhà nước có liên quan về trợ giúp pháp lý Thứ ba,
tăng cường năng lực nghiên cứu, kỹ năng nghề nghiệp, thông tin cho các đốitác Việt Nam trong việc thực hiện trợ giúp pháp lý
1.7 Sự tham gia rộng rãi của các cơ quan, tổ chức
Điều dễ nhận thấy là trong việc tổ chức các hoạt động trợ giúp pháp lý
có sự tham gia rộng rãi và sự phối hợp tích cực của các cơ quan nhà nước ởtrung ương, chính quyền các cấp, của các tổ chức chính trị - xã hội, nghềnghiệp Cụ thể là với sự phối hợp của các Bộ, ngành, đã xây dựng và banhành các chế độ, chính sách đối với cán bộ, cộng tác viên làm trợ giúp pháplý; sự phối hợp với chính quyền địa phương thành lập được 63 trung tâm trợgiúp pháp lý ở cấp tỉnh, hơn 700 chi nhánh, tổ trợ giúp pháp lý ở cấp huyện
và cấp xã trong cả nước với đội ngũ cán bộ, cộng tác viên đông đảo
Trang 35Với sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, cho đến nay đãthành lập được 02 trung tâm và 02 Văn phòng trợ giúp pháp lý ở trung ươngHội Nông dân Việt Nam, Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Trungương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Trung ương Hội liên hiệpPhụ nữ Việt Nam Đồng thời, Bộ Tư pháp đã có các chương trình phối hợpvới các tổ chức này để tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý với các trung tâm
ở các địa phương
1.8 Kết quả thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý
Trong những năm qua, một bộ phận đáng kể người dân đã được trợgiúp pháp lý Theo Báo cáo số 165/CTGPL của Bộ Tư pháp, tính đến hếtnăm 2003, tổng cộng đã thực hiện 401.336 vụ việc trợ giúp cho 417.041 đốitượng
K t qu tr giúp pháp lý trong n m 2002ết quả khảo sát về đội ngũ cộng tác viên ở các tỉnh, ả khảo sát về đội ngũ cộng tác viên ở các tỉnh, ợ giúp pháp lý trong năm 2002 ăm 2002
Nam Nữ Người nghèo Chính sách Dân tộc Trẻ em Loại khác 120.645
Trang 36bào dân tộc thiểu số là 22.421 người (17,74%); 6.920 trẻ em (5,45%) và cácđối tượng khác là 34.430 người (27,25%)
Qua khảo sát cho thấy, lĩnh vực pháp luật được tư vấn tập trung vàolĩnh vực pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, đất đai, nhà ở, hành chính,lao động, chế độ chính sách và hình sự
Các trung tâm trợ giúp pháp lý đã có nhiều hình thức trợ giúp pháp lý
đa dạng để trợ giúp cho người dân như tư vấn, hướng dẫn pháp luật, trợ giúppháp lý lưu động và đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền lợi của đương sự tạiTòa án…
Điều đáng chú ý là qua khảo sát tại các địa phương, chúng tôi nhậnthấy nhiều trung tâm trợ giúp pháp lý đã năng động và sáng tạo trong việc tổ
chức các hoạt động trợ giúp pháp lý hướng về cơ sở, trợ giúp pháp lý cho
phụ nữ tại Văn phòng riêng do trung tâm mở; tuyên truyền, phổ biến pháp
luật gắn với vụ việc cụ thể như ở Nha Trang - Khánh Hòa; tổ chức trợ giúppháp lý tại nhà như ở Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh; hoặc phối hợp vớibưu điện để người dân gửi đơn, thư về trung tâm trợ giúp pháp lý thì khôngphải dán tem như ở Tây Ninh…
ở một số địa phương đã không câu nệ vào quy định hiện hành mà linhhoạt mở rộng đối tượng trợ giúp pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh CàMau đã mở rộng thêm đối tượng là trẻ em, người già cô đơn, phụ nữ là nạnnhân của bạo lực, buôn bán ra nước ngoài và tiến hành tư vấn cho tất cả cácđối tượng có nhu cầu Tuy nhiên, đối với hình thức đại diện, bào chữa thìchỉ thực hiện đối với người nghèo, đối tượng chính sách.(1)
Về phương thức tổ chức hoạt động trợ giúp pháp lý, một số địaphương đã chủ động trong việc tổ chức một số hoạt động trợ giúp như kếthợp với Đài phát thanh, truyền hình, Đài 1080 tổ chức trả lời tư vấn phápluật; kết hợp với các điểm văn hóa xã để mở tủ sách tư vấn pháp luật, kếthợp với bưu điện tổ chức các thùng thư trợ giúp pháp lý
1 Xem Phụ lục số II.
Trang 371.9 Những bài học kinh nghiệm
Qua khảo sát và tìm hiểu tình hình thực tế, có thể thấy rằng, thành công của hoạt động trợ giúp pháp lý phụ thuộc rất lớn vào những yếu tố sau:
- Tấm lòng và nhiệt tình của các cán bộ, cộng tác viên làm trợ giúp pháp lý là nhân tố quan trọng trực tiếp bảo đảm thành công của công tác này Trong quá trình khảo sát thực tế làm việc với các trung tâm trợ giúp
pháp lý, chúng tôi nhận thấy hầu hết các cán bộ, cộng tác viên làm công tácđều có tinh thần tương thân, tương ái giúp đỡ đồng bào trong việc tiếp cậnpháp luật; nhiều người không ngại khó khăn đi đến với người dân; có cán bộtạo điều kiện, cho mượn nhà riêng của mình để làm văn phòng tiếp đươngsự…
- Sự ủng hộ từ phía cơ quan chủ quản - Sở Tư pháp và chính quyền địa phương Ví dụ, tại thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm trợ giúp pháp lý
có trụ sở riêng, tổ chức công việc một cách chuyên nghiệp, có cơ sở dữ liệulưu trữ về các vụ việc trợ giúp Sở Tư pháp và chính quyền địa phương hỗtrợ rất tích cực cho hoạt động trợ giúp pháp lý qua việc bảo đảm trụ sở làmviệc, cung cấp kinh phí, tăng thêm biên chế, bố trí xe ôtô riêng và các điềukiện làm việc khác
- Có mối quan hệ phối hợp tốt giữa trung tâm trợ giúp pháp lý với các
cơ quan khác ở địa phương như Tòa án, Viện kiểm sát, Công an tỉnh, thành phố Trong đó, quan hệ giữa cơ quan Công an và trung tâm trong việc thông
báo các trường hợp phạm pháp của trẻ em để Trung tâm cử người đến trợgiúp pháp lý kịp thời (đây là kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh,thành phố Hà Nội và một số tỉnh khác)
- Chủ động hướng tới người dân
ở Hà Nội, tổ chức các chi nhánh ở các quận, huyện để giảm tải số vụviệc tập trung về trung tâm trợ giúp pháp lý và để người dân thuận tiện trongviệc tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý Còn Nghệ An là địa phương có số
Trang 38lượng vụ việc trợ giúp pháp lý bằng phương thức đại diện, hoặc bào chữalớn nhất cả nước Trong khi đó, ở Thái Bình và một số địa phương kháckhông chi hết số tiền của Dự án dành cho việc thuê luật sư tham gia đạidiện, bào chữa tại Tòa án, phải trả lại Dự án.
Ngoài việc tổ chức hệ thống hòm thư pháp luật, đường dây nóng trợgiúp pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nghệ An còn tổ chức tìm hiểu các
vụ việc qua các báo cáo của Tòa án, báo chí Nếu phát hiện những vụ việcnào đó có liên quan đến đối tượng trợ giúp pháp lý, cho dù họ không có yêucầu, Trung tâm cũng tìm đến và thực hiện trợ giúp
- Tổ chức các cuộc trợ giúp lưu động
Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố Hồ Chí Minh đã kết hợp với các
cơ quan thông tin đại chúng để đưa tin về các đợt trợ giúp pháp lý lưu động;thông qua hệ thống loa phóng thanh địa phương, thông báo trước về hoạtđộng trợ giúp pháp lý, dành thời gian đầu của cuộc tiếp xúc để thông báo vềmục đích, phương thức, giới thiệu các cộng tác viên ở địa phương để ngườidân có thể tìm đến sau khi đợt trợ giúp pháp lý lưu động kết thúc
Trung tâm trợ giúp pháp lý Thái Bình có sáng kiến hướng dẫn cho cácchi nhánh của mình ở cấp huyện tổ chức các đợt trợ giúp pháp lý lưu độngtrong phạm vi địa bàn của huyện Nhờ vậy, kinh phí đi lại được giảm đi vàtăng cường mối quan hệ gần gũi với người dân
ở thành phố Hồ Chí Minh, mô hình thí điểm tổ chức trợ giúp pháp lýtại nhà riêng của cộng tác viên lại là một thành công nhờ có việc theo dõi,đánh giá chất lượng hoạt động và tạo được sự thuận lợi cho người dân vàđồng thời, tạo điều kiện cho các cộng tác viên kiêm nhiệm có thể tham giahoạt động trợ giúp ngoài giờ làm việc
Trang 392 Những khó khăn và tồn tại
2.1 Hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý chưa đầy đủ và đồng bộ
Qua nghiên cứu, phân tích, có thể nêu ra năm điểm hạn chế chủ yếu của hệ thống các văn bản pháp luật về trợ giúp pháp lý như sau:
- Thứ nhất, các văn bản pháp luật về trợ giúp pháp lý miễn phí đều là văn bản dưới luật Trong số các văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp về
vấn đề trợ giúp pháp lý, chỉ có một Quyết định về việc thành lập tổ chức trợgiúp pháp lý là của Thủ tướng Chính phủ, còn lại chủ yếu là Thông tư liêntịch hoặc Quyết định do Bộ Tư pháp ban hành (Phụ lục V) Như vậy, cácvăn bản này có hiệu lực pháp lý thấp Nếu xem xét trong tương quan với cácchính sách khác, chúng ta càng thấy rõ điều này Công tác hoà giải ở cơ sở;
tổ chức và hoạt động của luật sư là những nội dung quan trọng của hoạtđộng bổ trợ tư pháp đều được điều chỉnh bằng pháp lệnh, trong khi đó, tưvấn pháp luật của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệpđược điều chỉnh bằng Nghị định của Chính phủ Với việc các văn bản pháp
lý chủ yếu do liên bộ hoặc Bộ Tư pháp ban hành đã tạo ra không ít khó khăntrong việc triển khai các quy định pháp luật trên thực tế, đặc biệt là trongviệc quy định nghĩa vụ phối hợp thực hiện của các bộ, ngành khác
- Thứ hai, còn có sự tản mạn và trùng lặp giữa các văn bản pháp luật
về trợ giúp pháp lý Cụ thể có đến 3 văn bản quy định về nhiệm vụ, quyền
hạn của Cục trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư pháp, bao gồm Quyết định số734/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 752/QĐ-BTP của Bộtrưởng Bộ Tư pháp và Quy chế tổ chức và hoạt động của Cục trợ giúp pháplý
- Thứ ba, pháp luật về trợ giúp pháp lý miễn phí còn chưa đầy đủ, có những “lỗ hổng” nhất định Cụ thể như sau:
+ Chưa có quy định giải thích về khái niệm “trợ giúp pháp lý” hoặc
“trợ giúp pháp lý miễn phí” dẫn đến cách hiểu và vận dụng khác nhau và
nhất là không phân biệt được với các hoạt động tư vấn pháp lý khác có cùng
Trang 40bản chất như hoạt động tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị - xã hội,nghề nghiệp;
+ Chưa có quy định về các quyền, nghĩa vụ của chuyên viên trợ giúppháp lý; chưa quy định thống nhất về tổ chức và hoạt động của các chinhánh/tổ trợ giúp pháp lý cấp huyện và cấp xã trực thuộc trung tâm trợ giúppháp lý cấp tỉnh;
+ Chưa có các quy định trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trongviệc giúp các đối tượng chứng minh thuộc diện được trợ giúp pháp lý Trênthực tế, thủ tục chứng minh đủ điều kiện được hưởng trợ giúp còn rườm rà,mất nhiều thời gian, công sức của người dân
+ Thiếu các quy định và hướng dẫn liên quan đến vai trò của các tổchức trợ giúp pháp lý trong việc đại diện cho các đối tượng trợ giúp pháp lý.+ Thiếu quy định cho phép các chuyên viên trợ giúp pháp lý khôngphải là luật sư được phép tham gia tranh tụng tại Tòa án
- Thứ tư, còn nhiều quy định chưa rõ ràng, cụ thể như về cơ chế phối
hợp giữa tổ chức làm trợ giúp pháp lý với các cơ quan tiến hành tố tụng;trách nhiệm của cơ quan Công an, Toà án, Viện kiểm sát trong việc tạo điềukiện thuận lợi cho các cán bộ trợ giúp pháp lý thực hiện nhiệm vụ của mình;chưa tách biệt rõ về quyền và nghĩa vụ của chuyên viên trợ giúp pháp lý.Các quy định về sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội vàohoạt động trợ giúp pháp lý chủ yếu là thỏa thuận trong chương trình phốihợp, còn mang tính khuyến nghị, chưa thành trách nhiệm phối hợp giữa các
cơ quan này với các trung tâm trợ giúp pháp lý
Quy định tổ viên tổ hòa giải, già làng, trưởng bản, trưởng thôn và cáccán bộ chuyên ngành khác làm cộng tác viên của tổ chức trợ giúp pháp lý làchưa hợp lý vì những đối tượng này khó có thể đảm đương được đầy đủ cáchình thức trợ giúp pháp lý như đã quy định Trong khi đó, Pháp lệnh về tổchức và hoạt động hòa giải ở cơ sở có quy định rất cụ thể về tiêu chuẩn của
tổ viên Tổ hòa giải