Biến đổi nhiễm sắc thể ở những người tiếp xúc nghề nghiệp với phóng xạ Nguyễn Đình Trung, Trần Văn Khoa, Nguyễn Thị Thanh Nga, Nguyễn Thúy Huyền, Đặng Thị Hồng.. - Mở rộng nghiên cứu xá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
-* -
NGUYỄN ĐÌNH TRUNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIẾN ĐỔI NHIỄM SẮC THỂ, GEN P53 Ở NHÂN VIÊN Y TẾ CÓ TIẾP XÚC NGHỀ NGHIỆP VỚI PHÓNG XẠ
Chuyên ngành: Sức khỏe nghề nghiệp
Mã số: 62.72.01.59
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS TS Nguyễn Khắc Hải
2 PGS TS Nguyễn Duy Bảo
Phản biện 1: ………
Phản biện 2: ………
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án nhà nước họp tại
Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, vào hồi giờ , ngày tháng
năm 20
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1 Thư viện Quốc gia
2 Thư viện Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
3 …
27
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
1 Biến đổi nhiễm sắc thể ở những người tiếp xúc nghề nghiệp với phóng xạ
Nguyễn Đình Trung, Trần Văn Khoa, Nguyễn Thị Thanh Nga, Nguyễn Thúy Huyền, Đặng Thị Hồng
Tạp chí Y - Dược học Quân sự Vol 38 số 3, 2013
2 Biến đổi gen p35 ở những người tiếp xúc nghề nghiệp với phóng xạ
Nguyễn Phương Liên, Trần Phương Thảo, Nguyễn Đình Trung, Nguyễn Huy Hoàng
Tạp chí Công nghệ Sinh học 11(4): 625-629, 2013
3 Thực trạng môi trường lao động của nhân viên y tế tiếp xúc phóng xạ nghề nghiệp ở một số bệnh viện khu vực Hà Nội
Nguyễn Đình Trung, Nguyễn Khắc Hải,
Nguyễn Duy Bảo,
Tạp chí Y học Dự phòng tập XXVI, số 13 (186) 2016
Trang 3KIẾN NGHỊ
- Cần nghiên cứu kỹ hơn và xác định rõ liều cho phép đối với các bộ
phận của cơ thể để giám sát cho những cán bộ làm việc trong những
phòng chụp mạch can thiệp, xạ hình
- Triển khai các kỹ thuật đã có của đề tài phân tích NST, gen P53 ở
phòng thí nghiệm của Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường và phổ
biến cho các cơ sở khám bệnh nghề nghiệp khác
- Mở rộng nghiên cứu xác định biến đổi NST bằng các phương pháp
có độ nhạy cao hơn và xác định đột biến ở những gen khác ở NVYT tiếp
xúc với phóng xạ
- Mở rộng nghiên cứu xác định tác động của biến đổi gen P53 đã
được xác định và nghiên cứu thêm đột biến ở những gen khác ở NVYT
tiếp xúc với phóng xạ
3
ĐẶT VẤN ĐỀ
được Becquerel phát hiện vào năm 1896 Kể từ đó phóng xạ đã được ứng dụng ở nhiều ngành nghề khác nhau: y tế, kỹ thuật, công nghiệp Bệnh do tiếp xúc phóng xạ ngày càng được chứng minh một cách rõ ràng và có mối liên quan của bệnh với yếu tố tiếp xúc nghề nghiệp: ung thư phổi - thợ mỏ uranium, ung thư xương - công nhân tiếp xúc radium, ung thư da - bác sĩ, nhân viên xạ trị, X quang, bệnh bạch cầu
- những bác sĩ, nhân viên xạ trị, X- quang, bệnh nhân điều trị
Thực trạng an toàn phóng xạ tại các cơ sở y tế như thế nào cần được điều tra, nghiên cứu để đưa ra được những chứng cứ mang tính chủ quan và khách quan bằng nhiều hình thức khác nhau: điều thực địa, đo đạc vật lý, sinh học Trong số các chỉ thị sinh học, tổn thương nhiễm sắc thể đã được chứng minh có mối liên quan mật thiết với mức độ nhiễm xạ
và được coi là một trong những phương pháp đo liều sinh học có giá trị,
mà trong nhiều trường hợp là bằng chứng khách quan, duy nhất và đáng tin cậy Ngoài ra, đột biến gen cũng được khẳng định là hậu quả tương tác phóng xạ với vật chất di truyền gen P53 là một trong số các gen thuộc nhóm gen ức chế khối u có tỷ lệ đột biến khá cao, trên 50% trong các trường hợp ung thư nói chung
Việc phát hiện, đánh giá biến đổi vật chất di truyền có thể sử dụng để đo liều sinh học nhằm theo dõi, cảnh báotác hại do phóng xạ có thể gây ra Tại Việt nam, có rất ít các nghiên cứu về tổn thương nhiễm sắc thể và gen trong phóng xạ nói chung và phóng xạ nghề nghiệp nói
riêng Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một số
biến đổi nhiễm sắc thể, gen P53 ở nhân viên y tế có tiếp xúc nghề
nghiệp với phóng xạ” Với các mục tiêu sau:
1 Mô tả điều kiện an toàn bức xạ của nhân viên y tế tiếp xúc nghề nghiệp với phóng xạ tại một số bệnh viện ở Hà Nội năm 2013
Trang 42 Xác định biến đổi nhiễm sắc thể và trình tự gen P53 ở nhân viên y
tế tiếp xúc nghề nghiệp với phóng xạ
* Những đóng góp mới của luận án
- Luận án cung cấp những số liệu mới, đầy đủ về điều kiện lao
động đã đưa ra đuợc các bằng chứng khách quan, đặc biệt là các yếu tố
nguy cơ gây ung thư đối với nhân viên, biến đổi nhiễm sắc thể và đột
biến gen TP53 ở nhóm nhận viên y tế tiếp xúc với phóng xạ nghề nghiệp
Trên thế giới các nghiên cứu tương tự như nghiên cứu của chúng tôi
không có nhiều Lần đầu tiên sử dụng các só liệu thông nhất từ môi
trường lao động, đến biến đổi nhiễm sắc thể và dung biến đổi nhiễm sắc
thể để đánh giá mức độ tiếp xúc phóng xạ và bước đầu phát hiện được
các đột biến gen P53
- Điểm mới của đề tài đã xác định được biến đổi nhiễm sắc thể ở
nhân viên y tế tiếp xúc nghề nghiệp với phóng xạ Đồng thời, nghiên cứu
này cũng đã xác định được các đột biến của gen TP53 trong nhân viên y
tế tiếp xúc nghề nghiệp với phóng xạ
* Bố cục của luận án
Luận án bao gồm 120 trang với các phần và 4 chương
- Đặt vấn đề: 02 trang
- Chương 1 - Tổng quan: 41 trang
- Chương 2 - Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 13 trang
- Chương 3 - Kết quả nghiên cứu: 36 trang
- Chương 4 - Bàn luận: 27 trang
- Kết luận: 01 trang
- Kiến nghị: 01 trang
- Tài liệu tham khảo: 118 tài liệu
25
KẾT LUẬN
1 Điều kiện an toàn bức xạ tại các các cơ sở nghiên cứu trên địa bàn
Hà Nội cho thấy nhân viên y tế tiếp xúc nghề nghiệp đã được bảo đảm về an toàn bức xạ:
- Các phòng chụp X quang và chiếu xạ tại các cơ sở nghiên cứu đã tuân thủ nghiêm các quy đinh của nhà nước về an toàn bức xạ Cơ
sở vật chất đầy đủ và đảm bảo an toàn
tại vị trí nhân viên X quang đều đạt tiêu chuẩn cho phép Tuy nhiên, tại phòng chiếu xạ cobal, phòng chụp mạch can thiệp và phòng chụp
xạ hình do điều kiện làm việc và khó cách ly nguồn phát xạ nên có những điểm vượt tiêu chuẩn cho phép
2 Đã phát hiện ở nhân viên y tế tiếp xúc với phóng xạ có một số biến đổi vật chất di truyền sau:
nghiệp cao hơn so với nhóm chứng (p<0,001)
- Đã phát hiện một số trường hợp thấy tần số bất thường nhiễm sắc thể dạng hai tâm động hoặc vòng cao hơn bình thường, chứng tỏ quá liều cho phép
tại 02 exon 5, 6 là 20% trong tổng số NVYT được xét nghiệm và không thấy có những thay đổi này ở nhóm chứng
P53 tại 02 exon 8, 9
Trang 524 gen p53 nằm trên exon 5 đến 9 Các exon này mã hóa cho phần bề mặt
của protein và amino acid ở vùng này liên quan trực tiếp đến việc bám
vào ADN
Hai điểm thay đổi nucleotide tại vị trí 13336 G>C ở các mầu K11,
K27, K28, K36, K55, XQ, VX16 và tại vị trí 13347 G>A ở các mầu K20,
K36, K38, K41, K43 (Hình 3.11) Ngoài ra, trên mẫu K36 có hai điểm
thay đổi nucleotide ở vị trí 13097 A>C và 13174 G>T; trên mẫu VĐ41
có một điểm thay đổi nucleotide ở vị trí 13150 C>T; trên mẫu K19 và
K27 mất một nucleotide tại vị trí 13087 Các biến đổi này không thấy
công bố trên Ngân hàng gen và tại nhóm chứng
Sự thay đổi amino acid tại các vị trí 165 Q>H, 184 D>N, 192 Q>H
và 196 R>Q cũng đã được Lai và đồng tác giả (2002) phát hiện trên các
bệnh nhân bị ung thư phổi Trong nghiên cứu này chúng tôi cũng thu
được kết quả tương tự, đặc biệt mẫu ADN của nhân viên y tế mang ký
hiệu K38 có ba đột biến ở các vị trí codon 184, 192, 196 và nhân viên
này cũng đã được phát hiện có một khối u ở phổi Vì vậy, tuy chưa có
nhiều biểu hiện về bệnh lý nhưng các nhân viên này có nguy cơ cao với
bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư phổi Sự thay đổi nucleotide ở các exon
này đã đưa đến những thay đổi về acid amin tại các vị trí codon 165
Q>H, 184 D>N, 192 Q>H, 196 R>Q và stop codon tại vị trí 136
5
Chương 1 - TỔNG QUAN
1.1 Đại cương về phóng xạ
Bức xạ ion hoá: hay còn gọi là phóng xạ là tất các các loại bức xạ (điện
từ và hạt) khi tương tác với môi trường tạo nên các ion
Mọi người và mọi vật đều cấu tạo từ nguyên tử Một người lớn trung bình là tập hợp của khoảng 4 x 1027 nguyên tử oxy, hydro, cacbon, nito, phốt pho và các nguyên tố khác
1.2 Ảnh hưởng của phóng xạ tới cơ thể
Sơ đồ.1.1: Ảnh hưởng phóng xạ tới cơ thể
1.2.1 Sự tổn thương ADN
Tổn thương ADN do bức xạ ion hóa có thể chia làm hai loại: tổn thương do tác động trực tiếp (chiếm 35%), gián tiếp (chiếm 65%)
- Các loại tổn thương ADN
* Biến đổi các bazơ nitơ
* Biến đổi một phần phân tử đường có thể gây ra:
+ Đứt gãy ADN sợi đơn + Đứt gãy ADN sợi kép + Giải phóng các bazơ nitơ không bị tổn thương
Trang 6* Hình thành các liên kết chéo (có hai loại chính):
+ Liên kết chéo ADN-ADN
+ Liên kết chéo ADN-protein
Hình 1.1: Tác động phóng xạ tới ADN (nguồn Radiation protect Dosimetry, vol 122)
1.2.2 Nhiễm sắc thể và sự tổn thương do phóng xạ
Thành phần cấu trúc cơ bản của NST là ADN, sự tổn thương
NST xuất phát từ tổn thương ADN
1.2.3 Gen P53 (protein 53):
Ở người, gen mã hóa cho protein P53 nằm trên nhiễm sắc thể
(NST) số 17 tại vị trí 17p13.1 Gen này có kích thước hơn 20kb với 11
exon và 10 intron Khi kiểm tra thấy có sự sai hỏng ADN, P53 ngừng
chu kỳ phân bào tại các điểm kiểm soát (checkpoint) và hoạt hóa các
gen mã hóa các enzyme có chức năng sửa chữa sai hỏng ADN Nếu
ADN được sửa chữa hoàn chỉnh, chu kỳ tế bào được tiếp tục Nếu ADN
không được sửa chữa, tế bào sẽ chết theo cơ chế “chết theo chương
trình” (apoptosis)
Nếu P53 bị sai hỏng hoặc mất chức năng thì các tế bào mang
ADN sai hỏng vẫn được nhân lên mang theo các đột biến có hại Các
nghiên cứu cho thấy hơn 50% trường hợp ung thư ở người là do có sự sai
hỏng của gen mã hóa P53 Do đó, P53 còn được gọi là gen áp chế ung
23
- 118 giá trị liều cao cần xem xét (chiếm 0,57%): 5 -20 mCi, trong đó: 4 liều kế phông và 22 người bị liều chiếu cao cần xem xét (chiếm 0,55%)
- Tổng cộng 136 người cần được tiếp tục theo dõi kiểm soát chiếu
xạ nghề nghiệp, còn lại 17199 người được kiểm soát giá trị nằm trong giới hạn cho phép
4.3 Biến đổi nhiễm sắc thể
Những trường hợp tổn thương NST do phóng xạ dạng dic/ring và dạng đứt gãy (fragment) Tổn thương đặc trưng dạng dic/ring do phóng
xạ gây ra chủ yếu tập trung ở nhóm NVYT tiếp xúc tia X, 1 trường hợp
có tuổi nghề dưới 10 năm và 3 trường hợp còn lại có tuổi nghề trên 20 năm 72% NVYT tiếp xúc với tia X có tổn thương dạng đứt gãy và tỷ lệ này là 74,3% ở NVYT tiếp xúc với tia gama, những đứt gẫy tập trung chủ yếu ở nhóm NVYT có tuổi nghề dưới 15 năm Với tỷ lệ đứt gãy so sánh với nhóm chứng thấy khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01 Nghiên cứu của Sigurdson (2003) báo cáo tăng nguy cơ bị khối u, ung thư vú và ung thư tuyến giáp cho kỹ thuật viên nữ và gia tăng nguy
cơ u ác tính và ung thư tuyến giáp ở kỹ thuật viên nam Đối với cả hai giới, những nguy cơ của một số bệnh ung thư khác (ví dụ như ung thư phổi) là ít so với dự đoán, Nghiên cứu của Farideh và Tomohisa (2008) tại Iran cho thấy nhóm NVYT làm X-quang can thiệp mạch có tổn thương nhiễm sắc thể rõ rệt hơn nhóm NVYT làm trong y học hạt nhân
và X-quang thông thường Những bệnh ung thư bao gồm ung thư phổi (59,2%), da (10%) và các mô tạo máu (8,7%) Các bệnh không ung thư thường xảy ra trong nhân viên y tế, trong đó có đục thủy tinh thể bởi bức
xạ ion hóa chiếm vị trí hàng đầu
4.4 Biến đổi gen P53
Cho đến nay, các nghiên cứu về chức năng và đột biến liên quan đến sự thay đổi chức năng của gen p53 đã được công bố khá nhiều Các nghiên cứu cho thấy khoảng 50% các bệnh ung thư ở người có liên quan đến đột biến trên gen p53 (Forslund et al) Khoảng 90% các đột biến trên
Trang 7Số lượng bạch cầu ở nhóm nghiên cứu (5,35 ± 2,29 x 109/l) cao
hơn so với nhóm chứng nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
với P > 0,05 tuy nhiên với số lượng bạch cầu tại nghiên cứu này thấp
hơn nhiều so với nghiên cứu của Nguyễn Khắc Hải (7,02.109/l ) Tại
Đặc biệt ở nhóm nghiên cứu gặp 1 trường hợp có số lượng bạch cầu
là11,3 x 109/l
So sánh với nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hòa tỷ lệ nhân viên bức
xạ thiếu máu ở nhân viên nam chiếm tới 66,1%, có 38,9% các trường hợp
nam giới có bất thường số lượng hồng cầu Số trường hợp bất thường về
số lượng bạch cầu là 36,1%
4.2.4 Đo liều hấp thu cá nhân:
Để đánh giá mức độ nhiễm xạ của nhân viên tiếp xúc với bức xạ,
người ta thường sử dụng phương pháp đo liều hấp thu cá nhân
Kết quả đo 58 /60 người (96,7%) ở mức cho phép của TCVN
6561-1999, có 02 người có kết quả đo vượt TCCP Kết quả trên nhìn
chung phù hợp với kết quả đo liều suất trên cơ thể NVYT khi ở phòng
điều khiển Năm 2014 cả nước có 14706 trường hợp được theo dõi đọc
liều thì có:
- 73 giá trị vượt giới hạn liều (chiếm 0,4%) > 20 mCi, trong đó: 15
liều kế phông và 58 người bị chiếu quá liều (chiếm G,S9%)
- 97 giá trị liều cao cần xem xét (chiếm 0,65%) > 10 mCi, trong đó:
6 liều kế phông và 91 người bị liều chiếu cao cần xem xét (chiếm
G,61%)
- 14536 giá trị nằm trong giới hạn cho phép (chiếm 98,84%)
- Năm 2015 cả nước có 17335 trường hợp được theo dõi đọc liều thì
có:
- 23 giá trị vượt giới hạn liều (chiếm 0,13%) > 20 mSv/năm, trong
đó: 1 liều kế phông và 22 người bị chiếu quá liều (chiếm
0,126%)
7
1.3 Tiếp xúc với phóng xạ nghề nghiệp
Khi tiếp xúc với phóng xạ sẽ gây ảnh hưởng tới mô tế bào với các mức độ khác nhau:
1) Phóng xạ không đủ sức làm hư hại tế bào
2) Tế bào bị hư hại lúc đầu nhưng sau đó có thể tự sửa chữa lành mạnh, giống như hàng triệu tế bào bị chết trong cơ thể mỗi ngày
và được thay thế bằng những tế bào mới
3) Tế bào bị phóng xạ, tự sửa chữa được nhưng không hoạt động được bình thường như trước những tổn thương ADN và NST Những tế bào này có thể hình thành tế bào tiền ung thư, có thể trở thành ung thư
4) Nhiễm phóng xạ nặng làm tế bào chết
1.4 Nghiên cứu tiếp xúc phóng xạ, biến đổi NST, gen do tiếp xúc phóng xạ:
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Cục Kiểm soát và An toàn bức xạ hạt nhân (Bộ KH&CN), năm 2015 có khoảng 17.335 người tại 2.183 cơ sở thường xuyên tiếp xúc với nguồn phóng xạ đang được kiểm soát, theo dõi liều chiếu xạ hằng quý Trong đó có:
- 23 giá trị vượt giới hạn liều (chiếm 0,13%) > 20 mSv/năm, trong đó: 1 liều kế phông và 22 người bị chiếu quá liều (chiếm 0,126%)
- 118 giá trị liều cao cần xem xét (chiếm 0,57%): 5 -20 mCi, trong đó: 4 liều kế phông và 22 người bị liều chiếu cao cần xem xét (chiếm 0,55%)
- Tổng cộng 136 người cần được tiếp tục theo dõi kiểm soát chiếu
xạ nghề nghiệp., còn lại 17199 người được kiểm soát giá trị nằm trong giới hạn cho phép
Theo Nguyễn Khắc Hải và CS (2004) liều suất tức thời tại phòng
X quang tư nhân đo tại vị trí khe cửa ra vào từ 0,17-273µSv/h Có 34,4%
số cơ sở có những điểm đo quá giới hạn cho phép, có vị trí cao gấp 500
Trang 88 lần mức cho phép (273µSv/h) do bố trí hướng máy X quang khi chụp
chùm tia chiếu thẳng vào cửa ra vào không được che chắn Theo Nguyễn
Duy Bảo (1999) Liều suất tức thời tại phòng X quang có tỷ lệ vượt mức
cho phép là 35,8% và 36,8% Trong nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Phú,
liều suất đo được tại buồng rửa phim là 0,18-0,94 Sv/h, có 5/58 (8,6%) số
cơ sở vượt quá giới hạn tuy nhiên liều vượt quá này không nhiều (cao
nhất là 0,94 µSv/h)
Ở Việt Nam, hiện nay việc nghiên cứu và sử dụng các phương
pháp đo liều sinh học PX còn chưa được phát triển
Trần Cẩm Vinh, Trần Quế và CS (2000) nghiên cứu thực nghiệm
tần số dic trên bạch cầu sau chiếu tia gamma và khảo sát tần số sai hình
NST kiểu dic ngẫu nhiên và nhóm dân cư ở Đà Lạt, Việt Nam
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Hiện nay trên thế giới có khoảng 800.000 công nhân tiếp xúc
nghề nghiệp với phóng xạ tại các nhà máy điện nguyên tử và trên 2 triệu
người làm việc có liên quan tới phóng xạ tại các cơ sở y tế Đa số công
nhân tiếp xúc với phóng xạ dưới 1 mSv/ năm, trung bình khoảng 0,6 -1,8
mSv/năm
Theo quy định của một số nước hiện nay mức độ tiếp xúc nghề
nghiệp tối đa là 20 mSv/năm Tuy nhiên theo nghiên cứu của Viện
Karolinska, Thụy Điển người lao động khi tiếp xúc với phóng xạ với liều
thấp hơn vẫn có nguy cơ bị ung thư Theo biểu đồ 1, cho thấy mức tiếp
xúc phóng xạ với liều chiếu dưới 50 rem vẫn có nguy cơ gây ung thư
Biều đồ 1.2: Liên quan liều tiếp xúc phóng xạ và ung thư
(nguồn USNRC Regulatory Guide 8.29)
21
4.2 Tình hình sức khỏe bệnh tật
4.2.1 Tình hình chung về NVYT tiếp xúc phóng xạ nghiên cứu:
Số lượng nhân viên y tế (NVYT) tiếp xúc phóng xạ tham gia nghiên cứu là 60 người, trong đó tỷ lệ nam chiếm 78,3%, nữ giới chiếm 21,7%, tỷ lệ nam và nữ ở nhóm chứng tương ứng là 76,7 % và 23,3%, không có khác biệt giữa hai tỷ lệ nam và nữ giữa nhóm chứng và nhóm nghiên cứu (với p>0,05) Nữ NVYT tiếp xúc với tia X có 12% và tiếp xúc với tia gama là 28% Tỷ lệ nam nữ làm việc trong môi trường bức xạ ion hoá đã có sự thay đổi so với trước đây, tỷ lệ nam và nữ theo nghiên cứu của Nguyễn Khắc Hải tỷ lệ nam nữ là 96, 7% và 3,3%, tỷ lệ nữ theo nghiên cứu của Nguyễn Duy Bảo là 4%
4.2.2 Tình hình sức khỏe bệnh tật của nhân viên X quang:
Phỏng vấn các triệu chứng bệnh lý liên quan đến ảnh hưởng của phóng xạ.cho thấy triệu chứng khô da ở nhóm nghiên cứu là 28,7% và nhóm chứng là 11,7% có sự khác biệt có ý nghĩa thông kê với p<0,05, kết quả này tương tự so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thế Trâm (33%), các triệu chứng khác như ngứa da, giảm thị lực, chán ăn, dao động trong khoảng từ 16,7 đến 40% ở cả hai nhóm và không có sự khác biệt các triệu chứng này Suy nhược thần kinh có tỷ lệ 25% tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thế Trâm là 59% và kết quả nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Phú là 46% Trong nhóm nghiên cứu có
01 trường hợp phát hiện u xơ ở phổi với kích thước 2x2cm được chẩn đoán xác định vào năm 2010
- Kết quả xét nghiệm máu
Số lượng hồng cầu trong nhóm nghiên cứu là 5,22 ± 1,12 x 1012/l cao hơn nhóm chứng 4,65 ± 0,49 x 1012/lvà sự khác nhau có ý nghĩa thống kê với P < 0,01.Số lượng hồng cầu ở nghiên cứu này cao hơn so
các cơ sở tư nhân
Trang 94.1.2 Kết quả đo kiểm tra môi trường
Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giữa đề tài và nghiên
cứu của Nguyễn Xuân Hòa tại các phòng có nguồn bức xạ ion hóa có số
mẫu không đạt tiêu chuẩn về nhiệt độ hiệu dụng chiếm tỷ lệ cao nhất
(36%) bao gồm cả phòng X quang tư nhân[9], điều này cho thấy đối với
các cơ sở khám chữa bệnh công lập được quan tâm đầy đủ và đúng theo
quy đinh về bức xạ về nhiệt độ
Độ ẩm trong phòng điều khiển và phòng hành chính xấp xỉ độ ẩm
ngoài trời, sự khác biệt không lớn nhưng độ ẩm trong phòng rửa phim và
phòng máy cao hơn so với 2 vị trí trên, 100% phòng đo có độ ẩm đạt tiêu
chuẩn cho phép
Nhân viên X quang, tiếp xúc với phóng xạ phải làm việc trong
điều kiện độ chiếu sáng không tốt trong thời gian dài và liên tục sẽ gây sự
mệt mỏi của mắt và suy giảm thị lực Đây sẽ là tác hại cộng thêm vào
ảnh hưởng của tia X
* Kết quả đo liều bức xạ cho thấy:
Môi trường bên ngoài 19 phòng chụp đo được liều suất giao động
từ 0,15 - 0,26 µSv/h, cửa ra vào các phòng X - quang đều được che chắn
theo đúng yêu cầu không để lọt tia ra ngoài so sánh với thì tỷ lệ này đã
được cải thiện rõ ràng nghiên cứu của Nguyễn Duy Bảo tỷ lệ là 35,8%
[1] và 36,8% trong nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Phú [16] Kết quả này
thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Vũ Mạnh Hùng [10]
Với các kết quả đo được ở các phòng xạ trị và xạ hình cho thấy,
mặc dù không phải tiếp xúc liên tục với các vị trí vượt tiêu chuẩn cho
phép ở trên nhưng với những lần tiếp xúc ngắn và mật độ nhiều thì đây
cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của
NVYT và là một tiêu chí để xác định mức tiếp xúc của NVYT có tiếp
xúc với phóng xạ
9 Các nghiên cứu của Pháp vào năm 1954 cho thấy bác sĩ X quang
bị bệnh bạch cầu gấp 10 lần so vơí các bác sĩ khác Ngoài ra theo thống
kê gần đây tuổi thọ trung bình của thầy thuốc chuyên khoa X quang giảm
6 năm do hấp thụ tia ion hoá
Nghiên cứu của Wang JX và cộng sự (2002) cho thấy đã tìm thấy nguy cơ cao cho bệnh bạch cầu và ung thư da, ung thư vú nữ, phổi, gan, bàng quang, và thực quản (các RR tương ứng là 2,2; 4,1; 1,3; 1,2; 1,2; 1,8 và 2,7)
Muller H J và CS (1927) và tiếp theo của Painter T.S và Muller H.J .(1929) phát hiện thấy tia X gây bất thường NST ở ruồi giấm
Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1.Địa điểm và thời gian nghiên cứu
* Địa điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu sẽ được chọn chủ đích tại phòng chẩn đoán hình ảnh,
xạ trị và phòng phẫu thuật, thủ thuật điều trị dưới sự hướng dẫn tia X
tại các bệnh viện: Bệnh viện K Trung ương cơ sở 1, Bệnh viện K
Trung ương cơ sở 2, Bệnh viện U bướu Hà Nội, Bệnh viện Hữu nghị, Bệnh viện Hữu nghị Việt - Đức
* Thời gian nghiên cứu: 2012-2013
2.2 Đối tượng và cỡ mẫu nghiên cứu
* Đối tượng:Nhân viên y tế tiếp xúc với phóng xạ nghề nghiệp hiện đang
công tác tại một số bệnh viện tại Hà Nội
* Cỡ mẫu nghiên cứu: theo công thức tính cỡ mẫu nghiên cứu cắt
ngang:
2 2
) 2 / 1 (
) 1 (
d p p Z
n
- Các nhân viên làm việc trực tiếp, thường xuyên với phóng xạ (để nghiên cứu bất thường về NST): Với α = 0,10 thì Z(1-α/2) = 1,65, p=0,0365 (tỷ lệ có bất thường về nhiễm sắc thể ở nhân viên y tế tiếp xúc phóng xạ theo nghiên cứu của Nguyễn Khắc Hải và CS năm 2004 là
Trang 1010 3,65%), d = 0,05, khi lắp các giá trị vào công thức trên thì được số n là
56, làm tròn là 60 Vậy sẽ chọn 60 nhân viên tiếp xúc phóng xạ
2.3 Phương pháp và nội dung nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, đối chứng
2.3.2 Phương pháp và các chỉ số nghiên cứu:
+ Nội dung 1: Đánh giá mức độ tiếp xúc phóng xạ của những người tiếp
xúc nghề nghiệp với phóng xạ:
- Điều tra thực trạng thiết kế phòng X quang, xạ trị,
- Khảo sát môi trường phòng X quang:
Đo liều suất phóng xạ cho nhân viên tiếp xúc phóng xạ
Đo vi khí hậu
- Liều hấp thụ cá nhân:
Hồi cứu số liệu theo dõi liều hấp thu cá nhân của nhân
viên tiếp xúc trong vòng 2 năm gần nhất
Đo liều hấp thụ cá nhân
- Điều tra tuân thủ các biện pháp an toàn, theo dõi tiếp xúc phóng
xạ và sức khỏe của nhân viên tiếp xúc và cơ sở điều tra
+ Nội dung 2: Xác định biến đổi nhiễm sắc thể và gen P53 ở những
người tiếp xúc nghề nghiệp với phóng xạ
* Nghiên cứu biến đổi nhiễm sắc thể ở những người tiếp xúc nghề nghiệp
với phóng xạ
+ Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật phát hiện tổn thương nhiễm sắc thể trên
tế bào bạch cầu máu ngoại vi
- Chuẩn hóa quy trình nhuộm Giemsa tế bào bạch cầu máu ngoại vi
- Đánh giá tổn thương NST qua nhuộm Giemsa của tế bào bạch cầu máu
ngoại vi
* Đánh giá đột biến gen P53 ở những người tiếp xúc nghề nghiệp với
phóng xạ
+ Thiết kế các cặp mồi đặc hiệu nhân đoạn exon 5, 6 trên gen P53
+ Nhân các đoạn gen P53 bằng phương pháp PCR
19 các mầu K19 và K27 tạo ra một bộ mã Các biến đổi này không thấy công bố trên Ngân hàng gen và tại nhóm chứng
Phân tích trình tự đoạn 7,9, chúng tôi nhận thấy ở đoạn gen này không có sự thay đổi về nucleotide ở các mẫu nghiên cứu
Bảng 3.4: Liên quan giữa biến đổi gen P53 và tiếp xúc phóng xạ
nghề
TX Tia X
(n =25)
TX Tia Gama
(n =35)
Tổng cộng
(n =60) Biến
đổi % Biến đổi % Biến đổi %
Tỷ lệ thay đổi về nucleotide dẫn tới thay đổi acid amin của gen P53 tại 02 exon 5, 6 chiếm tỷ lệ 20% trong tổng số NVYT được xét nghiệm và không thấy có những thay đổi này ở nhóm chứng Có 31,82% NVYT có tuổi nghề dưới 10 năm có xuất hiện những thay đổi này và 45,45% ở nhóm tuổi nghề 11-15
Như vậy, tuy chưa có những biểu hiện bệnh lý, nhưng trong trình
tự gen p53 của những người làm việc trong môi trường tiếp xúc với phóng xạ đã có thay đổi nucleotide và acid amin trong trình tự của đoạn gen 5,6
Chương 4 - BÀN LUẬN
4.1 Điều kiện lao động và chiếu xạ môi trường lao động
4.1.1 Vệ sinh phòng ốc và điều kiện làm việc
Các cơ sở nghiên cứu có điều kiện phòng ốc đạt kết quả môi trường lao động cho phép, kết quả nghiên cứu của đề tài có đồng nhất với nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hòa về điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị