Về phương diện lý luận, vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp, quản lýgiáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên nói chung đã được nhiều nhànghiên cứu quan tâm, luận giải ở nhiều góc độ kh
Trang 1nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Phạm Thị Hồng Hạnh
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục đạo
1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý giáo
1.3 Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã
công bố và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết 27
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG
Chương 3 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG
3.4 Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
Chương 4 BIỆN PHÁP VÀ KIỂM NGHIỆM CÁC BIỆN PHÁP QUẢN
LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH
4.1 Hệ thống biện pháp quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp
cho sinh viên các trường nghệ thuật hiện nay 116 4.2 Khảo nghiệm, thử nghiệm tính cần thiết, khả thi của các biện pháp 144
Trang 31 3.1 Bảng tổng hợp các ý kiến đánh giá tầm quan trọng của đạo đức
2 3.2 Bảng đánh giá tầm quan trọng của cán bộ và giảng viên về
quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 91
5 3.5 Bảng đánh giá của cán bộ, giảng viên về kiểm tra, đánh
giá kết quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên 106
6 3.6 Bảng tổng hợp kết quả thực trạng đánh giá mức độ các
7 4.1 Bảng điểm tổng hợp ý kiến về tính cần thiết của các
8 4.2 Bảng điểm tổng hợp ý kiến về tính khả thi của các biện pháp 146
9 4.3 Bảng điểm tổng hợp ý kiến về tương quan giữa tính cần
10 4.4
Bảng tiêu chí và những chỉ số cụ thể đánh giá tác độngtrong việc xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dunggiáo dục đạo đức nghề nghiệp và tổ chức thực hiện kếhoạch, chương trình, nội dung giáo dục đạo đức nghềnghiệp cho sinh viên các trường nghệ thuật 150
13 4.4c Bảng tổng hợp kết quả tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình,
nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường
156
Trang 4nghệ thuật sau thử nghiệm 158
Biểu đồ đánh giá của các lực lượng sư phạm về mức độcần thiết phải giáo dục chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp
18 3.2 Biểu đồ tổng hợp kết quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp
19 3.3 Biểu đồ mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới quản lý giáo
20 4.1 Biểu đồ kết quả khảo nghiệm về tương quan giữa tính cần
Biểu đồ so sánh kết quả xây dựng kế hoạch, chươngtrình, nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinhviên các trường nghệ thuật trước thử nghiệm 155
Biểu đồ so sánh kết quả tổ chức thực hiện kế hoạch,chương trình, nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp chosinh viên các trường nghệ thuật trước thử nghiệm 156
Biểu đồ so sánh kết quả xây dựng kế hoạch, chương trình,nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp phù hợp với sinhviên các trường nghệ thuật sau thử nghiệm 159
Biểu đồ mức độ phát triển xây dựng kế hoạch, chương trình,nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp phù hợp với sinhviên các trường nghệ thuật sau thử nghiệm 161
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội,trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” [54, tr.310] Sinh thời,Người rất quan tâm đến giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho thế hệtrẻ nước nhà Người căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cáchmạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xãhội vừa “hồng” vừa “chuyên” [61, tr.510] Theo đó, Người còn chỉ rõ: “Dạycũng như học, phải chú trọng cả tài lẫn đức Đức là đạo đức cách mạng Đó làcái gốc quan trọng Nếu thiếu đạo đức, con người sẽ không phải là con ngườibình thường và cuộc sống xã hội sẽ không phải là cuộc sống xã hội bìnhthường, ổn định” [51, tr.57] Trải qua các thời kỳ cách mạng nước ta, Đảng taluôn quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giáo dục,bồi dưỡng thế hệ trẻ, đây là vấn đề mang ý nghĩa chiến lược quan trọng
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định, giáodục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ nói chung, sinh viên nói riêng là vấn đề
có ý nghĩa chiến lược, là yêu cầu thường xuyên của sự nghiệp giáo dục, đàotạo Hơn nữa trong bối cảnh đất nước ta đã và đang hội nhập quốc tế toàndiện, sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa xã hộihiện nay, dẫn đến sự giao lưu, hợp tác giữa các dòng văn hóa, các thể chếchính trị khác nhau, làm nảy sinh những xung đột về đạo đức, lối sống củasinh viên nên việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa, nghệ thuật truyềnthống của dân tộc là vấn đề cấp thiết Do đó, Đảng ta chỉ rõ phương hướng,nhiệm vụ của giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ là: “Đổi mới nội dung, phương thứcgiáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng, truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cáchmạng, lòng yêu nước, xây dựng đạo đức, lối sống lành mạnh, ý thức tôn trọng
và nghiệm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật cho thế hệ trẻ [17, tr.162]
Các trường nghệ thuật là nơi giáo dục, đào tạo các nghệ sĩ hoạt độngtrong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Do tính đặc thù của hoạt động văn hóanghệ thuật, tính nghề nghiệp của văn nghệ sĩ, đòi hỏi trong quá trình đào tạo
Trang 6chuyên môn cần có sự quan tâm giáo dục đạo đức nghề nghiệp một cách đúngmức và quản lý chặt chẽ quá trình tổ chức giáo dục đạo đức nghề nghiệp chosinh viên nghệ thuật Để trở thành một nghệ sĩ đòi hỏi mỗi sinh viên đang họctập, rèn luyện ở các trường nghệ thuật phải thường xuyên tiếp thu nội dungchuyên ngành, tích cực luyện tập, rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ nói chung, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức nói riêng đểhướng tới phát triển, hoàn thiện nhân cách theo mục tiêu, yêu cầu chuyênngành đào tạo Hay nói cách khác, giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinhviên các trường nghệ thuật là một nhiệm vụ không thể thiếu, là đòi hỏi tất yếucủa quá trình đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật.
Thực tiễn cho thấy, trong quá trình xây dựng, phát triển của các trườngnghệ thuật đã đào tạo nhiều thế hệ sinh viên tốt nghiệp ra trường có chấtlượng tốt Họ đã trở thành những nghệ sĩ có tên tuổi, được công chúng mến
mộ, có nhiều cống hiến cho nền nghệ thuật nước nhà Họ thực sự không chỉ lànhững người giỏi về chuyên môn mà còn là những cán bộ, diễn viên, nhânviên văn hóa nghệ thuật có đạo đức cách mạng trong sáng, yêu ngành, gắn bóvới nghề, có phong cách ứng xử văn hoá thể hiện cả trong lao động nghệ thuậtcũng như trong cuộc sống thường nhật
Tuy nhiên, giáo dục đạo đức, quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệpcho sinh viên cũng còn đang tồn tại những hạn chế, bất cập Biểu hiện cụthể ở việc nhận thức của một bộ phận cán bộ, giảng viên và sinh viên cónhận thức chưa đúng về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên; nộidung, chương trình; phương pháp hình thức giáo dục đạo đức nghề nghiệpcho sinh viên còn nhiều hạn chế bất cập Kết quả khảo sát thực tiễn đã chothấy: Chương trình, nội dung đào tạo của các nhà trường theo hướng tăngcường giáo dục định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên chưađược thể hiện rõ nét; phương pháp giáo dục còn chung chung, thiếu tính cụthể với từng đối tượng sinh viên Xu hướng nghề nghiệp của một số sinhviên chưa rõ ràng, thiếu tính ổn định, chưa vững chắc Tình yêu nghề
Trang 7nghiệp của một bộ phận sinh viên chưa được định hình rõ nét Biểu hiện lốisống buông thả, sống gấp vẫn còn tồi tại ở một bộ phận sinh viên Công tácquản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên chưa gắn với đặc điểmloại hình đào tạo, chưa có kế hoạch tổng thể quản lý giáo dục đạo đức nghềnghiệp; vấn đề chỉ đạo, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáodục cho sinh viên, tổ chức kiểm tra đánh giá giáo dục đạo đức nghề nghiệpcho sinh viên đôi lúc chưa thực hiện nghiêm túc Vì vậy, tình hình thực tiễn
đó đang đặt ra đối với quá trình đào tạo, các trường nghệ thuật cần phải đổimới công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp, tăng cường hiệu quả quản lýgiáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường nghệ thuật, đây làvấn đề có tính thực tiễn tính cấp thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượngđào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật hiện nay
Về phương diện lý luận, vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp, quản lýgiáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên nói chung đã được nhiều nhànghiên cứu quan tâm, luận giải ở nhiều góc độ khác nhau, song vẫn còn thiếunhững công trình nghiên cứu một cách hệ thống, có tính toàn diện về quản lýgiáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường nghệ thuật
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Quản lý giáo dục đạo
đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường nghệ thuật hiện nay” để làm đề tài
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức nghề nghiệp và quản lý giáodục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường nghệ thuật
Trang 8- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng đạo đức nghề nghiệp, giáodục đạo đức nghề nghiệp và quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinhviên các trường nghệ thuật.
- Đề xuất và thử nghiệm các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức nghềnghiệp cho sinh viên các trường nghệ thuật hiện nay
3 Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
* Khách thể nghiên cứu
Quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên ở các trường nghệ thuật
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường nghệthuật hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu, đề tài đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực
tiễn quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường nghệthuật; đề xuất các biện pháp quản lý và kiểm nghiệm tính khả thi của các biện pháp
Về địa bàn nghiên cứu, tập trung nghiên cứu vấn đề quản lý giáo dục
đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ở các trường Học viện Âm nhạc quốc giaViệt Nam, Đại học Sân khấu Điện ảnh, Đại học Văn hóa Nghệ thuật Trungương, Cao đẳng múa Việt Nam, Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội
Về khách thể khảo sát, tác giả đã tiến hành khảo sát các đối tượng làcán bộ quản lý (Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng; Trưởng, phó phòng; trưởng,phó khoa, bộ môn, ); cán bộ, giảng viên và sinh viên của một số trường nghệthuật trên địa bàn thành phố Hà Nội
Các số liệu được sử dụng cho quá trình nghiên cứu được khảo sát, điềutra, tổng hợp từ năm 2013 đến nay
* Giả thuyết khoa học
Trang 9Chất lượng, hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên phụthuộc vào nhiều yếu tố, trong đó những tác động quản lý giữ vai trò then chốttrong tổ chức các hoạt động giáo dục ở nhà trường nghệ thuật Nếu có quanđiểm tiếp cận tổng hợp trong quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinhviên các trường nghệ thuật, từ khâu xây dựng kế hoạch, chương trình, nộidung đến tổ chức đa dạng các phương pháp, hình thức, kết hợp các con đườnggiáo dục, đồng thời chỉ đạo phát huy trách nhiệm tự tu dưỡng, tự rèn luyệnđạo đức nghề nghiệp của sinh viên các trường nghệ thuật thì hiệu quả quản lý
sẽ được phát huy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức nghềnghiệp cho sinh viên và thực hiện mục tiêu giáo dục nhân cách toàn diện chođội ngũ nghệ sĩ tương lai
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Đề tài thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủnghĩa Mác - Lênin, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, quan điểm,đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục, đào tạo
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trênquan điểm hệ thống - cấu trúc: quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viêncác trường nghệ thuật gồm tổng thể các thành tố, các quá trình có quan hệ biệnchứng với nhau từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, chủ thể, khách thể quản lý, kếtquả quản lý Do đó, tiếp cận hệ thống cho phép xem xét toàn diện mối quan hệ cácthành tố cấu trúc quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
Quan điểm tiếp cận lịch sử - lôgic: cho phép nghiên cứu kế thừa các kết quả,thành tựu đã đạt được khi tổng quan các công trình có liên quan và trong nghiêncứu cơ sở lý luận quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
Quan điểm tiếp cận thực tiễn: xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn về quản
lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường nghệ thuật Thấy được sựthống nhất chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệpcho sinh viên ở các trường nghệ thuật
Trang 10Quan điểm tiếp cận chức năng quản lý giáo dục như: kế hoạch hóa, tổchức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinhviên nghệ thuật.
Quan điểm tiếp cận tổng hợp như: kết hợp mục tiêu với nội dung quản lýgiáo dục; tiếp cận phức hợp các nhân tố của quá trình giáo dục đạo đức nghềnghiệp để nghiên cứu các nội dung lý luận và thực tiễn của đề tài luận án
* Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử và lôgic để tổngquan, chọn lọc các quan điểm, lý luận, quan niệm khoa học có liên quan đếnvấn đề nghiên cứu của đề tài Thông qua thu thập thông tin, phân tích, tổnghợp; hệ thống hoá, khái quát hoá tài liệu để tìm hiểu, làm rõ cơ sở lý luận vềquản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường nghệ thuật
Sử dụng phương pháp so sánh các kết quả nghiên cứu của những côngtrình sách, tạp chí, luận án trong và ngoài nước liên quan đến đề tài; tổng hợp,khái quát hóa lý luận để xây dựng hệ thống khái niệm
Những phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát
Sử dụng phương pháp quan sát: tập trung quan sát cách thức tổ chứcgiáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinhviên nghệ thuật, ở một số trường như: Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam,Đại học Sân khấu Điện ảnh, Đại học Văn hóa Nghệ thuật Trung ương, Caođẳng Múa Việt Nam, Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội để nắm bắt tình hình vàkết quả đạt được của việc quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viêncác trường nghệ thuật Trên cơ sở đó có thêm tư liệu phục vụ việc phân tích,tổng hợp, nhận định đối với vấn đề nghiên cứu
Phương pháp phỏng vấn
Tọa đàm, phỏng vấn với giảng viên, cán bộ quản lý, sinh viên ở một sốtrường nghệ thuật trên địa bàn thành phố Hà Nội có liên quan đến vấn đềnghiên cứu của đề tài
Trang 11Phương pháp điều tra
Tiến hành trưng cầu ý kiến của 180 giảng viên, 180 cán bộ quản lý giáo dục
và 300 sinh viên bằng phiếu điều tra ở Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam, Đạihọc Sân khấu Điện ảnh, Đại học Văn hóa Nghệ thuật Trung ương, Cao đẳng MúaViệt Nam, Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội trên địa bàn thành phố Hà Nội, để tìm hiểu
và khẳng định tính khách quan của một số nhận định cần thiết trong luận án
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu báo cáo tổng kết năm học của một số trường về đánh giáchất lượng giáo dục, quản lý giáo dục nói chung, quản lý giáo dục đạo đứcnghề nghiệp cho sinh viên nghệ thuật nói riêng; nghiên cứu sổ theo dõi tìnhhình rèn luyện của sinh viên ở một số lớp, một số khóa của các trường nghệthuật; kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức của cán bộ nhà trường, cán bộ phụtrách chuyên ngành văn hóa nghệ thuật
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn về quản lý giáo dục đạo đức ở cáctrường nghệ thuật Phân tích một số kinh nghiệm tiên tiến trong quản lý giáodục đạo đức nghề nghiệp ở một số trường nghệ thuật
Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia: lấy ý kiến của một số nhà sư phạm, một số nhàkhoa học giáo dục, quản lý giáo dục, đặc biệt là các chuyên gia phụ trách về
nghệ thuật của các trường và đoàn nghệ thuật biểu diễn Trên cơ sở đó, tác giả
hoàn thiện những nội dung nghiên cứu của luận án
Phương pháp khảo nghiệm và thử nghiệm
Tổ chức khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đềxuất Từ đó tiến hành thử nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính đúng đắn
và khả thi của các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinhviên các trường nghệ thuật trên địa bàn thành phố Hà Nội Việc khảo nghiệm,thử nghiệm được tiến hành ở 05 trường (Học viện Âm nhạc quốc gia ViệtNam, Đại học Sân khấu Điện ảnh, Đại học Văn hóa Nghệ thuật Trung ương,Cao đẳng Múa Việt Nam, Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội)
Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê
Trang 12Sử dụng phương pháp toán học để tính toán, xử lý các số liệu nhằmphân tích, tổng hợp kết quả nghiên cứu, điều tra để bảo đảm tính khách quancủa kết quả nghiên cứu.
5 Những đóng góp mới của luận án
Đã hệ thống hóa, bổ sung và hoàn thiện một số vấn đề lý luận về đạođức và đạo đức nghề nghiệp; giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên;quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường nghệ thuật
Đề xuất các biện pháp có tính khả thi giúp cho chủ thể quản lý các cấp
có thể vận dụng hiệu quả trong quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp chosinh viên các trường nghệ thuật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạtđộng quản lý giáo dục, đào tạo ở các trường nghệ thuật hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
* Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần bổ sung, phát triển, làm sáng tỏ thêm và hệ thốnghóa những vấn đề lý luận, tổng kết kinh nghiệm trong nước và thế giới vềquản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường nghệ thuật vàvận dụng quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trườngnghệ thuật ở Việt Nam hiện nay
* Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp những luận cứ thực tiễncho việc đề xuất biện pháp quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viêncác trường nghệ thuật trên địa bàn Hà Nội và làm cơ sở để nghiên cứu những vấn
đề liên quan đến quản lý giáo dục đạo đức ở các trường nghệ thuật trong tiến trìnhthực hiện đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo hiện nay
Luận án có thể là tài liệu cho các chủ thể quản lý ở các trường nghệthuật, giảng viên trực tiếp giảng dạy các môn trong đào tạo chuyên ngànhnghệ thuật tham khảo để áp dụng vào quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệpcho sinh viên bảo đảm sự phù hợp với phương hướng phát triển nhà trường,góp phần đào tạo đội ngũ những người làm công tác văn hóa nghệ thuật cóchất lượng cao trong tương lai cho đất nước
7 Kết cấu của luận án
Trang 13Luận án có kết cấu gồm các phần: mở đầu, 4 chương (12 tiết), kết luận
và kiến nghị, danh mục các công trình nghiên cứu đã được công bố của tácgiả có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI 1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục đạo đức
và giáo dục đạo đức nghề nghiệp
* Trên thế giới, lịch sử nhân loại đã chứng minh, đạo đức là nhu cầu
khách quan trong đời sống xã hội, luôn đóng vai trò tích cực, thúc đẩy sự pháttriển của xã hội Do đó, đạo đức được nghiên cứu và tiếp cận ở những khía cạnhkhác nhau, tùy theo mục tiêu nghiên cứu Ngay từ thời phong kiến, vấn đề đạođức, giáo dục đạo đức đã được các nhà hiền triết quan tâm nghiên cứu ở nhữngphương diện khác nhau
Ở Trung Quốc thời cổ đại, Khổng Tử là nhà triết học, nhà giáo dục nổitiếng, Ông cho rằng, giáo dục đạo đức là một quá trình khó khăn, lâu dài.Giáo dục phải sát đối tượng Đánh giá con người phải theo phẩm chất đạođức, nhân cách, chứ không phải từ thành phần xuất thân và số tài sản mà họ
có Đây là những kiến giải khoa học và là tư tưởng giáo dục tiến bộ đến nayvẫn còn nguyên giá trị [71] Trong khi đó, Hàn Phi Tử quan niệm, bản chấtcon người là vì tư lợi, cho nên, phải dùng hình phạt, ông đề cao tư tưởngpháp trị, cổ vũ cho sự độc tài của vua Hàn Phi Tử luôn quan tâm đến quyềnlực, đến khoảng cách địa vị giữa người cai trị và người bị cai trị; đề caochính sách dùng người, coi trọng tài năng và xem đây là nhân tố quyết định
sự thành bại của quản lý Tài năng của người quản lý thể hiện ở việc biếtcách dùng sức và dùng trí của người khác Trong lý thuyết cai trị, Hàn Phi
Tử đề cập và chú ý ba yếu tố là: Pháp - Thế - Thuật, cai trị phải biến đổi phùhợp với thời thế, quản lý cần cả đức trị và pháp trị [71] Tuy nhiên, do nhữnghạn chế lịch sử, giai cấp lúc bấy giờ nên những tư tưởng giáo dục nói chung,
Trang 14giáo dục đạo đức, quản lý giáo dục của các ông chứa đựng những yếu tố siêuhình, mang màu sắc tôn giáo, duy tâm thần bí, độc đoán, chuyên quyền, mấtdân chủ, tự mâu thuẫn với chính mình.
Ở phương tây, J.A.Kômenxky, Ông là nhà giáo dục nổi tiếng thế giới ngườiCộng hoà Séc, trong tác phẩm “Thiên đường của những trái tim” [42],J.A.Kômenxky cho rằng giáo dục trẻ em tốt nhất cần cải tạo môi trường giáo dục vàphải được giáo dục bằng tấm gương của mọi người xung quanh nhằm đạt đượcnhững ấn tượng ban đầu tốt đẹp lên trẻ em Theo J.A.Kômenxky thì nhà trường phảithực sự là “xưởng rèn nhân cách”, quản lý quá trình giáo dục phải tuân theo quy luậtphát triển tự nhiên “như sinh hoạt của cỏ, cây, hoa, lá, của cuộc sống xem có phù hợpkhông, nếu không phù hợp sẽ trái quy luật và dẫn tới đổ vỡ trong giáo dục”
J.J Rútxô, nhà triết học đồng thời là nhà giáo dục người Pháp đã chủtrương đưa trẻ em về nông thôn để giáo dục, cải tạo tính nết của các em Ôngquan niệm, nông thôn không có những tệ nạn xấu, đó là nơi có môi trườnggiáo dục đạo đức tốt hơn thành thị Mặc dù quan niệm của J.J Rútxô có sailầm về phương pháp luận nhưng yếu tố hợp lý của Ông là ở chỗ coi trọng vaitrò của môi trường xã hội trong giáo dục đạo đức [71]
Quan điểm của J.A Kômenxky và J.J Rútxô trên đây đã chỉ cho chúng
ta rằng, không thể giáo dục đạo đức thành công, nếu không theo quy luật vàkết hợp giữa nhà trường với xã hội và các lực lượng giáo dục Tuy nhiên, dohạn chế của lịch sử đã làm cho những tư tưởng giáo dục, quản lý giáo dục nóichung, giáo dục đạo đức nói riêng của các ông không được quan tâm và sửdụng đúng mức Mặc dù vậy, những tư tưởng đó của các ông cũng gợi nênnhững vấn đề mà các nhà giáo dục cần phải chú ý trong thực hiện nhiệm vụ,nội dung giáo dục phát triển nhân cách cho con người
Trong dòng chảy của lịch sử tư tưởng nhân loại, khi nghiên cứu về sựphát triển của xã hội loài người, trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đánh giá lại toàn bộ những tư
Trang 15tưởng đạo đức đã có từ xưa đến thời C.Mác, tổng kết và đưa ra những luậnđiểm khoa học của mình về đạo đức C.Mác, Ph.Ăngghen đã chỉ ra sự tất yếuxuất hiện của một kiểu đạo đức mới trong lịch sử, đó là đạo đức cách mạngcủa giai cấp công nhân Theo Ph.Ăngghen, đây là nền đạo đức “đang tiêu biểucho sự lật đổ hiện tại, biểu hiện cho lợi ích của tương lai, tức là đạo đức vôsản, là thứ đạo đức có một số lượng nhiều nhất những nhân tố hứa hẹn một sựtồn tại lâu dài” [48, tr.136] Luận điểm này của Ph.Ăngghen đã đặt cơ sởphương pháp luận cho việc nghiên cứu, tiến hành hoạt động giáo dục quản lýquá trình giáo dục đạo đức, phẩm chất nhân cách nhằm đảm bảo cho connguời phát triển một cách toàn diện
Trong các tác phẩm: “Lời nói đầu phê phán triết học pháp luật của
Hêghen”, “Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”,
“Chống Đuyrinh” [47] Đứng trên lập trường duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định đạo đức là sản phẩm của điềukiện sinh hoạt vật chất của xã hội Ý thức đạo đức là sản phẩm của nhữnghình thái kinh tế - xã hội cụ thể, nó phản ánh thực tiễn đạo đức của xã hội,
“xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều làsản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ Và vì cho tới nay xãhội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng luônluôn là đạo đức của giai cấp” [47, tr.137] Trong đó, nhân tố quy định đạo đức
là các quan hệ kinh tế mà lợi ích là cái chi phối trực tiếp, là cơ sở khách quancủa đạo đức Các ông đã kiên quyết gạt bỏ những học thuyết đạo đức có tínhchất duy tâm, tôn giáo, phi lịch sử Các khái niệm, phạm trù đạo đức được sửdụng trong tác phẩm như: thiện, ác, lương tâm, danh dự, vị tha, vị kỷ đã đượcC.Mác và Ph.Ăngghen kế thừa, lọc bỏ những nội dung có tính chất duy tâm,tôn giáo., đem lại cho chúng những nội dung mới, đặt nền tảng cho một nềnđạo đức khoa học - đạo đức cộng sản
V.I.Lênin vừa là nhà lý luận cách mạng, vừa là nhà tổ chức, quản lýkinh tế, quản lý xã hội - xã hội chủ nghĩa hiện thực V.I.Lênin tiếp tục pháttriển quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về đạo đức Cộng sản và trình bày
Trang 16một cách hệ thống những nguyên tắc của nền đạo đức mới V.I.Lênin khẳngđịnh giá trị, tiêu chuẩn của đạo đức Cộng sản là phục vụ cho tiến bộ xã hội,
vì tự do, hạnh phúc của con người và đặc biệt nhấn mạnh tính giai cấp, tínhchiến đấu, vai trò to lớn của đạo đức Cộng sản: “Đối với chúng ta, đạo đứcphải phục tùng lợi ích của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản… Đạo đức đó
là những gì góp phần phá huỷ xã hội của giai cấp bóc lột và đoàn kết tất cảnhững người lao động xung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hộimới của những người cộng sản” [45, tr.369] Đây là những luận điểm, cơ sởkhoa học để xây dựng, phát triển đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ và quản
lý hoạt động giáo dục đạo đức cách mạng của nền giáo dục mới, nền giáodục xã hội chủ nghĩa
A.X.Makarenco trong tác phẩm “Bài ca sư phạm” và các tác phẩm củamình, A.X.Makarenco đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò của giáo dục đạo đức,của các biện pháp giáo dục đạo đức đúng đắn Ông nhấn mạnh sự cần thiếtcủa một nền giáo dục mới, đề cao uy quyền và dựa vào sự nêu gương củangười giảng viên Nguyên tắc giáo dục tập thể và thông qua tập thể của ôngđược nhiều nhà sư phạm trên toàn thế giới trong nhiều thập kỉ qua chú ý tới
V.A.Xukhomlinxki với kinh nghiệm của một nhà giáo, một hiệutrưởng đã viết tác phẩm lớn “Trái tim tôi hiến dâng cho trẻ” Mặc dù trongtác phẩm này, ông tổng kết tư tưởng sư phạm của mình đối với bậc tiểu họcnhưng trong đó nổi bật tư tưởng đối với khoa học sư phạm nói chung là giáodục, dạy học trước hết là sự giao tiếp tâm hồn giữa thày giáo và học sinh, vì
“Dạy trẻ, phải hiểu trẻ, thương trẻ, tôn trọng trẻ, phải trở thành trẻ em ở mức
độ nào đó” V.A.Xukhomlinxki còn có tác phẩm “Tuổi ra đời của nhữngngười công dân”, “Những lá thư gửi con trai”, giành cho giáo dục thiếu niên
và thanh niên học sinh trung học Đặc biệt, trong tác phẩm “Trường trunghọc Pav luts”, Ông đã tổng kết 26 năm làm hiệu trưởng của mình Đặc biệt,trong tác phẩm “Những cơ sở tâm lý học giáo dục”, Ông nêu rõ là phải lựa
Trang 17chọn và thực hiện những biện pháp giáo dục phù hợp nhất với những đặcđiểm của cá nhân học sinh và với trạng thái của học sinh Khi đó, nhữngbiện pháp này sẽ cho hiệu quả tối đa.
Cuốn sách “Những vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường”[85] Đã tập trung giới thiệu một cách khái quát những quan điểm của các nhàkhoa học Trung Quốc về mối quan hệ và ảnh hưởng của nền kinh tế thịtrường đến luân lý đạo đức, sự biến đổi hệ thống giá trị, quy tắc luân lý đạođức trong nền kinh tế thị trường và vấn đề xây dựng đạo đức của dân tộcTrung Hoa trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa hiện nay
La Quốc Kiệt (2003), (chủ biên) cuốn sách: “Tu dưỡng đạo đức, tư tưởng”, donhà xuất bản chính trị quốc gia ấn hành [41] Đây là cuốn sách được dịch từ bộ giáotrình cùng tên, được dùng chính thức, thống nhất cho mọi đối tượng sinh viên trongcác trường đại học của Trung Quốc hiện nay Cuốn sách trình bày một cách hệ thốngnhững yêu cầu, chuẩn mực đạo đức và phương pháp tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, tưtưởng của sinh viên trong thời đại mới Như vậy, những tư tưởng của các nhà chínhtrị, công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức,quản lý giáo dục đạo đức cho con người đã thực sự gợi mở cho tác giả những vấn đề
lý luận sâu sắc, những kinh nghiệm thực tiễn, làm cơ sở để nghiên cứu, luận giải nộidung về quan niệm đạo đức, giáo dục và quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp chosinh viên trong giai đoạn mới của cách mạng
* Ở Việt Nam, vấn đề đạo đức, giáo dục và quản lý giáo dục đạo đức
cho con người, luôn được các nhà quản lý xã hội, các nhà sư phạm, nhà khoahọc trong nước quan tâm nghiên cứu
Chu Văn An là người thầy giáo nổi tiếng của nền giáo dục Việt Nam.Chu Văn An luôn đề cao tinh thần quản lý xã hội, đấu tranh chống các tệ nạn
xã hội (thất trảm sớ); lịch sử giáo dục Việt Nam đã ghi nhận Chu Văn An lànhà sư phạm lỗi lạc, nhà quản lý đứng đầu Quốc Tử Giám dưới triều Trần.Trong quá trình giáo dục, Chu Văn An không chỉ nêu gương sáng cho kẻ sĩhọc tập mà còn kêu gọi, động viên và khuyên bảo học trò về ý thức và sự trau
Trang 18dồi đạo đức, với tự quản lý mình trong quá trình giáo dục nhân cách, tư tưởngquản lý giáo dục nói chung, quản lý giáo dục đạo đức, phẩm chất nhân cáchnói riêng, luôn được Chu Văn An đề cập một cách toàn diện và sâu sắc,những tư tưởng giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng của Chu Văn
An cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn để các thế
hệ giáo dục và được giáo dục của nước ta nghiên cứu, vận dụng cho phù hợpvới thực tiễn luôn vận động và phát triển không ngừng [28]
Lê Quý Đôn, đã nêu ý kiến tiến bộ về quản lý quá trình giáo dục nhâncách và quản lý xã hội được thể hiện ở các mệnh đề “Tứ tôn” và “Ngũ quy”;trong đó, Lê Quý Đôn hướng học trò với cách quản lý của riêng mình thôngqua đọc sách, nghị luận để học tập trở thành người hiền tài phục vụ cho đấtnước Lê Quý Đôn luôn đề cao hiền tài, đề cao giáo dục và quản lý giáo dụctrong xã hội Đây là những kiến giải quan trọng giúp cho các nhà quản lý xãhội nói chung, quản lý giáo dục và quản lý quá trình giáo dục con người nói
riêng nghiên cứu để vận dụng cho phù hợp với tình hình [28] Tuy nhiên, do
hạn chế về lịch sử và giai cấp, hạn chế của nhận thức thời phong kiến nênnhững quan điểm, tư tưởng quản lý xã hội, tư tưởng giáo dục, quản lý giáodục của các ông có mặt còn thể hiện rõ sự phân tầng xã hội, tính đẳng cấp,thiếu tính chất dân chủ, thiếu cơ sở khoa học trong cách thức tác động giáodục con người và quản lý quá trình giáo dục
Cùng với tư tưởng của các nhà hoạt động chính trị, các nghị quyết củaĐảng, của ngành giáo dục bàn về giáo dục, quản lý giáo dục nói chung, quản
lý giáo dục đạo đức nói riêng, còn nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Hồ Chí Minh vừa là nhà giáo dục, vừa là nhà tổ chức thực tiễn về quản
lý giáo dục và coi giáo dục là một nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng Bàn vềđạo đức và giáo dục đạo đức, Hồ Chí Minh luôn đề cao và nhấn mạnh đạo
đức trong cấu trúc nhân cách của mỗi người Người coi trọng cả đức và tài,
trong đó đức phải là gốc, đức phải có trước tài Người nói: “Cũng như sôngthì phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có
Trang 19gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không cóđức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [62, tr.252-253].Cùng với việc đặt ra yêu cầu về đạo đức của người cách mạng, Hồ Chí Minhcũng đặc biệt coi trọng việc giáo dục và quản lý giáo dục đạo đức cho mỗingười Trong quá trình tổ chức giáo dục, Người rất coi trọng việc thực hiện kếhoạch hóa hoạt động Người căn dặn, khi lập kế hoạch giảng dạy, học tập đềucần phải tuân theo nhu cầu của dân tộc, của Nhà nước; chớ đặt những chươngtrình kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được.Người nhấn mạnh, một chương trình nhỏ mà thực hiện được hẳn hoi, hơn làmột trăm chương trình to tát mà làm không được Như vậy, theo Hồ ChíMinh, tính thiết thực và công tác quản lý phải xuyên suốt trong tất cả cáckhâu, các bước của quá trình giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng.Đây thực sự là những chỉ dẫn quan trọng, giúp tác giả có thể nghiên cứu, vậndụng trong xây dựng và thực hiện các biện pháp quản lý giáo dục đọa đức chosinh viên các trường nghệ thuật nhằm bảo đảm có chất lượng và phù hợp vớimỗi trường nghệ thuật hiện nay.
Tác giả Vũ Khiêu (chủ biên), cuốn sách “Đạo đức mới” [33] Trong tácphẩm này, tác giả đã trình bày cơ sở khoa học của đạo đức học, chỉ ra nội dung
cơ bản của đạo đức mới và phương hướng xây dựng, rèn luyện đạo đức trong
xã hội ta lúc bấy giờ, cho đến hôm nay những luận điểm giáo dục đạo đức củaông vẫn được coi trọng và tiếp tục vận dụng, triển khai một số nội dung giáodục đạo đức cho học sinh trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam
Tác giả Tương Lai với cuốn sách “Chủ động, tích cực xây dựng đạođức mới” [44] Trong cuốn sách, tác giả đã trình bày quan niệm về đạo đức,đạo đức cách mạng, vai trò của đạo đức cách mạng trong việc hình thành conngười mới xã hội chủ nghĩa, chỉ ra tiêu chuẩn của đạo đức mới, xác địnhphương hướng và biện pháp xây dựng đạo đức mới xã hội chủ nghĩa
Tác giả Nguyễn Thành Duy với công trình nghiên cứu: “Văn hoá đạo
đức, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn” [14], tác giả tập trung nghiên cứu, tìmhiểu tác động của cơ chế thị trường đến đời sống văn hoá đạo đức và đềuthống nhất cho rằng, sự biến đổi của hệ thống giá trị đạo đức, văn hoá đạo đức
Trang 20ở nước ta hiện nay là một tất yếu; đề cập đến thực trạng đạo đức và đưa ramột số giải pháp khắc phục tình trạng xuống cấp về đạo đức ở một bộ phậncán bộ, đảng viên, công chức nhà nước
Vũ Khiêu và Nguyễn Thành Duy với cuốn sách “Đạo đức và pháp luậttrong triết lý phát triển ở Việt Nam” [34], Nguyễn Chí Mỳ (chủ biên) cuốnsách “Sự biến đổi thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việcxây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay” [64], côngtrình nghiên cứu của tác giả đã tập trung tìm hiểu tác động của cơ chế thịtrường đến đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay và đều thống nhất cho rằng,
sự biến đổi của hệ thống giá trị, thang giá trị đạo đức ở nước ta hiện nay làmột tất yếu Tác giả của các công trình trên cho rằng, định hướng giá trị đạođức trong điều kiện hiện nay là cần thiết và cấp bách trong xây dựng nền đạođức mới ở nước ta hiện nay
Các công trình nêu trên đã nghiên cứu một cách sâu sắc và có hệ thống,phân tích cơ sở lý luận và định hướng cơ bản về đạo đức, giáo dục đạo đức vàvai trò, giá trị to lớn của đạo đức trong sự nghiệp cách mạng của đất nước ta.Mặc dù nghiên cứu từ những góc độ khác nhau, song các tác giả đều thốngnhất trong cách khái quát nội dung đạo đức cách mạng và vai trò của nó trong
sự phát triển nhân cách; đề xuất các giải pháp giáo dục, nâng cao đạo đứccách mạng cho mỗi người nói chung, cho sinh viên các trường học nói riêngtrong giai đoạn hiện nay, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới
Các tác phẩm “Đạo hiếu - nhân cách của con người Việt Nam” củaPhạm Khắc Chương; “Những vấn đề giáo dục đạo đức trong điều kiện kinh tếthị trường ở nước ta” của Nguyễn Quang Uẩn và Nguyễn Văn Phúc Hội đồng
lý luận Trung ương đã thực hiện đề tài nghiên cứu về “Con người Việt Namtrong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Nghiên cứu này khẳng địnhmột tư tưởng chung là: hạt nhân cơ bản của thang giá trị, thước đo giá trị vànhân phẩm con người Việt Nam ngày nay là các giá trị nhân văn truyền thống
Trang 21dân tộc như lòng tự hào dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc, trung với nước, hiếuvới dân, nhân nghĩa, cần cù, thông minh, sáng tạo Hội thảo “Giáo dục đạođức cho học sinh, sinh viên ở nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp” doHội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam tổ chức tại Đồng Nai năm 2009,Phạm Minh Hạc cho rằng: “Yếu tố quyết định là ý thức tự giáo dục thực sựnghiêm khắc - sự phấn đấu hướng thiện của từng cá nhân, nhất là của học sinhcác lớp cuối cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông và sinh viên,…kết hợpchặt chẽ giáo dục đạo đức trong nhà trường với gia đình và ngoài xã hội, giáodục đạo đức cho tuổi trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên đã và đang trở thànhnhiệm vụ cấp bách, nhiệm vụ hàng đầu của các gia đình, nhà trường và toàn
xã hội”
Bàn về đạo đức và giáo dục đạo đức, ngoài những cuốn sách, các côngtrình nghiên cứu của các nhà khoa học đã được trình bày ở trên, còn có cácluận án tiến sĩ đi sâu nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho con người, cho sinhviên Chẳng hạn, Nguyễn Tiến Bình “Tự giác hoá quá trình hình thành, pháttriển đạo đức cộng sản trong quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” [7].Trong công trình đó, tác giả đã luận chứng một cách sâu sắc vai trò ngày càngtăng của nhân tố đạo đức trong sức mạnh chiến đấu quân đội và các đặc điểmtác động đến sự hình thành, phát triển đạo đức cộng sản trong quân đội; tácgiả đã đề xuất các giải pháp cơ bản trong tự giác hoá quá trình hình thành,phát triển đạo đức cộng sản trong quân đội nhân dân Việt Nam
Tác giả Phùng Xuân Thành, với luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử
về đề tài: “Nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên tronggiai đoạn hiện nay” [70] Tác giả Hà Huy Thông trong đề tài luận án phó tiến
sĩ triết học “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của người cán bộ quân sự”[74] Tác giả đã vận dụng một cách sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đứccách mạng của người cán bộ quân sự và đưa ra các vấn đề có ý nghĩa phươngpháp luận quan trọng để xây dựng đạo đức người cán bộ quân sự trong giai
Trang 22đoạn mới của sự nghiệp cách mạng Trần Ngọc Tuân với luận án tiến sĩ:
“Những giải pháp giáo dục đạo đức cho sĩ quan Biên phòng ở đơn vị cơ sởtrong tình hình hiện nay” [83], tác giả đã đi vào nghiên cứu làm rõ những vấn
đề lý luận, thực tiễn về đạo đức của những người sĩ quan bộ đội biện phòng,
từ đó luận giải những biện pháp có tính đặc thù nhằm giáo dục đạo đức chongười sĩ quan biên phòng trong tình hình mới
Nghiên cứu về giáo dục đạo đức nghề nghiệp, cho đến nay đã có một sốluận án tiến sĩ nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp và quản lýgiáo dục đạo đức nghề nghiệp ở những góc độ khác nhau như: Nguyễn BáHùng (2010) với công trình “Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên sưphạm trong nhà trường quân sự hiện nay” [32] Qua nghiên cứu các côngtrình khoa học, luận án tiến sĩ cho thấy, các tác giả đã tiếp cận vấn đề giáodục đạo đức và nâng cao đạo đức cho con người ở các góc độ khác nhau tùytheo từng lĩnh vực công tác, hoạt động và đưa ra các vấn đề có ý nghĩaphương pháp luận quan trọng để xây dựng đạo đức người cán bộ nói chung,cán bộ quân đội nói riêng, trong giai đoạn cách mạng hiện nay, nhưng chưa
có công trình đề cập đến quản lý quá trình giáo dục đạo đức nghề nghiệp chosinh viên các trường nghệ thuật
Trong những năm qua, đã có nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học giáodục quan tâm nghiên cứu về tác động của cơ chế thị trường đến sự biến đổigiá trị và thang giá trị đạo đức ở nước ta, thông qua nghiên cứu, các nhà khoahọc chỉ rõ là muốn nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh ở cácnhà trường trong giai đoạn hiện nay, cần quan tâm hơn đến việc quản lý giáodục đạo đức cho sinh viên
Cùng với các công trình khoa học, những luận án tiến sĩ bàn về đạođức, giáo dục đạo đức ở những góc độ khác nhau, còn có các bài tham luậnhội thảo khoa học, như tác giả Nguyễn Hữu Thụ, với bài “Giáo dục đạo đứcsinh viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt
Trang 23Nam”, [31, tr.73] Tác giả dựa trên kết quả nghiên cứu giáo dục đạo đức củaHiệp Hội giáo dục học Hoa Kỳ, đã đưa ra ba quan niệm cơ bản về chuẩn mực
và các nguyên tắc đạo đức như sau: thứ nhất, đạo đức được thể hiện trong cáchoạt động…; thứ hai, đạo đức được thể hiện trong giáo dục công dân- giáodục các quan niệm, nguyên tắc ứng xử công dân và nguyên tắc ứng xử tronggiáo dục; thứ ba, các nguyên tắc giáo dục đạo đức và nguyên tắc ứng xử tronghoạt động nghề nghiệp
Bài báo khoa học “Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc địnhhướng các giá trị đạo đức hiện nay”, của tác giả Nguyễn Thế Kiệt [40]; TrầnXuân Trường (1999), “Đạo đức cách mạng và sự nghiệp đổi mới”, Thông tin
lý luận chính trị quân sự, Số 55 (1) [82] Hoàng Trung (2000), “Vì sao Hồ Chí Minh lại đặc biệt chú trọng đến vấn đề đạo đức”, Tạp chí Triết học, Số 4
(116) [77] Tổng thuật Hội thảo khoa học - thực tiễn (2003), “Đổi mới, nângcao chất lượng công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên
trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Tư tưởng văn hoá, số 8/2003 [76]; Đào
Duy Quát (2003), trong bài viết của mình về “Giáo dục rèn luyện đạo đức, lốisống cho cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ rất quan trọng và cấp bách”, đăng trênTạp chí Thông tin công tác tư tưởng - lý luận, Số 8/2003
Như vậy, về lý luận chỉ đạo cũng như thực tiễn nghiên cứu vấn đề đạođức, giáo dục đạo đức ở nhà trường đã được nhiều học giả quan tâm nghiêncứu Nhiều công trình khoa học, luận án tiến sĩ, các bài báo khoa học nghiêncứu về đạo đức, giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức chocon người, sinh viên dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau một cách đadạng, phong phú và đi vào chiều sâu Đặc biệt có các cuộc hội thảo khoa học,các diễn đàn trao đổi về vấn đề này được diễn ra tại thủ đô Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh cũng như một số tỉnh thành khác Tuy nhiên, chúng tôi nhậnthấy cả về lý luận và thực tiễn, vấn đề quản lý hoạt động giáo dục đạo đứcnghề nghiệp cho sinh viên các trường nghệ thuật trong nhiều năm qua chưa
Trang 24nhận được sự quan tâm đầy đủ, các biện pháp quản lý chưa cập nhật, chưabảo đảm tính khách quan, chưa thực sự phù hợp với tình hình hiện thực kháchquan của nhà trường, của đối tượng sinh viên đang đào tạo ở mỗi trường và
do đó chưa có hiệu quả cao trong tổ chức quản lý giáo dục đạo đức nghềnghiệp cho sinh viên các trường nghệ thuật dựa trên những nét đặc thù củacông tác giáo dục, đào tạo
1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp
Giáo dục đạo đức luôn là vấn đề thu hút được sự quan tâm, nghiên cứucủa nhiều nhà khoa học, ở các thời kỳ lịch sử khác nhau cùng với những thayđổi phát triển của xã hội, các giá trị chuẩn mực đạo đức, giáo dục đạo đứccũng có những thay đổi
Chính vì vậy, đã có một số công trình nghiên cứu đưa ra các mô hìnhquản lý giáo dục đạo đức phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từnggiai đoạn phát triển của xã hội Công trình nghiên cứu khoa học của tác giảPhạm Minh Hạc (2001): “Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Namtrong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [22] đã phần nào cụthể hóa được mục tiêu giáo dục trong các nhà trường, trong đó có hệ thốngcác trường đại học, cao đẳng và đã cụ thể hóa được các hoạch định chiến lượcgiáo dục toàn diện cho sinh viên trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo conngười phát triển toàn diện để phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước Xuấtphát từ đặc trưng tâm lý học, tác giả đã nêu ra các định hướng giá trị đạo đứccon người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ thựctrạng đạo đức của sinh viên, học sinh hiện nay, công trình nghiên cứu này đãnêu ra một số giải pháp ở tầm vĩ mô về giáo dục và đào tạo với các yêu cầuđặt ra như: tiếp tục đổi mới hình thức, nội dung, hình thức giáo dục đạo đứctrong các trường học; củng cố ý tưởng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kếthợp chặt chẽ giáo dục nhà trường Thành công ở công trình nghiên cứu này là
đã đưa ra một hệ thống giải pháp quản lý xã hội về giáo dục Trong đó có giải
Trang 25pháp “Tổ chức phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạođức và lối sống cho toàn dân trước hết là cán bộ đảng viên, cho thầy và tròcác trường học”
Đề tài “Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên Học việnQuản lý giáo dục trong giai đoạn hiện nay” [75] của tác giả Đỗ Thị ThanhThủy đã điều tra thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Học việnQuản lý giáo dục cho thấy: Đại đa số sinh viên có nhận thức tốt về vai trò vàtầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức Tuy nhiên, vẫn còn không ítsinh viên chưa nhận thức đúng về vai trò và tầm quan trọng của giáo dục đạođức Qua điều tra khảo sát và phân tích thực trạng, kết hợp với nghiên cứu lýluận, đề tài đã đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả giáo dụcđạo đức cho sinh viên Học viện Quản lý giáo dục
Luận án tiến sĩ: “Giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sởtại thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới giáo dục hiện nay” [5] của
Đỗ Tuyết Bảo (2001) đã đề cập đến vai trò giáo dục đạo đức với sự hìnhthành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, tác động đổi mới của xã hội với giáodục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh.Tác giả đưa ra các giải pháp lãnh đạo và quản lý công tác giáo dục đạo đứctrong nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh.Luận án tiến sĩ: “Xây dựng mô hình quản lý công tác giáo dục đạo đức chosinh viên các trường đại học sư phạm trong giai đoạn hiện nay” [1] củaNguyễn Thị Hoàng Anh (2011) đã nghiên cứu lý luận, thực trạng và đề xuấtcác giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trongcác trường đại học sư nhằm đề xuất mô hình mới về quản lý công tác giáo dụcđạo đức cho sinh viên sư phạm và các giải pháp thực hiện mô hình
Luận án tiến sĩ: “Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viêntrường cao đẳng sư phạm miền Đông Nam Bộ” [67] của Nguyễn Thanh Phú(2014) đã làm rõ thêm khái niệm đạo đức nghề nghiệp sư phạm, làm rõ ýnghĩa của quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường caođẳng sư phạm và vai trò của quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
Trang 26viên trong các trường cao đẳng sư phạm; xác định các yếu tố ảnh hưởng tớiviệc quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường cao đẳng
sư phạm Trong luận án, tác giả đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm đổimới và nâng cao kết quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên cáctrường cao đẳng sư phạm, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viêncho các trường sư phạm Đó là những phạm trù phản ánh nội dung kháchquan của đời sống xã hội, nó liên hệ hữu cơ với tình cảm con người trong mốiquan hệ giữa con người với đời sống xã hội
Tác giả Nguyễn Thị Thi (2017), với luận án tiến sĩ “Quản lý giáo dụcđạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở thành phố Hà Nội trong bối cảnhđổi mới giáo dục” [73] Nội dung nghiên cứu của luận án trên cơ sở xác lậpkhung lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học
cơ sở theo tiếp cận CIPO đã phát hiện thực trạng hành vi đạo đức cụ thể củahọc sinh, tình hình giáo dục đạo đức trong nhà trường trung học cơ sở thànhphố Hà Nội cho học sinh và thực trạng công tác quản lý của hiệu trưởng cùngcác lực lượng khác đối với hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhàtrường đã đề xuất các giải pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trunghọc cơ sở thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục
Tác giả Nguyễn Thị Liên (2017) trong bài viết “Thực trạng quản lýgiáo dục đạo đức cho học sinh ở trường trung học phổ thông huyện Quảng
xương, tỉnh Thanh Hóa” [46] đã có khái quát bước đầu về công tác quản lý
giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông bao gồm: lập kếhoạch giáo dục đạo đức; tổ chức bộ máy nhân sự trong công tác giáo dục đạođức cho học sinh; chỉ đạo hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường vàkiểm tra việc thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đứcnói chung, đạo đức nghề nghiệp nói riêng là chưa nhiều Những công trình
đã có cũng chưa làm sáng tỏ nhiều vấn đề về cơ sở lý luận quản lý giáodục Cũng qua nghiên cứu những tư tưởng về giáo dục đạo đức của cácnước trên thế giới và các luận án, những công trình nghiên cứu của các nhàkhoa học ở Việt Nam về quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp, cho thấy
Trang 27những nét khái quát về đặc trưng, nhiệm vụ, phạm trù, chức năng của vấn
đề giáo dục đạo đức, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp chosinh viên là rất cần thiết
1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình
đã công bố liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết
1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình
đã công bố liên quan đến đề tài
Qua tổng quan các công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về giáo dục đạođức cho sinh viên, nhìn chung các công trình đã tập trung nghiên cứu ở từng khíacạnh khác nhau của quan điểm dạy học, giáo dục đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa dạy
chữ với dạy người Tuy nhiên, đối với giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức
nghề nghiệp cho sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân nói chung, sinh viên cáctrường nghệ thuật nói riêng, các công trình còn một số vấn đề sau:
Nghiên cứu về đạo đức đã có nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài, trongnước quan tâm nghiên cứu, khai thác ở nhiều lĩnh vực, với những cách tiếpcận khác nhau Các công trình nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ nội dunggiáo dục đạo đức, biện pháp giáo dục đạo đức và quản lý giá dục đạo đức.Các công trình chủ yếu chỉ ra nội dung giáo dục đạo đức theo truyền thống,các chuẩn mực xã hội, chưa hướng sinh viên đến những giá trị đạo đức mớitrong xu thế toàn cầu hóa quốc tế như hiện nay
Những công trình khoa học nghiên cứu về thái độ của sinh viên với cácvấn đề mới như trách nhiệm của cá nhân với cộng đồng, sự quan tâm đến cácvấn đề quan hệ, giải quyết mối quan hệ giữa nghề nghiệp và cuộc sống chưađược nhiều hoặc có nhưng chưa nghiên cứu sâu, chưa đề cập rộng Vì thế,sinh viên chưa coi trọng quá trình giáo dục hình thành và phát triển nhâncách, đạo đức mà mới coi trọng quá trình trang bị kiến thức chuyên môn làchủ yếu Chính vì vậy, cần phải có những nghiên cứu bổ sung những giá trịmới trong giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ở các nhà trường nói
Trang 28chung, các trường nghệ thuật nói riêng.
Qua nghiên cứu các luận điểm, tư tưởng sư phạm, có thể thấy rằng dù ởphương Tây hay phương Đông, thời kỳ cổ đại, trung đại hay hiện đại, việc tổchức giáo dục đạo đức mới chỉ dừng lại ở nội dung hoặc con đường giáo dụctrong quá trình sư phạm tổng thể, chưa có hoặc có rất ít các công trình bàn vềgiáo dục đạo đức cho sinh viên, coi đó là một nội dung quan trọng đi đôi vớiquá trình dạy học Tuy nhiên, quá trình tổ chức giáo dục đạo đức, người dạyvẫn chiếm vị trí chủ đạo, kiểu quyền năng tuyệt đối trong cung cấp kiến thức,cho nên họ xem nhẹ việc bồi dưỡng đạo đức, rèn luyện thói quen, hành vi chongười học Vì vậy, việc tổ chức giáo dục đạo đức và tự tổ chức quá trình giáodục, rèn luyện đạo đức của sinh viên chưa được quan tâm nghiên cứu mộtcách đầy đủ Bên cạnh đó, các nhân tố khác của quá trình học tập đều phảiphục vụ và có nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho sinh viên Do vậy, phải nghiêncứu làm rõ vai trò của chủ thể quản lý trong tất cả các khâu, các bước của quátrình dạy học, giáo dục đạo đức
Ở Việt Nam đã có những công trình chuyên khảo, đề tài nghiên cứu vớicác khía cạnh khác nhau như đạo đức, giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinhviên theo quan điểm kết hợp dạy chữ, dạy nghề và dạy người Nhưng làm thếnào (con đường, biện pháp) để dạy người cho sinh viên và vấn đề đó đượcviết thành lý luận để định hướng cho việc thực hiện cách thức, biện pháp quản
lý thống nhất thì chưa được các tác giả quan tâm nghiên cứu, trong khi đóthực tiễn lại đang cần những nghiên cứu như vậy
Quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên nói chung, đã có
một số tác giả trên thế giới, trong nước và đã có công trình luận án tiến sĩnghiên cứu Tuy nhiên, mỗi công trình tiếp cận một cách khác nhau dẫn đến
lý luận về quản lý chưa được đầy đủ, có công trình thì khái quát, có công trìnhlại bàn cụ thể ở một phạm vi nhất định của chuyên ngành Tuy nhiên, quản lý
Trang 29giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường nghệ thuật là vấn đề ít
được nghiên cứu một cách có hệ thống, cơ bản Do vậy, cần có những công
trình nghiên cứu về vấn đề này, đáp ứng thực tiễn đào tạo đội ngũ văn nghệ sĩtrong xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa như hiện nay
1.3.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu về đạo đức, đạo đức nghềnghiệp; giáo dục đạo đức, giáo dục đạo đức nghề nghiệp và quản lý giáo dụcđạo đức nghề nghiệp cho học sinh nói chung đã tạo cơ sở lý luận và thực tiễnquan trọng cho việc nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp chosinh viên các trường nghệ thuật hiện nay Mặt khác, cũng đặt ra những vấn đề
lý luận, thực tiễn đòi hỏi luận án cần tiếp tục giải quyết như sau:
Thứ nhất, vấn đề giáo dục đạo đức, đạo đức nghề nghiệp cho học sinh,
sinh viên đã được nhiều tác giả cả trên thế giới và Việt Nam đề cập tới trongcác nghiên cứu của mình, ở nhiều mức độ khác nhau Coi đây là nội dunggiáo dục quan trọng trong các nhà trường, giúp cho người học tiếp tục traudồi, rèn luyện bản thân khi tham gia vào đời sống xã hội Vì vậy, đề tài luận
án cần tập trung làm rõ hơn lý luận về đạo đức nghề nghiệp, giáo dục đạo đứcnghề nghiệp cho sinh viên; cần thiết phải xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, nộidung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường nghệ thuật hiện nay
Thứ hai, đã có những công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo
đức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên và một số bài viết đề cập đến giáodục đạo đức cho sinh viên nghệ thuật Tuy nhiên, việc làm sáng tỏ một số nộidung lý luận cơ bản về quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viêncác trường nghệ thuật hiện nay cũng là vấn đề cần thiết đề tài luận án phải tậptrung giải quyết
Thứ ba, các chuẩn mực đạo đức, giá trị đạo đức là những nội dung đã
được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu và phản ánh đời sống văn hóa, thểchế chính trị - xã hội khác nhau Trong bối cảnh thực tiễn xã hội hiện nay,
Trang 30nhất là trong lĩnh vực hoạt động nghệ thuật cũng cần có hệ thống các giá trị,chuẩn mực đặc thù nghề nghiệp Nên việc đề xuất được các tiêu chí, tiêuchuẩn đạo đức nghề nghiệp của sinh viên nghệ thuật là vấn đề đặt ra đối với
đề tài luận án
Thứ tư, thực tiễn trong lĩnh vực hoạt động văn hóa, nghệ thuật hiện
nay, đang có nhiều vấn đề nổi cộm về phẩm chất nhân cách, đạo đức lối sốngcủa một bộ phận nghệ sĩ ở nước ta Đề tài luận án cũng cần tập trung nghiêncứu khái quát những vấn đề thực tiễn về giáo dục đạo đức và quản lý giáo dụcđạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường nghệ thuật, từ đó thấy rõ được
ưu điểm, cũng như những bất cập, hạn chế của quản lý giáo dục đạo đức nghềnghiệp cho sinh viên nghệ thuật hiện nay
Thứ năm, đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp
phù hợp với đặc thù của sinh viên của các trường nghệ thuật nhằm nâng caohiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên Giáo dục đạo đức nghềnghiệp cho sinh viên nghệ thuật là một quá trình phức tạp, khó khăn và đòihỏi phải có các biện pháp mang tính hệ thống, toàn diện và phải phát huyđược vai trò của các lực lượng sư phạm trong nhà trường và cả vai trò của độingũ cán bộ quản lý ở các trường nghệ thuật hiện nay
Trang 31Kết luận chương 1
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đứcnghề nghiệp và quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên của các tác giảtrên thế giới và ở Việt Nam, tác giả rút ra một số kết luận cơ bản như sau:
Các công trình nghiên cứu đều nhấn mạnh vai trò của đạo đức, đề caotầm quan trọng của giáo dục đạo đức cho sinh viên, coi đây là nội dung nhằmnâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo hiện nay Ở mọi thời kỳ lịch sử, đạođức luôn được coi trọng trong đời sống xã hội Tuy nhiên, ngoài những chuẩnmực đạo đức chung, thì ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, môi trường điều kiệnkinh tế, xã hội khác nhau đạo đức có sự biểu hiện cụ thể không giống nhau
Một số tác giả đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ một số nội dung cơ bảncủa các chuẩn mực đạo đức, đạo đức nghề nghiệp cũng như khẳng định vị trívai trò công tác giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, nhất là cho học sinh, sinhviên ở các nhà trường Đã có những công trình chuyên khảo, đề tài nghiêncứu với các khía cạnh khác nhau về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinhviên theo quan điểm kết hợp dạy chữ, dạy nghề và dạy người Nhưng chưa chỉ
ra con đường, biện pháp để giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
Về quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên nói chung, đã
có một số tác giả trên thế giới, trong nước và đã có công trình luận án tiến sĩnghiên cứu Tuy nhiên, quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viêncác trường nghệ thuật là vấn đề chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống,
cơ bản Do vậy, cần có những công trình nghiên cứu về vấn đề này, nhằm đáp
ứng thực tiễn đào tạo đội ngũ nghệ sĩ trong điều kiện xã hội hiện nay
Trang 32Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG NGHỆ THUẬT 2.1 Đạo đức và đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực hoạt động nghệ thuật
2.1.1 Quan niệm chung về đạo đức và đạo đức nghề nghiệp
* Đạo đức là một hiện tượng xã hội, thuộc lĩnh vực tinh thần Nó rađời, tồn tại trong sự hình thành, phát triển của xã hội loài người Đạo đức làmột phương thức cơ bản trong điều chỉnh hành vi ứng xử giữa người vớingười nhằm đem lại lợi ích cho cộng đồng, xã hội Con người chân chínhđược đánh giá trước hết bằng đạo đức Đạo đức tiến bộ góp phần tạo nên giátrị cơ bản - Chân - Thiện - Mỹ - nền tảng tinh thần của xã hội, thuộc tính bảnchất con người Đạo đức tồn tại hiện hữu trong ý thức, hành vi của mỗi cánhân và là thước đo trình độ phát triển của con người Đạo đức là “phép tắc
về quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với tập thể, với xã hội” [90,
tr.595] Theo đó, đạo đức được hiểu là những quy tắc trong quan hệ xã hội,
hình thành và phát triển trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện, phản ánh những quan hệ xã hội hiện thực, dựa trên cơ sở kinh
tế, chính trị, xã hội nhất định Quan niệm về đạo đức được hiểu là:
Về phương diện cấu trúc, đạo đức bao gồm ý thức, quan hệ và thực tiễn
đạo đức Đạo đức vận hành như một hệ thống tương đối độc lập của xã hội
Cơ chế vận hành của nó được hình thành trên cơ sở mối quan hệ biện chứngcủa các yếu tố hợp thành đạo đức Khi phân tích cấu trúc của đạo đức, có thểxem xét nó dưới nhiều góc độ Mỗi góc độ chỉ rõ một lớp cấu trúc xác định.Xét đạo đức theo mối quan hệ giữa ý thức và hoạt động thì hệ thống đạo đứchợp thành từ hai yếu tố ý thức đạo đức và hành vi đạo đức Trên quan điểmtổng hợp và phương pháp tiếp cận hệ thống - cấu trúc - hoạt động thì cấu trúccủa đạo đức bao gồm ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức
Trang 33Các yếu tố có mối liên hệ biện chứng trong sự vận động, phát triển và chuyểnhóa của hệ thống đạo đức nhất định.
Về phương diện giá trị, giá trị đạo đức là một trong những yếu tố tạo
thành hệ thống giá trị tinh thần của đời sống xã hội Giá trị đạo đức là nhữngquy tắc ứng xử được lựa chọn nhằm điều chỉnh, đánh giá hành vi ứng xử giữacon người với con người, giữa con người với xã hội Chúng được thực hiệnbởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội Sựđiều chỉnh này mang tính tự nguyện, tự giác của chủ thể hoạt động, phù hợpvới lương tâm, phẩm giá của con người
Ở Việt Nam, những giá trị đạo đức - tinh thần truyền thống dân tộc là:
“lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý “thương người nhưthể thương thân”, đức tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động Những giátrị bền vững, tinh hoa của dân tộc ta được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn nămđấu tranh dựng nước và giữ nước, đó là: lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cườngdân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã -
Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sángtạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống
Về phương diện chuẩn mực, chuẩn mực đạo đức là một hệ thống những
thuộc tính, biểu hiện thông qua quy tắc, mực thước thuộc đời sống tinh thần
xã hội - một phương thức điều chỉnh hành vi của con người mang tính tựnguyện, tự giác cao Trong xã hội - xã hội chủ nghĩa, chuẩn mực đạo đức mới
- đạo đức cách mạng được Hồ Chí Minh, Đảng ta chỉ rõ: Trung thành tuyệtđối với Đảng, ra sức thực hiện thắng lợi mục tiêu lý tưởng cách mạng; cần,kiệm, liêm chính, chí công vô tư, yêu thương con người, kết hợp chặt chẽgiữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản của giai cấpcông nhân và chủ nghĩa nhân đạo cộng sản; chủ nghĩa tập thể, tinh thần đoànkết; không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt, đáp ứng yêucầu nhiệm vụ được giao trong những giai đoạn lịch sử nhất định
Trang 34* Nghề nghiệp là “một công việc mà người ta thực hiện trong suốt cuộc
đời” [90, tr.698] Mỗi loại hình nghề nghiệp đòi hỏi tất yếu đặt ra các quy tắc,
chuẩn mực nghề nghiệp cho những người hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp
đó tự giác tuân thủ thực hiện Ph.Ăngghen viết: “Trong thực tế, mỗi giai cấp vàngay cả mỗi nghề nghiệp đều có đạo đức riêng của mình” [48, tr.425] đạo đứcnghề nghiệp được thể hiện ở hành vi và kết quả lao động của những người hoạtđộng thuộc loại hình nghề nghiệp đó Có phẩm chất phù hợp với chuẩn mực đạođức xã hội, với tiêu chí đạo đức nghề nghiệp và điều chỉnh hành vi phải tuân thủquy tắc, chuẩn mực đạo đức ở mỗi lĩnh vực nghề nghiệp nhất định là đòi hỏikhách quan mà mỗi cá nhân đang hoạt động trong lĩnh vực đó cần có
Từ những vấn đề trên, có thể đưa ra quan niệm về đạo đức nghề nghiệp
như sau: Đạo đức nghề nghiệp là những quy tắc, chuẩn mực phản ánh mối quan
hệ giữa con người với công việc, giữa con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng nhằm điều chỉnh thái độ, hành vi hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp, đáp ứng với đòi hỏi đặc thù do tính chất, yêu cầu nghề nghiệp đặt ra
Trong xã hội có rất nhiều những ngành nghề khác nhau, tương ứng vớitừng lĩnh vực nghề nghiệp sẽ có những tiêu chuẩn, yêu cầu chuẩn mực đạođức nghề nghiệp Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận của đạo đức xã hội, làđạo đức ở một lĩnh vực cụ thể trong đạo đức chung của xã hội Do tính đặcthù của hoạt động nghề nghiệp mà mỗi loại hình nghề nghiệp có chuẩn mựcđạo đức thể hiện một cách nổi bật, phản ánh tính đặc thù về phẩm chất đạođức cần có của những người hoạt động ở lĩnh vực nghề nghiệp đó
Quan niệm đạo đức nghề nghiệp có liên quan chặt chẽ với sự pháttriển xã hội, các giá trị, chuẩn mực của của con người trong các lĩnh vựcngành nghề mới xuất hiện theo đà phát triển chung của xã hội Đạo đứcnghề nghiệp là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt của nhâncách của một cá nhân đã được xã hội hóa Với những chuẩn mực đạo đức,giá trị của những ngành nghề xác định, được nhiều người thừa nhận, đượcphổ biến trong xã hội như một đòi hỏi khách quan, là thước đo cần có củamỗi con người hoạt động trong lĩnh vực xác định Những chuẩn mực đạo
Trang 35đức ấy là mục tiêu giáo dục, rèn luyện cho cá nhân trong các ngành nghề.Đồng thời, chuẩn mực đạo đức đó có giá trị định hướng, chi phối, chế ướcquá trình nhận thức, điều chỉnh thái độ, hành vi của mỗi người Ngày naytrong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, khái niệm đạo đức nghềnghiệp cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới Tuy nhiên, điều đókhông có nghĩa là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó làcác giá trị đạo đức mới Mà đây là sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đứctốt đẹp của dân tộc với các giá trị chuẩn mực của thời đại, của nhân loại.
Đó là tinh thần cần cù lao động, sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước gắnliền với chủ nghĩa xã hội, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, cótinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả
2.1.2 Đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực hoạt động nghệ thuật
* Đạo đức nghề nghiệp của người hoạt động nghệ thuật, là "cái gốc",
nền tảng cơ bản trong nhân cách của người nghệ sĩ Sự thành công củangười nghệ sĩ trong hoạt động nghệ thuật phụ thuộc vào nhiều nhân tố,trước hết là quan hệ của họ đối với đồng nghiệp, mức độ uy tín của họ đốivới công chúng Theo đó, việc hình thành đạo đức nghề nghiệp là nội dungrất quan trọng trong quá trình phát triển, hoàn thiện nhân cách người nghệ
sĩ, là cơ sở giúp cho họ trong hoạt động nghệ thuật đứng vững trên lậptrường chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đườnglối của Đảng; chính sách, luật pháp của Nhà nước cũng như trong sáng tạonhững tác phẩm nghệ thuật có giá trị, góp phần đáp ứng nhu cầu văn hóatinh thần của công chúng Xét về bản chất, đạo đức nghề nghiệp của người
nghệ sĩ là cụ thể hóa đạo đức tiến bộ của xã hội, đạo đức cách mạng ở
những con người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật Bởi vậy, đạo đứcnghề nghiệp của người hoạt động nghệ thuật, vừa có những phẩm chất đạođức của một công dân, vừa có những phẩm chất đạo đức mang tính đặctrưng của lĩnh vực hoạt động nghệ thuật
Từ cách tiếp cận trên đây, tác giả quan niệm rằng: Đạo đức nghề nghiệp
của người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật là hệ thống quy tắc, chuẩn mực
Trang 36phản ánh mối quan hệ giữa người làm nghệ thuật đối với các hoạt động nghệ thuật, với xã hội và được biểu hiện ở thái độ, hành vi của họ phù hợp với giá trị chuẩn mực văn hóa nghệ thuật của quốc gia, dân tộc và của cộng đồng thế giới
Như vậy, có thể hiểu về đạo đức nghề nghiệp của những người hoạt độngtrong lĩnh vực nghệ thuật bao gồm:
Thứ nhất, đạo đức nghề nghiệp của người hoạt động trong lĩnh vực
nghệ thuật là một bộ phận của đạo đức xã hội, là đạo đức ở một lĩnh vực cụthể trong đạo đức chung của xã hội Đạo đức nghề nghiệp bao gồm những yêucầu đạo đức đặc biệt, các quy tắc, chuẩn mực đạo đức trong lĩnh vực nghệthuật, nhằm điều chỉnh hành vi của các thành viên trong nghề nghiệp đó saocho phù hợp với lợi ích và sự tiến bộ xã hội
Trong lĩnh vực nghệ thuật, một ngành nghề mà ở đó mọi hoạt động đềuphản ánh hiện thực xã hội thông qua sự tái tạo hiện thực bằng ngôn ngữ nghệthuật nhằm định hướng, điều chỉnh con người hướng tới những giá trị cao đẹpcủa cuộc sống, góp phần hoàn thiện nhân cách và thúc đẩy xã hội phát triển.Nghệ thuật là một mặt, một bộ phận của đời sống văn hóa con người Do đó,đạo đức nghề nghiệp của những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuậtchính là việc thực hiện tốt những quy định, quy tắc, chuẩn mực đạo đức tronghoạt động văn hóa nghệ thuật
Đạo đức nghề nghiệp của người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuậtvừa hàm chứa những quy tắc, chuẩn mực chung của đạo đức xã hội, vừa phảnánh nét đặc thù riêng Nghề nghệ thuật rất phong phú, được biểu hiện ở nhiềuloại hình như: văn học, âm nhạc, thanh nhạc, múa, sân khấu, kiến trúc, điệnảnh, nhiếp ảnh Mỗi một loại hình thể hiện cách thức, nội dung, hình thái,biểu cảm khác nhau, nhưng đều phản ánh hiện thực xã hội thông qua quá trìnhtái tạo hiện thực cuộc sống bằng ngôn ngữ nghệ thuật một cách sinh động,định hướng và điều chỉnh phẩm chất nhân cách con người hướng tới giá trịcao đẹp của cuộc sống Bởi một lẽ, bản chất của hoạt động nghệ thuật là sángtạo và cảm thụ cái đẹp, đưa cái đẹp vào cuộc sống nhằm thỏa mãn nhu cầuvăn hóa tinh thần của con người
Trang 37Thứ hai, đội ngũ những người tham gia hoạt động trong lĩnh vực nghệ
thuật rất đa dạng, bao gồm cả chuyên nghiệp và không chuyên Họ vừa là chủthể, vừa đối tượng của nghệ thuật Họ là lực lượng trực tiếp tham gia các loạihình hoạt động, sáng tạo ra các giá trị nghệ thuật, đồng thời là lực lượnghưởng thụ các sản phẩm nghệ thuật Nền kinh tế phát triển, đời sống vật chất
và tinh thần của con người được nâng lên thì càng có nhiều người tham gianghệ thuật Nhưng để coi nghệ thuật là một nghề thì chủ thể tiến hành nghệthuật chuyên nghiệp (nghệ sĩ) có vai trò quan trọng Ngoài vai trò là ngườitruyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghệ thuật cho đội ngũ kếcận, người nghệ sĩ còn là người lưu truyền, vun đắp, sáng tạo và phát triểnnghệ thuật truyền thống và hiện đại Thông qua hoạt động nghệ thuật truyềntải những giá trị cao đẹp của cuộc sống nhằm nâng cao trình độ năng lực vàthị hiếu thẩm mỹ, hiểu biết về chân, thiện, mỹ của con người Qua đó, giúpcông chúng biết cảm thụ, đánh giá về cái đẹp trong cuộc sống, trong hoạtđộng học tập và công tác
Đặc trưng cơ bản của hoạt động nghệ thuật là thông qua hình tượng hóahiện thực nhằm sáng tạo giá trị nghệ thuật và truyền thụ giá trị đó đến côngchúng, góp phần cải biến con người và cải tạo hiện thực xã hội Quá trìnhtham gia sáng tạo các giá trị nghệ thuật cũng là quá trình mỗi cá nhân tự làmgiàu vốn văn hóa của bản thân Nhận rõ tọa độ văn hóa của mình trong môitrường văn hóa cộng đồng, từ đó nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan
hệ về nghĩa vụ và quyền lợi, vinh dự và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ,giữa thiện và ác, giữa tốt và xấu, giữa giá trị và cái phản giá trị… Do khảnăng phản ánh vừa khái quát, tiêu biểu, vừa cụ thể, sinh động hiện thực củahình tượng nghệ thuật, các tác phẩm nghệ thuật khi đến với công chúng cósức tác động mạnh mẽ Quá trình cảm thụ nghệ thuật cũng là quá trình mỗi cánhân tự vươn lên chiếm lĩnh hoặc tiếp cận những giá trị cao hơn, khôngngừng hoàn thiện bản thân Quá trình chuyển tải các tác phẩm nghệ thuật đếnvới công chúng là quá trình hoạt động nghệ thuật phát huy khả năng cảm hóa,
Trang 38cải biến, giáo dục con người vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ, góp phầnthúc đẩy xã hội phát triển theo hướng ngày càng tốt đẹp hơn Để thực hiệnchức năng định hướng con người tới những giá trị cao đẹp của cuộc sống,hoàn thiện nhân cách thì nghệ thuật phải có những quy tắc, chuẩn mực đạođức riêng để cảm hóa, cải biến, giáo dục con người, đáp ứng được yêu cầucủa sự phát triển xã hội.
Những gì nghệ thuật mang đến cho đời sống con người là vô cùngphong phú Điều này được biểu hiện ở các chức năng của nghệ thuật Trong
đó, chức năng nhận thức, thẩm mỹ, giáo dục giá trị là những chức năng cơbản Do đặc trưng và lợi thế của mình, nghệ thuật có khả năng tác động mộtcách toàn diện tới các giác quan của con người, “nối dài tri thức” cho conngười, góp phần hình thành ở mỗi người những giá trị chân, thiện, mỹ Qua
đó, thúc đẩy mỗi người vươn đến sự hoàn thiện về nhân cách
Thư ba, xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cho những người
hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật là vấn đề quan trọng không chỉ đối vớingười nghệ sĩ, mà đối với cả xã hội, là cơ sở để người nghệ sĩ sáng tạo ranhững tác phẩm nghệ thuật có giá trị đối với đời sống con người và xã hội
2.1.3 Những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cơ bản của người hoạt động nghệ thuật
Những cơ sở khoa học để xây dựng hệ thống chuẩn mực đạo đức nghềnghiệp của người hoạt động nghệ thuật
Dựa vào các giá trị, chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc, tinhhoa văn hóa nhân loại cả ở phương Đông và phương Tây
Dựa trên các chuẩn mực đạo đức của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng Đây là cơ sở quan trọng đểxây dựng những chuẩn mực, nguyên tắc và hành vi đạo đức nghề nghiệp củanhững người hoạt động nghệ thuật hiện nay Sinh thời, Hồ Chí Minh không chỉ
-đề cập tới các chuẩn mực chung về đạo đức cách mạng, mà còn đặc biệt quantâm tới việc cụ thể hoá chuẩn mực đạo đức gắn với mỗi cá nhân, từng lớp người
Trang 39trong hệ thống tổ chức xã hội, nhất là thế hệ trẻ Theo đó, chuẩn mực đạo đứccủa những người hoạt động nghệ thuật là đạo đức cách mạng và những phẩmchất đạo đức ở họ luôn chịu sự quy định bởi công tác giáo dục, đào tạo, bởi môitrường sống, học tập và gắn với nghề nghiệp nghệ thuật
Dựa trên quy định, tiêu chuẩn người nghệ sĩ Đây là cơ sở trực tiếp để xâydựng các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của người hoạt động nghệ thuật
Dựa vào nội dung, đặc điểm yêu cầu giáo dục đạo đức nghề nghiệp chosinh viên có tính đặc thù của lĩnh vực nghệ thuật trong tình hình mới hiện nay
Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của người hoạt động trong lĩnh vựcnghệ thuật được xây dựng, hình thành ngay từ khi họ được đào tạo ở các nhàtrường nghệ thuật, đặc biệt là thường xuyên bổ sung, điều chỉnh phát triểntrong suốt quá trình hoạt động thực tiễn nghệ thuật Những chuẩn mực đạođức đó không chỉ dừng lại ở mức định tính mà phải đạt được ở mức độ địnhlượng; có thể lượng hoá trở thành nội dung giáo dục trong quá trình đào tạo ởcác nhà trường nghệ thuật
Dựa trên các cơ sở khoa học đã trình bày ở trên, tác giả đề xuất khái quátnhững chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cơ bản của người hoạt động trong lĩnhvực nghệ thuật như sau:
Chuẩn mực 1: Có sự đam mê, cống hiến hết mình cho lĩnh vực nghệ thuật
Biểu hiện của chuẩn mực này đó là:
Có sự tận tâm, tận lực với nghề nghiệp, đóng góp tối đa công sức, trítuệ trong xây dựng và phát triển nền văn hóa nghệ thuật Việt Nam
Có xu hướng nghề nghiệp ổn định, vững chắc, nhận thức đúng vị trí, vai trò, ýnghĩa của nghề nghiệp đã lựa chọn Hiểu biết chuyên sâu về lĩnh vực nghệ thuật
Có tình yêu tha thiết với ngành nghề, đam mê sâu sắc với hoạt độngnghệ thuật
Có động cơ đúng đắn, trong sáng vị nghệ thuật
Luôn luôn có sự sáng tạo các giá trị, sản phẩm nghệ thuật độc đáo;
Trang 40không ngừng cống hiến trí tuệ, tài năng của cá nhân trong hoạt động nghệ thuật.
Chuẩn mực 2: Coi trọng các giá trị nghề nghiệp và luôn tu dưỡng trau dồi phẩm chất đạo đức của bản thân
Có sự nêu gương cần, kiệm, liêm, chính, chuẩn mực luôn nói đi đôi với làm
Thường xuyên tự rèn luyện đạo đức để có lối sống lành mạnh, trongsáng, giản dị, khiêm tốn
Biết yêu thương giúp đỡ những người xung quanh, thường xuyênnghiêm khắc với bản thân và công việc
Luôn giữ vững những phẩm chất đạo đức của người nghệ sĩ, gươngmẫu trong lời nói và việc làm
Chuẩn mực 3: Có ý chí nhẫn nại kiên trì, bền bỉ, dũng cảm và tự chủ
Có tinh thần vượt khó trong học tập, khổ luyện hành nghề vươn tới nhữngthành công trong sự nghiệp nghệ thuật Tình yêu nghệ thuật là sự kết hợp giữa laođộng nghệ thuật sáng tạo, khổ luyện thành tài với năng khiếu “bẩm sinh, trời phú”
Có sự kiên nhẫn, quyết tâm khổ luyện, không ngừng phấn đấu học tập lĩnhhội tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp nghệ thuật Ngay cả khi đãthành công thì người nghệ sĩ vẫn tiếp tục khổ luyện, mới giữ được thành tích vàđứng vững, phát triển trên con đường nghệ thuật
Có sự dũng cảm dám đương đầu với những khó khăn, gian khổ, thậm chí là
cả sự thất bại trên con đường nghệ thuật
Có tinh thần tự chủ cao, độc lập trong các hoạt động nghệ thuật
Có ý chí vươn lên mạnh mẽ, hướng tới các mục tiêu cao hơn, không chịulùi bước trước khó khăn gian khổ
Không ngừng tự tu dưỡng, tự rèn luyện hoàn thiện nhân cách của ngườilàm nghệ thuật
Chuẩn mực 4: Có tinh thần tập thể, hợp tác làm việc cùng nhau nhằm đạt được hiệu quả cao trong hoạt động nghệ thuật
Có tình đoàn kết, chân tình, thẳng thắn, hợp tác, giúp nhau cùng tiến bộ