1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp tạo việc làm cho thanh niên huyện chợ đồn, tỉnh bắc kạn trong giai đoạn hiện nay

108 157 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước sang thế kỷ XXI, với những cơ hội và thách thức, trên cơ sở nhìn nhận sâu sắc những ưu điểm và những biểu hiện phức tạp của thanh niên hiện nay, Nghị quyết Đại Hội IX của Đảng đã

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

GIÁ TRẦN NGHIỆP

GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 8.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN AN HÀ

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi Số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được sử dụng trong bất cứ luận văn, luận án nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đều

đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 10 năm 2017

Học viên thực hiện

Giá Trần Nghiệp

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên, các thầy cô giáo đã trực tiếp truyền thụ, trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản và những định hướng đúng đắn trong học tập và tu dưỡng đạo đức, tạo tiền đề tốt để tôi học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn An Hà

đã dành nhiều thời gian và tâm huyết, tận tình hướng dẫn chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Chợ Đồn, phòng Lao Động - Thương binh & xã hội huyện Chợ Đồn, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh huyện Chợ Đồn, Chi Cục Thống kê huyện Chợ Đồn, Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đã cung cấp những thông tin cần thiết và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã quan tâm giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong học tập, tiến hành nghiên cứu và hoàn thành đề tài này

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 10 năm 2017

Học viên thực hiện

Giá Trần Nghiệp

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Đóng góp của đề tài 4

5 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 5

1.1 Cơ sở lý luận về tạo việc làm cho thanh niên 5

1.1.1 Một số khái niệm liên quan 5

1.1.2 Đặc điểm của thanh niên ảnh hưởng đến công tác tạo việc làm 11

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tạo việc làm cho thanh niên 13

1.2 Cơ sở thực tiễn về tạo việc làm cho thanh niên 16

1.2.1 Kinh nghiệm về công tác tạo việc làm cho thanh niên của một số địa phương trong nước 16

1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 26

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 28

2.2 Phương pháp nghiên cứu 28

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu thứ cấp 28

2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 29

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 30

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 31

Trang 6

Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TẠO VIỆC LÀM CHO

THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN 35

3.1 Giới thiệu chung về huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 35

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 41

3.1.3 Đánh giá chung về huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 45

3.2 Thực trạng công tác tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 46

3.2.1 Đặc điểm của thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 46 3.2.2 Thực trạng công tác tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 53

3.2.3 Kết quả tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn 2014 - 2016 75

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tạo việc làm cho thanh niên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 77

3.3.1 Các yếu tố khách quan 77

3.3.2 Các yếu tố chủ quan 79

3.4 Đánh giá chung về công tác tạo việc làm cho thanh niên tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 80

3.4.1 Những kết quả đạt được 80

3.4.2 Một số hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của hạn chế 81

Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 85

4.1 Quan điểm, mục tiêu tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 85

4.1.1 Quan điểm tạo việc làm cho thanh niên huyện Chợ Đồn 85

4.1.2 Mục tiêu tạo việc làm cho thanh niên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020 85

Trang 7

4.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác tạo việc làm cho

thanh niên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn hiện nay 86

4.2.1 Phát huy vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của thanh niên trong công tác tạo việc làm 86

4.2.2 Nâng cao hiệu quả công tác giải quyết việc làm sau đào tạo nghề cho thanh niên 87

4.2.3 Tăng cường vai trò của Huyện đoàn và các Đoàn cơ sở 88

4.2.4 Có chính sách hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế trang trại và nhân rộng các mô hình thanh niên làm kinh tế giỏi 89

4.2.5 Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động thanh niên đi làm việc ở nước ngoài 92

4.2.6 Nâng cao khả năng tiếp cận và hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay để sản xuất kinh doanh 94

4.2.7 Phát triển các loại hình du lịch trên địa bàn huyện 95

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Cơ cấu kinh tế huyện Chợ Đồn giai đoạn 2014-2016 41

Bảng 3.2: Số lao động thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn 46

Bảng 3.3: Cơ cấu thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn theo giới tính 47 Bảng 3.4: Cơ cấu thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn theo độ tuổi 47 Bảng 3.5: Cơ cấu thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn theo dân tộc 48 Bảng 3.6: Cơ cấu thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn theo khu vực 49 Bảng 3.7: Trình độ học vấn của thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn 50 Bảng 3.8: Số lượng thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn đã qua đào

tạo nghề 51 Bảng 3.9: Kết quả thực hiện dự án “Truyền thông nâng cao nhận thức

của thanh niên và xã hội về học nghề, lập nghiệp” 56 Bảng 3.10: Kết quả thực hiện dự án “Tư vấn, hỗ trợ thanh niên khởi sự

doanh nghiệp và lập nghiệp” 58 Bảng 3.11: Kết quả nhận ủy thác cho vay giữa Đoàn thanh niên và Ngân

hàng Chính sách xã hội huyện Chợ Đồn 61 Bảng 3.12: Trình độ được đào tạo nghề của thanh niên trên địa bàn

huyện Chợ Đồn 66 Bảng 3.13: Cơ cấu đào tạo nghề của thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn 67 Bảng 3.13: Tổng hợp các mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác và mô hình

thanh niên làm kinh tế giỏi trên địa bàn huyện Chợ Đồn 69 Bảng 3.14: Kết quả tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Chợ

Đồn giai đoạn 2014-2016 75 Bảng 3.15: Cơ cấu việc làm của thanh niên huyện Chợ Đồn theo lĩnh vực 76

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việc làm nói chung và việc làm cho thanh niên nói riêng không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia, dân tộc và của toàn nhân loại nói chung Có thể nói, hiệu quả của việc giải quyết việc làm gắn liền với sự tồn tại bền vững của mọi quốc gia Đối với Việt Nam, vấn đề giải quyết việc làm cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó, văn kiện Đại hội IX của Đảng đã nhấn mạnh:

“giải quyết việc làm là nhân tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân”

Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy

sự phát triển của xã hội hiện tại và là người chủ tương lai của đất nước Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta luôn đánh giá đúng vai trò của thanh niên, coi thanh niên là vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nguồn lực con người Đảng ta lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cho sự phát triển nhanh và bền vững luôn coi công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng Vì vậy vấn đề thanh niên phải đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người Bước sang thế kỷ XXI, với những cơ hội và thách thức, trên cơ sở nhìn nhận sâu sắc những ưu điểm và những biểu hiện phức tạp của thanh niên hiện nay, Nghị quyết Đại Hội IX của Đảng đã xác định đối với thế hệ trẻ cần phải chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống, văn hóa, sức khỏe, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 11

Huyện Chợ Đồn nằm ở phía Tây của tỉnh Bắc Kạn, có diện tích tự nhiên là 91.115,0 ha, chiếm 18,75% diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển của cả nước, huyện Chợ Đồn đã có những bước chuyển mạnh mẽ về nhiều mặt, thu được nhiều thành tựu quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Trong những thành tựu đó có vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, cho thanh niên nói riêng Tuy nhiên, bên cạnh một số kết quả đạt được, vấn đề lao động và việc làm của thanh niên huyện Chợ Đồn vẫn còn nhiều hạn chế, như nhận thức về nghề nghiệp và việc làm của một bộ phận thanh niên còn thụ động; trình độ chuyên môn, tay nghề, ý thức chấp hành kỷ luật, tác phong công nghiệp trong lao động của một bộ phận thanh niên còn chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (trong tổng

số thanh niên có gần 20% được đào tạo nghề và chỉ có khoảng 1/3 có việc làm), số thanh niên đi lao động ở nước ngoài có tay nghề chưa cao; tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm trong thanh niên còn cao, trong đó nữ thanh niên chiếm tỉ lệ cao hơn Nghề nghiệp của thanh niên hiện nay chủ yếu là nông lâm nghiệp, sửa chữa nhỏ, xây dựng và dịch vụ Cơ cấu lao động thanh niên hiện nay là nông lâm nghiệp, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, trong đó nông lâm nghiệp vẫn chiếm tỉ lệ cao Thiếu việc làm dẫn đến một bộ phận thanh niên sa vào cờ bạc, rượu chè, nghiện hút và các tệ nạn xã hội khác Đây là nhóm người được đánh giá là có nguy cơ cao về các tệ nạn xã hội Do đó, vấn

đề giải quyết việc làm cho lao động thanh niên huyện Chợ Đồn đang là vấn đề cấp thiết hiện nay

Xuất phát từ các lý do trên, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải

pháp tạo việc làm cho thanh niên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp của mình

Trang 12

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Qua phân tích, đánh giá thực trạng tạo việc làm cho thanh niên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn 2014-2016, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác tạo việc làm cho thanh niên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo việc làm cho thanh niên

- Phân tích, đánh giá được thực trạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho thanh niên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

- Đề xuất một số giải pháp tạo việc làm cho thanh niên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

- Phạm vi về nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu công tác tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn

2014 - 2016 Nội dung chính bao gồm: đặc điểm của thanh niên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn ảnh hưởng đến công tác tạo việc làm cho thanh niên; các chính sách tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc

Trang 13

Kạn trong giai đoạn 2014 - 2016 và kết quả đạt được của các chính sách tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn 2014 - 2016

4 Đóng góp của đề tài

Tạo việc làm cho thanh niên là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực lao động, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về công tác tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Luận văn là tài liệu tham khảo để phục vụ quá trình hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của huyện nói chung, các chính sách về đào tạo nghề, về giải quyết và tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn nói riêng

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn bao gồm 4 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo việc làm cho thanh niên Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng công tác tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

Chương 4: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác tạo việc làm cho thanh niên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn hiện nay

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM

CHO THANH NIÊN

1.1 Cơ sở lý luận về tạo việc làm cho thanh niên

1.1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1.1 Khái niệm thanh niên và công tác thanh niên

- Khái niệm thanh niên

Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá

mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn xác định trong quá trình

“tiến hóa” của cơ thể Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm Dưới góc độ kinh tế học, thanh niên được xem là một lực lượng lao động xã hội, nguồn bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực

Để nhìn nhận đánh giá thanh niên một cách tương đối toàn diện, có thể bao hàm được các nội dung, ý nghĩa nêu trên, trong luận văn tác giả sử dụng khái niệm thanh niên theo Luật Thanh niên được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 8, khóa XI ngày 29 tháng 11

năm 2005 nêu: “Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ

đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” [14] Ở nước ta có một thời gian khá dài

tuổi thanh niên được hiểu gần như đồng nhất với tuổi đoàn viên, từ 15 tuổi đến 28 tuổi Ngày nay do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội phát triển, thời gian học tập, đào tạo cơ bản của tuổi trẻ dài thêm, cùng với nhiều đặc điểm khác mà nước ta quy định thanh niên là những người trong độ tuổi từ 16 tuổi

Trang 15

đến 30 tuổi Đây là thời kỳ sung sức nhất của mỗi con người về thể chất, có

sự phát triển mạnh về trí tuệ, nhạy bén, năng động, sáng tạo, có nhiều ước

mơ, hoài bão Thanh niên nước ta là một tầng lớp xã hội rộng lớn, luôn có những đóng quan trọng trong các giai đoạn lịch sử phát triển của đất nước Hiện nay thanh niên Việt Nam chiếm 28,9% dân số cả nước và chiếm 36,4% lực lượng lao động của toàn xã hội, là nguồn nhân lực dồi dào, có tiềm năng

to lớn trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Ngoài ra, tùy theo môi trường hoạt động, nơi cư trú, đặc điểm nghề nghiệp người ta có thể chia thanh niên thành các nhóm khác nhau: thanh niên nông thôn; thanh niên đô thị; thanh niên công nhân; thanh niên cán bộ công chức, viên chức; thanh niên lực lượng vũ trang, thanh niên trường học Trong luận văn, tác giả nghiên cứu khối thanh niên có hộ khẩu thường trú tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

- Khái niệm công tác thanh niên

Công tác thanh niên được định nghĩa tại Khoản 2, Điều 4, Nghị định 120/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23 tháng 7 năm 2007 về hướng dẫn

Luật Thanh niên như sau: “Công tác thanh niên là những hoạt động của

Đảng, Nhà nước và xã hội nhằm giáo dục, bồi dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên phấn đấu và trưởng thành, đồng thời phát huy vai trò xung kích, sức sáng tạo và tiềm năng to lớn của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [2] Công tác thanh niên là một loại hoạt động xã

hội hàm chứa sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các chủ thể xã hội và thanh niên, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của thanh niên và yêu cầu phát triển của xã hội; là quá trình tạo ra môi trường kinh tế, văn hoá, xã hội và là trường học cộng sản cho thanh niên học tập, rèn luyện và trưởng thành; là quá trình đưa thanh niên vào hoạt động thực tiễn cách mạng, đồng thời định hướng giúp thanh niên tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách của mình

Trang 16

1.1.1.2 Khái niệm việc làm, tạo việc làm cho thanh niên

- Khái niệm việc làm

Bản thân cá nhân mỗi con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định, mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất được gọi là chỗ làm hay việc làm Như vậy việc làm

là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân Nhưng với khái niệm việc làm như trên thì chưa được coi là đầy đủ vì con người chỉ có thể tồn tại trong gia đình

và xã hội, do đó việc làm được hiểu theo một cách hoàn chỉnh đó là ngoài phần người lao động tạo ra cho xã hội còn phải có phần cho bản thân và gia đình nhưng điều cốt yếu là việc làm đó phải được xã hội thừa nhận (được pháp luật thừa nhận)

Mỗi một hình thái xã hội, mỗi giai đoạn phát triển kinh tế xã hội thì khái niệm việc làm được hiểu theo những khía cạnh khác nhau Trước đây người ta cho rằng chỉ có việc làm trong các xí nghiệp quốc doanh và trong biên chế nhà nước thì mới có việc làm ổn định, còn việc làm trong các thành phần kinh tế khác thì bị coi là không có việc làm ổn định Với những quan điểm đó nên họ cố gắng xin vào làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp này Nhưng hiện nay quan điểm ấy không tồn tại nhiều trong số những người đi tìm việc làm Những người này sẵn sàng tìm bất cứ công việc gì, ở đâu, thuộc thành phần kinh tế nào cũng được miễn là hành động lao động của họ được nhà nước khuyến khích, không ngăn cấm và đem lại thu nhập cao cho họ là được Trong luận văn, tác giả sử dụng khái niệm việc làm theo Điều 9, Bộ

Luật lao động nước ta năm 2012 đưa ra khái niệm việc làm như sau: “Việc

Trang 17

làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [13]

Như vậy một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó là những công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận

Ngoài khái niệm việc làm, chúng ta cũng cần quan tâm đến một số khái niệm sau:

+ Việc làm đầy đủ: với cách hiểu chung nhất người có việc làm là

người đang có hoạt động nghề nghiệp, có thu nhập từ hoạt động đó để nuôi sống bản thân và gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm Tuy nhiên việc xác định số người có việc làm theo khái niệm trên chưa phản ánh trung thực trình độ sử dụng lao động xã hội vì không đề cập đến chất lượng của công việc làm Trên thực tế nhiều người lao động đang có việc làm nhưng làm việc nửa ngày, việc làm có năng suất thấp, thu nhập cũng thấp Đây chính là sự không hợp lý trong khái niệm người có việc làm và cần được bổ sung với ý nghĩa đầy đủ của nó đó là việc làm đầy đủ

Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu đó là: mức độ sử dụng thời gian lao động, năng suất lao động và thu nhập Mọi việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động phải sử dụng đầy đủ thời gian lao động theo luật định (Việt Nam hiện nay quy định 8 giờ một ngày), mặt khác việc làm đó phải mang lại thu nhập không thấp hơn mức tiền lương tối thiểu cho người lao động Vậy với những người làm việc đủ thời gian quy định và có thu nhập lớn hơn tiền lương tối thiểu hiện hành là những người có việc làm đầy đủ [4]

+ Thiếu việc làm: với khái niệm việc làm đầy đủ như trên thì thiếu việc

làm là những việc làm không tạo điều kiện cho người lao động tiến hành nó sử dụng hết quỹ thời gian lao động, mang lại thu nhập cho họ thấp dưới mức lương tối thiểu và người tiến hành việc làm không đầy đủ là người thiếu việc làm [4]

Trang 18

+ Thất nghiệp: người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động nhưng

không có việc làm, có khả năng lao động hay nói cách khác là sẵn sàng làm việc và đang đi tìm việc làm [4]

- Khái niệm tạo việc làm

Tạo việc làm là quá trình tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất, công cụ sản xuất và sức lao động Tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động luôn là vấn đề bức xúc và quan trọng, nó mang mục đích ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với từng người lao động và toàn xã hội Mục đích của tạo việc làm nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, các tiềm năng kinh tế, tránh lãng phí nguồn lực xã hội Về mặt xã hội, tạo việc làm nhằm mục đích giúp con người nâng cao vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế, giảm được tình trạng thất nghiệp trong xã hội Về mặt kinh tế, khi con người có việc làm sẽ thoả mãn được các nhu cầu thông qua các hoạt động lao động để thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần, ổn định và nâng cao đời sống của người lao động Việc làm hiện nay gắn chặt với thu nhập

Tạo việc làm được hiểu như sau: “Tạo việc làm cho người lao động là

việc tạo cho người lao động từ chỗ thất nghiệp hoặc thiếu việc làm, việc làm không đầy đủ trở thành người có việc làm và có thu nhập đảm bảo từ việc làm đó” [4] Tạo việc làm là một quá trình, còn việc làm là kết quả của quá trình

ấy Muốn có được nhiều việc làm cần có các chính sách tạo việc làm hiệu quả Có thể kể ra một số các chính sách tạo việc làm như: chính sách tạo vốn

để phát triển kinh tế; chính sách di dân đi vùng kinh tế mới; chính sách gia công sản xuất hàng tiêu dùng cho xuất khẩu; chính sách phát triển ngành nghề truyền thống; chính sách phát triển hình thức hội, hiệp hội ngành nghề làm kinh tế và tạo việc làm; chính sách xuất khẩu lao động Việc giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội

Trang 19

Từ khái niệm chung về tạo việc làm cho người lao động, có thể đưa ra cách tiếp cận về tạo việc làm cho thanh niên với tư cách là một lực lượng lao động đặc thù như sau:

Thứ nhất, tạo việc làm cho thanh niên là tạo ra chỗ làm việc phù hợp

với lứa tuổi, trình độ, tay nghề và sức khoẻ của lao động thanh niên Ở độ tuổi từ 16 đến 30, thanh niên đang trong giai đoạn phát triển và dần hoàn thiện về thể chất, tâm lý và nhân cách Thanh niên có thể được đào tạo nghề hoặc chưa qua đào tạo, do đó trình độ và tay nghề cũng chưa ổn định Giải quyết việc làm cho lao động thanh niên phải quan tâm đến sự phù hợp này, phải tính đến khả năng phát triển của thanh niên trong tương lai cả về thể chất, trí tuệ và tâm lý

Thứ hai, tạo việc làm cho thanh niên phải tính đến yếu tố gia nhập thị

trường lao động thường xuyên, liên tục của lực lượng này hàng năm Vấn đề này nếu không được tính toán đầy đủ, cộng với một tỷ lệ lao động thất nghiệp do mất việc làm và một lượng lao động chưa tìm được việc làm hàng năm sẽ tạo áp lực lớn về giải quyết việc làm cho người lao động của Nhà nước và xã hội

Thứ ba, trong tạo việc làm cho thanh niên, vấn đề tự tìm việc làm và tự

tạo việc làm sẽ khó khăn hơn các đối tượng lao động khác Nguyên nhân chủ yếu là thanh niên đang trong giai đoạn phát triển, muốn khẳng định bản thân nhưng tâm lý chưa ổn định, chưa tự chủ về bản thân mà cần có sự định hướng nghề nghiệp từ phía gia đình, nhà trường, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên Thêm vào đó, thanh niên còn thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm, thiếu vốn…nên trong giai đoạn đầu của thời kỳ này, thanh niên khó có khả năng tự tạo việc làm ổn định cho bản thân

Thứ tư, tạo việc làm cho thanh niên phải gắn với đào tạo thường xuyên,

liên tục, góp phần bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng phục

vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Bất kỳ lĩnh vực nào,

Trang 20

người lao động cũng phải trải qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại để phù hợp với yêu cầu công việc Với lao động thanh niên, điều này càng có ý nghĩa hơn Do đó, đào tạo nghề, nâng cao tay nghề và kỹ năng lao động gắn với tạo việc làm cho thanh niên là xu hướng tích cực trong giai đoạn hiện nay

1.1.2 Đặc điểm của thanh niên ảnh hưởng đến công tác tạo việc làm

- Là những người có tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe, có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp về bộ phận nhân lực trẻ, khỏe, thậm chí là trong các công việc sử dụng đến sức khỏe là chính

+ Đối với lao động qua đào tạo: trong thực tế tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp, nhu cầu tuyển dụng lao động được chia thành các cấu phần khác nhau Có những công việc đòi hỏi kỹ năng, kinh nghiệm Có những công việc đòi hỏi kiến thức, sự nhạy bén và sức trẻ Đối với những công việc đòi hỏi kỹ năng và kinh nghiệm thì lao động đứng tuổi chiếm ưu thế Tuy nhiên, đối với những công việc không chỉ đòi hỏi về kiến thức, khả năng thích ứng

mà còn đòi hỏi các tố chất thuộc về sức trẻ thì thanh niên tốt nghiệp đại học, cao đẳng, dạy nghề lại chiếm ưu thế

+ Đối với lao động phổ thông: trong cơ cấu sử dụng của nhiều doanh nghiệp, không phải tất cả các bộ phận đều sử dụng lao động đã qua đào tạo

mà vẫn cần một bộ phận nhân lực làm các công việc đơn giản, sử dụng sức khỏe là chính Nhu cầu về lao động thuộc nhóm này tuy không nhiều nhưng khả năng cạnh tranh một vị trí việc làm thuộc nhóm này rõ ràng là lao động thanh niên có ưu thế hơn các nhóm lao động khác

- Lao động thanh niên nói chung có các mối quan hệ xã hội, nhất là đối với mạng lưới tuyển dụng rất hạn chế Đây cũng là điểm yếu của họ khi tìm kiếm việc làm Nhiều nghiên cứu về thị trường lao động cho thấy việc tuyển dụng lao động hiện nay chủ yếu thông qua các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là mạng lưới xã hội trong tuyển dụng lao động Điều này tạo ra nhiều khó khăn đối với lao động thanh niên trong tìm kiếm việc làm cho bản thân

Trang 21

- Tâm lý kén việc của lao động thanh niên Đa số lao động thanh niên đều có tâm lý muốn làm việc tại các đô thị lớn, rất ít người muốn làm việc ở khu vực nông thôn Đối với lao động thanh niên đã qua đào tạo thì lại có tâm

lý muốn làm việc trong khu vực nhà nước, chỉ số ít người muốn làm việc trong khu vực tư nhân Trong khi đó, khu vực kinh tế tư nhân là khu vực dẫn đầu về tạo việc làm thì những tâm lý như vậy sẽ là rào cản đối với lao động thanh niên khi hội nhập vào thị trường lao động

- Trình độ học vấn của lao động thanh niên không đồng đều, có sự khác biệt giữa thanh niên thành thị, thanh niên nông thôn, vì vậy khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật, tiếp cận các ngành nghề mới không đồng đều, một số ngại làm các công việc đòi hỏi khả năng tư duy Năng lực tổ chức làm kinh tế của phần lớn thanh niên còn ở trình độ thấp, điều này cản trở quá trình giải quyết việc làm và tham gia tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Trình độ chuyên môn, kỹ thuật của phần đông thanh niên còn thấp, ý thức kỷ luật của nhiều lao động thanh niên chưa cao Do đó, thanh niên khó

có cơ hội tìm được việc làm ở những ngành nghề có thu nhập cao Cũng do việc tiếp cận thông tin chưa thuận lợi và rộng rãi nên cơ hội tiếp cận với việc làm và tự tạo việc làm của một bộ phận lao động thanh niên cũng hạn chế Điều này đòi hỏi các cấp ngành phải quan tâm, tạo điều kiện cung cấp thông tin chính thống, định hướng nghề nghiệp, việc làm một cách đầy đủ và đồng bộ để lao động thanh niên có sự lựa chọn nghề nghiệp, việc làm phù hợp với điều kiện của gia đình, khả năng của bản thân và đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của địa phương và đất nước

- Một bộ phận thanh niên có tâm lý dễ thoả mãn với hiện tại nên thiếu động lực vươn lên trong cuộc sống Sự tự ty, ỷ lại, thiếu năng động, sáng tạo cũng làm cho thanh niên ngại bươn chải với cuộc sống như phần đông thanh niên đô thị Thêm vào đó, một bộ phận thanh niên còn chịu ảnh hưởng nặng

nề của các phong tục, tập quán lạc hậu như xây dựng gia đình và sinh con

Trang 22

sớm, kết hôn cận huyết Do đó, chất lượng dân số và chất lượng nguồn nhân lực không cao Một số thanh niên nhận thức mơ hồ, lệch lạc về kinh tế thị trường cùng với sự nông nổi của tuổi trẻ dễ dẫn đến thất bại trong sản xuất kinh doanh và dễ bị kẻ xấu lợi dụng

- Thanh niên là lực lượng trẻ, có tiềm năng lao động rất lớn, thể hiện ở thể chất, trí tuệ và tinh thần của từng cá nhân Cộng đồng thanh niên đang độ sung sức, phát triển nhanh Tuy nhiên, lao động thanh niên đang trong độ tuổi phát triển và chưa trưởng thành, lao động mới tăng thêm đều ở độ tuổi thanh niên, trong đó có một bộ phận là lao động chưa qua đào tạo nghề Số lao động thanh niên đã qua đào tạo nhưng khi tham gia thị trường lao động phải có thời gian nhất định để làm quen, thích nghi với công việc và phải tiếp tục được đào tạo nâng cao Kinh nghiệm tích luỹ của lao động thanh niên trong thực tiễn còn hạn chế Trong đó, thanh niên là đối tượng hạn chế hơn về trình độ, nhận thức, năng lực hoạt động thực tiễn, số thanh niên được đào tạo chiếm tỷ

lệ thấp nên khó khăn hơn trong tìm kiếm việc làm

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tạo việc làm cho thanh niên

1.1.3.1 Các yếu tố khách quan

- Cơ chế chính sách của nhà nước về tạo việc làm cho thanh niên

Để thực hiện công tác tạo việc làm cho thanh niên có hiệu quả thì Nhà nước đóng vai trò là nhân tố quan trọng và quyết định Nhà nước đóng vai trò chủ đạo từ việc xây dựng chủ trương, ban hành các chính sách, xây dựng cơ chế điều hành, tạo nguồn vốn và tổ chức thực hiện Chính sách tạo việc làm được ban hành từ các Bộ, ngành từ trung ương đến địa phương nhằm định hướng, hỗ trợ thanh niên giải quyết việc làm Việc ban hành chính sách một cách đồng bộ, đầy đủ, kịp thời sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến việc tạo việc làm cho lao động thanh niên Để thực hiện thành công mục tiêu tạo thêm việc làm cho thanh niên, các chính sách và nguồn lực phải được công khai, minh bạch,

hỗ trợ đúng đối tượng và hiệu quả; chuyển dần từ hình thức hỗ trợ cho không

Trang 23

sang hỗ trợ có điều kiện, hoặc có thu hồi, để lao động thanh niên có ý thức bảo toàn vốn, tránh tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước

Bên cạnh đó, các địa phương cần chủ động thực hiện có hiệu quả các chính sách tạo việc làm cho thanh niên của Nhà nước, chủ động ban hành các văn bản phù hợp với quy định của Nhà nước và với đặc thù của địa phương mình trong công tác tạo việc làm cho thanh niên Trên cơ sở tiềm năng của mỗi địa phương, cần nghiên cứu ban hành chính sách thu hút các doanh nghiệp đầu

tư vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh nông, lâm nghiệp, du lịch, dịch vụ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm tại chỗ cho lao động thanh niên

- Tình hình phát triển kinh tế xã hội ở địa phương

Tình hình phát triển kinh tế xã hội ở địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến công tác tạo việc làm nói chung, công tác tạo việc làm cho thanh niên nói riêng Kinh tế xã hội phát triển, có sự tăng trưởng qua các năm là tiền đề tốt để tạo ra công ăn việc làm cho người dân Ngược lại, nếu kinh tế xã hội gặp khó khăn, suy thoái sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến công tác tạo việc làm người dân Bởi chỉ khi kinh tế phát triển, sản xuất hàng hóa được lưu thông thì mới tạo ra công

ăn việc làm cho người dân

- Sự phối hợp của các ban ngành, các tổ chức đoàn thể trong tổ chức thực hiện chính sách tạo việc làm cho thanh niên

Trách nhiệm tạo việc làm cho thanh niên không chỉ riêng là trách nhiệm của nhà nước hay một tổ chức nào mà là trách nhiệm chung của toàn

xã hội Để tạo việc làm cho thanh niên, vai trò của cộng đồng, doanh nghiệp

và các tổ chức chính trị xã hội là nhân tố không thể thiếu, nó được thể hiện

bằng sự chia sẻ nguồn lực, hỗ trợ thanh niên trên các mặt hoạt động như vốn, tạo thị trường, tạo việc làm, đào tạo lao động hoặc liên doanh liên kết nhằm tạo cơ hội việc làm cho thanh niên Bên cạnh đó, cần đặc biệt quan tâm đến vai trò quan trọng của doanh nghiệp đối với công tác tạo việc làm cho thanh niên Nếu thanh niên đã qua đào tạo đại học, cao đẳng hoặc đào tạo nghề mà

Trang 24

không có đầu ra thì ý nghĩa của công tác tạo việc làm cho thanh niên sẽ hầu như biến mất, thậm chí còn tạo thêm gánh nặng cho nhà nước khi tiến hành

hỗ trợ kinh phí cho thanh niên học tập nâng cao trình độ chuyên môn Và ở khâu giải quyết đầu ra, tiếp cận thị trường, sự hợp tác của các doanh nghiệp cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng

- Mạng lưới các cơ sở đào tạo, trung tâm dạy nghề cho thanh niên

Thực tế cho thấy phần lớn thanh niên có trình độ học vấn, chuyên môn nghề nghiệp, sự hiểu biết vẫn còn rất hạn chế Do vậy, công tác tạo việc làm cho thanh niên muốn đạt kết quả tốt thì một trong những vấn đề cần đặc biệt quan tâm, giải quyết đó là công tác đào tạo nghề, định hướng nghề nghiệp cho thanh niên Việc tổ chức tốt mạng lưới các cơ sở đào tạo, quan tâm đầu tư thỏa đáng về trang thiết bị cũng như cho đội ngũ cán bộ đào tạo ở cơ sở, song song với nó là nâng cao chất lượng đào tạo, gắn kết giữa đào tạo với sử dụng lao động có ý nghĩa quan trọng giúp thanh niên tìm kiếm, có việc làm phù hợp, nâng cao thu nhập và ổn định cuộc sống

- Nguồn lực thực hiện công tác tạo việc làm cho thanh niên

Muốn thực hiện thành công công tác tạo việc làm cho thanh niên thì nhất thiết cần phải có nguồn lực dành cho công tác này Bên cạnh nguồn ngân sách nhà nước thì công tác xã hội hóa công tác tạo việc làm cho thanh niên, đặc biệt là xã hội hóa về nguồn lực, nhân lực và vật lực ngày càng đóng vai trò quan trọng Cùng với sự chia sẻ trách nhiệm xã hội của mọi người dân trong việc trợ giúp lao động thanh niên có việc làm thì sự đồng thuận, giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, các quốc gia cũng góp phần không nhỏ trong công cuộc giải quyết việc làm cho thanh niên Việt Nam

1.1.3.2 Các yếu tố chủ quan

- Quy mô, chất lượng của lao động thanh niên

Quy mô, chất lượng của lao động thanh niên được thể hiện ở số lượng thanh niên; cơ cấu lao động thanh niên theo độ tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ Để công tác tạo việc làm cho lao

Trang 25

động thanh niên đạt hiệu quả, lao động thanh niên cần có một điều kiện đó là phải có trình độ học vấn nhất định Điều kiện này có sự khác biệt đáng kể giữa các ngành nghề đào tạo mà thanh niên mong muốn học nghề cho bản thân

Một trong những yếu tố có tính quyết định đến việc làm, tạo việc làm cho thanh niên đó là do trình độ, năng lực, trí lực, thể lực của bản thân thanh niên Đối với những thanh niên có trình độ, hiểu biết, sức khỏe tốt thì sẽ dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm việc làm Đối với những thanh niên chưa qua đào tạo thì rất khó khăn để tìm kiếm được một công việc ổn định, có thu nhập cao Do vậy, việc đào tạo nói chung, đào tạo nghề nói riêng cần luôn quan tâm, đầu tư thỏa đáng để nâng cao chất lượng của lao động thanh niên

- Ý thức của lao động thanh niên

Thanh niên vừa là chủ thể vừa là khách thể của công tác tạo việc làm cho thanh niên Điều này đòi hỏi bản thân mỗi thanh niên phải ý thức được ý nghĩa then chốt, tầm quan trọng cũng như nội dung của công tác tạo việc làm cho lao động thanh niên Từ sự hỗ trợ của Nhà nước, của cộng đồng thanh niên cần phải có sự chủ động, tính tích cực được thể hiện thông qua ý thức tự trau dồi bản thân, không ngừng tu dưỡng rèn luyện đạo đức, học tập nâng cao trình độ chuyên môn, có ý thức tự tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm cho bản thân Nếu không có sự chủ động này thì mọi sự hỗ trợ từ bên ngoài cho công tác tạo việc làm cho thanh niên sẽ không đạt hiệu quả, thậm chí còn có tác dụng tiêu cực đó là tạo ra tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ, thụ động trong công tác tìm kiếm việc làm cho bản thân

1.2 Cơ sở thực tiễn về tạo việc làm cho thanh niên

1.2.1 Kinh nghiệm về công tác tạo việc làm cho thanh niên của một số địa phương trong nước

1.2.1.1 Kinh nghiệm của huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc

Vĩnh Tường là huyện nằm ở đỉnh tam giác đồng bằng Bắc Bộ, nằm bên

tả ngạn sông Hồng ở về phía Tây Nam của tỉnh Vĩnh Phúc Huyện có điện

Trang 26

tích 141,8 km2 với 29 đơn vị hành chính, trong đó có 02 thị trấn (thị trấn Vĩnh Tường và thị trấn Thổ Tang) và 27 xã Huyện Vĩnh Tường có vị trí tiếp giáp như sau: phía Đông giáp huyện Yên Lạc; phía Tây giáp thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội; phía Nam giáp huyện Ba

Vì, Phúc Thọ và thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội; phía Bắc giáp thành phố Vĩnh Yên và huyện Lập Thạch Vị trí địa lý của huyện Vĩnh Tường nhìn chung rất thuận lợi cho phát triển kinh tế Vĩnh Tường tiếp giáp với thành phố công nghiệp Việt Trì, thị xã Sơn Tây, cận kề với thành phố Vĩnh Yên Huyện

có đường Quốc lộ 2A và 14 km đường Quốc lộ 2C chạy qua, đồng thời có hai

ga hàng hoá đường sắt tuyến Hà Nội - Lào Cai là ga Bạch Hạc và ga Hướng Lại Về đường sông có hai cảng trên sông Hồng tại xã Vĩnh Thịnh và xã Cao Đại Về khu công nghiệp, huyện Vĩnh Tường có hai khu công nghiệp Chấn Hưng, Đồng Sóc và cụm kinh tế xã hội Tân Tiến đang được triển khai Những yếu tố đó mang lại cho Vĩnh Tường một vị trí khá quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, là điều kiện thuận lợi để nhân dân Vĩnh Tường tiếp cận, giao lưu, trao đổi hàng hoá, phát triển kinh tế, văn hoá xã hội với các vùng lân cận

Theo số liệu của Huyện đoàn Vĩnh Tường, tính đến 30/12/2016, trên địa bàn huyện có 34.944 thanh niên sinh hoạt trong 46 tổ chức Đoàn Với số lượng thanh niên lớn, để tháo gỡ khó khăn trong công tác giải quyết việc làm cho lao động thanh niên, những năm qua, huyện Vĩnh Tường luôn nỗ lực tìm hướng đi phù hợp, kêu gọi sự vào cuộc của các cấp, ngành, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn Các giải pháp cụ thể huyện Vĩnh Tường đã thực hiện là:

- Tăng cường công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên UBND huyện đã xây dựng Chương trình số 484 về dạy nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo giai đoạn 2011-2015; rà soát, cập nhật thông tin biến động cung cầu lao động; tuyên truyền, định hướng nghề nghiệp cho lao động nông thôn, trong đó có lao động thanh niên Một trong những

Trang 27

nỗ lực của huyện Vĩnh Tường là hướng đào tạo, giải quyết việc làm về cơ

sở, đến những người trực tiếp lao động, sản xuất Tại UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đều đã thành lập và duy trì hiệu quả Văn phòng tư vấn giới thiệu việc làm do các tổ chức đảm nhận, đối với lao động thanh niên do Đoàn thanh niên các xã đảm nhận

+ Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện thường xuyên phối hợp với các trung tâm dịch vụ việc làm trong và ngoài huyện, các đơn vị tham gia xuất khẩu lao động để cung ứng lao động cho các công ty, doanh nghiệp cần tuyển dụng lao động Đồng thời, phối hợp với Trung tâm Dạy nghề huyện liên kết, tổ chức các khóa đào tạo nghề cho thanh niên Tranh thủ nguồn vốn triển khai các dự án phát triển sản xuất, thu hút lao động tạo việc làm tại chỗ; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp có tiềm lực về kinh

tế tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện, góp phần tích cực vào giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện

+ Trung tâm dạy nghề huyện Vĩnh Tường ngoài đào tạo chương trình

bổ túc văn hóa, còn liên kết đào tạo trung cấp, sơ cấp nghề cho học sinh bổ túc, trung học phổ thông và người lao động, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng lao động trên địa bàn Hiện trung tâm đào tạo 8 ngành nghề chủ yếu là tin học, may công nghiệp, điện công nghiệp dân dụng, gò hàn, chăn nuôi thú y, trồng trọt, kỹ thuật chế biến món ăn, kỹ thuật sửa chữa và lắp ráp máy tính Để công tác đào tạo, dạy nghề đạt hiệu quả, chất lượng cao, trung tâm đặc biệt chú trọng tuyên truyền tuyển sinh, cử cán bộ trực tiếp xuống các

xã, phường, thị trấn và các trường THPT, THCS trong huyện để tuyên truyền,

tư vấn việc làm, phối hợp tuyển sinh Đồng thời, chủ động phối hợp với các trường Cao đẳng nghề trong tỉnh giới thiệu việc làm cho các học viên đã tốt nghiệp hệ Trung cấp nghề vào làm tại các doanh nghiệp, công ty trong và ngoài tỉnh Tiến hành rà soát các đối tượng tham gia học để đảm bảo việc hỗ trợ dạy nghề đạt kết quả tốt nhất Mặt khác, trung tâm luôn đổi mới, đa dạng

Trang 28

hóa các ngành nghề, phối hợp với các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh,

mở rộng ngành nghề đào tạo, tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn ở các xã, thị trấn Mỗi năm, trung tâm đã đào tạo hơn 1.000 học viên, góp phần nâng cao chất lượng nguồn lao động nói chung, lao động thanh niên nói riêng

- Tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật và hỗ trợ thanh niên vay vốn Phát huy vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh - tổ chức chính trị xã hội của thanh niên Nhằm giúp thanh niên phát huy vai trò xung kích tham gia phát

triển kinh tế - xã hội, trong 5 năm từ 2012-2016, Ban chấp hành Huyện đoàn

đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị tổ chức 153 lớp tập huấn chuyển giao

khoa học kỹ thuật cho 15.147 thanh niên; tổ chức 128 buổi tuyên truyền, tư vấn hướng nghiệp giải quyết việc làm thanh niên Ban chấp hành Huyện Đoàn cũng

đã phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội huyện kiện toàn 36 tổ vay vốn

do Đoàn thanh niên quản lý để giúp thanh niên để phát triển kinh tế

- Khuyến khích thanh niên phát triển kinh tế Những năm gần đây, phong trào thanh niên thi đua lập nghiệp, lao động sáng tạo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã được Huyện đoàn Vĩnh Tường triển khai sâu rộng đến các cơ

sở đoàn và đạt được những kết quả đáng ghi nhận Huyện đoàn Vĩnh Tường

đã phối hợp với Tỉnh Đoàn và Hội Doanh nghiệp trẻ Vĩnh Phúc tổ chức các lớp học khởi sự doanh nghiệp cho thanh niên Các cấp bộ Đoàn trong huyện thường xuyên tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho thanh niên về chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, cơ hội, thách thức và kinh nghiệm trong quá trình hội nhập thông qua các buổi sinh hoạt chi đoàn, các lớp tập huấn nghiệp vụ Đoàn, Hội Huyện Đoàn Vĩnh Tường chỉ đạo các cơ

sở Đoàn thành lập các câu lạc bộ phù hợp với nhu cầu, sở thích của thanh niên như: câu lạc bộ thanh niên giúp nhau phát triển kinh tế, câu lạc bộ doanh nhân trẻ, câu lạc bộ thanh niên khởi nghiệp nhằm tạo điều kiện cho các thành viên, hội viên hỗ trợ nhau về nguồn vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm trong

Trang 29

sản xuất, kinh doanh, giúp thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp, tạo việc làm ổn định và vươn lên làm giàu chính đáng

Với những việc làm trên, trong giai đoạn 2012-2016, huyện Vĩnh Tường đã giải quyết việc làm cho hơn 13.300 thanh niên, trong đó có 956 người đi xuất khẩu lao động Tổng dư nợ của thanh niên tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện để phục vụ phát triển kinh tế là hơn 22 tỷ đồng Thời gian tới, huyện Vĩnh Tường tiếp tục phối hợp với các doanh nghiệp đóng trên địa bàn và các công ty tham gia giới thiệu, tư vấn xuất khẩu lao động, tuyển lao động làm việc tại các công ty, doanh nghiệp Đồng thời, đẩy mạnh phát triển các làng nghề truyền thống, khuyến khích các chủ làng nghề mở rộng mô hình thu hút nguồn lao động tại chỗ Tiếp tục phối hợp với Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Trung tâm Dạy nghề huyện mở các lớp dạy nghề ngắn hạn cho lao động thanh niên chưa qua đào tạo tham gia học nghề phù hợp với khả năng của lao động thanh niên nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động, đáp ứng thị trường xuất khẩu lao động, cung ứng nguồn lao động cho các doanh nghiệp trong và ngoài huyện [18]

1.2.1.2 Kinh nghiệm của huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

Huyện Lâm Thao nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ, có diện tích

tự nhiên gần 9.754 ha, dân số hơn 102.400 người Trên địa bàn huyện có 14 đơn vị hành chính, bao gồm 12 xã và 02 thị trấn Lâm Thao là huyện đồng bằng duy nhất của tỉnh nên huyện có nhiều lợi thế cho phát triển nông nghiệp, nông thôn Trung tâm huyện là thị trấn Lâm Thao cách thành phố Việt Trì khoảng 10 km về phía Tây Trên địa bàn huyện có các tuyến giao thông chính như quốc lộ 32C với chiều dài 14 km nối thông giữa Quốc lộ 2 với Quốc lộ 32A Ngoài ra, còn có 5 tuyến Tỉnh lộ 320, 324, 324B, 324C, 325B có tổng chiều dài 52,5 km và 5 tuyến huyện lộ dài 18,5 km, tuyến đường thủy trên sông Hồng chảy dọc phía Tây trên địa bàn huyện dài 28 km từ Xuân Huy đến

Trang 30

Cao Xá Với vị trí địa lý có hệ thống giao thông khá thuận lợi nên huyện Lâm Thao là của ngõ giữa miền núi và vùng đồng bằng, đồng thời là cửa ngõ quan trọng giữa thành phố Việt Trì với các tỉnh phía Bắc, có điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, vận chuyển và trung chuyển để tiêu thụ hàng hóa, nông sản thuận tiện

Theo số liệu của Huyện đoàn Lâm Thao, tính đến 30/12/2016, trên địa bàn huyện có 26.742 thanh niên sinh hoạt trong 37 tổ chức Đoàn Xác định giải quyết việc làm cho lao động nói chung, cho lao động thanh niên nói riêng

là một trong những tiêu chí quan trọng để phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới Vì vậy, những năm qua huyện Lâm Thao đã tập trung chỉ đạo có hiệu quả công tác giải quyết việc làm, cụ thể là:

- Chú trọng công tác đào tạo nghề cho thanh niên Hàng năm, UBND huyện chỉ đạo phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện tập trung điều tra, rà soát số lượng lao động địa phương, nắm bắt kịp thời số lao động có việc làm, không có việc làm, lao động được đào tạo nghề, lao động chưa qua đào tạo nghề và nhu cầu học nghề của người lao động Trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch, đưa ra các giải pháp thiết thực cho công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, cho lao động thanh niên nói riêng Bên cạnh đó, phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện thường xuyên phối hợp với đoàn thanh niên các xã, thị trấn cùng các doanh nghiệp tuyển dụng lao động trong và ngoài địa bàn tuyên truyền các thông tin về việc làm, xuất khẩu lao động đến thanh niên trên địa bàn huyện Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền về các chủ trương, chính sách dạy nghề và giải quyết việc làm được quan tâm thực hiện bằng nhiều hình thức thông qua các phương tiện truyền thông của huyện Nhờ đó các thông tin về cơ sở dạy nghề, nhóm nghề; địa chỉ của cơ sở dạy nghề; địa chỉ nơi tuyển dụng lao động, điều kiện tuyển dụng và mức thu nhập thường xuyên được thông tin, phổ biến tới người lao động trên địa bàn, trong đó có đối tượng là lao động thanh niên

Trang 31

- Phát huy vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Lâm Thao Trong giai đoạn 2012-2016, Huyện đoàn Lâm Thao đã phát động nhiều phòng trào giúp thanh niên có việc làm hoặc tự tạo việc làm như phong trào “Xung kích, tình nguyện phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc” được cụ thể bằng nhiều công trình, phần việc thiết thực, khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tiềm năng, sức sáng tạo của thanh niên trên các lĩnh vực; Phong trào “Đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” đã đi vào thực tiễn, đạt hiệu quả thiết thực, góp phần giải quyết việc làm cho thanh niên Trong giai đoạn 2012-2016, Huyện đoàn Lâm Thao đã phối hợp dạy nghề ngắn hạn cho 2.780 thanh niên; tư vấn học nghề, giới thiệu việc làm cho 5.800 thanh niên, giải quyết việc làm cho hơn 1.300 thanh niên, trong đó xuất khẩu lao động là 350 thanh niên Đã phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội huyện cho gần 2.000 thanh niên vay vốn với tổng số tiền hơn 36 tỷ đồng

- Giúp thanh niên xây dựng mô hình phát triển kinh tế và nhân rộng mô hình thanh niên sản xuất kinh doanh giỏi Những năm qua, các cơ quan, tổ chức đoàn thể trên địa bàn huyện luôn đồng hành bằng các hoạt động hỗ trợ, tạo điều kiện vay vốn sản xuất, kinh doanh, khích lệ, động viên đã tạo động lực lớn để thanh niên quyết tâm cống hiến toàn bộ sức trẻ làm giàu cho gia đình, quê hương Những hoạt động thiết thực đã khơi dậy và phát huy tinh thần xung kích của mỗi đoàn viên, thanh niên; cộng với hỗ trợ giống, vốn, khoa học kỹ thuật kịp thời của các các cơ quan, tổ chức đoàn thể đã tạo sức bật cho thanh niên Lâm Thao vượt khó thực hiện nhiều mô hình phát triển kinh tế Những mô hình này đã có những đóng góp nhất định, góp phần đáp ứng nguyện vọng lập thân, lập nghiệp của thanh niên và phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đất nước Bên cạnh đó, huyện còn quan tâm, kịp thời phát hiện các mô hình sản xuất kinh doanh giỏi của thanh niên để động viên, khen thưởng kịp thời và nhân rộng mô hình sản xuất kinh doanh giỏi của thanh niên ra các địa phương khác trên địa bàn huyện

Trang 32

Với những việc làm trên, trong giai đoạn 2012-2016, huyện Lâm Thao

đã giải quyết việc làm cho hơn 7.400 thanh niên, trong đó có 638 người đi xuất khẩu lao động Tổng dư nợ của thanh niên tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện để phục vụ phát triển kinh tế là hơn 40 tỷ đồng Để góp phần thực hiện có hiệu quả công tác giải quyết việc làm cho lao động, trong đó có lao động thanh niên, thời gian tới, huyện Lâm Thao đề ra nhiều giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh, thực hiện có hiệu quả chương trình giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động như phát triển ngành nghề truyền thống; ngành nghề, dịch vụ mới phù hợp với địa phương; khuyến khích các thành phần kinh

tế, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, tạo việc làm cho người lao động và đẩy mạnh xuất khẩu lao động [18]

1.2.1.3 Kinh nghiệm của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

Phú Bình là một huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên Huyện Phú Bình nằm ở phía nam của tỉnh, trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên

26 km Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 249,36 km2 với 21 đơn vị hành chính gồm thị trấn Hương Sơn và 20 xã Huyện có vị trí tiếp giáp như sau: phí Bắc giáp huyện Đồng Hỷ; phía Tây giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Phổ Yên; phía Đông và Nam giáp các huyện Hiệp Hòa, Tân Yên, Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Trên địa bàn huyện Phú Bình có Quốc lộ 37 chạy qua với chiều dài khoảng17,3km, nối liền huyện với các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang Ngoài ra còn có khoảng 35,1 km tỉnh lộ chạy qua địa bàn huyện Hệ thống Quốc lộ và Tỉnh lộ nêu trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông của huyện với các địa phương khác trong và ngoài huyện

Huyện Phú Bình hiện có hơn 28.000 thanh niên sinh hoạt tại 21 Đoàn

cơ sở, 455 chi đoàn, trong đó có 19 chi đoàn khối cơ quan, doanh nghiệp Với

số lượng thanh niên lớn, để giải quyết việc làm, từng bước giảm tỷ lệ thất nghiệp cho thanh niên, huyện Phú Bình đã thực hiện các biện pháp sau:

Trang 33

- Chú trọng công tác đào tạo nghề cho thanh niên

+ UBND huyện đã chỉ đạo phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện, trung tâm dạy nghề huyện, các xã, các đơn vị liên quan trên địa bàn huyện tập trung, rà soát tìm hiểu thị trường lao động; theo dõi, cập nhật thường xuyên thông tin cung - cầu lao động; tiếp tục triển khai đồng bộ các cơ chế, chính sách đã ban hành nhằm tạo việc làm mới, nâng cao thu nhập cho người lao động, đặc biệt là tạo việc làm cho thanh niên, lao động nông thôn theo Quyết định 1956 của Thủ trướng chính phủ

+ Hàng năm, phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện đã tăng cường khảo sát nhu cầu học nghề của người lao động, trong đó có lao động thanh niên, kết hợp với rà soát, thống kê nhu cầu lao động của các đơn vị, doanh nghiệp, các địa phương trên địa bàn huyện, từ đó đẩy mạnh công tác đào tạo nghề trên địa bàn Theo đó, bên cạnh hoạt động của Trung tâm dạy nghề của huyện, Phú Bình còn liên kết và ký hợp đồng đào tạo với nhiều cơ

sở dạy nghề trong và ngoài tỉnh giúp các học viên có cơ hội, chủ động tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp Hiện nay, rất nhiều lao động thanh niên trên địa bàn huyện sau khi học nghề đã được nhận vào làm việc tại các công ty như: Công ty Samsung Thái Nguyên, Công ty Canon Việt Nam, Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG Thái Nguyên

- Phát huy vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Phú Bình Trong giai đoạn 2012-2016, Huyện đoàn Phú Bình đã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, định hướng phân luồng học nghề cho thế hệ trẻ, giúp họ đánh giá, lựa chọn đúng ngành nghề phù hợp với năng lực của bản thân và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, của đất nước Xóa bỏ định kiến xem thường việc học nghề của thế hệ trẻ Thông qua các hoạt động này sẽ giúp thanh niên ý thức được vai trò, trách nhiệm của tuổi trẻ trong việc không ngừng học tập, lao động để xây dựng và bảo vệ tổ quốc Bên cạnh tuyên truyền,

Trang 34

Huyện đoàn còn phối hợp với các cơ sở dạy nghề, các doanh nghiệp trong và ngoài huyện tổ chức tư vấn, định hướng, giới thiệu việc làm cho trên 8.000 lượt thanh niên Phối hợp với Ngân hàng Chính sách - Xã hội giải ngân và nhận ủy thác trên 35 tỷ đồng cho hơn 4.000 thanh niên vay vốn phát triển kinh tế

- Khuyến khích thanh niên xây dựng mô hình phát triển kinh tế Để khuyến khích thanh niên xây dựng mô hình phát triển kinh tế, huyện Phú Bình đã tổ chức lớp tập huấn xây dựng mô hình phát triển kinh tế trong thanh niên Tham gia các lớp tập huấn có các đoàn viên, thanh niên làm kinh tế giỏi

và những người đang có nhu cầu phát triển kinh tế, xây dựng các mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã tại các địa phương trên địa bàn huyện Thông qua các buổi tập huấn sẽ trang bị cho các đoàn viên, thanh niên có những kiến thức cơ bản

về Luật Hợp tác xã và các chính sách phát triển kinh tế tập thể, từ đó góp phần giúp tuổi trẻ các địa phương nỗ lực phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống

và làm giàu cho quê hương Bên cạnh tổ chức các lớp tập huấn, tạo điều kiện chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ vay vốn, học nghề là đòn bẩy mà huyện Phú Bình đang áp dụng để tạo sức bật cho thanh niên trong các hoạt động phát triển kinh tế Việc khuyến khích thanh niên xây dựng mô hình phát triển kinh tế không chỉ giúp tạo việc làm cho thanh niên đứng ra thành lập các mô hình mà còn giúp tạo việc làm cho các thanh niên khác trên địa bàn

Với những việc làm trên, trong giai đoạn 2012-2016, huyện Phú Bình

đã giải quyết việc làm cho hơn 7.800 thanh niên, trong đó có 763 người đi xuất khẩu lao động Tổng dư nợ của thanh niên tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện để phục vụ phát triển kinh tế là hơn 42 tỷ đồng Trong thời gian tới, bên cạnh việc đẩy mạnh phát triển kinh tế của địa phương, huyện Phú Bình sẽ tăng cường làm cầu nối giữa các cơ quan, doanh nghiệp cần sử dụng lao động với nơi có nguồn lao động Tăng cường đào tạo nghề cần gắn với nhu cầu của các doanh nghiệp, đưa thông tin của thị trường lao động bằng nhiều hình thức,

Trang 35

diễn ra với tần suất và quy mô hơn, từ đó tạo điều kiện để thanh niên Phú Bình có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn với các thông tin về cung - cầu thị trường lao động, giúp họ có được những thông tin chính xác để có kế hoạch học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tìm kiếm việc làm phù hợp với sở thích, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của mình [18]

1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm trong công tác tạo việc làm cho thanh niên của huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ và huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, tác giả rút ra một số bài học kinh nghiệm cho công tác tạo việc làm cho thanh niên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn như sau:

- Để tạo việc làm cho thanh niên, cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là sự quan tâm, chỉ đạo từ UBND huyện Đây là đầu mối rất quan trọng trong việc chỉ đạo thống nhất các địa phương, các tổ chức chính trị

xã hội, các phòng, ban của huyện và các đơn vị có liên quan trong việc phối hợp thực hiện các chính sách, dự án về tạo việc làm cho thanh niên

- Phát huy vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh - tổ chức chính trị xã hội của thanh niên Đây là tổ chức gần gũi nhất với thanh niên, do đó rất thuận lợi trong việc tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của thanh niên, từ đó có những tư vấn, định hướng cho thanh niên trong vấn đề đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên Như đã phân tích ở trên, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã thực hiện có hiệu quả vai trò của mình trong công tác tạo việc làm cho thanh niên như phát động các phong trào “Xung kích, tình nguyện phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc”; phong trào “Đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”; tiến hành tư vấn học nghề, giới thiệu việc làm cho thanh niên; phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội huyện cho thanh niên vay vốn để phát triển kinh tế

Trang 36

- Phát huy vai trò của phòng Lao động - Thương binh và Xã hội - cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân huyện có chức năng tham mưu, giúp

ủy ban nhân dân huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội Đây là phòng chức năng rất quan trọng, là phòng chức năng đầu mối thực hiện các chính sách liên quan trực tiếp đến người lao động, trong đó có công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm Đồng thời cũng là cơ quan đầu mối để điều tra, tổng hợp, cung cấp các thông tin về cung - cầu lao động trên thị trường Để thực hiện có hiệu quả công tác tạo việc làm cho thanh niên thì không thể thiếu vai trò của phòng Lao động - Thương binh và Xã hội

- Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề cho thanh niên Cần thực hiện tốt tất cả các khâu của công tác đào tạo nghề cho thanh niên như công tác tuyên truyền, khảo sát nhu cầu học nghề của thanh niên, thông tin về nhu cầu lao động trên thị trường và vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên sau đào tạo nghề

- Hỗ trợ tín dụng, tạo điều kiện cho thanh niên vay vốn để sản xuất, kinh doanh Thanh niên có thể tiếp cận nguồn vốn vay bằng nhiều phương thức khác nhau như dùng tài sản gia đình để thế chấp; vay theo đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo; vay thông qua bảo lãnh của các tổ chức Hội hoặc vay thông qua các chương trình, dự án khuyến khích thanh niên phát triển kinh tế

- Khuyến khích thanh niên xây dựng mô hình phát triển kinh tế và nhân rộng các mô hình thanh niên sản xuất, kinh doanh giỏi Huyện cần có các chính sách hỗ trợ, khuyến khích thanh niên xây dựng mô hình phát triển kinh

tế như hợp tác xã, tổ hợp tác, kinh tế trang trại, gia trại bằng nhiều biện pháp khác nhau như tổ chức các lớp về khởi sự doanh nghiệp, các lớp tập huấn, hỗ trợ về chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ về vốn để sản xuất, kinh doanh

Trang 37

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo việc làm cho thanh niên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn?

- Thực trạng tạo việc làm cho thanh niên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn như thế nào?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến tạo việc làm cho thanh niên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn?

- Để đẩy mạnh tạo việc làm cho thanh niên huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn cần thực hiện những giải pháp nào?

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu thứ cấp

Luận văn thu thập dữ liệu từ các báo cáo và các tài liệu đã được công

bố, số liệu thống kê về công tác tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Các báo cáo cụ thể như sau:

- Báo cáo kết quả thực hiện Quyết định số 849/QĐ-UBND ngày 20/06/2012 của Uỷ ban nhân dân huyện Chợ Đồn về việc ban hành Chương trình phát triển thanh niên huyện Chợ Đồn giai đoạn 2011-2020

- Báo cáo công tác thanh niên năm 2014, 2015 và 2016 của Huyện đoàn Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

- Kế hoạch đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên huyện Chợ Đồn giai đoạn 2016-2020 của Huyện đoàn Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

- Báo cáo kết quả thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” năm 2014, 2015 và 2016 của phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Chợ Đồn

- Kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 1379/QĐ-TTg ngày 12/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ

Trang 38

- Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện quy hoạch nguồn nhân lực huyện huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012-2020 của Ủy ban nhân dân huyện Chợ Đồn

- Một số báo cáo và tài liệu liên quan đến công tác tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn của Ban Dân tộc, Trung tâm dạy nghề và Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin

2.2.2.1 Phương pháp phân tổ thống kê

Phân tổ thống kê là căn cứ vào một hay một số tiêu thức để tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ và tiểu tổ sao cho các đơn vị trong cùng một tổ thì giống nhau về tính chất, ở khác tổ thì khác nhau về tính chất Các quá trình hay hiện tượng kinh tế xã hội phát sinh

và phát triển không phải ngẫu nhiên, tách rời với các hiện tượng xung quanh

mà chúng có liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau theo những quy định nhất định

Sự biến động của hiện tượng này sẽ dẫn đến sự biến động của hiện tượng khác và ngược lại mỗi hiện tượng biến động đều do sự tác động của các hiện tượng xung quanh

Áp dụng phương pháp này trong luận văn, tác giả sử dụng phương pháp phân tổ thống kê để chia số liệu thu thập được thành các nhóm khác nhau Trong luận văn, tác giả chia thực trạng công tác tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn thành các nhóm: quy mô của thanh niên (số lượng thanh niên); cơ cấu thanh niên (cơ cấu theo giới tính, độ tuổi, dân tộc); chất lượng thanh niên (trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật của thanh niên); Tỷ trọng lao động thanh niên trên tổng dân số và trên tổng số lao động trên địa bàn huyện Chợ Đồn; Việc triển khai và kết quả thực hiện các chính sách, các phong trào tạo việc làm cho thanh niên Sau đó tác giả sẽ đi xem xét thực trạng của từng vấn đề nghiên cứu và mối quan hệ giữa các vấn đề này

Trang 39

2.2.2.2 Phương pháp tổng hợp số liệu

Trong luận văn, phương pháp này dùng để tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài Từ đó, xác định những vấn đề chung và vấn đề riêng nhằm giải quyết nhiệm vụ của đề tài đặt ra Qua phương pháp này phân tích thực trạng tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn trong giai đoạn 2014-2016 Sau đó, tổng hợp và phân tích những kết quả đã đạt được và chưa đạt được để đưa các giải pháp nhằm đẩy mạnh công tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin

2.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả

Các số liệu thu thập được sẽ được liệt kê theo thời gian theo từng chỉ tiêu

cụ thể Phương pháp này kết hợp với phân tích đồ họa đơn giản như các đồ thị

mô tả dữ liệu, biểu diễn các dữ liệu thông qua đồ thị, bảng biểu diễn số liệu tóm tắt Trong luận văn là các bảng biểu thể hiện số lượng, cơ cấu của chỉ tiêu nghiên cứu Từ các bảng số liệu, tác giả sẽ sử dụng các biểu đồ để thấy rõ hơn cũng như có cái nhìn sinh động hơn về cơ cấu của các yếu tố đang phân tích Chúng tạo ra được nền tảng để phân tích định lượng về số liệu Để từ đó hiểu được hiện tượng và đưa ra quyết định đúng đắn

so sánh thường là: chỉ tiêu kế hoạch, tình hình thực hiện các kỳ đã qua Điều kiện để so sánh là: các chỉ tiêu so sánh phải phù hợp về yếu tố không gian, thời gian, cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán Phương pháp so sánh có hai hình thức là: so sánh tuyệt đối và so sánh tương

Trang 40

đối So sánh tuyệt đối dựa trên hiệu số của hai chỉ tiêu so sánh là chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu cơ sở So sánh tương đối là tỷ lệ (%) của chỉ tiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỷ lệ của số chênh lệch tuyệt đối với chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng

Áp dụng phương pháp này, tác giả sẽ sử dụng các hàm cơ bản trong phần mềm excel để tính toán các mức độ biến động như xác định tỷ trọng của chỉ tiêu nghiên cứu, dùng chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối để xem xét tốc độ phát triển bình quân, tốc độ tăng, giảm của năm sau so với năm trước, thị phần của chỉ tiêu nghiên cứu…Từ đó, lập bảng phân tích so sánh qua các năm

để xem mức độ tăng, giảm và phân tích nguyên nhân của sự tăng, giảm đó

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

- Chỉ tiêu tỷ lệ thanh niên có mặt tại địa phương

+ Khái niệm: số thanh niên có mặt tại địa phương là tổng số người có

độ tuổi từ 16 tuổi đến 30 tuổi có mặt ở địa phương tại thời điểm nghiên cứu

+ Công thức tính:

Tỷ lệ thanh niên có

mặt ở địa phương (%) =

Số người từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi

có mặt tại địa phương Dân số từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi

- Chỉ tiêu số thanh niên được tạo việc làm

+ Khái niệm: số thanh niên được tạo việc làm phản ánh số thanh niên

có việc làm tăng thêm trong năm, là chênh lệch giữa số thanh niên có việc làm ở kỳ báo cáo và số thanh niên có việc làm của kỳ trước

+ Công thức tính:

Số thanh niên được tạo việc làm trong năm = Số thanh niên có việc làm

“tăng” trong năm - Số thanh niên có việc làm “giảm” trong năm, hoặc:

Số thanh niên được tạo việc làm trong năm = Số thanh niên có việc làm của kỳ báo cáo năm - Số thanh niên có việc làm của kỳ báo cáo năm trước

Ngày đăng: 13/04/2018, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w