1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đổi mới quản lý tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ tỉnh yên bái

129 241 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

quan có thẩm quyền đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ, chi tổ chức đánh giá sau nghiệm thu đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ; Chi thường xuyên và các nhiệm vụ thường xuyên t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

DƯƠNG THỊ XUÂN

ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ ANH TÀI

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, đảm bảo khách quan khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Dương Thị Xuân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn PGS.TS

Đỗ Anh Tài đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Đào tạo, Bộ phận Quản lý đào tạo sau đại học - Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khoá học và trình bày luận văn này Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp đã chia sẻ nhiều tư liệu

và kinh nghiệm quý báu liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận văn Tôi xin cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ của các cơ quan, đơn vị trên địa tỉnh Yên Bái đã giúp tôi thực hiện thành công luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 01 năm 2018

Tác giả luận văn Dương Thị Xuân

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Đóng góp của luận văn 4

5 Bố cục của luận văn 5

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Một số khái niệm về Khoa học và Công nghệ 6

1.1.2 Một số khái niệm liên quan đến công tác quản lý tài chính Khoa học và Công nghệ 8

1.1.3 Vai trò của công tác quản lý tài chính đối với hoạt động KH&CN 10

1.1.4 Công tác quản lý tài chính đối với hoạt động KH&CN cấp tỉnh 11

1.1.5 Nội dung quản lý tài chính đối với Khoa học và Công nghệ 17

1.1.6 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tài chính cho KH&CN 24

1.1.7 Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính cho hoạt động Khoa học và công nghệ 28

1.2 Cơ sở thực tiễn 31

1.2.1 Kinh nghiệm quản lý tài chính cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam nói chung 31

Trang 6

1.2.2 Kinh nghiệm quản lý tài chính cho hoạt động Khoa học công nghệ

một số tỉnh 33

1.2.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra về công tác quản lý tài chính cho hoạt động Khoa học công nghệ của tỉnh Yên Bái 37

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 40

2.2 Các phương pháp nghiên cứu 40

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 40

2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 43

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 43

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu thuộc địa bàn nghiên cứu 44

2.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh về vốn đầu tư cho KH&CN 44

2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh về việc phân bổ kinh phí sự nghiệp KH&CN 44

Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH YÊN BÁI 45

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 45

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 45

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 46

3.2 Thực trạng công tác tài chính đối với hoạt động Khoa học và Công nghệ của tỉnh Yên Bái 48

3.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về Khoa học và Công nghệ tại tỉnh Yên Bái 48

3.2.2 Thực trạng công tác quản lý tài chính đối với hoạt động KH&CN tỉnh Yên Bái 52

3.2.3 Quy trình quản lý tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ của tỉnh Yên 71

3.2.4 Giám sát, kiểm tra, thanh tra việc quản lý tài chính cho khoa học và công nghệ của tỉnh Yên Bái 77

Trang 7

3.2.5 Phân tích một số hạn chế trong việc phân bổ dự toán NSNN cho

hoạt động khoa học công nghệ 79

3.2.6 Đánh giá một số vấn đề khác trong quản lý tài chính đối với hoạt động Khoa học và Công nghệ của tỉnh Yên Bái 84

3.3 Đánh giá chung về thực trạng tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ tỉnh Yên Bái 88

3.3.1 Kết quả đạt được 88

3.3.2 Những hạn chế của công tác quản lý tài chính 94

3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 98

Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TỈNH YÊN BÁI 103

4.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu trong đổi mới quản lý tài chính cho hoạt động KH&CN tỉnh Yên Bái 103

4.1.1 Quan điểm 103

4.1.2 Định hướng 104

4.2 Một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính cho hoạt động Khoa học công nghệ của tỉnh Yên Bái 104

4.2.1 Tăng cường quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ 104

4.2.2 Huy động, đa dạng hoá nguồn kinh phí đầu tư cho khoa học và công nghệ 107

4.2.3 Xây dựng các chính sách khuyến khích phát triển khoa học và công nghệ 109

4.2.4 Đổi mới chính sách đầu tư, cơ chế quản lý và cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ 111

4.3 Kiến nghị 112

KẾT LUẬN 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

PHỤ LỤC 118

Trang 8

NSNN Ngân sách Nhà nước

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng ý nghĩa của điểm số các biến 42

Bảng 2.2: Ý nghĩa của điểm số bình quân 42

Bảng 3.1: Thống kê các tổ chức KH&CN 49

Bảng 3.2: Thống kê số cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ 50

Bảng 3.3: Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của tỉnh Yên Bái 50

Bảng 3.4 Kinh phí cho sự nghiệp khoa học và công nghệ tỉnh Yên Bái giai đoạn 2014-2016 58

Bảng 3.5 Tổng hợp số lượng các nhiệm vụ nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ KH&CN cấp tỉnh giai đoạn 2014 - 2016 tỉnh Yên Bái 59

Bảng 3.6 Kinh phí hỗ trợ nghiệp vụ quản lý Nhà nước về khoa học và công nghệ 65

Bảng 3.7 Đánh giá về quy trình quản lý tài chính và hệ thống cơ sở pháp lý 76

Bảng 3.8 Đánh giá về công tác thanh tra, kiểm tra 78

Bảng 3.9 Đánh giá về phân cấp quản lý và sử dụng tài chính cho hoạt động KH&CN 84

Bảng 3.10 Đánh giá về nguồn tài chính cho hoạt động NCKH 85

Bảng 3.11 Đánh giá về cơ sở vật chất thiết bị phục vụ cho hoạt động KH&CN 86

Bảng 3.12 Đánh giá về ý thức chấp hành và trách nhiệm của các đơn vị (cá nhân) sử dụng nguồn tài chính 87

Bảng 3.13: So sánh định mức chi giữa Thông tư 55/2015/TTLT/BTC-BKHCN và Quyết định 25/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh 95

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, Đảng và Nhà nước đã sớm có các định hướng và chỉ đạo đúng đắn về vị trí, vai trò của khoa học và công nghệ (KHCN) đối với phát triển kinh tế xã hội nói chung và đối với tiến trình phát triển ngành Công nghiệp nói riêng Để tăng cường đầu tư phát triển KH&CN, tạo động lực và nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hệ thống chính sách nhằm thúc đẩy đầu tư phát triển KH&CN trong những năm qua đã được hoàn thiện và bổ sung trên nhiều phương diện, các cơ chế tài chính để thúc đẩy đầu tư và tăng cường hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính cho KH&CN cũng liên tục được đổi mới Nguồn lực tài chính đầu tư cho KH&CN được tăng cường, đặc biệt là nguồn từ ngân sách nhà nước, với mức kinh phí vào khoảng 1,4 - 1,85% tổng chi Ngân sách nhà nước (NSNN) hằng năm Đầu tư từ NSNN cho KH&CN năm 2015 đạt khoảng 17.390 tỷ đồng, bằng 1,52% tổng chi NSNN, tăng mạnh so với năm trước Cùng với đó,

đã hình thành được một số cơ chế để thu hút, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư phát triển KH&CN Việc tuân theo quy luật phát triển khoa học và công nghệ và quy luật phát triển kinh tế để tăng cường quản lý có hiệu quả nguồn tài chính cho khoa học và công nghệ, phát huy đầy đủ tác dụng của

nó là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng

Tuy nhiên, đến nay hoạt động KH&CN của nước ta còn rất hạn chế Trong đó, vấn đề chi đầu tư cho KH&CN chưa thật sự được chú trọng Tỷ lệ chi cho KH&CN trong chi NSNN giảm liên tục từ 1,85% năm 2006 xuống 1,36% năm 2014 Tính theo tỷ trọng đầu tư cho KH&CN/GDP từ NSNN của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2015 cũng giảm từ 0,51% xuống còn 0,41% Chi đầu tư cho các dự án khoa học có điều kiện nghiên cứu và ứng dụng, gắn kết với nhu cầu thực tiễn của các ngành kinh tế quốc dân, nâng cao năng lực công

Trang 11

nghệ nội sinh còn nhiều bất cập, vẫn chưa thực sự gắn kết với nhu cầu và hoạt động của các ngành kinh tế, xã hội, chậm đưa vào ứng dụng những kết quả đã nghiên cứu được, trình độ công nghệ còn thấp nhiều so với các nước xung quanh Trong quý I/2017, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, tổng vốn ngân sách nhà nước cấp cho các cơ quan trung ương là 9.700 tỷ đồng, thì Bộ GTVT đã chiếm hơn 4.900 tỷ đồng, bằng 50% tổng vốn Các lĩnh vực thuộc

Bộ Y tế, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đứng vị trí thứ 2 và 3 với trung bình khoảng 600 tỷ đồng Đứng cuối danh sách các ngành nhận đầu tư vốn ít

ỏi nhất trong 3 tháng qua là Khoa học và Công nghệ với chỉ 13 tỷ đồng, bình quân mỗi tháng chỉ được cấp hơn 4,33 tỷ đồng Như vậy, vốn cho lĩnh vực giao thông đang gấp hơn 377 lần so với lĩnh vực KH&CN

Đối với tỉnh Yên Bái, trong những năm qua đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, chính sách và cơ chế góp phần tạo môi trường pháp lý cho việc quản lý tài chính cho hoạt động Khoa học và Công nghệ Hoạt động đầu tư tài chính cho Khoa học và Công nghệ ngày càng quan tâm và đầu tư nhiều hơn; Năng lực quản lý và trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác trong lĩnh vực Khoa học và Công nghệ đã chuyên nghiệp hơn, từng bước đáp ứng yêu cầu công việc Hợp tác về đầu tư cho hoạt động Khoa học và Công nghệ với các cơ quan Trung ương và các cơ quan Khoa học và Công nghệ trên địa bàn cũng được tăng cường mạnh mẽ hơn với nhiều hình thức đa dạng Giai đoạn 2014-2016, việc thực hiện các quy định về phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ của tỉnh Yên Bái cơ bản nghiêm túc, bám sát vào những chủ trương, định hướng và chỉ tiêu kế hoạch của Bộ Khoa học

và Công nghệ

Tuy vậy, kinh phí dành cho các hoạt động khoa học và công nghệ và kinh phí đầu tư phát triển khoa học và công nghệ vẫn còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh và còn chưa đáp ứng yêu cầu của các tổ chức, cá nhân thực hiện các nhiệm vụ khoa học; Tổng mức đầu tư xã hội cho

Trang 12

hoạt động KH&CN hàng năm mới đạt 0,1% GDP và 0,45% tổng chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn Chưa có sự gắn kết giữa khoa học - đào tạo; giữa nghiên cứu với sản xuất kinh doanh; giữa người làm khoa học với người dân; tiềm lực KH&CN còn nhỏ bé, năng lực nghiên cứu triển khai còn hạn chế Kế hoạch và dự toán kinh phí chi sự nghiệp khoa học và công nghệ được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt còn chậm, dẫn tới khó khăn trong công tác giải ngân

và triển khai Các lần thẩm định dự toán kinh phí của Sở Tài chính còn rải rác, chưa tập trung, nên phần nào ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân kinh phí, nhất là đối với các đề tài, dự án lĩnh vực Nông lâm nghiệp triển khai theo mùa vụ Một

số đơn vị chủ trì đề tài, dự án còn chưa thực sự quan tâm đến việc hoàn thiện các hồ sơ, chứng từ kế toán, còn nhiều sai sót trong hồ sơ, sổ sách

Chính vì vậy việc tìm hiểu thực trạng, xác định các nguyên nhân còn tồn tại, hạn chế và đề xuất các giải pháp để đổi mới tài chính cho hoạt động khoa học công nghệ tại tỉnh Yên Bái là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện

nay Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Đổi mới quản lý tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ tại tỉnh Yên Bái” để nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu, đánh giá những thành tựu và hạn chế về công tác quản

lý tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ tại tỉnh Yên Bái, từ

đó đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới công tác quản lý tài chính cho hoạt động Khoa học và Công nghệ tại tỉnh Yên Bái trong thời gian tới

Trang 13

- Đề xuất giải pháp nhằm đổi mới tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ tỉnh Yên Bái trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số cơ chế, chính sách trong quản lý tài chính và việc quản lý vốn Ngân sách Nhà nước chi cho hoạt động khoa học công nghệ của tỉnh Yên Bái

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Yên Bái

- Phạm vi về thời gian:

+ Số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu năm 2014-2016

+ Số liệu sơ cấp: Thu thập từ ý kiến của các tổ chức, cá nhân sử dụng nguồn chi cho hoạt động Khoa học và Công nghệ

4 Đóng góp của luận văn

- Luận văn là tài liệu tham khảo cho tỉnh Yên Bái trong công tác quản

lý tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ

- Luận văn làm rõ được thực trạng tình hình quản lý tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ tại tỉnh Yên Bái trong giai đoạn 2014-2016

- Kiến nghị với các cấp, các ngành và lãnh đạo đơn vị bổ sung sửa đổi chính sách, thay đổi phương pháp quản lý nhằm đổi mới hoạt động động quản

lý tài chính cho hoạt động Khoa học công nghệ tại tỉnh Yên Bái

Trang 14

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đổi mới quản lý tài chính cho hoạt động Khoa học và Công nghệ

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng tài chính cho hoạt động Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái

Chương 4: Giải pháp đổi mới quản lý tài chính cho hoạt động Khoa học

và Công nghệ tỉnh Yên Bái

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Một số khái niệm về Khoa học và Công nghệ

Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển

của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy Hoạt động KH&CN là lĩnh vực rộng lớn liên quan đến toàn bộ những hoạt động về “nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN” [1]

Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo

hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm [1]

Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học,

nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ Hoạt động khoa học nói chung là một quá trình sản xuất sản phẩm KH&CN Do đó nó cũng có đầu vào và đầu

ra Quá trình sản xuất sản phẩm KH&CN này được thực hiện như sau:

Đầu vào là: Cán bộ nghiên cứu, vốn

Quá trình sản xuất: Tổ chức nghiên cứu KHCN

Đầu ra là: Công trình nghiên cứu khoa học; Công trình nghiên cứu ứng dụng Giống như bất cứ quá trình sản xuất nào khác, quá trình sản xuất sản phẩm khoa học cũng cần có các đầu vào như lao động, đất đai, vốn Hoạt động KH&CN được thực hiện bởi các cán bộ nghiên cứu, cần có vốn trên cơ

sở công nghệ hiện có Quá trình sản xuất sản phẩm KH&CN là quá trình tổ

Trang 16

chức nghiên cứu Đó là phối hợp các yếu tố đầu vào để triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học, bao gồm từ thu thập, xử lý thông tin, xây dựng các chi tiết công trình theo mục tiêu yêu cầu sản phẩm của đề cương nghiên cứu,

tổ chức thu thập lấy ý kiến chuyên gia để hoàn thiện công trình và chuẩn bị cho nghiệm thu đánh giá

Sản phẩm nghiên cứu là những công trình khoa học, những phát minh, sáng kiến, cải tiến, các quy trình công nghệ Nó bao gồm sản phẩm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng Mỗi loại sản phẩm này có những đặc điểm, đặc tính khác nhau và do đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cũng có sự khác nhau

Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản

chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn [1]

Phát triển công nghệ là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản,

nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm.[1]

Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực

nghiệm để sản xuất thử nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống [1]

Dịch vụ khoa học và công nghệ là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật

cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật,

đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ, hạt nhân và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế

- xã hội [1]

Trang 17

Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức có chức năng chủ yếu là

nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật [1]

Nhiệm vụ khoa học và công nghệ là những vấn đề khoa học và công

nghệ cần được giải quyết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển khoa học và công nghệ [1]

Đặt hàng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ là việc bên đặt

hàng đưa ra yêu cầu về sản phẩm khoa học và công nghệ, cung cấp kinh phí

để tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ tạo ra sản phẩm khoa học và công nghệ thông qua hợp đồng [1]

Đổi mới sáng tạo là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật,

công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa [1]

Nhìn chung, khoa học và công nghệ cấp tỉnh có thể được định nghĩa như sau: “Khoa học, công nghệ cấp tỉnh là hệ thống tri thức, cũng như giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật để biến đổi nguồn lực, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tối ưu hóa quá trình sản xuất và nghiên cứu phát triển của các tỉnh để phát huy tối đa nguồn lực nhằm phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh”

1.1.2 Một số khái niệm liên quan đến công tác quản lý tài chính Khoa học và Công nghệ

Nội dung của Ngân sách Nhà nước bao gồm: Thu ngân sách nhà nước, chi ngân sách nhà nước và cân đối ngân sách nhà nước

Tài chính công là các hoạt động thu chi bằng tiền của Nhà nước; phản

ánh hệ thống quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành

và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng vốn có không nhằm mục tiêu thu lợi nhuận của Nhà nước đối với xã Tài chính công gắn liền với các hoạt động thu chi bằng tiền của Nhà nước; Phản

Trang 18

ánh hệ thống quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị; Phản quá trình hình thành

và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước (Quỹ ngân sách Nhà nước và các quỹ Tài chính ngoài ngân sách Nhà nước nhưng thuộc sở hữu Nhà nước); Công cung cấp hàng hoá công, dịch vụ công phục vụ cho lợi ích cộng đồng và xã hội không vì mục đích lợi nhuận; Là công cụ quan trọng cung cấp thông tin cho các chủ thể lập pháp và quản lý [2]

Tài chính công không chỉ thực hiện nghiên cứu các công cụ huy động

nguồn lực để tài trợ nhu cầu chi tiêu công mà còn mở rộng ra hơn nghiên cứu chính sách sử dụng các công cụ thuế, tín dụng, chi tiêu công (thông qua các nghiệp vụ đầu tư và hỗ trợ tài chính cho các khu vực kinh tế¼) để nhà nước can thiệp một cách hữu hiệu vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội nhằm thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển theo định hướng của nhà nước [2]

Quản lý tài chính công: Quản lý Tài chính công là một nội dung của

quản lý tài chính và là một mặt của quản lý xã hội nói chung, do đó trong quản lý Tài chính công, các vấn đề kể trên cũng là các vấn đề cần được nhận thức đầy đủ Trong quản lý Tài chính công, các chủ thể quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp quản lý và nhiều công cụ quản lý khác nhau [2]

Phương pháp tổ chức: được sử dụng để thực hiện ý đồ của chủ thể quản lý trong việc bố trí, sắp xếp các mặt hoạt động của Tài chính công theo những khuôn mẫu đã định và thiết lập bộ máy quản lý phù hợp với các mặt hoạt động

Phương pháp hành chính: được sử dụng khi các chủ thể quản lý Tài chính công đòi hỏi phải được các khách thể quản lý tuân thủ một cách vô điều kiện Đó là khi các chủ thể quản lý ra các mệnh lệnh hành chính

Phương pháp kinh tế: được sử dụng thông qua việc dùng lợi ích vật chất để kích thích tính tích cực của các khách thể quản lý, tức là tác động tới các tổ chức và cá nhân đang tổ chức các hoạt động Tài chính công

Hệ thống pháp luật thuộc lĩnh vực Tài chính công: được sử dụng để quản lý và điều hành các hoạt động Tài chính công được xem như một loại

Trang 19

công cụ quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng Trong quản lý Tài chính công, công cụ pháp luật được sử dụng thể hiện dưới các dạng cụ thể là các chính sách, cơ chế quản lý tài chính; các chế độ quản lý tài chính, kế toán, thống kê, các định mức, tiêu chuẩn về tài chính, mục lục Ngân sách Nhà nước Cùng với pháp luật, hàng loạt công cụ phổ biến khác được sử dụng trong quản lý Tài chính công như: các đòn bẩy kinh tế, tài chính; Kiểm tra, thanh tra, giám sát: các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý Tài chính công Mỗi công cụ kể trên có đặc điểm khác nhau và được sử dụng theo các cách khác nhau nhưng đều nhằm cùng một hướng là thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động Tài chính công nhằm đạt tới mục tiêu đã định Có thể có khái niệm tổng quát về quản lý Tài chính công như sau: Quản lý Tài chính công là hoạt động của các chủ thể quản lý Tài chính công thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý để tác động và điều khiển hoạt động của Tài chính công nhằm đạt được các mục tiêu đã định

Nội dung quản lý tài chính công: Quản lý Tài chính công có nội dung

đa dạng và phức tạp Xét theo các bộ phận cấu thành các quỹ công, nội dung chủ yếu của quản lý Tài chính công bao gồm: quản lý Ngân sách Nhà nước và quản lý các quỹ Tài chính Nhà nước ngoài Ngân sách Nhà nước [2]

1.1.3 Vai trò của công tác quản lý tài chính đối với hoạt động KH&CN

Cơ chế quản lý tài chính là tổng thể các phương pháp, công cụ và hình thức tác động lên một hệ thống để liên kết phối hợp hành động giữa các bộ phận thành viên trong hệ thống nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của quản

lý, quyết định sự thành công hay thất bại trong quản lý Cơ chế quản lý tài chính có vai trò rất quan trọng quyết định tới sự phát triển của các đơn vị Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế xã hội và là khâu quản lý mang tính tổng hợp Quản lý tài chính được coi là hợp lý, có hiệu quả nếu nó tạo ra được một cơ chế quản lý thích hợp, có tác động tích cực tới các quá trình kinh tế xã hội theo các phương hướng phát triển đã được

Trang 20

hoạch định Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính đối với Khoa học và Công nghệ có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế xã hội do đó phải có sự quản

lý, giám sát, kiểm tra nhằm hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chính

Công tác quản lý tài chính đối với hoạt động KH&CN có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo kỷ luật tài chính cho hoạt động KH&CN; Huy động

và phân bổ các nguồn lực cho hoạt động KH&CN; Hiệu quả hoạt động đầu tư cho KH&CN Vai trò của quản lý tài chính đối phát huy phụ thuộc nhiều vào tính hiệu quả của các khoản chi ngân sách nhà nước cho hoạt động KH&CN Hiệu quả này không chỉ được đánh giá qua số chi nhiều hay ít mà nó được xem xét thông qua các chỉ tiêu đặc trưng cho KH&CN như: Số đề tài KH&CN, số dự án, số công trình nghiên cứu KH&CN đã hoàn thành được triển khai phát huy tác dụng như thế nào Những tiêu chí này được xem xét trong mối tương quan với số chi ngân sách nhà nước cho hoạt động KH&CN Các khoản chi ngân sách Nhà nước cho hoạt động KH&CN thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đến lĩnh vực KH&CN, nó quyết định đến điều kiện phát triển của KH&CN KH&CN có phát triển khi con người hoạt động trong đó tạo ra nhiều sản phẩm có chất xám cao, tạo điều kiện để nghiên cứu, trang thiết bị hiện đại…để có những thành quả lớn cho đất nước

1.1.4 Công tác quản lý tài chính đối với hoạt động KH&CN cấp tỉnh

1.1.4.1 Nguồn tài chính chi cho hoạt động KH&CN cấp tỉnh

Hiện nay, nguồn tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ cấp tỉnh đến từ 02 nguồn: Ngân sách nhà nước và đóng góp, hỗ trợ của các đơn

vị, doanh nghiệp khác Cụ thể như sau:

- Nguồn tài chính từ nhà nước: Theo chương trình phát triển khoa học

và công nghệ, nhà nước hiện nay dành 2% chi ngân sách hàng năm cho hoạt động KH&CN Nguồn tiền này lấy trực tiếp từ ngân sách nhà nước để phục

Trang 21

vụ cho các dự án, nghiên cứu khoa học và công nghệ Đây là thể hiện sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động KH&CN của đất nước

- Nguồn tài chính từ các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp khác trong tỉnh:

Tại một số dự án, ngoài việc tham gia của nhà nước, còn có sự tham gia đóng góp về tài chính của các đơn vị, tổ chức và doanh nghiệp ngoài khác trong tỉnh Việc hợp tác này rất được nhà nước coi trọng và đẩy mạnh để nhằm ứng dụng hóa các sản phẩm nghiên cứu vào thực tế và sớm đưa vào thương mại Trên thế giới, việc hợp tác này là rất phổ biến, nhưng tại nước ta còn nhiều hạn chế

Nguồn tài chính đầu tư cho khoa học và công nghệ được sử dụng vào các mục đích sau:

- Chi đầu tư phát triển khoa học và công nghệ: Chi phát triển tiềm lực

khoa học và công nghệ, đầu tư và hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các tổ chức khoa học và công nghệ không phân biệt thành phần kinh tế theo các nội dung sau: Xây dựng mới, nâng cấp, tăng cường năng lực nghiên cứu của các tổ chức khoa học và công nghệ bao gồm: Phòng thí nghiệm, xưởng thực nghiệm, trạm thực nghiệm; trung tâm phân tích, kiểm nghiệm, kiểm định, hiệu chuẩn và đánh giá sự phù hợp; các cơ sở thiết kế, chế tạo, thử nghiệm chuyên dụng; các cơ sở ứng dụng và chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng; tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ; Xây dựng khu nghiên cứu và phát triển cho các khu công nghệ cao; Xây dựng hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia và thống kê về khoa học và công nghệ; Các hoạt động đầu tư khác phục vụ phát triển khoa học và công nghệ

- Chi sự nghiệp khoa học và công nghệ, gồm các nội dung sau: Chi

thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, bao gồm chi trực tiếp cho các nhiệm vụ khoa học và công nghệ và chi cho các hoạt động quản lý của cơ

Trang 22

quan có thẩm quyền đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ, chi tổ chức đánh giá sau nghiệm thu đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ; Chi thường xuyên và các nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng của tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo quy định pháp luật về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập; Cấp vốn điều lệ và vốn bổ sung cho các quỹ quốc gia của Nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ; Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ nghiên cứu về khoa học và công nghệ ở trong nước và nước ngoài; Mua kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; mua công nghệ theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ; hỗ trợ chuyển giao và nhập khẩu công nghệ; Thuê chuyên gia, tổ chức tư vấn trong nước và nước ngoài; Xúc tiến ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; Hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, ươm tạo và đổi mới công nghệ; Tuyên truyền, phổ biến kiến thức, truyền thông, hoạt động thông tin và thống kê khoa học và công nghệ; tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học trong nước và quốc tế; Hỗ trợ đăng

ký và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hoạt động tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, công bố kết quả nghiên cứu khoa học; khen thưởng, giải thưởng khoa học và công nghệ; Hỗ trợ các hoạt động hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ: Tham gia hội nghị, hội thảo quốc tế; khảo sát tìm kiếm các thông tin về khoa học và công nghệ, các nguồn cung ứng công nghệ ở nước ngoài; tham gia các hoạt động, sự kiện, diễn đàn về khoa học và công nghệ quốc tế; niên liễm tham gia các tổ chức quốc tế về khoa học và công nghệ; vốn đối ứng các

dự án quốc tế về khoa học và công nghệ; bảo đảm hoạt động của mạng lưới đại diện khoa học và công nghệ ở nước ngoài; Chi cho công tác duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa cơ sở vật chất - kỹ thuật và trang thiết bị phục vụ hoạt động khoa học và công nghệ; Các khoản chi có liên quan khác

Trang 23

1.1.4.2 Về cơ cấu tài chính đầu tư cho hoạt động KH&CN

Nguồn tài chính từ NSNN cho hoạt động KH&CN: Đầu tư tài chính từ NSNN cho hoạt động KH&CN là quá phân phối sử dụng một phần vốn NSNN để duy trì, phát triển hoạt động KH&CN theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp Đây chính là thực hiện sự phân bổ nguồn tài chính của nhà nước cho hoạt đông KH&CN Nguồn tài chính từ NSNN đầu tư cho hoạt đông KH&CN không chỉ đơn thuần là cung cấp tiềm lực tài chính nhằm duy trì, củng cố các hoạt động KH&CN mà còn có tác dụng định hướng điều chỉnh các hoạt động nghiên cứu phát triển KH&CN theo đường lối chủ trương của nhà nước Ở nước ta trước đây, toàn bộ nguồn tài chính đầu tư cho nghiên cứu KH&CN đều do NSNN đảm bảo Mọi khoản đầu tư cho KH&CN, từ xây dựng cơ bản, đầu tư chiều sâu, phát triển các tổ chức, viện, trung tâm, nghiên cứu khoa học, chi trả tiền lương cho cán bộ nghiên cứu, thực hiện các chương trình, đề tài nghiên cứu, đều được đảm bảo từ NSNN Nguồn tài chính từ NSNN phục vụ cho các hoạt động KH&CN trong các lĩnh vực trọng điểm,

ưu tiên thực hiện nhiệm vụ nâng cao lợi ích xã hội; Thực hiện nghiên cứu cơ bản có định hướng trong các lĩnh vực khoa học; Duy trì và phát triển tiềm lực KH&CN; Cấp cho các quỹ phát triển KH&CN của nhà nước; Xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, đầu tư chiều sâu cho các tổ chức nghiên cứu và phát triển của nhà nước

Trong 10 năm qua, hoạt động KH&CN phần lớn được đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) với mức kinh phí chiếm khoảng 1,4 - 1,8% tổng chi NSNN hằng năm (không tính phần chi cho KH&CN trong quốc phòng, an ninh) Tuy nhiên, tỷ lệ này có xu hướng giảm trong những năm gần đây Đầu

tư từ NSNN cho KH&CN năm 2016 đạt khoảng 17.730 tỷ đồng, bằng 1,4% tổng chi NSNN Tỷ trọng đầu tư cho KH&CN/GDP từ NSNN của Việt Nam trong 5 năm qua chỉ ở mức xấp xỉ 0,4% Về cơ cấu chi cho KH&CN, trong tổng chi ngân sách nhà nước cho hoạt động KH&CN giai đoạn 2011 - 2016,

Trang 24

chi đầu tư phát triển chiếm bình quân 43%, chi sự nghiệp khoa học chiếm bình quân 57% Trong năm 2016, tỷ lệ này tương ứng là 41% và 59%

Về việc phân bổ kinh phí cho Trung ương và địa phương trong giai đoạn 2013 - 2016, ngân sách trung ương chiếm 2/3 tổng kinh phí đầu tư của Nhà nước cho KH&CN Về cơ cấu chi, nếu như chi đầu tư phát triển trong ngân sách trung ương và ngân sách địa phương tương đối cân bằng thì trong chi sự nghiệp khoa học, ngân sách trung ương chiếm phần lớn (hơn 3/4) tổng chi sự nghiệp khoa học

- Nguồn tài chính ngoài NSNN cho hoạt động KH&CN Phát triển KH&CN đem lại lợi ích thiết thực cho cả cá nhân và xã hội Khi các sản phẩm KH&CN có tính xã hội thì các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân và gia đình, cộng đồng đều có trách nhiệm quan tâm góp sức lực, trí tuệ tiền của để phát triển hoạt động KH&CN Vì vậy, quan tâm đến vấn đề phát triển hoạt động KH&CN là quyền lợi và trách nhiệm của toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu xã hội hóa KH&CN, đa dạng hóa các nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động KH&CN thực hiện phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm” Nguồn tài chính ngoài NSNN cho hoạt động KH&CN có ý nghĩa tăng cường trách nhiệm của các doanh nghiệp, cá nhân sử dụng sản phẩm KH&CN vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế Nó nâng cao tính tự chịu trách nhiệm xã hội của các tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động KH&CN Nó khai thác tiềm năng của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế nhằm giảm chi tiêu của NSNN Nó làm tăng nguồn đầu tư nghiên cứu KH&CN để nâng cấp các cơ sở nghiên cứu, cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc của đơn vị nghiên cứu Bao gồm các nguồn sau:

- Thứ nhất là từ doanh nghiệp, cụ thể là doanh nghiệp dành một phần vốn để đầu tư phát triển hoạt động KH&CN nhằm đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Vốn đầu tư phát triển KH&CN của doanh

Trang 25

nghiệp được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh Thông thường, doanh nghiệp lập quỹ phát triển KH&CN để chủ động đầu tư phát triển KH&CN; Tính đến tháng 12/2016, cả nước có 250 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN; nhiều hồ sơ đăng ký chứng nhận đang trong quá trình thẩm định, đánh giá và có khoảng 2.100 doanh nghiệp đạt điều kiện doanh nghiệp KH&CN Doanh nghiệp KH&CN được cấp giấy chứng nhận thuộc các lĩnh vực công nghệ khác nhau, trong đó tập trung vào: công nghệ sinh học (47%), công nghệ tự động hóa (17%), công nghệ vật liệu mới (14%)

Kể từ năm 2012 đến nay, đã có 36 tổ chức được cấp Giấy chứng nhận hoạt động công nghệ cao, trong đó có 19 tổ chức được cấp Giấy chứng nhận dự án ứng dụng công nghệ cao và 17 tổ chức được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao [6]

- Thứ hai là quỹ phát triển KH&CN của tổ chức, cá nhân, được hình thành từ các nguồn như vốn đóng góp của các tổ chức cá nhân sáng lập, không có nguồn gốc từ NSNN; Các khoản đóng góp tự nguyện, hiến tặng, của các cá nhân, tổ chức; Vốn liên doanh liên kết với các tổ chức khác;

- Thứ ba là nguồn vốn vay ngân hàng, các tổ chức KH&CN vay vốn từ ngân hàng để thực hiện các chương trình đề tài theo nguyên tắc hoàn trả với mức lãi suất hợp lý;

- Thứ tư là nguồn tài chính từ các tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, các tổ chức quốc tế như Tổ chức phát triển Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á, Ngân hàng Nhật Bản … thường dành nguồn tài chính đáng kể để tài trợ cho nghiên cứu khoa học Ngoài ra, còn có các nguồn tài chính ngoài NSNN khác thông qua các hoạt động đào tạo và nghiên cứu, cho thuê địa điểm, các hoạt động dịch vụ khoa học…Các tổ chức này hàng năm đều tài trợ cho rất nhiều

dự án phát triển khoa học, công nghệ, đặc biệt là các dự án liên quan tới phát triển khoa học ứng dụng, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường Tuy nhiên,

Trang 26

do những điều kiện khắc khe về yêu cầu đối với ứng viên, nên số lượng những dự án mà tỉnh được tài trợ hiện vẫn còn vô cùng hạn chế

1.1.5 Nội dung quản lý tài chính đối với Khoa học và Công nghệ

1.1.5.1 Quản lý việc lập dự toán chi thường xuyên đối với sự nghiệp khoa học

và công nghệ

Lập dự toán là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản

lý tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ cấp tỉnh Việc lập dự toán một cách chính xác, phù hợp sẽ giúp tỉnh chủ động trong việc xây dựng

và tổ chức thực hiện các hoạt động khoa học và công nghệ Ngược lại, dự toán không chính xác sẽ đe dọa đến hiệu quả cũng như tính khả thi của các dự án Trên thực tế, ở nước ta đã có rất nhiều dự án phải dừng lại giữa chừng vì thiếu vốn Đây chính là một trong những bài học to lớn cho lãnh đạo tỉnh

Nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng của tổ chức khoa học và công nghệ được ngân sách nhà nước cấp kinh phí phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau: Phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức quy định tại quyết định thành lập, điều lệ hoặc quy chế tổ chức và hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ; Được cơ quan có thẩm quyền quyết định đặt hàng, giao nhiệm vụ theo quy định và không trùng lặp với nhiệm vụ khoa học và công nghệ; Dự toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ phù hợp với khả năng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước; Khi kết thúc nhiệm vụ có nghiệm thu, đánh giá kết quả phải đạt yêu cầu của cơ quan giao nhiệm vụ

Việc lập dự toán kinh phí ngân sách chi nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng của tổ chức khoa học và công nghệ thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13, Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Luật Ngân sách Nhà nước; Căn cứ lập dự toán kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ: Danh mục và nội dung nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng do tổ chức khoa học và

Trang 27

công nghệ xây dựng, được cơ quan chủ quản phê duyệt đặt hàng, giao nhiệm vụ; Số lượng người tham gia thực hiện trong mỗi nhiệm vụ; thời gian tham gia thực hiện nhiệm vụ, hệ số lương và các khoản phụ cấp theo lương của những người tham gia thực hiện nhiệm vụ; Tổ chức khoa học và công nghệ căn cứ vào nội dung nhiệm vụ để xác định số người tham gia, vị trí, chức danh trong nhiệm vụ, thời gian thực hiện nhiệm vụ của từng người và kê khai

cụ thể trong thuyết minh của nhiệm vụ

Yêu cầu lập dự toán: Hàng năm, căn cứ vào quy trình và thời hạn lập

dự toán ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan; căn cứ hướng dẫn tại Thông tư này và chế

độ chi tiêu tài chính hiện hành, các tổ chức khoa học và công nghệ có trách nhiệm: Xây dựng dự toán thu của đơn vị: xây dựng dự toán thu của từng nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng: thu phí, lệ phí, thu hoạt động sự nghiệp và các khoản thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật; Trường hợp đơn vị có hoạt động dịch vụ thì phải tự bù đắp chi phí theo quy định, chênh lệch giữa dự toán thu dịch vụ lớn hơn dự toán chi dịch vụ (nếu có) sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định, được bổ sung vào dự toán thu để bổ sung nguồn kinh phí thực hiện nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng của đơn vị theo quy định; Xây dựng dự toán chi: Căn cứ quy định của pháp luật hiện hành, tổ chức khoa học và công nghệ có trách nhiệm lập dự toán nhu cầu chi của từng nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng gắn với các nội dung và sản phẩm (hoặc kết quả) cụ thể, có thuyết minh rõ cơ sở xây dựng dự toán chi tiết theo từng nội dung công việc; Xác định chênh lệch giữa dự toán thu và dự toán chi, kinh phí đề nghị ngân sách nhà nước hỗ trợ

Cơ quan chủ quản căn cứ vào tình hình và khả năng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước để xem xét, xác định nhiệm vụ và kinh phí cụ thể của từng tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc để tổng hợp vào dự toán tổng thể các hoạt động của cơ quan mình, báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định

Trang 28

Quy trình lập dự toán chi cho khoa học và công nghệ được tiến hành theo các bước sau:

- Bước 1: Căn cứ vào tình hình thực hiện dự toán năm hiện hành, chế

độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN theo quy định, yêu cầu nhiệm vụ của năm

kế hoạch để xác định mức chi dự kiến phân bổ cho ngành khoa học và công nghệ năm kế hoạch Trên cơ sở đó, cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan tài chính (nếu được ủy quyền) thông báo số kiểm tra và hướng dẫn Sở khoa học

và công nghệ tiến hành lập dự toán kinh phí năm kế hoạch

- Bước 2: Sở khoa học và công nghệ căn cứ vào chỉ tiêu được giao và

văn bản hướng dẫn của cấp trên để lập dự toán kinh phí của đơn vị mình gửi đơn vị dự toán cấp trên hoặc cơ quan tài chính Cơ quan tài chính tổng hợp dự toán chi ngân sách cho khoa học và công nghệ vào dự toán chi ngân sách cấp mình để cáo cáo Ủy ban nhân dân trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định Tại các địa phương Sở khoa học và công nghệ có trách nhiệm phối hợp với Sở Tài chính và Sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp dự toán thu, chi ngân sách sự nghiệp khoa học và công nghệ của toàn tỉnh

- Bước 3: Căn cứ vào Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp mình, cơ

quan tài chính trình Ủy ban nhân dân quyết định giao dự toán cho Sở khoa học và công nghệ, đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệm phân bổ và giao dự toán chi NSNN cho các đơn vị và các phòng ban trực thuộc, bảo đảm khớp đúng với dự toán được Ủy ban nhân dân tỉnh giao Phương án phân bổ dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp I cho các đơn vị, phòng ban trực thuộc phải gửi cơ quan tài chính cùng cấp để thẩm tra Qua thẩm tra, nếu phát hiện phương án phân bổ không đảm bảo các yêu cầu trên thì cơ quan tài chính yêu cầu cơ quan phân bổ điều chỉnh lại Trường hợp cơ quan phân bổ ngân sách không thống nhất với yêu cầu điều chỉnh của cơ quan tài chính thì báo cáo Uỷ ban nhân dân để xem xét, quyết định

Trang 29

1.1.5.2 Quản lý việc chấp hành dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với sự nghiệp khoa học và công nghệ

Đi đôi với việc lập dự toán chính xác thì công tác chấp hành dự toán có ảnh hưởng vô cùng to lớn, ảnh hưởng trực tiếp tới tiến độ và kết quả của hoạt động khoa học và công nghệ Chấp hành dự toán tốt sẽ giúp công tác thu chi theo đúng kế hoạch đề ra, đảm bảo tối ưu hiệu quả sử dụng nguồn vốn cho hoạt động khoa học, công nghệ Ngược lại, thu sai, chi sai sẽ dẫn tới lãng phí, thất thoát vốn ngân sách nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc thực hiện

Bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định và có đầy đủ hồ sơ, chứng từ hợp pháp, hợp lệ theo quy định; Đã được Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi;

Để tổ chức tốt công tác tài chính cho Khoa học và công nghệ cần:

Thực hiện các biện pháp tiết kiệm trong việc sử dụng kinh phí được giao; ban hành quy chế chi tiêu nội bộ, tổ chức thảo luận dân chủ, thống nhất trong đơn vị nhằm thực hiện tốt các mục tiêu và nhiệm vụ được giao

Đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính trong quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi bảo đảm chặt chẽ, đúng chính sách chế độ, tạo điều kiện thuận lợi để các đơn vị tổ chức thực hiện có hiệu quả dự toán kinh phí được giao

Nghiêm túc thực hiện chế độ công khai dự toán, quyết toán chi trong cơ quan theo quy định Tổ chức thực hiện tốt Quy chế dân chủ, tạo điều kiện cho

tổ chức công đoàn và cán bộ, công chức trong đơn vị được tham gia thực hiện

và giám sát thực hiện sử dụng kinh phí của đơn vị theo quy định của Nhà nước

Trang 30

Quy định đầy đủ, kịp thời các biện pháp về tổ chức điều hành chi cho

sự nghiệp khoa học và công nghệ hàng năm, quy định cụ thể về trình tự, thủ tục cấp phát, thanh toán các khoản chi, các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi trong lĩnh vực khoa học và công nghệ; quy định rõ trách nhiệm

và quyền hạn của tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình cấp phát, sử dụng các khoản chi (cơ quan tài chính, cơ quan kho bạc nhà nước, cơ quan quản lý giáo dục và đơn vị sử dụng ngân sách)

Tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động

Cơ quan tài chính phải thường xuyên xem xét khả năng đảm bảo kinh phí cho khoa học và công nghệ, phối hợp với với cơ quan liên quan điều chỉnh kịp thời dự toán chi trong phạm vi cho phép Hướng dẫn các đơn vị cơ

sở trong ngành khoa học thực hiệp tốt chế độ hạch toán kế toán hành chính

sự nghiệp, hạch toán kịp thời, đầy đủ rõ ràng các khoản chi cho từng loại hoạt động

Đẩy mạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán tình hình nhận và sử dụng kinh phí ở các đơn vị trực thuộc và đơn vị chủ trì nhiệm vụ, đảm bảo chi theo đúng dự toán; đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi theo quy định, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực, gây thất thoát lãng phí

Thường xuyên quan tâm chú trọng xây dựng, củng cố, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ của cơ quan quản lý tài chính, cơ quan chủ trì và đội ngũ cán

bộ kế toán trong sở và các đơn vị trực thuộc, bảo đảm đủ năng lực đáp ứng yêu cầu của hoạt động quản lý sự nghiệp khoa học

Trang 31

1.1.5.3 Quản lý việc quyết toán tài chính đối với sự nghiệp khoa học và công nghệ

Quyết toán là khâu quan trọng trong một chu trình ngân sách nhằm tổng kết, đánh giá việc thực hiện ngân sách cũng như các chính sách ngân sách của năm ngân sách đã qua Với hàm nghĩa đó, quyết toán trở thành một khâu quan trọng, là nhiệm vụ của nhiều cơ quan, đơn vị từ đơn vị sử dụng ngân sách, các cấp ngân sách đến các cơ quan quản lý ngân sách, cơ quan kiểm tra kiểm soát ngân sách cho đến cơ quan quyền lực tối cao của mỗi quốc gia là Quốc hội Quản lý quá trình quyết toán chi phải thực hiện như sau:

Bước 1: Lập và gửi Báo cáo quyết toán tài chính

Kết thúc năm ngân sách, đơn vị sử dụng ngân sách phải thực hiện khoá

sổ kế toán ngân sách, xử lý ngân sách cuối năm và đối chiếu với Kho bạc Nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch để xác nhận số liệu, từ đó lập Báo cáo quyết toán Báo cáo quyết toán của đơn vị sử dụng ngân sách được gửi đơn vị

dự toán cấp trên xét duyệt, sau đó tổng hợp và gửi đơn vị dự toán cấp I Sau khi xét duyệt quyết toán của các đơn vị trực thuộc, đơn vị dự toán cấp I tổng hợp, lập Báo cáo quyết toán gửi cơ quan tài chính cùng cấp để cơ quan tài chính thẩm định quyết toán theo quy định

Đối với ngân sách trung ương: Đơn vị dự toán cấp I (các Bộ, cơ quan trung ương) gửi Báo cáo quyết toán cho Bộ Tài chính chậm nhất trước ngày 01/10 năm sau

Đối với ngân sách địa phương: Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định cụ thể thời hạn đơn vị dự toán cấp I gửi Báo cáo quyết toán cho cơ quan tài chính cùng cấp, tuy nhiên cần đảm bảo thời hạn để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi Báo cáo quyết toán ngân sách địa phương cho Bộ Tài chính trước ngày 01/10 năm sau

Bước 2: Cơ quan tài chính, KBNN thẩm định Báo cáo quyết toán

Cơ quan tài chính: Thẩm định quyết toán của đơn vị dự toán cấp I cùng cấp và quyết toán của ngân sách cấp dưới Sau đó, cơ quan tài chính tổng hợp

Trang 32

quyết toán ngân sách cấp mình và ngân sách cấp dưới để gửi cơ quan tài chính cấp trên thẩm định Kết thúc quá trình thẩm định quyết toán, cơ quan tài chính trình Ủy ban nhân dân để trình Hội đồng nhân dân ban hành Nghị quyết phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương Tiếp theo, cơ quan tài chính gửi

Bộ Tài chính Nghị quyết phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương để làm căn cứ tổng hợp quyết toán

Bước 3: Kho bạc Nhà nước (KBNN) tổng hợp, lập Báo cáo quyết toán

Theo quy định, nhiệm vụ tổng hợp, lập Báo cáo quyết toán hằng năm được giao cho KBNN thực hiện

KBNN căn cứ số liệu thu, chi, căn cứ Thông báo thẩm định quyết toán của các Bộ, cơ quan trung ương và số liệu ngân sách địa phương do Vụ tổng hợp trên cơ sở Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương để tổng hợp, lập Báo cáo quyết toán trình Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ, trình Quốc hội theo quy định

1.1.5.4 Kiểm tra, thanh tra việc sử dụng tài chính đối với sự nghiệp khoa học

và công nghệ

Đây là một khâu vô cùng quan trọng đối với hoạt động khoa học và công nghệ Thanh tra, kiểm tra sẽ giúp cho đơn vị tổ chức thực hiện nhận biết được những sai sót trong quá trình thực hiện công tác tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ, từ đó kịp thời sửa đổi để tránh gây thất thoát và lãng phí cho ngân sách nhà nước Hoạt động thanh tra, kiểm tra gồm 02 loại:

- Thanh tra, kiểm tra nội bộ: Là cơ quan tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ của tỉnh sẽ tự tổ chức việc thanh tra nội bộ

- Thanh tra, kiểm tra ngoài: Các cơ quan tổ chức sẽ mời các đơn vị thanh tra độc lập (có thể là đơn vị bên ngoài) để tiến hành thanh tra, kiểm tra công tác tài chính của hoạt động khoa học và công nghệ

Nhìn chung, thanh tra, kiểm tra tài chính là một trong những bước quan trọng để kịp thời tham mưu cho lãnh đạo và kiến nghị với các ngành, các cấp

Trang 33

nhằm chấn chỉnh hoặc sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật, qua đó hoàn thiện cơ chế quản lý về tài chính trên mọi mặt của đời sống xã hội Đồng thời phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật xảy ra trên nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước, qua đó giúp thu hồi tiền, tài sản về cho Nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân và góp phần duy trì trật tự, kỷ cương xã hội Mục đích, yêu cầu của việc kiểm tra, thanh tra quản lý, sử dụng kinh phí chi cho sự nghiệp khoa học và công nghệ là: Phát hiện kiến nghị bổ sung, sửa đổi chính sách, chế độ về kinh tế, tài chính còn thiếu hoặc không phù hợp thực tế; Đánh giá được ưu, khuyết điểm của đơn vị trong việc triển khai thực hiện các chính sách chế độ về tài chính, ngân sách đối với sự nghiệp khoa học và công nghệ; Đánh giá được ưu, khuyết điểm trong lập, quyết định dự toán, chấp hành ngân sách và quyết toán cho sự nghiệp khoa học và công nghệ Từ đó có những kiến nghị chấn chỉnh, xử lý về tài chính, kinh tế, con người, để đưa công tác quản lý và điều hành vào nền nếp

1.1.6 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tài chính cho KH&CN

Giai đoạn 2014 - 2016, môi trường thể chế và hệ thống pháp luật về KH&CN của Việt Nam được hoàn thiện trong bối cảnh thuận lợi khi lần đầu tiên trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước đồng thời ban hành các văn bản khẳng định rõ quan điểm, đường lối và tầm nhìn dài hạn về phát triển KH&CN Điểm đổi mới chung nổi bật của các văn bản quan trọng này, bên cạnh việc tiếp tục khẳng định vai trò quốc sách hàng đầu và động lực then chốt của KH&CN trong sự nghiệp phát triển đất nước, là tuyên ngôn về việc

ưu tiên và tập trung mọi nguồn lực quốc gia cho phát triển KH&CN

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã thông qua nhiều văn kiện quan trọng, đề ra nhiều chủ trương, giải pháp nhằm phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Nghị quyết Đại hội đã đề cập đến nhiều vấn đề rộng lớn, toàn diện, trong nhiều lĩnh vực, ngoài sự kế thừa quan điểm của các Đại hội trước, còn có những bổ sung, phát triển quan trọng, trong đó có tư duy lý luận mới về khoa học, công nghệ

Trang 34

Cụ thể, trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng, lần đầu tiên khoa học, công nghệ được đưa vào một mục riêng (mục VI- Phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ), không gộp vào với các vấn đề khác như: Giáo dục đào tạo, văn hóa, môi trường như trong các Văn kiện Đại hội trước Việc trình bày thành một mục riêng đã cho thấy tầm quan trọng của khoa học, công nghệ và nhận thức mới của Đảng ta về phát triển khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Xác định vai trò của Khoa học và Công nghệ, những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản nhằm đổi mới cơ chế tài chính đối với hoạt động KH&CN Những văn bản pháp lý quan trọng này đã tạo điều kiện đổi mới và ứng dụng vào thực tiến để tạo điều kiện đổi mới và ứng dụng vào thực tiễn hoạt động KH&CN của nước ta, đã từng bước cởi trói, tháo gỡ những khó khăn cho các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân trong các hoạt động KH&CN, tạo điều kiện cho việc huy động nguồn tài chính đầu

tư cho KH&CN Cụ thể một số văn bản liên quan như sau:

Luật KH&CN số 29/2013/QH13, ngày 18/6/2013 và Nghị định số 08/2014/NĐ-CP ngày 21/01/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật KH&CN; Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 14/4/2012 của Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển Khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020; Nghị định số 87/2002/NĐ-CP ngày 5/11/2002 của Chính phủ về hoạt động cung ứng và sử dụng dịch vụ tư vấn; Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg ngày 28/9/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới cơ chế quản lý KH&CN; Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 5/9/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập; Nghị định số 23/2014/NĐ-CP ngày 03/4/2014 về điều lệ tổ chức và hoạt động của quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ; Thông tư Liên tịch số 27/2015/TTLT-BKHCN-BTC ngày 30/12/2015 của Bộ Tài chính và Khoa học và Công nghệ quy định khoán chi thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng

Trang 35

NSNN; Thông tư số 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN ngày 22/4/2015 hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án KH&CN có sử dụng NSNN; Thông tư số 121/2014/TTLT-BTC-BKHCN ngày 25/8/2014 hướng dẫn xây dựng dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ thương xuyên theo chức năng của tổ chức khoa học và công nghệ công lập; Thông tư số 27/2017/TTLT-BKHCN-BTC ngày 30/12/2015 Quy định khoán chi thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước Nội dung đổi mới tích cực nhất tập trung vào ba nhóm chế định: đầu tư và tài chính; chính sách cán bộ; quản lý hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KH&CN

Về cơ chế tài chính, Thông tư liên tịch số BKHCN ngày 25/8/2014 của liên Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn xây dựng dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng của tổ chức khoa học và công nghệ công lập (Thông tư 121) đã thay đổi căn bản phương thức cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho tổ chức KH&CN công lập từ phương thức cấp theo đầu biên chế hiện nay sang cấp theo nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng Tổ chức KH&CN, căn cứ chức năng, nhiệm vụ được quy định trong điều lệ tổ chức và hoạt động, sẽ phải lập danh mục nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng của đơn vị để trình cơ quan chủ quản xem xét, phê duyệt và giao nhiệm vụ Trên cơ sở đó, lập dự toán kinh phí cho từng nhiệm vụ, trình

121/2014/TTLT-BTC-cơ quan chủ quản phê duyệt và cấp kinh phí để thực hiện Cuối năm, 121/2014/TTLT-BTC-cơ quan chủ quản sẽ tổ chức đánh giá, nghiệm thu các nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng này Thông tư 121 giúp cơ quan quản lý sàng lọc, đánh giá được năng lực thực sự của các tổ chức KH&CN công lập, từ đó có giải pháp đầu tư đúng, hiệu quả, đồng thời có phương án sắp xếp, tổ chức lại các tổ chức yếu kém, giúp việc sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước được đúng mục đích,

Trang 36

hiệu quả Thông tư 121 được đánh giá là văn bản tháo gỡ những vướng mắc quan trọng về tài chính cho các tổ chức KH&CN công lập khi thực hiện chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Năm 2015, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng với Bộ Tài chính tiếp tục

cụ thể hóa các quy định tài chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các tổ chức KH&CN công lập và các nhà khoa học chủ động thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Thông tư liên tịch số 16/2015/TTLT-BKHCN-BTC ngày 01/9/2015 của liên Bộ Khoa học và Công nghệ - Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý, xử lý tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước (Thông tư 16) Thông tư 16 nhấn mạnh một số điểm mới trong quản lý, xử lý tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước Thông tư liên tịch số 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN ngày 22/4/2015 của liên Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn định mức xây dựng, phân bổ dự toán và quyết toán kinh phí đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước (Thông tư 55) Điểm nổi bật của Thông tư 55 là sự đổi mới trong công tác xây dựng dự toán và quyết toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN sát với thực tế, thực hiện khoán chi cho đến sản phẩm cuối cùng; thực hiện minh bạch kinh phí đối với nhiệm vụ KH&CN, được coi là một trong những khâu đột phá trong việc đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN

Ngày 22/4/2015 Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư liên tịch số 55/2015/TTLT/BTC-BKHCN thay thế Thông tư liên tịch số 44 Thông tư liên tịch số 27/2015/TTLT/BKHCN-BTC ngày 30/12/2015 (Thông tư 27) của liên Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ quy định khoán chi thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân

Trang 37

sách nhà nước Thông tư 27 là kết quả của sự cụ thể hóa quá trình phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ để xây dựng các hành lang pháp lý đồng bộ cần thiết, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà khoa học chủ động thực hiện hoạt động nghiên cứu, cơ quan quản lý nhà nước chỉ kiểm soát dựa trên các kết quả cuối cùng của nhiệm vụ KH&CN

đã được Hội đồng khoa học chuyên ngành xác định và đánh giá, nghiệm thu Phương thức khoán chi và sử dụng kinh phí khoán là điểm nổi bật nhất của Thông tư 27 Nhiệm vụ KH&CN được khoán chi theo một trong hai phương thức: Khoán chi đến sản phẩm cuối cùng hoặc khoán chi từng phần Khoán chi tới sản phẩm cuối cùng áp dụng đối với các nhiệm vụ được xác định rõ tên sản phẩm cụ thể; chỉ tiêu chất lượng chủ yếu của sản phẩm, đơn vị đo, mức chất lượng hoặc yêu cầu khoa học cần đạt được; số lượng, quy mô sản phẩm tạo ra; địa chỉ ứng dụng; có tổng dự toán các khoản chi sửa chữa, mua sắm tài sản, đoàn ra không quá 1 tỷ đồng Còn khoán chi từng phần được áp dụng đối với các nhiệm vụ không đủ điều kiện khoán chi đến sản phẩm cuối cùng.Như vậy, cùng với tiến trình đổi mới từ khâu xây dựng định mức, phân bổ dự toán

và quyết toán kinh phí đối với nhiệm vụ KH&CN có sử dụng NSNN quy định tại Thông tư 55, việc đổi mới cơ chế khoán chi thực hiện nhiệm vụ KHCN theo Thông tư 27 sẽ đảm bảo đồng bộ quy trình quản lý kinh phí từ NSNN để thực hiện nhiệm vụ KH&CN bao gồm: lập dự toán, quản lý sử dụng (giao khoán, kiểm soát chi, tạm ứng và thanh toán tạm ứng, kiểm tra, thanh quyết toán)

1.1.7 Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính cho hoạt động Khoa học và công nghệ

* Đường lối chính sách phát triển KH&CN của Đảng và Nhà nước:

Có thể nói, đường lối phát triển khoa học và công nghệ của Đảng và Chính phủ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, vĩ mô và mạnh mẽ đối với hoạt động

Trang 38

khoa học và công nghệ Trong từng giai đoạn cụ thể của đất nước, các lĩnh vực khoa học và công nghệ khác nhau sẽ được ưu tiên khác nhau để phục vụ mục tiêu phát triển đất nước Những sự ưu tiên này về cơ bản sẽ được thể hiện rõ ràng trong đường lối, chính sách và các quy định của chính phủ Đây sẽ là kim chỉ nam cho định hướng phát triển hoạt động khoa học, công nghệ của đất nước

Quan điểm KH&CN là nền tảng và động lực phát triển đất nước đã được khẳng định trong các nghị quyết của Đảng nhưng trên thực tế chưa được các cấp, các ngành, các địa phương quán triệt đầy đủ và triển khai trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội

Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KH&CN chậm được thể chế hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật; việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện chính sách thiếu kiên quyết nên kết quả còn hạn chế

* Năng lực của các cơ quan tham mưu, quản lý KH&CN :

Đằng sau các chính sách, đường lối của nhà nước – vấn đề ảnh hưởng trực tiếp tới định hướng hoạt động khoa học, công nghệ - luôn là các cơ quan tham mưu, quản lý khoa học công nghệ Đây là những cơ quan cần phải có năng lực rất tốt mới có thể tham mưu cho chính phủ một cách chuẩn xác về đường hướng phát triển khoa học, công nghệ của đất nước Việc tham mưu sai, chưa chuẩn xác hoặc chậm nhịp so với thế giới sẽ khiến nền khoa học và công nghệ đất nước dễ dàng bị tụt hậu so với phần còn lại của thế giới

Cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp ăn sâu vào tiềm thức và thói quen của không ít cán bộ KH&CN và quản lý KH&CN đã tạo ra sức ỳ không

dễ khắc phục trong cơ chế mới, không đáp ứng được yêu cầu về đổi mới quản

lý KH&CN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế

Chưa làm rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với những hoạt động KH&CN mà Nhà nước cần đầu tư phát triển như: các lĩnh vực KH&CN trọng điểm, ưu tiên; nghiên cứu chiến lược, chính sách phát triển; nghiên cứu cơ

Trang 39

bản; nghiên cứu mang tính công ích, v.v ; cũng như chưa có cơ chế, chính sách phù hợp đối với các hoạt động KH&CN cần và có thể vận dụng cơ chế thị trường, như nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN

Quản lý nhà nước đối với khu vực hành chính và khu vực sự nghiệp trong hệ thống KH&CN chưa được tách biệt rõ ràng, làm cho công tác quản

lý các tổ chức KH&CN còn mang nặng tính hành chính Chậm tổng kết thực tiễn để nhân rộng các điển hình tiên tiến về gắn kết giữa nghiên cứu KH&CN với giáo dục - đào tạo và sản xuất - kinh doanh

* Cơ chế đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ:

Sau khi có sự tham mưu chuẩn xác, đường lối, chính sách rõ ràng, thì

cơ chế đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ là một yếu tố vô cùng quan trọng Hoạt động khoa học và công nghệ là một hoạt động đặc thù, đòi hỏi sự đầu tư cả về vật chất và con người trong một thời gian dài Để hoạt động này có thể phát triển mạnh mẽ đòi hỏi một cơ chế đầu tư phù hợp và có chiều sâu Việc đầu tư hời hợt, không hiệu quả sẽ chỉ có thể mang lại những sản phẩm không hiệu quả, không có tính sáng tạo và ứng dụng thực tế

Đầu tư xây dựng tiềm lực KH&CN trong thời gian dài còn chưa được chú trọng đúng mức, thiếu tập trung vào lĩnh vực trọng điểm, ưu tiên, dẫn đến

cơ sở hạ tầng KH&CN lạc hậu, hiệu quả đầu tư thấp Thiếu quy hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học trình độ cao ở các lĩnh vực KH&CN ưu tiên, đặc biệt

là cán bộ KH&CN đầu ngành, các "tổng công trình sư"

Cơ chế quản lý kinh tế hiện nay còn duy trì sự bao cấp gián tiếp của

Nhà nước, độc quyền của doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh, làm cho các doanh nghiệp nhà nước có tư tưởng ỷ lại, chưa quan tâm đến ứng dụng các kết quả nghiên cứu KH&CN và đổi mới công nghệ Thiếu

cơ chế, chính sách hữu hiệu để gắn kết giữa KH&CN với sản xuất - kinh doanh và khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN

Trang 40

Hệ thống tài chính, tiền tệ kém phát triển cũng không tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự huy động được nguồn vốn để đầu tư cho KH&CN

tư của Nhà nước cho R&D Bởi vậy, Nhà nước đã có những chính sách khuyến khích các doanh nghiệp (DN) đầu tư cho R&D, điển hình là quy định tại Luật KH&CN và Luật Thuế Thu nhập DN cho phép DN trích tối đa 10% trên thu nhập tính thuế để lập Quỹ Phát triển KH&CN Mặc dù vậy, chi cho R&D của các DN Việt Nam vẫn còn khiêm tốn so với các nước trên thế giới

Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, NSNN chỉ đầu tư vào những lĩnh vực thuộc R&D mà khu vực tư nhân không cung cấp hoặc không thể cung cấp Chẳng hạn như Cộng hòa Ireland đặt tiêu chí sử dụng ngân sách cho R&D là hoạt động cần thiết để tạo ra nền tảng cho sự phát triển của một ngành nào đó hoặc hoạt động nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của một chức năng quản lý xã hội

Như vậy, có thể thấy, đối với những lĩnh vực R&D mà có thể trực tiếp tạo ra hàng hóa, dịch vụ cá nhân, chẳng hạn như việc nghiên cứu chế tạo máy móc, chế tạo công nghệ sản xuất mới, chế tạo vật liệu mới… là lĩnh vực đầu

tư của khu vực tư nhân, Nhà nước không nên đầu tư, bởi vì việc đầu tư của các DN vào R&D là lẽ sống còn trong điều kiện nền kinh tế tri thức Chúng tôi cho rằng, thị trường đã phát tín hiệu và các DN cũng đã nhận được tín hiệu

về sự cần thiết phải tăng cường đầu tư cho R&D

Ngày đăng: 13/04/2018, 14:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w