Huyện Phù Ninh là một huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Phú Thọ, tiềm năng đất đai của huyện Phù Ninh là rất lớn, với diện tích đất chủ yếu phù hợp cho phát triển nông - lâm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐOÀN THỊ VÂN ANH
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, tháng 01/2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐOÀN THỊ VÂN ANH
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 8 62 01 15
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS NGUYỄN VĂN THÁI
2 PGS.TS DƯƠNG VĂN SƠN
Thái Nguyên, tháng 01/2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của công tác phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
Ngày 02 tháng 01 năm 2018
Tác giả luận văn
Đoàn Thị Vân Anh
Trang 4đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng Đào tạo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi về mọi mặt trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn TS Nguyễn Văn Thái và PGS.TS Dương Văn Sơn - Trường Đại học Nông, Lâm Thái Nguyên
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhà khoa học, các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các đồng chí tại địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí Thường trực Huyện ủy, cán bộ Văn phòng Huyện ủy Phù Ninh đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện giúp tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, ngày 02 tháng 01 năm 2018
Tác giả luận văn
Đoàn Thị Vân Anh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
4 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1 Kinh tế nông nghiệp và phát triển kinh tế nông nghiệp 4
1.1.2 Phát triển kinh tế và phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuát hàng hóa 10
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp 12
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển kinh tế nông nghiệp 16
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông nghiệp của một số địa phương 16
1.2.2 Bài học rút ra đối với huyện Phù Ninh trong phát triển kinh tế nông nghiệp 24
1.3 Một số nghiên cứu về phát triển kinh tế nông nghiệp 26
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 29
2.2 Câu hỏi và nội dung nghiên cứu 29
2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 29
Trang 62.2.2 Nội dung nghiên cứu 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu 30
2.3.2 Thu thập số liệu 30
2.3.3 Phương pháp phân tích 31
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 33
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 35
3.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Phù Ninh 35
3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế huyện Phù Ninh 36
3.2 Thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Phù Ninh 38
3.2.1 Thực trạng sản xuất nông nghiệp huyện Phù Ninh 38
3.2.2.Hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp 51
3.3 Khó khăn, rào cản ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 65
3.3.1 Một số khó khăn, thách thức trong phát triển kinh tế hộ gia đình 65
3.3.2 Những hạn chế tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 67
3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 68
3.3.4 Những vấn đề đặt ra 70
3.4 Mục tiêu và giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Phù Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 71
3.4.1 Phương hướng và mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Phù Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 71
3.4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
1 Kết luận 80
2 Khuyến nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 82 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu 39
Bảng 3.2 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây ăn quả 41
Bảng 3.3 Số lượng và sản lượng một số loại vật nuôi trên 42
Bảng 3.4 Diện tích, sản lượng ngành nuôi trồng thủy sản 44
Bảng 3.5 Giá trị sản xuất nông lâm thủy sản và tốc độ tăng trưởng 47
Bảng 3.6 Cơ cấu GTSX các nhóm ngành nông- lâm nghiệp, thủy sản 47
Bảng 3.7 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Phù Ninh giai đoạn 2014-2016 48
Bảng 3.8 Tình hình dân số và lao động huyện Phù Ninh 2014-2016 50
Bảng 3 9 Một số chỉ tiêu chủ yếu của HTX nông nghiệp 51
Bảng 3.10 Tình hình phát triển trang trại của Phù Ninh năm 2016 54
Bảng 3 11 Kết quả sản xuất ở một số mô hình trang trại huyện Phù Ninh 55
Bảng 3.12 Những thông tin chung về nhóm hộ điều tra 56
Bảng 3.13 Diện tích đất canh tác trung bình của hộ nông dân 57
Bảng 3.14 Diện tích các loại cây trồng trung bình của hộ nông dân 58
Bảng 3.15 Cây trồng bình quân hộ theo nghề nghiệp của hộ 58
Bảng 3.16 Tổng số loại vật nuôi của các hộ nông dân 59
Bảng 3.17 Giá trị sản xuất của nhóm hộ điều tra 60
Bảng 3.18 Thu nhập và tỷ trọng thu nhập của hộ gia đình 61
Bảng 3.19 Khó khăn, thách thức trong sản xuất ngành trồng trọt 66
Bảng 3.20 Khó khăn thách thức trong sản xuất ngành chăn nuôi 67
Bảng 3.21 Định hướng quy mô giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản giai đoạn 2018 - 2020 72
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong mọi giai đoạn phát triển của nước ta nông nghiệp đã được xác định là mặt trận kinh tế hàng đầu Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đến phát triển nông nghiệp và nông thôn, coi đây là một lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chính nông nghiệp tạo ra phần lớn việc làm và thu nhập cho bà con nông dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số
Huyện Phù Ninh là một huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Phú Thọ, tiềm năng đất đai của huyện Phù Ninh là rất lớn, với diện tích đất chủ yếu phù hợp cho phát triển nông - lâm nghiệp; Bên cạnh đó Phù Ninh có sông Lô chạy dọc theo chiều dài huyện từ Bắc xuống Nam, và trên địa bàn huyện còn có hệ thống các sông ngòi nhỏ nằm giữa các khe của các đồi núi thấp, tạo nguồn nước tưới tiêu phục
vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, nên có điều kiện để phát triển nền kinh tế đa dạng với thế mạnh về nông, công, ngư nghiệp và dịch vụ - du lịch
Nhưng hiện nay lĩnh vực phát triển nông nghiệp ở huyện Phù Ninh với việc
sử dụng nguồn tài nguyên vốn có của nông nghiệp, nông thôn vẫn còn có những vấn đề cần quan tâm là: Diện tích hoang hóa vẫn còn; Đời sống nhân dân vùng nông nghiệp còn nhiều khó khăn, đời sống văn hóa tinh thần, trình độ dân trí, cơ sở
y tế, giáo dục còn thấp; Sản lượng lương thực hàng năm tăng không ổn định, phát triển nông nghiệp toàn diện chưa được quan tâm đúng mức, nhiều tài nguyên tự nhiên
bị lãng phí do khai thác chưa hợp lý, nổi bật là nguồn rừng nguyên liệu Bên cạnh đó, diện tích cây ăn quả và cây công nghiệp chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của địa phương có quỹ đất vườn đồi nhiều như Phù Ninh Đặc biệt, quá trình phát triển kinh tế xã hội còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém như tốc độ tăng trưởng kinh tế tuy đạt khá nhưng chưa bền vững; quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán; chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp chậm; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng còn dàn trải; hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ nông nghiệp còn yếu kém; hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ chưa cao, nhất là dịch vụ đầu tư; kinh tế trang trại quy mô nhỏ, gặp khó khăn về vốn, kỹ thuật và thị trường tiêu thụ Trước xu thế mới của
Trang 10nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập và cách mạng khoa học kỹ thuật 4.0, nền kinh tế nông nghiệp huyện Phù Ninh đứng trước những khó khăn, thách thức trong cơ hội mới Để góp phần công sức vào phát triển kinh tế ở địa phương, tôi chọn đề tài
nghiên cứu “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế nông
nghiệp huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Làm rõ những vấn đề lý luận chung, kinh nghiệm thực tiễn và thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Từ đó, đưa ra những giải pháp thúc đẩy kinh tế nông hộ phát triển
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Cập nhật và hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến kinh tế nông nghiệp, phát triển kinh tế nông nghiệp tại một huyện miền núi trung du của tỉnh Phú Thọ, nơi có nhiều điều kiện phát triển nông lâm nghiệp, thương mại và dịch vụ
Luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Tác giả hy vọng những giải pháp này sẽ được chính quyền địa phương huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ và những huyện khác có điều kiện tương tự như huyện Phù Nịnh có thể tham khảo, vận dụng để quản lý, điều hành quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung, kinh tế nông nghiệp nói riêng
Trang 114 Kết cấu của luận văn
Chương 1 Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển kinh tế
hộ nông dân
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân tại huyện Lâm Thao
giai đoạn 2012 - 2014
Chương 4 Giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân tại huyện Lâm Thao
đến năm 2020
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Kinh tế nông nghiệp và phát triển kinh tế nông nghiệp
1.1.1.1 Vấn đề nông nghiệp trong một số lý thuyết kinh tế
Như chúng ta đã biết: nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, dựa trên việc sử dụng nguồn lực đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng, vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu, cùng với lao động nông nghiệp chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành như: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản Như vậy, nông nghiệp theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản
Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, nông nghiệp là ngành sản xuất ra của cải vật chất
mà con người phải dựa vào quy luật sinh học, dựa vào sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm, để thỏa mãn các nhu cầu của mình
Như vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Những điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ mặt trời, trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi Nông nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên; là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ gặp rất nhiều khó khăn Ngoài ra, sản xuất nông nghiệp ở thường gắn liền với những phương pháp canh tác truyền thống, lề thói, tập quán, phong tục, đã có từ hàng nghìn năm nay Ở các nước nghèo như nước ta nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP và thu hút một bộ phận quan trọng lao động xã hội
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu
Trang 13lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp
Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn với nhiều sản phẩm khác nhau, được phân chia theo các chuyên ngành như:
- Nông nghiệp thuần nông bao gồm các tiểu ngành trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ
- Lâm nghiệp bao gồm các tiểu ngành: trồng rừng, khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ, dịch vụ lâm nghiệp Chuyên ngành này có chức năng xây dựng rừng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản và chức năng môi trường như: phòng chống thiên tai và hình thành các đặc điểm văn hóa, xã hội của nghề rừng
- Thủy sản bao gồm các tiểu ngành: Nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản ở các vùng biển ven bờ, sông, hồ, các thung lũng có nước
Theo trình độ phát triển, ngành nông nghiệp có hai loại hình, gồm:
- Nông nghiệp tự cung tự cấp: Ở trình độ này, nông nghiệp sử dụng các đầu vào hạn chế và sản phẩm làm ra chủ yếu phục vụ tiêu dùng tại chỗ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không sử dụng cơ giới hóa và các tiến bộ kỹ thuật hiện đại
- Nông nghiệp hàng hóa: Ở trình độ này, quá trình sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa ở tất cả các khâu, gồm cả sử dụng máy móc, thiết bị cơ giới trong canh tác trồng trọt, chăn nuôi và trong chế biến sản phẩm tươi sống làm ra Nông nghiệp hàng hóa sử dụng nguồn đầu vào lớn hơn so với nông nghiệp tự cung
tự cấp, bao gồm các loại hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón hóa học, chọn lọc, áp dụng các giống mới và cơ giới hóa cao; sản phẩm làm được thương mại hóa, bán ra trên thị trường trong nước và xuất khẩu; sản xuất nông nghiệp hàng hóa tạo ra việc làm ở nhiều công đoạn nối tiếp nhau nên tạo việc làm và thu nhập cho nhiều người tham gia vào các công đoạn của quá trình này
Kinh tế nông nghiệp là ngành cơ bản, ngành gốc, là lĩnh vực bao trùm lãnh thổ kinh tế nông thôn Sự phát triển của kinh tế nông nghiệp có vai trò quyết định trong kinh tế nông thôn Kinh tế nông nghiệp có những quy luật kinh tế khách quan
Trang 14có liên quan trong vấn đề phát triển nông nghiệp Hệ thống kinh tế nông nghiệp là tổng thể quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, biểu hiện bằng những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, những hình thức tiêu dùng các sản phẩm sản xuất ra với những hình thức tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối và cơ chế quản lý tương ứng của Nhà nước đối với toàn bộ nền nông nghiệp Phát triển nông nghiệp là tiền đề cơ bản
để phát triển nông thôn, vì phát triển nông thôn phải giải quyết vấn đề lương thực
và an toàn thực phẩm Phát triển nông nghiệp giải quyết tăng thu nhập tạo ra sản phẩm hàng hóa cung cấp cho nông thôn, cho công nghiệp, cho xuất khẩu Phát triển nông nghiệp thực hiện phân công lại lao động trong nông thôn làm cơ sở mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp Chuyển bớt một phần lực lượng lao động sang công nghiệp và các ngành khác Phát triển nông nghiệp thực hiện tích lũy vốn góp phần phát triển công nghiệp và dịch vụ, góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và tiến
bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt sự phát triển của công nghiệp hiện đại, kinh tế nông nghiệp cũng ngày càng phát triển hơn
Phát triển kinh tế nông nghiệp là sự tăng thêm về lượng và chất của nền kinh
tế nông nghiệp trong một thời kỳ nhất định Chúng ta sẽ cần phải làm rõ thêm nội hàm phát triển kinh tế và phát triển kinh tế nông nghiệp trong những mục tiếp theo sau đây
1.1.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Trước hết chúng ta cần tìm hiểu đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Theo tác giả, sản xuất nông nghiệp có các đặc điểm cơ bản sau đây:
- Đất trồng là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế: Cần phải duy trì và nâng cao độ phì cho đất, sử dụng hợp lý, tiết kiệm
- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi: Cần phải hiểu biết và tôn trọng quy luật sinh học
- Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ: Cần phải xây dựng cơ cấu hợp lý, đa dạng hóa sản xuất, phát triển các ngành dịch vụ, làng nghề, tận dụng thời gian nhàn dỗi
Trang 15- Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên vì đối tượng là cây trồng, vật nuôi
- Trong nền kinh tế hiện đại, nông nghiệp trở thành ngành sản xuất hàng hóa
để cung cấp sản phẩm cho toàn cầu
1.1.1.3 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và tái
cơ cấu nông nghiệp
- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là số lượng của các bộ phận hợp thành của kinh tế nông nghiệp Cơ cấu kinh tế nông nghiệp phản ảnh mặt lượng và mặt chất của sự tăng trưởng Cơ cấu kinh tế nông nghiệp gồm có:
+ Cơ cấu ngành
+ Cơ cấu vùng lãnh thổ
+ Cơ cấu thành phần kinh tế
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái kinh tế này sang trạng thái kinh tế khác cho phù hợp với yêu cầu phát triển Về thực chất
đó là sự điều chỉnh cơ cấu trên ba mặt biểu hiện (ngành, lãnh thổ và thành phần kinh tế) nhằm hướng sự phát triển của cả nền kinh tế vào các chiến lược kinh tế - xã hội đã được đề ra cho từng thời kỳ cụ thể Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta thực chất là quá trình cải biến kinh tế - xã hội từ lạc hậu mang tính chất tự cấp, tự túc bước vào chuyên môn hóa hợp lý, trang bị kỹ thuật công nghệ hiện đại, trên cơ sở tạo ra năng suất lao động cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế Quá trình chuyển dịch này không chỉ diễn ra giữa các ngành của nền kinh tế mà bắt đầu
từ nội bộ của các ngành theo xu hướng nhất định Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có ý nghĩa rất đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần làm cho nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh và vững chắc, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước đồng thời làm cho nền kinh tế
có khả năng hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới Tác giả luận văn cho rằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi tỉ trọng trong cơ cấu các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân Các bộ phận này gồm: Cơ cấu ngành, lãnh thổ và thành
Trang 16phần kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả của sản xuất xã hội và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế để đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng năm thời kỳ cụ thể
Cơ cấu ngành nông nghiệp là kết quả của quá trình phát triển về số lượng, chất lượng ngành nông nghiệp trong khoảng thời gian nào đó, vì vậy nó không phải
là các quan hệ tĩnh mà luôn luôn biến đổi không ngừng theo sự phát triển của các chuyên ngành, tiểu ngành tạo nên cơ cấu toàn ngành Đó là sự thay đổi tất yếu về tỷ
lệ giữa các chuyên ngành: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản trên quy mô
cả nước, trên các vùng kinh tế-sinh thái; thay đổi về số lượng, loại hình quy mô các chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh trong các chuyên ngành, tiểu ngành ở các vùng sinh thái; sự thay đổi về mối quan hệ giữa nông nghiệp với các ngành kinh tế khác như: công nghiệp và dịch vụ cung ứng đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông sản và các hoạt động phân phối, tiêu thụ nông sản làm
ra Như vậy, sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các chuyên ngành, tiểu ngành trong nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp, phản ánh lợi thế
và khả năng phát triển của các chuyên ngành, tiểu ngành trên tầm quốc gia, vùng và tiểu vùng Trong kinh tế thị trường và sản xuất hàng hóa, sự thay đổi về tỷ lệ về quy mô, giá trị giữa các chuyên ngành, tiểu ngành của ngành nông nghiệp theo hướng tăng lên hoặc giảm xuống đều có mục đích đáp ứng cao nhất các yêu cầu của người tiêu dùng về hàng hóa lương thực, thực phẩm tươi sống và chế biến Như vậy, chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp chính là quá trình thích ứng của sản xuất nông nghiệp với thị trường tiêu thụ các sản phẩm do ngành nông nghiệp làm ra trong từng giai đoạn phát triển Nói cách khác, kết quả chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp phản ánh mức độ thị trường hóa ở quy mô quốc gia, quốc tế của ngành trong từng giai đoạn, và là mục đích chung nhất trong phát triển nông nghiệp ở tất
cả các quốc gia trên thế giới dưới tác động của công nghiệp hóa nền kinh tế và toàn cầu hóa và hội nhập Sự thích ứng của cơ cấu ngành nông nghiệp với nhu cầu của thị trường càng cao thì tính ổn định của cơ cấu càng lớn Trong trường hợp ngược lại ngành nông nghiệp rơi vào tình trạng không ổn định, phải giảm thiểu quy mô
Trang 17sản xuất và giá trị các chuyên ngành, tiểu ngành không có lợi thế hoặc không phù hợp với nhu cầu thị trường và tăng quy mô sản xuất, giá trị các ngành có lợi thế để đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước Quá trình này diễn ra liên tục, thường xuyên theo sự thay đổi của thị trường
Từ các phân tích trên đây, cách nhìn về chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp như sau: Là sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các chuyên ngành, tiểu ngành của ngành nông nghiệp theo lợi thế so sánh và theo nhu cầu của thị trường tiêu thụ nhằm đưa cơ cấu ngành nông nghiệp từ trạng thái nhiều bất cập sang trạng thái ít bất cập hơn so với nhu cầu của thị trường và phát triển được các chuyên ngành có lợi thế, giảm thiểu các chuyên ngành kém lợi thế trong nông nghiệp Theo đó khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong điều kiện hiện nay như sau:
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình thay đổi (tăng hoặc giảm) về quy mô, giá trị của các chuyên ngành sản xuất thuộc ngành nông nghiệp theo hướng thích ứng nhiều hơn với nhu cầu thị trường đồng thời phát huy được lợi thế
so sánh của từng chuyên ngành, tạo ra cơ cấu ngành nông nghiệp mang tính ổn định cao hơn và phát triển bền vững hơn trong kinh tế thị trường và hội nhập”
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ với tăng trưởng và phát triển kinh tế, vừa là kết quả của quá trình phát triển kinh tế xã hội trong một giai đoạn nhất định vừa là yếu tố cực kì quan trọng thúc đẩy phát triển nền kinh tế xã hội quốc gia lên một trình độ mới Để phục vụ cho việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện tại và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong một giai đoạn dài, cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch của nó cần phải được xem xét tổng quát
để rút ra các ưu nhược điểm, phát hiện các điểm mạnh, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn (Phạm Thị Lý, Nguyễn Thị Yến và cs, 2016)[5]
- Tái cơ cấu nông nghiệp
Thuật ngữ "Tái cơ cấu" hiện đang được sử dụng khá phổ biến và cũng có nhiều cách hiểu khác nhau Tuy nhiên, một cách chung nhất có thể hiểu: Tái cơ cấu
Trang 18là sự thay đổi chiến lược, mục tiêu, tầm nhìn của một hệ thống hoặc là sự cơ cấu lại
hệ thống bao gồm các hoạt động như sắp xếp lại, chuyển đổi hình thức hoạt động, xác định lại mục tiêu, chiến lược, tầm nhìn, các giá trị cốt lõi và chuẩn mực của tổ chức hay doanh nghiệp
Tái cơ cấu có thể ở các cấp độ khác nhau, cấp độ cao là sự thay đổi tầm nhìn, chiến lược, cơ cấu lại toàn bộ tổ chức có tính hệ thống; cấp thấp là sự chuyển đổi, sắp xếp lại, đổi mới quy trình hoạt động và cũng có thể bao gồm cả hai cấp, vừa thay đổi tầm nhìn chiến lược, vừa thực hiện tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp (Lê Xuân Bá, 2015) [1]
1.1.2 Phát triển kinh tế và phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuát hàng hóa
1.1.2.1 Phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là sự gia tăng về số lượng và sự thay đổi về chất lượng của đời sống kinh tế-xã hội Phát triển kinh tế và sự tăng lên về cơ sở vật chất và sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao (Phạm Thị Lý, Nguyễn Thị Yến và cs, 2016 [5]
Như vậy, phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả
sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng kinh tế) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế-xã hội
Nội dung của phát triển kinh tế bao gồm:
- Tăng trưởng kinh kế Muốn phát triển các mặt của đời sống kinh tế-xã hội trước hết xã hội phải cần có thêm của cải, tức là năng lực của nền sản xuất phải được mở rộng hay nền kinh tế phải tăng trưởng
- Cơ cấu các ngành kinh tế thay đổi theo hướng tiến bộ
- Những tiến bộ kinh tế chủ yếu phải xuất phát từ động lực nội tại Nền kinh
tế tăng trưởng, cơ cấu các ngành kinh tế thay đổi tiến bộ chủ yếu phải do các nguyên nhân bên trong, do các nguồn lực nội tại
- Chất lượng cuộc sống cư dân không ngừng được cải thiện và nâng cao
Trang 19Như vậy, khái niệm phát triển kinh tế bao trùm và rộng hơn khái niệm tăng trưởng kinh tế, vì tăng trưởng kinh tế mới chỉ đề cập đến những thay đổi về lượng của nền kinh tế và phát triển kinh tế không những đề cập tới những thay đổi về lượng, mà còn bao hàm cả những thay đổi về chất của nền kinh tế (Phạm Thị Lý, Nguyễn Thị Yến và cs, 2016)[5]
1.1.2.2 Phát triển kinh tế nông nghiệp
- Khái niệm phát triển kinh tế nông nghiệp
Phát triển kinh tế nông nghiệp là quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế nông nghiệp trong một thời kỳ nhất định Phát triển kinh tế nông nghiệp cần phải được hiểu theo những khía cạnh sau đây:
+ Phát triển sức sản xuất trong nông nghiệp
+ Phát triển phân công lao động trong nông nghiệp
+ Nâng cao dân trí
+ Giải quyết tốt vấn đề môi trường
- Mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp cần đạt được là:
+ Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài
+ Tăng nhanh sản xuất nông sản hàng hoá và hàng hoá xuất khẩu
+ Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân cư nông nghiệp và nông thôn + Bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai để phát triển bền vững
1.1.2.3 Nội dung phát triển kinh tế nông nghiệp
- Phát triển kinh tế nông nghiệp về lượng, bao gồm các nội hàm:
+ Tăng quy mô, sản lượng
+ Tăng giá trị sản xuất nông nghiệp
+ Tăng trưởng các ngành trong nội bộ nông nghiệp
- Phát triển kinh tế nông nghiệp về chất, bao gồm:
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý
+ Hoàn thiện tổ chức sản xuất nông nghiệp
+ Tăng năng suất nông nghiệp
+ Giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập lao động nông nghiệp
+ Bảo vệ, tái tạo môi trường sống và sản xuất nông nghiệp
Trang 201.1.2.4 Chỉ tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp
Quan điểm phổ biến hiện nay đánh giá phát triển kinh tế nông nghiệp là xác định rõ cả về những vấn đề định tính và định lượng của hoạt động kinh tế nông nghiệp trong một thời kỳ nhất định
- Chỉ tiêu định lượng
+ Năng suất nông nghiệp
+ Việc làm và thu nhập lao động
- Chỉ tiêu định tính
+ Thay đổi tỷ lệ đóng góp của các ngành trong nội bộ nông nghiệp
+ Hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp: Với đất đai; Với lao động; Hiệu quả sử dụng vốn,
1.1.2.5 Xu hướng thay đổi trong nông nghiệp
Các xu hướng thay đổi nông nghiệp hiện nay có thể tóm tắt một số xu hướng thay đổi của ngành nông nghiệp Việt Nam trong thời gian gần đây như sau:
- Xu hướng chuyên môn hóa và tập trung hóa sản xuất đi kèm với tích tụ nguồn lực sản xuất, trong đó, tích tụ đất gây ra nhiều vấn đề xã hội và chưa được đồng tình, ủng hộ rộng rãi;
- Xu hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp sang khu vực chăn nuôi và thủy sản, và các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao (cây công nghiệp, rau quả);
- Cạnh tranh nguồn lực (đất, vốn, lao động) giữa các ngành sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp; giữa ngành nông nghiệp và công nghiệp, dịch vụ mà nông nghiệp
là ngành đánh mất lợi thế
- Xu hướng sản xuất theo hợp đồng (contract farming) và gắn với ngành kinh doanh nông sản đang bắt đầu hình thành, nhất là ở các tỉnh phía Nam
- Mức chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm hộ ngày càng lớn
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp
1.1.3.1 Yếu tố thuộc về tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
Vị trí địa lý, điều kiện đất đai, điều kiện khí hậu thời tiết, các nguồn tài nguyên khác của vùng như nguồn nước, rừng, khoáng sản, nguồn lao động trong đó
Trang 21có nhiều nhân tố tác động một cách trực tiếp tới sự phát triển kinh tế nông nghiệp
Vị trí địa lý thuận lợi và các tiềm năng tự nhiên phong phú, đa dạng của mỗi vùng lãnh thổ là nhân tố thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Những nơi điều kiện tự nhiên không thuận lợi thì các thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể,
tư nhân, kinh tế hộ và trang trại cũng phát triển với quy mô lớn và nhanh hơn so với các vùng khác
1.1.3.2 Yếu tố thị trường ảnh hưởng đến kinh tế nông nghiệp
Thị trường luôn gắn với kinh tế hàng hóa, có thể được hiểu là lĩnh vực trao đổi trong đó người mua và người bán các loại hàng hóa nào đó tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hóa mua bán Do sự phát triển của xã hội, nhu cầu đa dạng của con người không ngừng biến đổi và nâng cao, đòi hỏi thị trường ngày càng tốt hơn Điều này quy định ngành nông nghiệp nông thôn cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp với xu hướng biến động
và phát triển của thị trường Nhu cầu thị trường ngày càng đa dạng và nâng cao thì
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn càng phải phong phú, đa dạng hơn Bên cạnh đó, các quan hệ thị trường ngày càng mở rộng thì người sản xuất ngày càng đi vào chuyên môn hóa và tự lựa chọn thị trường Như vậy, quan hệ thị trường góp phần cực kỳ quan trọng vào việc thúc đẩy phân công lao động trong nông thôn Thị trường với đúng tên của nó có bản chất là tự phát nên có thể dẫn đến những rủi ro cho người sản xuất và gây lãng phí các nguồn lực của xã hội Vì thế cần phải có sự quản lý của nhà nước ở tầm vĩ mô để thị trường phát triển đúng hướng, lành mạnh, tránh được các rủi ro có thể xảy ra Điều này đặc biệt quan trọng đối với thị trường nông sản (Tăng Ngọc Đức, 2012)[3]
1.1.3.3 Yếu tố về kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp
Kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phát triển tương ứng với yêu cầu hình thành và phát triển của kinh tế nông nghiệp Bởi lẻ kết cấu hạ tầng nông thôn có ảnh hưởng trực tiếp rất lớn tới hình thành và phát triển các ngành kinh
tế, các vùng kinh tế, đặc biệt là vùng chuyên môn hóa sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới trình độ kỹ thuật công nghệ của khu vực kinh tế
Trang 22nông thôn và do đó là một trong những nhân tố ảnh hưởng có vai trò quyết định tới
sự hình thành, vận động và biến đổi của cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn (Phạm Văn Dũng, 2011) [2]
1.1.3.4 Yếu tố nguồn lực đầu tư sản xuất và hoạt động cung ứng dịch vụ nông nghiệp
Sự kết hợp hợp lý các nguồn lực có ảnh hưởng rất lớn tới quy mô, sản lượng, đầu ra nông nghiệp Khi sản xuất nông nghiệp phát triển cao nhất đòi hỏi sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực, nghĩa là kinh tế nông nghiệp phát triển được thực hiện nhờ gia tăng huy động khai thác các nguồn lực Tuy nhiên, việc tăng nguồn lực gặp phải quy luật năng suất biên giảm dần, do đó kỹ thuật và công nghệ canh tác sẽ quyết định hiệu quả sử dụng các nguồn lực, nhờ đó mà năng suất sẽ tăng, tức là cần phải tập trung nguồn lực vốn đầu tư phát triển khoa học phục vụ sản xuất nông nghiệp Các yếu tố khoa học công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp bao gồm: Thủy lợi hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa, hóa học hóa, sinh học hóa Bằng nhiều cách huy động nhiều nguồn vốn đầu tư hiện đại các yếu tố nói trên sẽ thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhanh, bền vững (Phạm Văn Dũng, 2011) [2]
Đi đôi với đầu tư cần phải chú ý tới hoạt động của hệ thống cung ứng dịch
vụ kỹ thuật nông nghiệp, vì đây là đầu mối quan trọng đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp Tổ chức hoạt động cung ứng kỹ thuật nông nghiệp
có các cơ quan chuyên môn nhà nước, các trung tâm nghiên cứu ứng dụng, các đơn
vị làm công tác khuyến nông, cửa hàng cung cấp dịch vụ nông nghiệp, Các tổ chức này giữ mối liên hệ chặt chẽ với nông hộ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, hệ thống này hoạt động tốt sẽ có vai trò quan trọng giúp tăng năng suất nông nghiệp, giảm chi phí đầu tư, tăng thu nhập, giúp nông dân định hướng, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất (Đinh Phi Hổ, 2006)[6]
1.1.3.5 Yếu tố năng lực của chủ thể sản xuất
Năng lực của hộ nông dân đóng vai trò to lớn đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nhất là các nền kinh tế phụ thuộc vào nông nghiệp Trình độ tổ chức sản xuất, quản lý, tập quán sản xuất, khai thác sử dụng tài nguyên, khả năng thu hoạch, bảo quản, bán sản phẩm, có vai trò to lớn tới phát triển ngành trong nội bộ nông nghiệp (nông, lâm, thủy sản) và thúc đẩy nông nghiệp phát triển
Trang 23Việc lựa chọn mô hình sản xuất nông nghiệp của nông hộ, chủ trang trại có ảnh hưởng quyết định đến đầu ra của sản xuất nông nghiệp Đầu ra bao gồm các sản phẩm trả lại cho tự nhiên, sản phẩm mang lại giá trị kinh tế, tác động xã hội
Sản phẩm trả lại cho tự nhiên: Tái tạo bầu không khí, trả lại dinh dưỡng cho đất, bảo vệ nguồn nước, tái tạo môi trường
Sản phẩm mang lại giá trị kinh tế: Sản phẩm tiêu thụ trực tiếp như lương thực, thực phẩm nuôi sống con người, sản phẩm cung cấp cho các hoạt động sản xuất khác như nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp chế biến, cung cấp cho các hoạt động dịch vụ khác như du lịch, xuất khẩu; các giá trị kinh tế do hoạt động sản xuất nông nghiệp mang lại (Chu Tiến Quang, 2005) [7]
Tác động xã hội: Mang lại khả năng phát triển cộng đồng, tạo ra của cải vật chất đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của con người, đảm bảo an ninh lương thực tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế khác hình thành và phát triển Nông nghiệp phát triển thúc đẩy các ngành sản xuất khác và dịch vụ, du lịch phát triển
1.1.3.6 Yếu tố khoa học - công nghệ
Ngày nay, khoa học kỹ thuật và công nghệ giữ vai trò quyết định đối với việc nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm, cũng như năng suất lao động của con người Vì vậy, việc áp dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất
là một đòi hỏi bức xúc của nền kinh tế nước ta nói chung, của sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng
Công nghệ như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tại ảo (AR), mạng xã hội, điện toán đám mây, di động, phân tích dữ liệu lớn (SMAC)… cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ thay đổi hoàn toàn và nền nông nghiệp truyền thống sẽ chịu tác động lớn nhất từ cuộc cách mạng lần này, chính vì thế Người dân cần phải chuẩn bị tri thức, lo tư thế của một người dân văn minh hơn, chủ động chuyển sang hệ thống quản trị cao cấp, tiêu chuẩn quốc tế… qua đó
có thể sẵn sàng thích ứng cũng như tận dụng các cơ hội mà cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại
Trang 241.1.3.7 Các cơ chế, chính sách Nhà nước về phát triển kinh tế nông nghiệp
Cơ chế, chính sách về phát triển kinh tế nông nghiệp của nhà nước can thiệp vào nền kinh tế thị trường trên cơ sở đảm bảo cho các quy luật của thị trường phát huy những tác động tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực nhằm mục đích tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển với tốc độ cao và ổn định
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển kinh tế nông nghiệp
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông nghiệp của một số địa phương
a Kinh nghiệm của huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La
Yên Châu là một huyện miền núi, biên giới của tỉnh Sơn La, nằm trên trục quốc lộ 6; có tổng diện tích tự nhiên là 85.937 ha, trong đó: diện tích đất lâm nghiệp là 43.945 ha, diện tích cây ăn quả là 2.657 ha; diện tích cây lương thực trên đất dốc 17.934 ha; dân số có 75.668 người, gồm 5 dân tộc: Thái, Kinh, Mông, Xinh Mun, Khơ Mú và một số ít đồng bào dân tộc khác cùng sinh sống Huyện có 14 xã
và 1 thị trấn với 184 bản, 6 tiểu khu, có 4 xã vùng cao biên giới Trung tâm huyện cách thành phố Sơn La 62 km theo hướng Đông Nam, cách Hà Nội 240 km theo hướng Tây Bắc
Xác định nông nghiệp là thế mạnh trong phát triển kinh tế, huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng các loại sản phẩm có giá trị kinh tế, năng suất, chất lượng, có khả năng cạnh tranh cao, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Tập trung đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, từng bước nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác; đẩy mạnh triển khai các mô hình trình diễn về cây trồng, vật nuôi giống mới có năng suất và chất lượng cao, kết hợp với đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất Các mô hình thực hiện đạt mục tiêu
đề ra và được nhân dân ứng dụng, mở rộng sản xuất mang lại hiệu quả
- Về phát triển cây ăn quả: Huyện Yên Châu có trên 24 nghìn ha đất sản xuất nông nghiệp, do địa hình chia cắt nên chủ yếu là đất dốc và đã bị bạc mầu Với phương châm trước hết là cải tạo vườn cây ăn quả kém hiệu quả sang vườn cây ăn
Trang 25quả có thu nhập cao, đồng thời nhân rộng diện tích cây ăn quả có lợi thế của huyện như: Xoài, chuối, nhãn, mận, Huyện đã tổ chức cho cán bộ, nhân dân đi thăm quan học hỏi những mô hình ở các địa phương khác để vận dụng tại địa phương mình Từ mô hình nhãn ghép với quy mô 2 ha bằng nguồn vốn của Trung tâm khuyến nông tỉnh và ngân sách của huyện cấp năm 2011, một số hộ tại xã Tú Nang
đã mạnh dạn đốn tỉa và ghép giống nhãn chín muộn giống gốc từ Hưng Yên; mô hình ghép xoài Đài Loan Sau một năm cho sản phẩm, với năng suất cao, chất lượng ngon, mẫu mã đẹp, giá bán cao
- Về lĩnh vực trồng trọt có nhiều khởi sắc: Mô hình thâm canh ngô lai được triển khai diện rộng, huyện đã phối hợp với Công ty ngô giống xây dựng các mô hình trình diễn ngô lai giống mới tại 14 xã Đến nay, các mô hình được bà con đưa vào sản xuất đại trà, 100% sử dụng giống mới; các hộ nông dân áp dụng biện pháp thâm canh,
đầu tư phân bón, đưa năng suất ngô từ 35 tạ/ha lên 55 tạ/ha, có hộ đạt 60 tạ/ha
Mô hình thâm canh lúa nước, mô hình trình diễn các giống lúa: Hoa khôi 4 được thâm canh theo phương pháp SRI kết hợp với nuôi cá, PAC 807- Giống lúa nếp ĐT52, TBR225,… Các hộ gia đình đã đưa giống mới vào sản xuất, chủ động giống để gieo cấy
Mô hình trồng tỏi trên ruộng 1 vụ, 2 vụ được thử nghiệm đầu tiên với 1 ha tại Chiềng Đông Qua thực tiễn cho thấy, mô hình rất phù hợp với điều kiện đầu tư, trình độ sản xuất của bà con nông dân, tăng hệ số sử dụng đất, tăng thu nhập cho nông dân, góp phần làm thay đổi tập quán canh tác của nông dân Mô hình được mở rộng ở nhiều xã với diện tích hơn 100 ha, mang lại thu nhập cao cho nông dân
- Về lĩnh vực chăn nuôi: các mô hình phát triển chăn nuôi bò cái sinh sản, chăn nuôi dê, gà thả vườn, lợn nái sinh sản, thụ tinh nhân tạo cho bò, ủ phân vi
sinh, sử dụng chế phẩm Balasa làm đệm lót sinh học trong chăn nuôi gà và chăn
nuôi lợn được phổ biến rộng rãi trong nông thôn
Chương trình thuỷ sản: Thực hiện triển khai và phát triển các mô hình chăn nuôi cá (ươm cá giống, nuôi cá ruộng, cá ao) như: Nuôi cá rô phi đơn tính, tôm
càng xanh, mô hình nuôi cá chép lai 3 máu,
Trang 26Chương trình khí sinh học: Năm 2006 có 40 công trình, đến năm 2014, toàn huyện đã xây dựng được trên 500 công trình, mô hình đã góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, nhiều hộ nông dân xây dựng mô hình sử dụng bã thải tưới cho rau, chạy máy phát điện, trạm khuyến nông huyện có 4 kĩ thuật viên chuyên trách về chương trình khí sinh học chuyên tư vấn cho bà con thực hiện
- Về mô hình khuyến công, khuyến lâm: Yên Châu đã xây dựng được các
mô hình: Máy sấy nông sản, tưới ẩm tiết kiệm nước cho chè, máy làm đất đa năng, máy nâng xếp mía, trồng thâm canh cây gỗ lớn (như Giổi xanh chẳng hạn), Các
mô hình khuyến công, khuyến lâm đã đáp ứng được các thông số kỹ thuật và phát huy tác dụng, được các hộ nông dân học tập và nhân rộng
Ngoài ra, huyện còn tích cực chuyển giao các tiến bộ khoa học kĩ thuật đến tận người dân, nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp dưới nhiều hình thức xây dựng các mô hình trình diễn, các mô hình sản xuất tiên tiến để qua đó hướng dẫn, tập huấn kỹ thuật cho bà con nông dân Phối hợp với các chương trình, các dự án triển khai đúng mục tiêu, có hiệu quả, tăng cường kỹ năng tiếp cận thị trường cho nông dân Bên cạnh đó, công tác chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, công tác thâm canh, tăng vụ và đưa cơ giới hóa vào quá trình sản xuất được đẩy mạnh thực hiện
Những kết quả trên đã góp phần nâng cao tổng sản lượng lương thực trên địa bàn huyện Yên Châu Năm 2014, tổng sản lượng lương thực toàn huyện đạt 87.270 tấn, tăng 34.360 tấn so với năm 2010, góp phần đưa giá trị của sản xuất nông nghiệp tăng dần qua các năm (năm 2014 đạt 9.082 tỷ đồng, chiếm 38,4% cơ cấu kinh tế của huyện, tăng 48,1% so với năm 2010) Đời sống của nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện không ngừng được nâng lên, góp phần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn 2011-2015 qua các năm (giảm từ 42,6% năm 2010 xuống còn 28,34% năm 2014)
Để tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập bền vững cho người nông dân, trong nhiệm kỳ XX (2015-2020), Đảng bộ huyện Yên Châu đã xác định nhiệm vụ trọng tâm về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn là: Tập trung
Trang 27phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới Xây dựng và phát triển mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới, chuyển từ hộ sản xuất cá thể, đơn
lẻ là chủ yếu sang sản xuất liên kết qua hợp tác xã, liên kết với doanh nghiệp qua hợp tác xã, tạo sự đột phá trong phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp Chuyển đổi một số cây trồng kém hiệu quả sang cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao Trồng rừng kinh tế, rừng sản xuất theo kế hoạch Phát triển rừng sinh thái gắn với phát triển du lịch, tập trung theo hướng liền vùng, liền khoảnh, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển kinh tế rừng, công nghiệp sơ chế Phát triển các mô hình rau sạch, an toàn, các sản phẩm hàng hóa có lợi thế ở địa phương Tiếp tục triển khai các đề án xây dựng nông thôn mới, huy động các nguồn lực trong nhân dân, quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn lực đầu tư của nhà nước, hoàn thành chỉ tiêu về xây dựng nông thôn mới
Trên cơ sở tiềm năng, lợi thế của địa phương, một số lĩnh vực, dự án huyện đang quan tâm ưu tiên thu hút đầu tư đó là: Dự án đầu tư vùng trồng rau an toàn theo tiêu chuẩn VIETGAP; dự án phát triển vùng xoài Yên Châu; dự án phát triển vùng chuối Yên Châu; dự án phát triển vùng cây chè Yên Châu; dự án phát triển vùng cây dược liệu; dự án chế biến sản phẩm sau thu hoạch; dự án phát triển vùng
du lịch Hang Chi Đảy, du lịch Hồ Chiềng Khoi, khu căn cứ cách mạng Việt Nam - Lào; dự án phát triển các làng nghề thổ cẩm,
Phát huy kết quả đạt được trong những năm qua, trong giai đoạn 2015-2020 tin tưởng rằng với sự nỗ lực phấn đấu, quyết tâm của huyện, Yên Châu sẽ thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX, phấn đấu trở thành huyện phát triển khá trong tỉnh Sơn La
b Kinh nghiệm của của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Văn Chấn là huyện miền núi tỉnh Yên Bái, có diện tích tự nhiên trên 121.000
ha, nằm ở sườn phía Đông Bắc của dãy Hoàng Liên Sơn Địa hình Văn Chấn phức tạp có nhiều rừng, núi, hang động, suối, khe chằng chịt, thung lũng bằng phẳng Là vùng đất hội tụ của 23 dân tộc anh em cùng sinh sống đã tạo cho Văn Chấn có đặc
Trang 28điểm văn hoá giàu sắc thái, đa dạng nhưng thống nhất mang đậm bản sắc văn hoá dân gian dân tộc độc đáo ở phía Tây của tỉnh Yên Bái Đây là một lợi thế không nhỏ
để Văn Chấn phát triển du lịch sinh thái và du lịch văn hoá, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Theo quy hoạch của tỉnh, Văn Chấn nằm trong tua “du lịch về cội nguồn”: Phú Thọ - Yên Bái - Lào Cai, là cửa ngõ đi các tỉnh trong vùng Tây Bắc
Do địa hình khá phức tạp nên Văn Chấn được chia thành 3 tiểu vùng kinh tế: Vùng trong (vùng cánh đồng Mường Lò) gồm 12 xã, là vùng tương đối bằng phẳng, có cánh đồng Mường Lò rộng trên 2.400 ha, đứng thứ 2 trong 4 cánh đồng Tây Bắc Vùng ngoài: gồm 9 xã, thị trấn, có lợi thế về phát triển vườn đồi, vườn rừng và trồng lúa nước Vùng cao thượng huyện: gồm 10 xã, có độ cao trung bình
600 m trở lên, có tiềm năng về đất đai, lâm sản, khoáng sản, chăn nuôi đại gia súc Lực lượng lao động trong độ tuổi có 88.554 người; trong đó lao động trong độ tuổi hoạt động kinh tế 70.866 người, đây chính là nguồn lực, tiềm năng phát triển kinh
tế của huyện
Bám sát tinh thần Nghị quyết của các cấp ủy và hội đồng nhân dân các cấp, trong điều kiện khó khăn chung của đất nước cũng như khó khăn riêng của địa phương, UBND huyện Văn Chấn đã tích cực, chủ động, chỉ đạo, điều hành và thực hiện nghiêm túc các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tập trung vào các lĩnh vực trọng yếu về phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của toàn huyện thời kỳ 2006-2015 là 12,1% trong
đó, nông nghiệp tăng 7,8%, công nghiệp, xây dựng tăng 15%, dịch vụ tăng 14,18% Nông nghiệp của huyện phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, tăng cường đầu tư thâm canh, ứng dụng các tiến độ khoa học kỹ thuật mới để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; thực hiện chính sách nhiều thành phần, thúc đẩy kinh tế hộ, kinh tế hợp tác phát triển theo hướng trang trại và doanh nghiệp với quy mô hợp lý Hình thành các vùng chuyên canh tập trung với quy mô lớn, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, hình thành vùng rừng phòng hộ cho cánh đồng Mường Lò, đảm
Trang 29bảo môi trường sinh thái và phát triển bền vững Văn Chấn phấn đấu đến năm 2015 sản lượng lương thực có hạt đạt 60.000 tấn, 40.000 tấn chè búp, đàn trâu 24.000 con, đàn bò: 14.000 con, đàn lợn: 85.000 con, tổng diện tích rừng trồng 78.336 ha,
tỷ lệ che phủ 65%, khai thác 27.000 m3 gỗ, khai thác tre vầu 30.000 m3,…
Theo ông Nguyễn Văn Toản - Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện thì: Văn Chấn có trên 80% nông dân sống dựa vào sản xuất nông nghiệp, do vậy mục tiêu phát triển nông nghiệp của huyện là tập trung sản xuất hàng hóa thì mới đem lại hiệu quả kinh tế, góp phần nâng cao đời sống nhân dân Thực tế những năm qua, huyện đã quy hoạch và hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, tập trung và mang tính bền vững
Đối với mô hình lúa hàng hóa vùng Mường Lò, tập trung vào các loại lúa thuần chất lượng cao như: Séng cù, Chiêm hương, Nghi hương 305, nếp Tú Lệ, Đối với cây chè, huyện đã đẩy mạnh chương trình cải tạo chè bằng các giống chất lượng cao
và quy hoạch các vùng sản xuất chè Đến nay, toàn huyện có gần 5.000ha chè, trong
đó cải tạo trồng mới đạt 35 ha; riêng chè Shan tuyết Suối Giàng hiện đã được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận nhãn hiệu từ cuối năm 2013
Trong quy hoạch vùng ngoài chủ yếu cây ăn quả có múi với gần 1.000ha cam ở các xã: Thượng Bằng La, Nghĩa Tâm, thị trấn nông trường Trần Phú, hiện đang xây dựng Đề án từ 1.500 ha đến 2.000 ha cam, tiến tới xây dựng nhãn hiệu tập thể cho cam Văn Chấn Vùng trong cây nhãn, vải, xây dựng vùng cây ăn quả đặc sản, nhãn chín muộn, một số cây trồng đã mang lại hiệu quả kinh tế cao Việc quy hoạch phát triển vùng và sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa đã tạo điều kiện cho cơ giới hóa sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học, từ đó giảm chi phí và sức lao động, tiết kiệm thời gian; góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập cho nông dân
Song song với các cây trồng chủ lực, ngành chăn nuôi ở Văn Chấn cũng đang trên đà phát triển mạnh mẽ theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung Số lượng đàn gia súc gia cầm ngày càng tăng, với tổng số trên 20.000 con trâu, bò, tăng 4,2%
kế hoạch
Trang 30Ngoài cơ chế chính sách của Trung ương và tỉnh, huyện sẽ tăng cường công tác tuyên truyền, vận động chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân, hỗ trợ người dân; đưa cơ giới vào sản xuất, có cơ chế hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm nông sản hàng hóa, nhãn hiệu tập thể, gắn với mở rộng thị trường
c Kinh nghiệm của huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Lạc là huyện đồng bằng nằm ở phía tây nam của tỉnh Vĩnh Phúc, phía tây bắc giáp huyện Lập Thạch, phía đông bắc giáp huyện Tam Dương, phía đông giáp huyện Yên Lạc, phía nam giáp thành phố Hà Nội, phía tây nam giáp tỉnh Phú Thọ
Là huyện nông nghiệp nên nguồn lực chủ yếu của Vĩnh Lạc là đất đai, mặt nước và nguồn lao động khá dồi dào, cụ thể: tổng diện tích của Vĩnh Lạc là 141,90
km2; diện tích bình quân theo đầu người đạt 1.402 người/km2, toàn huyện có 198.918 nhân khẩu
Đất nông nghiệp, chủ yếu là đất canh tác cây hàng năm, trong đó đất trồng cây lương thực (lúa, ngô) chiếm 87% diện tích đất gieo trồng Đất canh tác có 1.044 ha là chân ruộng cấy 1 vụ lúa “bấp bênh”, đây là nguồn tiềm năng thuận lợi
để các trang trại kinh tế tổng hợp hình thành và phát triển theo mô hình 1 lúa 1 cá kết hợp trồng cây ăn quả và chăn nuôi gia cầm (ngan, vịt, ) Là huyện đồng bằng vườn tạp rất thấp, chỉ có 594ha = 5,98% đất nông nghiệp, nhìn chung loại đất này
đã và đang khai thác có hiệu quả Huyện có 507 ha diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản chủ yếu thuộc các xã phía tây và tây nam của huyện Tuy đã được khai thác nuôi trồng thủy sản song hiệu quả chưa cao Đây cũng là tiềm năng thuận lợi để xây dựng các trang trại
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của toàn ngành nông-lâm-thủy sản đạt 4.4%/năm, trong đó nông nghiệp tăng 4,15%/năm, thủy sản tăng 6,4%/năm và dịch
vụ nông nghiệp tăng 21,7%/năm giai đoạn 2011-2015 Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm mạnh và tỷ trọng ngành thuỷ sản tăng Trong những năm qua, kinh tế nông nghiệp huyện Vĩnh Lạc
Tập trung xây dựng những cánh đồng trồng lúa cao sản và chất lượng cao, sản xuất rau sạch, hoa cây cảnh Tập trung chăn nuôi các loại gia súc và gia cầm sạch, chất lượng cao phục vụ nhu cầu của thành phố Vĩnh Yên và Hà Nội
Trang 31Hình thành 2 tiểu vùng phát triển nông nghiệp Vùng trong đê, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tập trung phát triển cây thực phẩm cao cấp, rau sạch, hoa cây cảnh; là vùng nông nghiệp tập trung, thâm canh cao sản suất lúa thủy sản và khối lượng hàng hóa lớn Vùng ngoài đê là vùng trồng rau an toàn, hoa, tập trung của tỉnh tại các xã Liên Châu, Hồng Châu, Đại Tự
- Tiến hành quy hoạch chi tiết, ổn định diện tích đất giao cho các hộ gia đình, phù hợp với mô hình sản xuất trang trại tập trung, thuận tiện cho việc cơ giới hóa và chuyển đổi cơ cấu cây trồng
- Duy trì hệ số sử dụng đất trong từ 2,4 - 2,5 lần trong giai đoạn 2011- 2015, giữ vững tỷ lê này cho giai đoạn 2016-2010
- Tập trung đầu tư xây dựng mới và cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp như các công trình tưới tiêu, giao thông nội đồng,…
- Đẩy nhanh và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chú trọng chuyển giao khoa học công nghệ, khuyến nông, khuyến ngư và các hoạt động
hỗ trợ sản xuất nông-lâm-thuỷ sản
Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, đặc biệt là đường xá, điện, nước, trường học, bưu điện, các công trình lợi, vệ sinh môi trường,… theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Khuyến khích các hộ gia đình chuyển sang lĩnh vực phi nông nghiệp, cung ứng phân bón, giống, thuốc trừ sâu, chất đốt, sửa chữa máy nông nghiệp nhỏ,… Quan tâm đến hộ nông dân (có chính sách ưu đãi đối với phát triển các ngành nghề dịch vụ ở nông thôn, mở các phiên chợ giao dịch nông sản cho nông dân, ) Khuyến khích và có chính sách hỗ trợ vốn cho các hộ phát triển các trang trại quy mô lớn Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả và tạo bước đột phá trong nông thôn
d Kinh nghiệm của huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ
Tam Nông là một huyện thuộc tỉnh Phú Thọ, cách thành phố Hà Nội 70 km,
có vị trí là cửa ngõ phía Tây của Thủ Đô, Tam Nông có diện tích tự nhiên là 15.596
ha Để phát triển kinh tế nông nghiệp trong những năm qua huyện Tam Nông đã thực hiện phát triển nông, lâm nghiệp, thủy sản toàn diện theo hướng tích tụ ruộng
Trang 32đất, khuyến khích đầu tư theo mô hình phát triển bền vững nông thôn, chuyển đổi
cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn
Tích cực phát triển nông nghiệp theo nhu cầu thị trường, định hướng sản xuất hàng hóa, hình thành cơ chế kết hợp vào thúc đẩy lẫn nhau giữa sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Phát triển ngành nghề nông thôn, hình thành
cơ cấu kinh tế nông thôn hợp lý, tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, có sản phẩm hàng hóa quy mô phù hợp
Ưu tiên các chương trình dự án đầu tư ứng dụng công nghệ cao (nhất là công nghệ sinh học) vào sản xuất Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, tạo đà cho nông nghiệp phát triển nhanh, bền vững Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước, đảm bảo cho nông dân bán được nông sản với giá phù hợp, thuận tiện nhất
Thực hiện có hiệu quả các chương trình các loại cây, con mũi nhọn, trong đó chú trọng đầu tư các chương trình trọng điểm (sản xuất lương thực, nhựa sơn, chăn nuôi bò thịt và thủy sản) tạo ra điểm bứt phá, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Giải quyết việc làm cho nông dân, tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh tác, góp phần từng bước nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân,
ổn định chính trị, giữ vững an ninh quốc phòng Khai thác có hiệu quả các nguồn lợi, tiềm năng phát triển của huyện, ổn định môi trường sinh thái
Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển như kinh tế hộ gia dình, kinh tế trang trại, phát triển doanh nghiệp trong nông, lâm nghiệp, thủy sản, đặc biệt là kinh tế trang trại phải trở thành động lực thúc đẩy kinh tế nông nghiệp - nông thôn phát triển
Lương thực bình quân 414,6 kg/người/năm, đạt 125,64% an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc
1.2.2 Bài học rút ra đối với huyện Phù Ninh trong phát triển kinh tế nông nghiệp
Để phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Phù Ninh cần nghiên cứu kỹ các điều kiện để phát triển nông nghiệp, nghiên cứu để phát triển theo hướng sản xuất
Trang 33hàng hoá, đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới: Phát triển nông, lâm nghiệp, thuỷ sản theo hướng chất lượng, có giá trị cao và bền vững; phát huy lợi thế so sánh các tiểu vùng kinh tế; mỗi địa phương một sản phẩm Tập trung giải quyết vấn đề tích tụ ruộng đất và xuất xứ hàng hoá sản phẩm nông nghiệp; chú trọng chế biến, tiêu thụ nông sản; phát triển mạnh kinh tế trang trại, gia trại, thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp trên địa bàn Quản lý diện tích đất trồng lúa nước, khắc phục tình trạng nông dân bỏ ruộng, bỏ vụ; chú trọng công tác thuỷ lợi, phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn và dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nhất là khâu giống, bảo vệ thực vật, thú y, khuyến nông; thâm canh, tăng vụ đưa cơ giới hoá vào sản xuất Phấn đấu đến năm 2020, giá trị sản phẩm bình quân 1 ha đất canh tác đạt trên 87 tỷ đồng, đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, hình thành các vùng sản xuất quy
mô lớn cho năng xuất, chất lượng và tỷ suất hàng hoá cao; ưu tiên phát triển cây chè, cây nguyên liệu giấy, cây ăn quả (bưởi Diễn, hồng Gia Thanh), nông nghiệp cận đô thị, khuyến khích phát triển chăn nuôi công nghiệp, không gây ô nhiễm môi trường; nâng cao hiệu quả nuôi trồng thuỷ sản, mở rộng nuôi cá lồng trên sông Lô
Phát triển lâm nghiệp theo hướng thâm canh; tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng phòng hộ, rừng sản xuất, gắn phát triển lâm nghiệp với phát triển kinh
tế trang trại, đồi rừng sinh thái
Từ kết quả phát triển kinh tế nông nghiệp ở một số địa phương có điều kiện
tự nhiên tương đồng với huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, một số bài học kinh nghiệp
về phát triển kinh tế nông nghiệp ở huyện trung du miền núi Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ được rút ra như sau:
- Khuyến khích nông dân đẩy mạnh phát triển các nông sản có lợi thế cạnh tranh phục vụ xuất khẩu đi đôi với đầu tư thâm canh, đa dạng hóa sản xuất trên cơ sở địa phương tập trung đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hệ thống thủy lợi, hỗ trợ tín dụng, khoa học và công nghệ
- Phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và sử dụng nhiều lao động ở nông thôn
Trang 34- Ưu tiên đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ trong nông nghiệp
- Khuyến khích các công ty, doanh nghiệp tham gia vào thu mua, xuất khẩu nông sản thông qua chính sách hỗ trợ tín dụng đầu tư xây dựng nhà máy chế biến, kho chứa nông sản ngay tại địa bàn nông thôn để nông dân yên tâm đầu tư vào sản xuất, giảm bớt rủi ro
- Tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích các thành phần kinh tế trong nông nghiệp phát triển
- Cần thay đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp như hiện nay sang tư duy kinh
tế nông nghiệp, tức là không sản xuất theo số lượng mà phải tập trung về hiệu quả,
về giá trị, sản xuất theo tín hiệu thị trường, theo chuỗi giá trị nông sản
1.3 Một số nghiên cứu về phát triển kinh tế nông nghiệp
Việt Nam là một quốc gia có bản chất của nền kinh tế là kinh tế nông nghiệp Nông nghiệp tuy giảm dần vai trò đóng góp vào GDP quốc gia, nhưng vẫn
là nguồn sống chính của hơn một nửa dân số đất nước Trong cơ cấu kinh tế, đóng góp của nông nghiệp vào GDP đã giảm đi một cách đáng kể Theo số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2015)[10], tỷ trọng của nông nghiệp giảm từ 46% năm 1988 xuống còn 18,1% năm 2014 Tuy vậy, cơ cấu lao động lại có sự dịch chuyển chậm hơn nhiều, tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lực lượng lao động xã hội giảm từ 70% xuống còn 46% trong cùng kỳ, điều đó cho thấy năng suất lao động trong nông nghiệp thấp một cách tương đối so với lao động trong các ngành khác của nền kinh tế, và đây là lý do chính dẫn tới thu nhập thấp của hộ nông dân, nhất là đối với những hộ phụ thuộc vào nông nghiệp Hiện nay, nông nghiệp vẫn còn đóng góp hơn 20% GDP, nuôi sống hơn 60% dân số Tốc
độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp thấp so các ngành khác Ngoài những điểm mạnh mang tính truyền thống như khả năng tự bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và có lợi thế cạnh tranh đối với một số loại cây trồng chính, ngành nông nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế hoặc khó khăn cần được nhận thức rõ
Hiện nay, quỹ đất nông nghiệp đã được khai thác tối đa, nông nghiệp tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng và đã đến mức tới hạn Đây là nguyên nhân chính
Trang 35dẫn đến việc tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp có xu hướng giảm ở các năm gần đây Do nhiều nguyên nhân khác nhau, dân cư được phân bổ chênh lệch giữa các vùng nông nghiệp và vùng sinh thái Ngoài ra, cây trồng cũng được phân
bố theo vùng sinh thái, một mặt, dẫn đến sự chuyên môn hóa trong canh tác nông nghiệp, mặt khác dẫn đến tình trạng chênh lệch trong cơ hội tìm kiếm thu nhập hoặc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của nông dân giữa các vùng và phân hóa cơ hội kinh tế giữa nông dân ở các vùng khác nhau Khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam nhìn chung thấp vì trình độ khoa học công nghệ sản xuất thấp Ở Việt Nam, đã xác định một số mặt hàng nông sản có khả năng cạnh tranh khá trên thị trường thế giới như gạo, cà phê, cao su, nhân hạt điều, hồ tiêu, chè, thủy sản và đồ gỗ Ngược lại, một số mặt hàng có khả năng cạnh tranh thấp như thịt, trứng, rau quả, ngô Nhiều mặt hàng nông sản không có khả năng cạnh tranh như sữa, đậu nành, lạc, mía đường, bông vải Do khả năng tài chính quốc gia còn hạn chế, mức đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn còn kém; đầu tư cho nông lâm thủy sản còn thấp và chưa tương xứng với tiềm năng và đóng góp của ngành đối với nền kinh tế quốc gia Hệ thống kinh doanh nông sản chỉ đang bắt đầu phát triển và tập trung vào một số ngành truyền thống hoặc có lợi nhuận cao như: lúa gạo, cao su, cà phê, hồ tiêu, điều, Hệ thống thông tin thị trường chưa phát triển và chưa giúp doanh nghiệp nông nghiệp và nông dân ra quyết định đúng để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và thu nhập Khi chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế, Việt Nam phải đối mặt với nhiều rủi ro trong thương mại nông sản với quốc tế
Cho tới nay, những ngành sản xuất quan trọng và lớn trong nền kinh tế nước
ta bao gồm: Nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Việc nghiên cứu cơ cấu ngành kinh tế nhằm tìm ra những cách thức duy trì tỷ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực có hạn của quốc gia trong mỗi thời kỳ nhằm thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế một cách nhanh chóng và có hiệu quả Xu thế phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Điều đó có nghĩa là đang có sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế với tỷ trọng nghiêng về phát triển ngành công nghiệp và
Trang 36dịch vụ, trong khi đó ngành sản xuất nông nghiệp ngày càng thu hẹp quy mô và tỷ trọng trong nền kinh tế (Lê Xuân Bá, 2015) [1]
Theo Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2015)[10]: Thu nhập thấp của những hộ gia đình nông thôn phụ thuộc vào nông nghiệp đang là vấn đề thách thức đối với các nhà hoạch định chính sách cũng như các dự án phát triển kinh tế nông thôn của Việt Nam Dự án điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam (VARHS) giúp đưa ra các bằng chứng từ thực tế những vấn đề
mà hộ gia đình nông thôn đang gặp phải để giúp hỗ trợ cho các nhà hoạch định chính sách trong quá trình ra quyết định [10]
Để phát triển kinh tế nông nghiệp cần phải đổi mới tư duy sản xuất nông nghiệp như hiện nay sang tư duy kinh tế nông nghiệp Tức là phải chuyển từ số lượng - diện tích, năng suất, sản lượng sang chất lượng - ngon, bổ, sạch, đẹp, cung cấp ổn định; từ cao trào - phong trào dịu xuống còn bình thường và ổn định; tránh tình trạng “dư cung” trong sản xuất và phải biết tạo ra sự khác biệt về sản phẩm của mình đã tạo ra Phát triển kinh tế nông nghiệp phải bắt đầu từ con người, từ niềm tin chứ không phải từ đất - hạn điền, tiền vốn hay khoa học công nghệ nào khác (Nguyễn Minh Nhị, 2017)[6]
Trang 37CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế nông nghiệp; phát triển kinh tế nông nghiệp; quá trình phát triển của các ngành trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
Đối tượng điều tra khảo sát bao gồm: hộ nông nghiệp trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Số liệu thu thập từ các năm 2014, 2015, 2016 và 2017
- Về không gian: Số liệu kinh tế nói chung và kinh tế các ngành ở cấp vĩ mô được thu thập trên toàn bộ huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Số liệu điều tra nông hộ được thực hiện theo phương pháp điều tra mẫu tại 3 xã đại diện của huyện Phù Ninh là Trị Quận, Phù Ninh và Hạ Giáp
- Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nội dung kinh tế nông nghiệp, phát triển kinh tế nông nghiệp, hộ nông dân và đánh giá sự phát triển kinh tế nông nghiệp cũng như sản xuất nông nghiệp ở địa phương
2.2 Câu hỏi và nội dung nghiên cứu
2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết được mục tiêu và đáp ứng nội dung nghiên cứu của đề tài cần trả lời các câu hỏi sau:
- Thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ như thế nào?
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ?
- Những giải pháp nào được đề xuất nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đến năm 2020?
Trang 382.2.2 Nội dung nghiên cứu
Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung sau đây:
- Thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ + Phát triển kinh tế nông nghiệp về: quy mô, sản lượng; giá trị sản xuất, tăng trưởng các ngành trong nội bộ ngành nông nghiệp, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tổ chức sản xuất (hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp nông nghiệp, ),
- Khó khăn, thách thức và yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
- Giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu
Chọn điểm nghiên cứu đại diện cho huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các đặc điểm khác của tỉnh Chọn 3 xã làm điểm nghiên cứu từ 3 vùng trong huyện đó là xã Phù Ninh ở vùng Bắc, Trị Quận và Hạ Giáp Những xã này có thể đại diện cho từng vùng và cho huyện Phù Ninh Mẫu chọn ra vừa phải đảm bảo tính đại diện cho toàn vùng, vừa phải đại diện và suy rộng được cho cả huyện
2.3.2 Thu thập số liệu
Thu thập số liệu là một giai đoạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội Tuy nhiên việc thu thập số liệu lại thường tốn nhiều thời gian, công sức và chi phí; do đó cần phải nắm chắc các phương pháp thu thập số liệu để từ đó chọn ra các phương pháp thích hợp với hiện tượng, làm cơ sở để lập kế hoạch thu thập dữ liệu một cách khoa học, nhằm để đạt được hiệu quả cao nhất của giai đoạn quan trọng này
2.3.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp đã công bố
Số liệu đã công bố sử dụng trong luận văn được thu thập từ các thông tin công bố chính thức của các cơ quan Nhà nước, các nghiên cứu cá nhân, tổ chức về tình hình sản xuất công nghiệp và tổ chức kinh tế xã hội trong và ngoài nước
Trang 39Các số liệu đã công bố chủ yếu từ các nguồn, các công trình khoa học trong
và ngoài nước có liên quan đến phát triển công nghiệp, thông qua các tài liệu trong
và ngoài nước đã công bố như: Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ; tài liệu báo cáo của các tổ chức trong và ngoài nước; UBND huyện, tỉnh, các sở, ban, ngành của tỉnh Phú Thọ, tài liệu các trang Website trên internet, các báo cáo nghiên cứu chuyên đề, các tài liệu khác
2.3.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu mới được sử dụng trong luận văn là số liệu tác giả thu thập từ các hộ nông nghiệp trong huyện Phù Ninh Đây là số liệu chưa được công bố, tính toán chính thức, phản ánh kết quả phát triển kinh tế nông nghiệp, các nhân tố ảnh hưởng
và các vấn đề khác có liên quan
Số liệu vi mô thông qua điều tra nông hộ được thực hiện theo phương pháp điều tra mẫu tại 3 xã đại diện của huyện Phù Ninh là Trị Quận, Phù Ninh và Hạ Giáp Mỗi xã điều tra 30 hộ, đảm bảo đúng yêu cầu thống kê đại diện, tổng số 90 hộ
đã được điều tra để thu thập số liệu sơ cấp có liên quan đến đề tài ở cấp độ vi mô
2.3.3 Phương pháp phân tích
* Phương pháp phân tổ thống kê:
Phân tổ thống kê phân chia tổng thể thống kê thành các tổ (tiểu tổ) có tính
chất khác nhau (phân chia theo thành phần kinh tế, theo chuyên ngành, theo mặt hàng sản xuất kinh doanh chính, theo đơn vị hành chính, ) Để hệ thống hoá và tổng hợp số liệu thu thập được, phân chia theo các tiêu thức, chỉ tiêu phù hợp với mục đích, nội dung nghiên cứu
Phân tổ thống kê là phương pháp cơ bản của tổng hợp thống kê, là một trong những phương pháp quan trọng của phân tích thống kê, đồng thời là cơ sở để vận
dụng các phương pháp phân tích thống kê khác
* Phương pháp đồ thị thống kê:
Phương pháp đồ thị thống kê là phương pháp trình bày và phân tích các thông tin thống kê bằng các biểu đồ, đồ thị và bản đồ thống kê (biểu đồ cơ cấu ngành, đồ thị tốc độ tăng trưởng, tổng giá trị sản phẩm, ) sử dụng con số kết hợp
Trang 40với các hình vẽ, đường nét và màu sắc để trình bày các đặc điểm số lượng của nội dung nghiên cứu Chính vì vậy, ngoài tác dụng phân tích giúp ta nhận thức được những đặc điểm cơ bản của hiện tượng bằng trực quan một cách dễ dàng và nhanh chóng, đồ thị thống kê còn là một phương pháp trình bày các thông tin thống kê một cách khái quát và sinh động, chứa đựng tính mỹ thuật; thu hút sự chú ý của
người đọc, giúp người xem dễ hiểu, dễ nhớ
* Phương pháp phân tích dãy số biến động theo thời gian:
Dãy số biến động theo thời gian (còn gọi là dãy số động thái) là dãy các trị
số của một chỉ tiêu thống kê được sắp xếp theo thứ tự thời gian, dùng để phản ánh quá trình phát triển của hiện tượng Trong dãy số biến động theo thời gian có hai yếu tố: thời gian và chỉ tiêu phản ánh hiện tượng nghiên cứu Thời gian trong dãy
số có thể là ngày, tháng, năm, tuỳ mục đích nghiên cứu; chỉ tiêu phản ánh hiện tượng nghiên cứu có thể biểu hiện bằng số tuyệt đối, số tương đối hay số bình quân
Căn cứ vào đặc điểm của dãy số biến động theo thời gian ta có thể vạch rõ
xu hướng, tính quy luật phát triển của hiện tượng theo thời gian và từ đó có thể dự đoán khả năng hiện tượng có thể xảy ra trong tương lai
Các trị số của chỉ tiêu trong dãy số thời gian phải thống nhất về nội dung; phương pháp và đơn vị tính; thống nhất về khoảng cách thời gian và phạm vi không
gian nghiên cứu để bảo đảm tính so sánh được với nhau
* Phương pháp chỉ số:
Phương pháp chỉ số là biểu hiện về lượng của các phần tử trong hiện tượng
phức tạp được chuyển về dạng chung có thể trực tiếp cộng hoặc so sánh được với nhau, dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa nhân tố nghiên cứu với các nhân tố khác Ví dụ: Khối lượng sản phẩm các loại, vốn không thể trực tiếp cộng được với nhau, khi được chuyển sang dạng giá trị, bằng cách nhân với yếu tố giá cả để có thể trực tiếp cộng với nhau Mặt khác, khi nghiên cứu biến động của một nhân tố, bằng cách giả định các nhân tố khác của hiện tượng phức tạp không thay đổi, nhờ đó phương pháp chỉ số cho phép loại trừ ảnh hưởng biến động của các nhân tố này để khảo sát
sự biến động riêng biệt của các nhân tố cần nghiên cứu