1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng những lý thuyết về nguyên tắc phát triển bền vững để phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp ở Việt Nam

24 443 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 63,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy,nền nông nghiệp bền vững phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản là: đảm bảonhu cầu nông sản của loài người hiện nay và duy trì được tài nguyên thiên nhiêncho các thế hệ mai sau, ba

Trang 1

Mở đầu

Nông nghiệp bền vững là vấn đề thời sự được nhiều nhà khoa học thuộcnhiều lĩnh vực khác nhau quan tâm, như: nông học, sinh thái học, xã hội học…Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau, trong đó đáng quan tâm là định nghĩa của

tổ chức sinh thái và môi trường thế giới (WORD) bởi tính tổng hợp và khái quátcao: nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thoả mãn được các yêu cầu củathế hệ hiện nay, mà không giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau Điều đó

có nghĩa là nền nông nghiệp không những cho phép các thế hệ hiện nay khaithác tài nguyên thiên nhiên vì lợi ích của họ mà còn duy trì được khả năng ấycho các thế hệ mai sau, cũng có ý kiến cho rằng sự bền vững của hệ thống nôngnghiệp là khả năng duy trì hay tăng thêm năng suất và sản lượng nông sản trongmột thời gian dài mà không ảnh hưởng xấu đến điều kiện sinh thái Như vậy,nền nông nghiệp bền vững phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản là: đảm bảonhu cầu nông sản của loài người hiện nay và duy trì được tài nguyên thiên nhiêncho các thế hệ mai sau, bao gồm gìn giữ được quỹ đất, quỹ nước, quỹ rừng,không khí và khí quyền, tính đa dạng sinh học v.v… Xây dựng nền nông nghiệpbền vững là việc làm cấp thiết và là xu hướng tất yếu của tiến trình phát triển

Ở Việt Nam, nhận thức rõ vai trò quan trọng phát triển nông nghiệp theohướng bền vững, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ: “Trong 5 năm tới,tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chú trọng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, phát triển nhanh, bền vững”.Như vậy, phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững theo tinh thần Đạihội XII chính là quá trình nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuấtnông nghiệp, trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, sử dụng hợp lý cácnguồn tài nguyên thiên nhiên, giải quyết tốt các vấn đề xã hội gắn với bảo vệmôi trường sinh thái, nhằm thỏa mãn các nhu cầu về lương thực, thực phẩm,nguyên liệu cho sản xuất của xã hội, cả trong hiện tại và tương lai

Mục đích phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững được Đại hội XIIxác định là kiến tạo một nền sản xuất nông nghiệp bền vững cả về mặt lực lượngsản xuất và quan hệ sản xuất gắn với bảo vệ môi trường; có tốc độ tăng trưởng,năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng cao một cáchvững chắc; có mô hình sản xuất kinh doanh bền vững, đáp ứng ổn định lươngthực, thực phẩm, nguyên liệu cho sản xuất và tiêu dùng trong nước, xuất khẩu cảtrước mắt và lâu dài

Trên tinh thần đó, Nhóm 1 xây dựng bài thảo luận về vấn đề: “Vận dụng những lý thuyết về nguyên tắc phát triển bền vững để phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp ở Việt Nam”

Trang 2

PHẦN I: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

BỀN VỮNG

1 Một số khái niệm liên quan

- Phát triển bền vững là sự phát triển trong đó lồng ghép các quá trình sảnxuất với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn về môi trường, đảm bảo thỏa mãnnhững nhu cầu hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng đáp ứng nhữngnhu cầu của tương lai

- Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được yêu cầu của hiện tại,nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau (Hộiđồng thế giới về môi trường và Phát triẻn của Liên hợp quốc - WCED)

- Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý

và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển gồm: phát triển kinh tế (đặc biệt là tăngtrưởng kinh tế), phát triển xã hội (đặc biệt là tiến bộ xã hội, công bằng xã hội,giảm nghèo và giải quyết công ăn việc làm) và bảo vệ môi trường (đặc biệt là xử

lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, phòngchống cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyênthiên nhiên)

- Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thỏa mãn được yêu cầu của thế

hệ hiện tại mà không làm giảm khả năng thỏa mãn yêu cầu của thế hệ mai sau(Tổ chức sinh thái và môi trường Thế giới – WORD)

- Nền nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp phải đáp ứng được 2 yêucầu cơ bản: Đảm bảo đáp ứng cầu nông sản hiện tại và duy trì được tài nguyênthiên nhiên cho các thế hệ mai sau (bao gồm: gìn giữ quỹ đất, nước, rừng, khôngkhí, khí quyển và tính đa dạng sinh học… )

Nông nghiệp bền vững là phạm trù tổng hợp, vừa đảm bảo các yêu cầu vềsinh thái, kỹ thuật vừa thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển

- Mục đích của nông nghiệp bền vững là: Tạo ra một hệ sinh thái bền vững,

có tiềm lực kinh tế, thỏa mãn nhu cầu của con người mà không làm hủy hoạimôi trường sống Hay chính là việc thỏa mãn nhu cầu hiện tại mã không lảm ảnhhưởng đến nhu cầu của thế hệ mai sau

Nông nghiệp bền vững tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp sản xuất lươngthực, thực phẩm cho con người, thức ăn cho chăn nuôi nhiều hơn so với hệ sinhthái tự nhiên.Nông nghiệp bền vững không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái có sẵntrong tự nhiên mà còn tìm cách khôi phục những hệ sinh thái đã bị suy thoái

2 Tầm quan trọng của phát triển nông nghiệp bền vững trong nền kinh tế Việt Nam

Với khoảng hơn 70 % dân số là nông dân, Việt Nam luôn coi trọng nhữngvấn đề liên quan đến nông dân, nông nghiệp và nông thôn Nền kinh tế ViệtNam trong hơn 20 năm Đổi mới vừa qua (1986-2008) đã đạt được nhiều thànhtựu phát triển khả quan Trong lĩnh vực nông nghiệp, sản lượng các loại nông

Trang 3

sản đều tăng, nổi bật nhất là sản lượng lương thực đều tăng với tốc độ cao từnăm 1989 đến nay Năm 1989 là năm đầu tiên sản lượng lương thực vượt quacon số 20 triệu tấn, xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 310 triệu USD.Đến năm 2008 vừa qua sản lượng lương thực đã đạt đến con số kỷ lục 39 triệutấn và đã xuất khẩu 4,5 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 1,7 tỷ USD.

Từ một nước thường xuyên thiếu và đói, hàng năm phải nhập hàng triệu tấnlương thực của nước ngoài, hơn thập niên qua đã trở thành nước xuất khẩu gạođứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan) GDP trong lĩnh vực nông nghiệp bìnhquân hàng năm tăng 3,3% Thu nhập và đời sống nhân dân ngày càng cải thiệnhơn, tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn giảm bình quân 1,5% năm; bộ mặt nông thônthay đổi theo hướng văn minh; trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật của nhiềunông dân được nâng lên cao hơn trước

Nông nghiệp ngày càng có nhiều đóng góp tích cực hơn vào tiến trình pháttriển, hội nhập của kinh tế cả nước vào nền kinh tế toàn cầu Năm 1986, kimngạch xuất khẩu nông-lâm-thuỷ sản mới đạt 400 triệu USD Đến năm 2007 đãđạt tới 12 tỷ USD, tăng gấp 30 lần Nhờ có những thành tựu, kết quả đó, nôngnghiệp không chỉ góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị-xã hội nôngthôn và nâng cao đời sống nông dân trên phạm vi cả nước, mà nông nghiệp đãngày càng tạo ra nhiều hơn nữa những tiền đề vật chất cần thiết, góp phần tíchcực vào sự đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh CNH, HĐH đất nướctrong những năm qua

Thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng như quá trình CNH-HĐH đất nước theo định hướng XHCN đều khẳng định tầm vóc chiến lược của vấn đềnông nghiệp, nông dân, nông thôn Chính vì vậy, Đảng ta luôn đặt nông nghiệp,nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan trọng, coi đó là cơ sở và lực lượng

để phát triển kinh tế-xã hội bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốcphòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái

Trang 4

PHẦN 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG

NGHIỆP Ở VIỆT NAM

1 Thực trạng phát triển nông nghiệp ở Việt Nam

- Sản xuất nông lâm ngư nghiệp tăng trưởng ổn định

Gần đây, tình hình kinh tế có khó khăn do bị tác động của khủng hoảng vàsuy thoái kinh tế thế giới, Nông nghiệp Việt Nam ngày càng rõ vai trò là trụ đỡcủa nền kinh tế, tiếp tục có mức tăng trưởng ổn định Sản lượng nông sản ngàycàng tăng, không những đáp ứng được vấn đề an ninh lương thực trong nước màcòn xuất khẩu ra nước ngoài

Bảng 1: GDP các ngành kinh tế vào tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015 (giá so sánh năm 2010)

Năm 2011, nông nghiệp đóng góp khoảng 20% GDP và chiếm 30% giá trịkim ngạch xuất khẩu quốc gia

Năm 2012, nông nghiệp vẫn giữ đà tăng trưởng của năm 2011 với giá trịsản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cả nước tăng 3,4% Trong đó, nôngnghiệp tăng 2,8%, lâm nghiệp 6,4%, thủy sản 4,5%

Năm 2013, giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản cả nước tăng 3,2%.Trong đó, nông nghiệp tăng 2,3%, lâm nghiệp 6%, thủy sản 4,5%

Năm 2014,giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,9% so vớinăm 2013

Trang 5

Năm 2015 giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,6% so vớinăm 2014, bao gồm: Nông nghiệp tăng 2,3%; lâm nghiệp tăng 7,9%; thủy sảntăng 3,1%.

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăngGDP khu vực nông nghiệp và thủy sản ước tính đạt bình quân 3,1%/năm; giá trịsản xuất tăng bình quân 3,6%/năm

Từ năm 2010-2014, giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất trồng trọt tăng1,45 lần, trên 1 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng 1,71 lần

Giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất trồng trọt đã tăng từ 54,6 triệu đồng/

ha năm 2010 lên 79,3 triệu đồng/ha năm 2014 và khoảng 82-83 triệu đồng/ha năm2015; 1 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng từ 103,8 triệu đồng/ha lên 177,4triệu đồng/ha, năm 2014 và khoảng 183 triệu đồng/ha năm 2015

+ Ngành trồng trọt: duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất trên 3,15%/

năm, an ninh lương thực được đảm bảo, các cây công nghiệp, cây ăn quả có lợithế cạnh tranh tiếp tục phát triển

+ Ngành chăn nuôi: tuy không tăng về số lượng đầu con, nhưng giá trị sản

xuất toàn ngành vẫn tăng bình quân gần 3,4%/năm, trọng lượng lợn thịt xuấtchuồng bình quân từ 67,7kg/con năm 2011 lên 70kg/con năm 2014

Đặc biệt là phương thức chăn nuôi trang trại, công nghiệp tiếp tục pháttriển mạnh, đối với chăn nuôi lợn, phương thức chăn nuôi trang trại, côngnghiệp chiếm 35% đầu con và 43% về sản lượng; tương tự chăn nuổi gia cầm là30% về đầu con và 40% về sản lượng

+Ngành thủy sản: hoạt động khai thác thủy sản đã mở rộng quy mô ra xa

bờ hơn nhờ thiết bị hiện đại hơn; diện tích nuôi trồng thủy sản tăng nhanh,chuyển mạnh theo hướng thâm canh, phát triển đa loài, đa loại hình, đa phươngthức theo hướng thân thiện với môi trường Ước tính trong giai đoạn 2011-2015tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt bình quân 4,38%/ năm

+Ngành lâm nghiệp: đẩy mạnh trồng rừng, đặc biệt là rừng sản xuất, tốc độ

tăng giá trị sản xuất bình quân 5 năm 2011-2015 đạt 6,6%/ năm, vượt chỉ tiêu kếhoạch (5-6%/năm), tỷ lệ che phủ rừng đạt 40,7%, trồng mới rừng tập trung 1055ngàn ha

- Nông nghiệp đóng góp không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu

Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 30,5 tỷ USD vào năm 2014 lànăm dấu ấn tăng trưởng ngoạn mục của ngành Nông nghiệp

Cả giai đoạn 2011-2015, kim ngạch xuất khẩu đã tăng mạnh, tổngkim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 140,6 tỷ USD, bình quân tăng 9%/năm Sovới năm 2010, tổng kim ngạch đã tăng từ 19,5 tỷ USD lên 30,38 tỷ USDnăm 2014 và 30,14 tỷ USD năm 2015, tăng 54,6% Có 10 mặt hàng đạt

Trang 6

kim ngạch xuất khẩu trên 1,0 tỷ USD (gạo, cà phê, cao su, cá tra, tôm, hạt điều,hạt tiêu, rau quả, sắn và đồ gỗ).

Việt Nam hiện có hàng chục mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực mangtầm vóc thế giới, trong đó xuất khẩu hạt tiêu đứng thứ nhất, gạo, cà phê, sắnđứng thứ hai, cao su đứng thứ tư, thủy hải sản đứng thứ năm, chè đứng thứ bảythế giới và nhiều mặt hàng khác nữa Năm 2010, Việt Nam mới chỉ có 18 thịtrường xuất khẩu đạt hơn 1 tỷ USD, nhưng đến năm 2015 đã tăng lên 28 thịtrường Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của các thị trường hơn 1 tỷ USD,chiếm gần 90% kim ngạch xuất khẩu chung cả nước

Mỗi năm Việt Nam xuất khẩu hơn 30 tỷ USD các mặt hàng nông lâm thuỷsản

- Một nền nông nghiệp hướng vào sản xuất hàng hóa đã bước đầu được hoàn thành

Cây công nghiệp lâu năm tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hóaphục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu nên cơ cấu cây trồng được thay đổi phùhợp với điều kiện canh tác của từng vùng Diện tích và sản lượng các loại cây cógiá trị xuất khẩu cao trong nước tăng lên trong giai đoạn này Ngoài ra, đã xuất hiệnnhững mô hình sản xuất đạt tiêu chuẩn quốc tế: mô hình sản xuất rau hữu cơ ở ĐàLat, mô hình sản xuất vải thiều Global Gap,…

- Nông nghiệp tạo việc làm cho một lượng lớn lao động.

Khu vực nông nghiệp đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàngtriệu lao động, tiếp tục là ngành chính tạo ra thu nhập cho người nghèo.Năm2015,trong tổng số 52,5 triệu lao động có việc làm của cả nước, lao động khuvực nông thôn chiếm khoảng 70,1% (tương ứng khoảng 36,8 triệu người) Tỷ sốviệc làm trên dân số của năm 2015 đạt 74,5% trong đó khu vực thành thị chỉ66,8% còn khu vực nông thôn là 78.4%

Năm 2015, khu vực nông, lâm, thủy sản chiếm 44,7% lao động mặc dùgiảm so với năm 2011 (chiếm 48,4%) lao động nhưng ngành nông, lâm, thủysản vẫn là nghành chủ chốt cung cấp việc làm lớn cho lao động qua các năm với

tỷ lệ lao động luôn ở mức cao, số lượng lao động có việc làm ở khu vực nàyluôn ở mức 23 đến 24 triệu người

- Xuất hiện một số mô hình sản xuất kiểu mới

Một nét mới trong phát triển nông nghiệp là đã xuất hiện một số mô hình tổchức sản xuất kiểu mới như kinh tế trang trại, cao su tiểu điền, cà phê nhân dân,

tổ hợp tác tự nguyện, hợp tác xã kiểu mới làm dịch vụ cho kinh tế hộ

Năm 2011, Theo kết quả tổng hợp sơ bộ của Ban Chỉ đạo Tổng điều tranông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản Trung ương , cả nước có 20.065 trang trại(tính theo tiêu chí mới) Trong đó, riêng đồng bằng sông Cửu Long và ĐôngNam bộ có tới 11.697 trang trại, chiếm 58,3% tổng số trang trại trong cả nước

Trang 7

Trung du và miền núi phía Bắc có số trang trại ít nhất, với 587 trang trại, chiếm

tỷ lệ 2,9% Ở khu vực này, trang trại chăn nuôi chiếm đa số, với 506 trangtrại.Do đặc điểm tự nhiên của nước ta không đồng đều nên tỷ lệ các loại hìnhkinh tế trang trại có sự phát triển khác nhau để tối ưu hoá hiệu quả hoạt động.Tính đến năm 2011, cả nước có 8.642 trang trại trồng trọt, chiếm 43% tổng sốtrang trại; 6.202 trang trại chăn nuôi, chiếm 30,9%; 4.443 trang trại nuôi trồngthuỷ hải sản, chiếm 22,1%; 737 trang trại tổng hợp, chiếm 3,7% và 51 trang trạilâm nghiệp, chiếm 0,3%

Năm 2015, trên địa bàn cả nước hiện có khoảng 29.500 trang trại Trong

đó, có 8.800 trang trại trồng trọt (chiếm 29,83%), 10.974 trang trại chăn nuôi(chiếm 37,20%), 430 trang trại lâm nghiệp (chiếm 1,46%), 5.268 trang trại thủysản (chiếm 17,86%) và 4.028 trang trại tổng hợp (chiếm 13,66%) Số lượngtrang trại đã tăng 9.433 trang trại so với năm 2011 Các trang trại phân bố nhiều

ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (6.911 trang trại, chiếm 30%) chủ yếu sảnxuất thủy sản và trái cây; Đông Nam Bộ (6.115 trang trại,chiếm 21%) chủ yếu làchăn nuôi; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (5.693 trang trại, chiếm20%) chủ yếu kinh doanh tổng hợp; Đồng bằng Sông Hồng (5.775 trangtrại,chiếm 19,5%) chủ yếu là chăn nuôi; Trung du và miền núi phía Bắc (2.063trang trại, chiếm 7%) chủ yếu là chăn nuôi và lâm nghiệp

Các trang trại trong cả nước đã tạo công ăn, việc làm thường xuyên cho gần

100 nghìn lao động và rất nhiều lao động có tính thời vụ, tạm thời ở các địaphương Cùng với việc giải quyết việc làm, kinh tế trang trại đã đóng góp khôngnhỏ vào sự phát triển chung của nền kinh tế Tổng thu từ sản xuất nông, lâmnghiệp và thuỷ sản của các trang trại đạt gần 39 nghìn tỷ đồng (chiếm khoảng6% giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản), bình quân 1942,5 triệu đồngmột trang trại Điểm đáng chú ý, tuy vùng trung du miền núi phía Bắc có sốtrang trại thấp nhất, nhưng tổng thu sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản bìnhquân một trang trại ở vùng này lại cao nhất, bình quân 2,868 tỷ đồng, tiếp đến làđồng bằng sông Hồng, với 2,519 tỷ đồng, đồng bằng sông Cửu Long là 1,54 tỷđồng và thấp nhất là Tây Nguyên, với 1,315 tỷ đồng Một kết quả tích cực khác,

đó là trong tổng giá trị sản phẩm và dịch vụ, tỷ suất sản phẩm hàng hoá do cáctrang trại bán ra chiếm tới 98,1%

Có thể khẳng định kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất tiên tiếncủa kinh tế hộ, mang lại hiệu quả cao cho sản xuất nông nghiệp do đó cần cóchính sách phát triển và từ 2011-2015, mô hình trang trại ngày càng phổ biến và

mở rộng hơn rất nhiều, đem đến nhiều lợi ích về việc giải quyết việc làm, tăngthu nhập, tăng xuất khẩu, góp phần tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này.Ngoài ra, Việt Nam có hơn mười nghìn hợp tác xã nông nghiệp với tổng sốthành viên tham gia khoảng 6,7 triệu người Ba năm sau khi Luật Hợp tác xãnăm 2012 có hiệu lực, thực tế triển khai tại nhiều địa phương cho thấy, các mô

Trang 8

hình hợp tác xã kiểu mới được thành lập và vận hành đã mang lại hiệu quả bướcđầu cho kinh tế hợp tác xã nói riêng và kinh tế tập thể nói chung Nhất là tronglĩnh vực nông nghiệp, mô hình này đang trở thành đòn bẩy, là yêu cầu tất yếucho nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa.Với nhiều mô hình hợp tác xã kiểu mớiđang hoạt động trên khắp cả nước, các hộ nông dân cùng nhau tham gia vào hợptác xã Họ cùng xây dựng kế hoạch, quy hoạch sản xuất xuất phát từ nhu cầu củathị trường Từ đó, các hộ nông dân sẽ tiếp tục sản xuất trên chính mảnh ruộngcủa mình theo quy hoạch Hợp tác xã sẽ đứng ra chịu trách nhiệm về cung ứnggiống, phân bón, các dịch vụ nông nghiệp khác và chịu trách nhiệm bao tiêu sảnphẩm cho các hộ nông dân, thành viên, xã viên của mình Đây là một nét mớiđáng ghi nhận trong tổ chức sản xuất nông nghiệp hiện nay.

2 Phân tích thực trạng phát triển của nông nghiệp Việt Nam (SWOT) 2.1Điểm mạnh

- Chính sách tạo thuận lợi cho nông nghiệp phát triển của Đảng và nhà nước

Trong những năm qua, hàng loạt chính sách và chủ trương mới tiếp tụcđược xây dựng và áp dụng, từng bước tạo điều kiện phát triển sản xuất hàng hóatheo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng ta đã có nghị quyết về

“Tam nông” để nâng cao thu nhập cho người nông dân, nâng cao cơ sở hạ tầngkhu vực nông thôn, cải thiện điều kiện sống, cải thiện dân trí

Các chính sách tiếp sức cho dân như cung cấp tín dụng, khuyến nông, hỗtrợ lãi suất vốn vay mua máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp

và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn Cụ thể: Ngân hàng Nhà nước đãban hành Thông tư quy định chi tiết thi hành việc hỗ trợ lãi suất vay vốn ngânhàng, thời hạn hỗ trợ lãi suất kể từ ngày giải ngân vốn vay để nông dân tăng giasản xuất

Ngoài chính sách hỗ trợ sản xuất, Chính phủ tiếp tục có các chính sách hỗtrợ tiêu thụ nông sản Nhiều loại nông sản có khối lượng hàng hóa lớn, khó tiêuthụ đã được hỗ trợ tạm trữ trong những thời điểm giá thế giới giảm hoặc khốilượng hàng hóa nhiều (cà phê, lúa gạo, muối) Vì vậy, trong năm các loại nôngsản đều được tiêu thụ kịp thời, là yếu tố quan trọng kích thích sản xuất pháttriển, tăng thu nhập cho nông dân

Không chỉ dừng lại ở đó, các chính sách cụ thể từ Chính phủ, Bộ Tài chính

đã góp phần khơi thông nguồn vốn chảy về khu vực nông nghiệp, nông thônmạnh mẽ hơn, tạo bộ mặt mới cho kinh tế địa phương như: Nghị định số61/2010/NĐ-CP ngày 4/6/2012 về khuyến khích doanh nghiệp (DN) đầu tư vàonông nghiệp, nông thôn; Thông tư số 84/2011/TT-BTC ngày 16/6/2011 hướngdẫn một số chính sách tài chính khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, nôngthôn… nhằm tạo sức hút mạnh mẽ đối với các DN thuộc mọi thành phần kinh tế,tăng cường sản xuất hàng hóa ở khu vực nông thôn để mang lại hiệu quả kinh tế-

Trang 9

xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn như tinh thần Nghịquyết 26/NQ-TW.

Các nhóm chính sách hướng vào bảo vệ sản xuất, phòng chống rủi ro, thiêntai đã tạo điều kiện sản xuất ổn định, hình thành môi trường phát triển vững bềncho đời sống kinh tế xã hội của cư dân nông thôn

Các chính sách cải cách tổ chức thể chế như phát triển kinh tế tư nhân, kinh

tế trang trại, kinh tế hợp tác, liên kết nông dân và doanh nghiệp, sắp xếp lạidoanh nghiệp nhà nước và nông lâm trường quốc doanh, góp phần tích cựcvào việc phát triển quan hệ sản xuất trong nông nghiệp nông thôn

Các nhóm chính sách xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn, phát huydân chủ cơ sở, đã tạo điều kiện thuận lợi để cư dân nông thôn phát huy vai tròlàm chủ, tạo cho họ điều kiện tiếp cận với các cơ hội hưởng lợi từ quá trình pháttriển của đất nước

Các nhóm chính sách hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo môi trường pháp lý đểphát huy lợi thế so sánh của nông lâm thuỷ sản Việt Nam trong cạnh tranh quốc

tế, thu hút đầu tư nước ngoài, tranh thủ sự viện trợ rộng rãi của quốc tế cho quátrình phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam

Hợp tác quốc tế của ngành NN-PTNT đã đạt được nhiều thành tựu tronggiai đoạn 2011 - 2014: năm 2014, Bộ NN&PTNT đã phê duyệt và ký kết đượchơn 30 dự án gồm ODA vốn vay và không hoàn lại với tổng giá trị trên 400 triệuUSD, trong đó có một số dự án lớn như: Phát triển nông thôn tổng hợp các tỉnhmiền Trung (khoản vay bổ sung giai đoạn 2) với số vốn 92,5 triệu USD; dự ánPhát triển Nông nghiệp có tưới (WB7) khoảng 200 triệu USD…

Về lĩnh vực hợp tác phi chính phủ nước ngoài (PCPNN), Bộ đã phê duyệt

22 dự án và hợp tác nghiên cứu nguồn viện trợ PCPNN với tổng kinh phí hơn 7triệu USD So với năm 2013, tổng giá trị các dự án PCPNN năm 2014 tăng 1,5lần

Song song với đó, Bộ NN&PTNT còn tập trung xây dựng nghiên cứu quyđịnh và pháp luật, hàng rào thuế và phi thuế, cam kết quốc tế của Hoa Kỳ, NhậtBản, châu Âu theo nhóm ngành hàng Từng bước nghiên cứu các cam kết quốc

tế hiện có của Việt Nam và quy định hiện hành, giúp bổ sung thông tin để xâydựng năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam Đồng thời,triển khai thực hiện đầy đủ cam kết của Việt Nam trong WTO và các FTA khuvực Đánh giá tác động của việc thực hiện các cam kết tới khu vực nông nghiệp,nông thôn để hỗ trợ doanh nghiệp, nông dân tìm kiếm và mở rộng thị trường,đồng thời có phương án chủ động trong bối cảnh hội nhập sâu

- Áp dụng khoa học công nghệ góp phần thúc đẩy sản xuất

Khoa học công nghệ mới đã ứng dụng trong nông nghiệp Trong đó có thể

kể đến:

Trang 10

Chương trình giống mới đã có hiệu quả lớn, góp phần đáng kể làm tăngnăng suất và chất lượng của nông nghiệp trong những năm qua.

+ Đến nay, đã có trên 90% diện tích lúa, 80% diện tích ngô, 60% diện tíchmía, bông, cây ăn quả, được dùng giống mới Khoảng gần 90% giống câytrồng, vật nuôi được chọn tạo, đưa tỷ trọng áp dụng giống tiến bộ kỹ thuật trongsản xuất nông nghiệp lên 35% Áp dụng các quy trình canh tác tiên tiến, chươngtrình “3 giảm, 3 tăng”, canh tác bền vững, phòng trừ tổng hợp IPM, sản xuấttheo quy trình GAP

+ Trong chăn nuôi sử dụng giống mới vào sản xuất nên năng suất, chấtlượng sản phẩm thịt, trứng, sữa được nâng cao Trọng lượng lợn hơi xuấtchuồng bình quân tăng 30 kg/con

+Trong ngành thuỷ sản đã đưa vào sản xuất một số loài thuỷ sản có giá trịkinh tế cao Nhiều cơ sở chế biến thuỷ sản đạt trình độ công nghệ hiện đại so vớimột số nước trong khu vực.Lâm nghiệp cung cấp 60% giống tiến bộ kỹ thuậtcho trồng rừng kinh tế Tỷ lệ thành rừng đối với rừng trồng từ dưới 50% lên80%, nhiều nơi năng suất rừng trồng đã đạt 15 - 20m3/ha/năm

Trong bối cảnh giá ngày công lao động ngày càng tăng, tỷ lệ cơ giới hóatăng nhanh trong mọi khâu sản xuất nông nghiệp, trước hết từ các khâu tốnnhiều lao động trong ngành trồng trọt như gặt đập, tưới tiêu, vận tải, làm đất.Cùng với mức phát triển của hệ thống điện nông thôn, tỷ lệ áp dụng máy mócthiết bị cơ giới và điện trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, xây dựng thủy lợingày càng tăng

Bộ Nông nghiệp và PTNT tiến hành phổ biến rộng rãi và áp dụngVietGAP cho 3 đối tượng thủy sản chủ lực là cá tra, tôm sú, tôm thẻ chân trắngtrong sản xuất giống và nuôi thương phẩm Bên cạnh đó, công nghệ Israel cũngđược phổ biến rộng rãi, nông dân áp dụng khá nhiều trong sản xuất nông sản,cây ăn trái: nhãn, vải, thanh long, sầu riêng… xuất sang thị trường Châu Âu,Châu Mỹ

Không dừng lại ở đó, để tăng cường tiếp cận khoa học tiên tiến thế giới,những năm nay, rất nhiều cán bộ quản lý và nông dân được cử đi học tập kinhnghiệm, cách thức quản lý, kỹ thuật tại những nước có thế mạnh về nông nghiệpcông nghệ cao như Israel, Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia và Trung Quốc để khi

về nước áp dụng, sản xuất nông nghiệp Ngoài học hỏi các mô hình nông nghiệphiệu quả của các nước, nông dân và cán bộ quản lý nông nghiệp còn tham giahoạt động xúc tiến thương mại nông sản nhằm phát triển nguồn nhân lực laođộng nông nghiệp chất lượng cao, góp phần phát triển nông nghiệp thành phốtheo hướng bền vững

- Người nông dân cần cù, chịu khó

Nền sản xuất nông nghiệp bằng lao động chân tay rất nặng nhọc, vất vảquanh năm “một nắng hai sương”, “cày sâu cuốc bẫm”, không những thế còn

Trang 11

phải khẩn trương cho phù hợp với thời tiết, nhất là đối với cây lúa nước, mưanhiều thì ngập úng, nắng nhiều thì hạn hán đều dẫn đến mất mùa Nền sản xuấtnông nghiệp Việt Nam là nền nông nghiệp đa canh, thâm canh, xen canh gối vụphù hợp với thời tiết nóng ẩm của vùng nhiệt đới gió mùa Trải qua hàng ngànnăm, người nông dân Việt Nam đã chọn lựa, lai tạo hàng ngàn giống cây trồng(cây lấy hạt, cây ăn quả, cây lấy sợi, cây làm thuốc ) và tích luỹ một kho tàngtri thức bản địa (tri thức truyền thống) công nghệ truyền thống về trồng cấy,chăn nuôi, chế biến lương thực, thực phẩm Những tri thức, kinh nghiệm khaihoang, cải tạo đất, làm thuỷ lợi, chống lại sâu bệnh, v.v chính là kết quả củatinh thần cần cù, thông minh, sáng tạo của nhân dân ta đã tích lũy.

- Điều kiện tự nhiên ưu đãi, cho phép nước ta phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới đa dạng

Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, rất thích hợp cho việctrồng lúa nước, khí hậu phân hóa rõ rệt cho phép đa dạng hóa cơ cấu cây trồng,

áp dụng các biện pháp thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ giữa cácvùng: Ở trung du và miền núi, thế mạnh là các cây lâu năm và chăn nuôi gia súclớn, ở đồng bằng, thế mạnh là các cây trồng ngắn ngày, thâm canh, tăng vụ vànuôi trồng thuỷ sản

Địa hình nhiều sông ngòi, bồi đắp phù sa cho khu vực hạ lưu, hình thànhcác vùng đồng bằng, đặc biệt là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông CửuLong Đối với đồng bằng sông Hồng,diện tích đất nông nghiệp khoảng 760.000

ha, trong đó 70% là đất phù sa màu mỡ, có giá trị lớn về sản xuất nông nghiệp.Đất nông nghiệp chiếm 51,2% DT vùng Đất đai của vùng rất thích hợp chothâm canh lúa nước, trồng màu và các cây công nghiệp ngắn ngày Vùng có diệntích trồng cây lương thực đứng thứ 2 trong cả nước với diện tích đạt 1242,9nghìn ha Khả năng mở rộng diện tích của đồng bằng vẫn còn khoảng 137 nghìn

ha Quá trình mở rộng diện tích gắn liền với quá trình chinh phục biển thông qua

sự bồi tụ và thực hiện các biện pháp quai đê lấn biển theo phương thức “lúa lấncói, cói lấn sú vẹt, sú vẹt lấn biển”

Đối với đồng bằng sông Cửu Long, tổng diện tích khoảng 3,96 triệu ha,trong đó khoảng 2,60 triệu ha được sử dụng để phát triển nông nghiệp và nuôitrồng thuỷ sản chiếm 65% Trong quỹ đất nông nghiệp, đất trồng cây hàng nămchiếm trên 50%, trong đó chủ yếu đất lúa trên 90% Đất chuyên canh các loạicây màu và cây công nghiệp ngắn ngày khoảng 150.000 ha, đất cây lâu nămchiếm trên 320.000 ha, khoảng 8,2% diện tích tự nhiên.Vùng bãi triều có diệntích khoảng 480.000 ha, trong đó gần 300.000 ha có khả năng nuôi trồng thuỷsản nước mặn, nước lợ

2.2 Điểm yếu

- Cơ cấu nông nghiệp chậm chuyển dịch, còn tồn tại nhiều yếu tố mất cân đối

Trang 12

Cơ cấu giữa trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ trong ngành nông nghiệpkhông có thay đổi lớn, tỷ trọng ngành trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng lớn sau đóđến chăn nuôi và thấp nhất là dịch vụ nông nghiệp Tỷ trọng dịch vụ nôngnghiệp chiếm tỷ trọng thấp cho thấy ngành nông nghiệp nước ta chưa phát triểncác hoạt động dịch vụ phục vụ nông nghiệp như: giống mới, phân bón, bảo vệcây trồng, thú y, tiếp thị, tín dụng,… để nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi

và giá trị gia tăng của sản phẩm làm ra Thực tế cũng chứng minh rằng ViệtNam vẫn nặng về sản xuất lúa gạo, cây công nghiệp như cà phê, cao su,…chănnuôi chưa trở thành ngành sản xuất chính, mức độ áp dụng khoa học kỹ thuật vàcác phương pháp sản xuất tiên tiến còn ít nên chưa khai thác đầy đủ tiềm năngđất đai, nguồn nước, khí hậu và các điều kiện tự nhiên tại các vùng sản xuất.Hiện nay, nông dân Việt Nam vẫn chiếm số lượng đông đảo Tuy nhiên ruộngđất lại có hạn và không tăng thêm Do vậy, càng đòi hỏi việc mở rộng và pháttriển các ngành nghề công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn để tạo công ăn việclàm cho người nông dân Nhưng thực trạng lại cho thấy hiện nay các hình thứccông nghiệp và dịch vụ ở nông thôn vẫn chưa thực sự phát triển để đáp nhu cầuứng công việc cho những người sống ở nông thôn

Từ khi có Luật Doanh nghiệp 2014, số lượng các cơ sở sản xuất côngnghiệp nông thôn đã tăng đáng kể Tuy nhiên, kết cấu kinh tế ở nông thôn vẫnchủ yếu là thuần nông, các hoạt động phi nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủcông nghiệp còn chiếm tỷ lệ nhỏ Doanh nghiệp ở nông thôn, kể cả doanhnghiệp sản xuất và kinh doanh, đều có quy mô nhỏ Nhìn chung công nghệ lạchậu, trình độ quản lý thấp, tay nghề lao động yếu, những bất lợi về kết cấu hạtầng, dịch vụ phục vụ sản xuất khiến cho khả năng cạnh tranh của các đơn vịnày rất yếu Có lẽ đây là nguyên nhân chính khiến cho tỷ lệ đầu tư tư nhân vàđầu tư nước ngoài vào nông thôn rất thấp Đầu tư của tư nhân trong nước vàokhu vực nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 15% tổng số đầu tư mới hàng năm, FDIcũng chỉ chiếm dưới 5%

Bảng 8: Cơ cấu các ngành trong nông nghiệp

Ngày đăng: 13/04/2018, 10:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w