1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã hồng kỳ huyện sóc sơn thành phố hà nội (2014)

69 421 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 900,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT CAP : Viêm phổi mắc phải cộng đồng Community Acquired Pneumonia CBCC : Cán bộ công chức CBYT : Cán bộ y tế HĐND : Hội đồng nhân dân NC : Nghiên cứu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

**********

NGUYỄN THỊ THUẬN

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM KHUẨN

HÔ HẤP CẤP TÍNH Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI TẠI XÃ HỒNG KỲ - HUYỆN SÓC SƠN –

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này, được sự giúp đỡ, chỉ bảo

tận tình của TS Trần Thị Phương Liên, tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận với đề tài: “Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại xã Hồng Kỳ - huyện Sóc Sơn – thành phố Hà Nội”

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Trần Thị Phương Liên, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; chính quyền địa phương xã Hồng Kỳ, các cán bộ y tế xã, nhân viên y tế thôn và nhân dân các thôn 1, 2, 4, 5, 8 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thị Thuận

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong khóa luận là trung thực Đề tài của tôi chƣa đƣợc công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thị Thuận

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình NKHHCT ở trẻ em trên Thế giới và Việt Nam 3

1.1.1 Tình hình NKHHCT ở trẻ em trên Thế giới 3

1.1.2 Tình hình NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam 4

1.2 Nhiễm khuẩn hô hấp cấp là gì? 5

1.2.1 Đặc điểm hệ hô hấp của trẻ em[12] 5

1.2.2 Khái niệm NKHHCT 5

1.2.3 Nguyên nhân và các yếu tố thuận lợi gây NKHHCT[11] 6

1.2.4 Đánh giá và phân loại nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi 8

1.2.5 Xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi[12] 10

1.2.6 Các biện pháp phòng bệnh [18] 10

1.3.Khái quát về xã Hồng Kỳ[1] 12

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 16

2.2 Phương pháp nghiên cứu 16

2.2.1 Phương pháp chọn mẫu 16

2.2.2 Chỉ số nghiên cứu 16

2.3 Phương pháp thu thập và xử lí số liệu 17

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 18

Trang 5

3.1.Tình hình hiện mắc NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Hồng Kỳ 18

3.2 Phân bố tỉ lệ NKHHCT theo các yếu tố liên quan 21

3.3.Bàn luận 29

KẾT LUẬN 36

KIẾN NGHỊ 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37 PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

PHỤ LỤC 3

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CAP : Viêm phổi mắc phải cộng đồng

(Community Acquired Pneumonia)

CBCC : Cán bộ công chức

CBYT : Cán bộ y tế

HĐND : Hội đồng nhân dân

NC : Nghiên cứu

NKHH : Nhiễm khuẩn hô hấp

NKHHCT : Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

THCS : Trung học cơ sở

THPT : Trung học phổ thông

WHO : Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Tỉ lệ mắc NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi

Bảng 2: Phân bố tỉ lệ mắc NKHHCT của trẻ dưới 5 tuổi theo giới tính

Bảng 3: Phân bố tỉ lệ mắc NKHHCT của trẻ dưới 5 tuổi theo nhóm tuổi

Bảng 4: Phân bố tỉ lệ mắc NKHHCT của trẻ dưới 5 tuổi theo trình độ học vấn

Bảng 8: Phân bố tỉ lệ NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi giữa các thôn 1, thôn 2, thôn

4, thôn 5, thôn 8 (năm 2013)

Bảng 9: Phân bố tỉ lệ mắc NKHHCT của trẻ dưới 5 tuổi theo tuổi của mẹ Bảng 10: Thái độ của bà mẹ với NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi

Bảng 11: Cách xử trí của bà mẹ khi trẻ mắc bệnh NKHHCT

Bảng 12: Hiểu biết của bà mẹ về biện pháp xử trí bệnh NKHHCT cho trẻ Bảng 13: Hiểu biết của bà mẹ trong việc chăm sóc trẻ tại nhà

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Tỉ lệ mắc NKHHCT ở trẻ

Biểu đồ 2: Phân bố tỉ lệNKHHCT theo nhóm tuổi

Biểu đồ 3: Phân bố tỉ lệNKHHCT theo trình độ học vấn của mẹ

Biểu đồ 4: Phân bố tỉ lệ NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi giữa các thôn 1, thôn

2, thôn 4, thôn 5, thôn 8 (năm 2013)

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” Thật vậy, trẻ em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước Ngày nay, cùng với sự phát triển của đất nước trẻ em ngày càng được chăm sóc và bảo vệ để phát triển một cách toàn diện

Để thực hiện tốt việc chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe cho trẻ đòi hỏi giáo viên mầm non, các nhà chuyên môn và cả các bậc cha mẹ cần có những hiểu biết về đặc điểm sinh lí, bệnh lí và tâm vận động của các thời kì phát triển của cơ thể trẻ Cần trang bị những kiến thức, kĩ năng cơ bản về bệnh của trẻ em để đảm bảo an toàn, phòng tránh tai nạn, biết phát hiện sớm,

xử lí bước đầu và chăm sóc khi trẻ bị ốm

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là một loại bệnh phổ biến có tỉ lệ mắc và

tử vong cao ở trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi Theo số liệu của Tổ chức

Y tế Thế giới (WHO), mỗi trẻ trung bình trong một năm mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp từ 4 – 9 lần, ước tính trên toàn cầu có khoảng 2 tỉ lượt trẻ mắc NKHHCT, trong đó khoảng 40 triệu lượt là viêm phổi[15]

Hiện nay, ở Việt Nam có khoảng 8 triệu trẻ dưới 5 tuổi Như vậy ước tính mỗi năm sẽ có từ 32 đến 40 triệu lượt trẻ mắc NKHHCT và từ 22 đến 24 nghìn trẻ tử vong do viêm phổi[7] Bệnh NKHHCT có thể mắc nhiều lần trong 1 năm, vì vậy đây cũng là nguyên nhân chính làm giảm năng suất lao động của cha mẹ cũng như hao tốn không nhỏ về vật chất trong việc phòng và trị bệnh cho trẻ hàng năm cho trẻ Bệnh NKHHCT có thể được phân loại theo các cách khác nhau và biểu hiện cũng ở các mức độ khác nhau Mức độ nhẹ chăm sóc tại nhà, nếu nặng cần được điều trị tại cơ sở y tế, nếu không chữa trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong

Trang 10

Nguyên nhân gây NKHHCT nói chung và viêm phổi nói riêng chủ yếu

là do virut, vi khuẩn Ngoài ra, do tác động của các yếu tố nguy cơ như: thay đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường; điều kiện nhà ở chật chội, trong gia đình sử dụng bếp củi, bếp than, gia đình có người hút thuốc; hay do yếu tố nội sinh như trẻ sinh ra thiếu tháng, nhẹ cân, trẻ suy dinh dưỡng… đều là nguy cơ làm tăng

Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Hồng Kỳ – huyện Sóc Sơn – thành phốHà Nội”

2 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Hồng Kỳ -

huyện Sóc Sơn – thành phố Hà Nội

- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi

tại xã Hồng Kỳ - huyện Sóc Sơn – thành phố Hà Nội

3 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Trẻ em dưới 5 tuổi và các bà mẹ có con nhỏ dưới 5 tuổi tại xã Hồng Kỳ - huyện Sóc Sơn – thành phố Hà Nội

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình NKHHCT ở trẻ em trên Thế giới và Việt Nam

1.1.1 Tình hình NKHHCT ở trẻ em trên Thế giới

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là một bệnh rất phổ biến ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, nhất là với các nước đang phát triển Bệnh cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm trên toàn cầu có khoảng 15 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết, trong đó bệnh viêm phổi chiếm 35%, tiêu chảy 22%, còn lại là các nguyên nhân khác[12]

Ước tính mỗi trẻ em trung bình trong 1 năm mắc NKHHCT từ 4 -9 lần Đặc biệt, tại khu vực Đông nam Á trẻ em dưới 5 tuổi tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp là nguyên nhân cao nhất (25%) trong các nguyên nhân tử vong ở trẻ[6]

Theo Rudan I (2005), ước lượng tỉ lệ viêm phổi ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn cầu trong các nghiên cứu dựa vào cộng đồng cho thấy: Tỉ lệ mới mắc các đợt viêm phổi ở các nước đang phát triển là 0,29 đợt/năm/trẻ; tại các nước phát triển là 0,026 đợt/năm/trẻ Và trên 95% các đợt viêm phổi ở trẻ em trên Thế giới xảy ra ở các nước đang phát triển[16] Năm 2004, Michael Ostapchuk và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tình hình viêm phổi mắc phải

ở cộng đồng Châu Âu và Bắc Mĩ cho thấy viêm phổi mắc phải cộng đồng (Community Acquired Pneumonia – CAP) là một trong những nhiễm khuẩn phổ biến nhất ở trẻ em với số mới mắc phải hàng năm là từ 34 – 40 ca trên

1000 trẻ[13] Mặc dù tử vong do CAP là hiếm gặp ở các nước công nghiệp phát triển nhưng lại là bệnh phổ biến nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển Không những tỉ lệ mắc bệnh cao mà bệnh còn gây tử vong cao[14].Nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp tính là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em tại các nước đang phát triển[13]

Trang 12

1.1.2 Tình hình NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam

Hiện nay, viêm phổi vẫn là nguyên nhân tử vong cao nhất (31,3%) trong tổng số các nguyên nhân gây tử vong trẻ em, cao gấp 6 lần so với trẻ tử vong do tiêu chảy (5,1%) Nguyên nhân trẻ không được chăm sóc y tế trước khi tử vong hoặc tử vong trước 24 giờ tại bệnh viện cao là vì các bà mẹ không phát hiện được dấu hiệu của bệnh, hoặc khi trẻ mắc bệnh không được chữa trị đúng đắn đến khi bệnh nặng chuyển tới bệnh viện thì bệnh đã quá nặng

Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Hữu Kỳ (2003) đã tiến hành nghiên cứu tình hình và một số yếu tố nguy cơ chủ yếu của NKHHCT trẻ em dưới 5 tuổi tại Thùy Dương – Hương Thủy – Thừa Thiên Huế cho thấy: Tỉ lệ mắc NKHHCT tại cộng đồng ở đây còn cao (39,7%), vượt trội hơn so với bệnh khác cùng thời điểm nghiên cứu và tăng cao ở nhóm trẻ dưới 1 tuổi, tỉ lệ NKHHCT ở trẻ dưới 1 tuổi là 53,3%; 2 đến 3 tuổi là 35,9% và trẻ 4 đến 5 tuổi

là 28,3% Tần suất mắc NKHHCT cao nhất từ 4 – 6 lần/năm chiếm 47,5% từ

3 lần trở xuống/năm chiếm 36,4% trên 6 lần/năm chiếm 16,9% [17]

Theo niên giám thống kê Y tế năm 2007 cho thấy: Viêm phổi đứng đầu trong 10 bệnh mắc cao nhất trong toàn quốc[8]

Năm 2007, Bệnh viện Lao và Bệnh viện phổi Trung ương, Dự án NKHHCT trẻ em đã tổ chức Hội thảo “Triển khai kế hoạch hoạt động dự án NKHHCT trẻ em các tỉnh trọng điểm năm 2007 và giai đoạn 2007 – 2010” cho thấy tình hình mắc NKHHCT ở trẻ các tỉnh miền núi là cao nhất (62,8%), sau đó đến các tỉnh miền trung (42,9%), đồng bằng tỉ lệ mắc bệnh ít hơn (34,8%) Còn đối với tình hình tử vong ở trẻ do NKHHCT thì miền núi (0,28%) cao hơn so với đồng bằng (0,06%) [2]

Như vậy, qua một số nghiên cứu ở trên Thế giới và Việt Nam cho thấy, tình hình mắc và tử vong do NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi ở các nước đang phát

Trang 13

triển nói chung và ở nước ta nói riêng còn cao Tuy nhiên, còn ít nghiên cứu đề cập tới tình hình mắc bệnh và tử vong do NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi tại các khu vực nông thôn Vì vậy đây là vấn đề cần quan tâm nghiên cứu và đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm giảm tình trạng nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em

1.2 Nhiễm khuẩn hô hấp cấp là gì?

1.2.1 Đặc điểm hệ hô hấp của trẻ em[12]

Hệ hô hấp của trẻ em kể từ mũi đến phế nang được chia làm 2 phần: Đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới, được giới hạn bởi nắp thanh quản

Về sinh lí, hệ hô hấp có chức năng quan trọng trong việc giúp cơ thể hít thở khí trời để hấp thụ O2 thải CO2 Hô hấp trên chuẩn bị điều kiện để phần hô hấp dưới hoàn thành tốt chức năng: mũi và các cuống mũi có tổ chức cương, tự động điều chỉnh diện tích tiếp xúc với khí thở vào, nên không khí vào phổi đã

ấm bằng thân nhiệt cho dù không khí ngoài trời ở nhiệt độ nào Cũng nhờ hệ mạch và tổ chức cương ở mũi, không khí vào phổi đã được bão hòa hơi nước, tạo điều kiện cho đường thở loại bỏ được vi khuẩn, virut, bụi ra khỏi phổi Mỗi khi uống nước hay có vật gì va chạm vào thanh quản thì hình thành phản xạ ho bật ra làm cho dị vật không rơi vào khí quản và phổi được

Ở họng có hệ thống limphô bao gồm các amidan vòm họng(VA), vòi nhĩ, đáy lưỡi, khẩu cái(Amidan) và nhiều tổ chức limphô rải rác ở niêm mạc họng, đó là hệ thống miễn dịch, có vai trò làm tăng khả năng miễn dịch cho

cơ thể mỗi khi “va chạm” với virut và vi khuẩn, biểu hiện bằng các đợt viêm mũi họng cấp tính tái diễn nhiều lần ở trẻ Đường thở trên ngoài chức năng hô hấp còn có chức năng ngửi, nghe, nói, khi chúng bị rối loạn cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của con người

1.2.2 Khái niệm NKHHCT

Hệ hô hấp bao gồm từ mũi xuống họng, thanh quản, khí quản, phế quản

và phổi - có chức năng thu nhận không khí từ bên ngoài vào để cung cấp oxy

Trang 14

cho cơ thể, đồng thời thải khí cacbonic ra ngoài Vì thế bộ mày hô hấp đóng vai trò quan trọng trong cơ thể sống Người ta có thể nhịn ăn trong nhiều ngày, nhưng không thể nhịn thở được dù trong vài phút Khi bị NKHHCT, nghĩa là trẻ bị viêm nhiễm ở bất cứ phần nào của đường hô hấp như: bị viêm

ở mũi họng, thanh quản, khí quản, phế quản; trong đó đặc biệt viêm phổi là bệnh nguy hiểm nhất Tai cũng là một bộ phận của đường hô hấp và thông với họng, vì vậy những bệnh viêm nhiễm ở tai cũng được xếp vào các bệnh NKHHCT[12]

1.2.3 Nguyên nhân và các yếu tố thuận lợi gây NKHHCT

1.2.3.1 Nguyên nhân[11]

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em là do virut và vi khuẩn Nhưng phần lớn là do virut vì đa số virut có ái lực với đường hô hấp, khả năng lây lan của virut dễ dàng, tỉ lệ người lành mang virut cao, khả năng miễn dịch với virut yếu và ngắn Các virus thường gặp như virus hợp bào đường hô hấp,

virus cúm, Adenovirus, virus sởi…

Do vi khuẩn: Ở các nước đang phát triển, vi khuẩn vẫn là nguyên nhân quan trọng gây nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em Các vi khuẩn thường gặp

như: liên cầu, tụ cầu, phế cầu, Hemophilus, Influenza….Đặc biệt là liên cầu

Beta tan huyết nhóm A gây nhiều biến chứng nguy hiểm Những vi khuẩn được coi là nguyên nhân chính gây viêm phổi nặng ở trẻ em, bao gồm

Streptococcus pneumonia, Staphylococcus aureus, Haemophylus influenza

Một số ít trường hợp do nhiễm kí sinh trùng, hoặc do nấm Candida

albicans gây nên

Virut nguy hiểm gần đây đối với trẻ em là H5N1 gây nên hội chứng hô hấp cấp tính nặng là một bệnh đường hô hấp gây tử vong cao, do một loại

virus thuộc chủng Coronavirus gây nên

Các vi khuẩn và virus sống ở mũi, họng gặp điều kiện thuận lợi sẽ gây bệnh

Trang 15

1.2.3.2 Các yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của bệnh[18]

Có rất nhiều yếu tố thuận lợi tạo điều kiện cho sự phát triển của bệnh:

- Do dinh dưỡng không hợp lí: dẫn đến sức đề kháng của trẻ giảm, trẻ

dễ mắc các bệnh nhiễm trùng và nhiễm trùng là nguyên nhân chính gây ra suy dinh dưỡng Do đó dinh dưỡng không hợp lí và nhiễm trùng là một vòng khép kín làm tăng tỉ lệ tử vong ở trẻ Trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn trẻ được nuôi bằng sữa mẹ

- Yếu tố tuổi và cân nặng: trẻ càng nhỏ càng dễ mắc bệnh Đặc biệt là trẻ đẻ non, đẻ thiếu cân có nguy cơ mắc bệnh cao hơn và khi mắc thường rất nặng, dễ dẫn đến tử vong

- Yếu tố môi trường:

+ Ô nhiễm không khí: không khí có nhiều khói bụi dễ gây bệnh Trong các hộ gia đình khói đun bếp củi, bếp than, khói thuốc lá cũng là nguy cơ làm tăng thêm nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em

+ Điều kiện sinh hoạt thiếu thốn: nhà ở chật trội, tối tăm, điều kiện vệ sinh kém Đặc biệt là ở các vùng đông dân cư, các vùng đô thị, trường học, nhà trẻ là nơi dễ lây lan bệnh

+ Phơi nhiễm với lạnh và ẩm ướt cũng là một yếu tố nguy cơ làm tăng nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ

Thời tiết, khí hậu lạnh, đặc biệt là khi thời tiết thay đổi đột ngột làm mất nhiệt trên da gây phản ứng co mạch, lần lượt là bàn chân, bàn tay, mặt, toàn thân Ở trẻ em, diện tích da so với cơ thể lớn hơn ở người lớn cho nên trẻ

dễ bị nhiễm lạnh hơn, dẫn đến dễ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

- Ngoài ra, do cán bộ y tế chưa thực hiện xử trí đúng trẻ mắc NKHHCT theo phác đồ quy định, đặc biệt là việc sử dụng thuốc kháng sinh Hơn nữa, hiểu biết về các dấu hiệu, cách chăm sóc NKHHCT trẻ em của cộng đồng nói chung và bà mẹ có con dưới 5 tuổi nói riêng còn nhiều hạn chế Do đó, các bà

mẹ hoặc người chăm sóc trẻ phát hiện các dấu hiệu của bệnh chậm nên khi trẻ

Trang 16

được chuyển đến cơ sở y tế thì đã trong tình trạng bệnh rất nặng Nhiều bà mẹ còn tự ý cho trẻ uống kháng sinh mà không có chỉ định của cán bộ y tế

1.2.4 Đánh giá và phân loại nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi

1.2.4.1 Dựa trên các tác nhân gây bệnh[18]

- NKHHCT do virus: Có tiên lượng khả quan, ngoại trừ một số bệnh

nặng hơn như viêm tiểu phế quản cấp, viêm phổi do adenovirut ở trẻ nhỏ, có

thể dẫn đến tử vong, đa số các trường hợp này không cần đến kháng sinh

- NKHHCT do vi khuẩn: Phần lớn đều nguy hiểm và cần đến kháng sinh Đặc biệt là viêm phổi do tụ cầu vàng, viêm nắp thanh quản do

Trang 17

Ngưỡng nhịp thở nhanh theo tuổi:

* Đối với trẻ từ 2 đến 5 tháng tuổi:

Thể viêm phổi nặng khi trẻ có 2 triệu chứng: ho, rút lõm lồng ngực, tím tái, trẻ mệt mỏi, quấy khóc Ngoài ra, trẻ có thể sốt trên 38,50

C, nhịp thở nhanh hoặc không

Thể bệnh rất nặng: thể này có thể do nhiều nguyên nhân gây nên hoặc

do hậu quả của nhiều bệnh, trong đó phần lớn là do nhiễm khuẩn đường hô hấp gây nên Trẻ được phân loại vào thể bệnh này khi có một trong các dấu hiệu sau: li bì khó đánh thức, co giật, không uống được, thở rít khi nằm yên, suy dinh dưỡng nặng

* Đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi:

Thể viêm phổi nặng khi có 2 dấu hiệu chính: ho, nhịp thở nhanh hoặc rút lõm lồng ngực Lứa tuổi này khác với trẻ từ 2 đến 5 tháng tuổi, chỉ cần trẻ

có nhịp thở nhanh thì đã có thể phân loại là trẻ bị viêm phổi nặng

Thể hiên bệnh rất nặng khi có một trong các dấu hiệu sau: trẻ bú kém hoặc bỏ bú, co giật, li bì khó đánh thức, khò khè, thở rít khi nằm yên, sốt cao hoặc hạ nhiệt độ

1.2.4.3 Phân loại dựa trên vị trí giải phẫu học của tổn thương[18]

* Nhiễm khuẩn hô hấp trên cấp tính

Bao gồm những bệnh lí viêm nhiễm trên thanh quản:

- Viêm mũi họng cấp

Trang 18

- Viêm họng cấp và viêm họng- amidan cấp

- Viêm xoang cấp

- Viêm tai giữa cấp

* Nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp tính

Bao gồm những bệnh lí viêm nhiễm từ thanh quản trở xuống:

- Viêm thanh quản do virus hoặc bạch hầu

- Viêm nắp thanh quản do H.infuenzae

- Viêm thanh khí phế quản cấp

- Viêm phổi các loại

- Viêm tiểu phế quản cấp

1.2.5 Xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi[12]

* Thể nhẹ:

- Không dùng kháng sinh, chăm sóc tại nhà và điều trị triệu chứng (để trẻ nằm nơi thoáng mát, giữ không để trẻ bị lạnh và gió lùa, mặc quần áo rộng rãi để trẻ dễ thở)

- Ăn đủ chất, uống đủ nước (nước sôi để nguội hoặc nước hoa quả)

Thông thoáng mũi họng cho trẻ dễ thở (lau chùi mũi, nhỏ agryrol vào mũi

ngày 2- 3 lần) Giảm ho bằng mật ong, ho bổ phế hoặc thuốc nam

Trang 19

1.2.6.1 Đảm bảo việc nuôi con bằng sữa mẹ

Ngay từ khi trẻ mới ra đời, cần cho trẻ bú sớm để tận dụng nguồn kháng thể rất cao từ sữa non giúp trẻ tăng sức đề kháng để phòng chống một

số nhiễm khuẩn Cần đảm bảo cho trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, trẻ bú mẹ theo nhu cầu và bú kéo dài cho đến 18 hoặc 24 tháng, hoặc có thể bú lâu hơn tùy thuộc vào sức khỏe của người mẹ cũng như tình trạng sức khỏe của trẻ để trẻ tiếp nhận đầy đủ dinh dưỡng, giúp trẻ phát triển tốt về thể chất, thông minh và có đầy đủ sức đề kháng để chống lại bệnh tật

1.2.6.2 Đảm bảo cho trẻ ăn bổ sung hợp lí

Khi xây dựng khẩu phần ăn cho trẻ cần đảm bảo đúng nguyên tắc: Cho trẻ ăn từ ít đến nhiều, từ loãng đến đặc để trẻ thích nghi dần với thức ăn mới lạ

Cần đảm bảo hợp lí về thời gian và chế độ: Phải thực hiện cho trẻ ăn đầy đủ các thành phần như trong ô vuông thức ăn, thực hiện phương pháp “ tô màu bát bột” để trẻ có chế độ dinh dưỡng hợp lý, để trẻ phát triển toàn diện về thể chất cũng như trí tuệ

1.2.6.3 Đảm bảo vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường sạch sẽ

Không nên đun bếp gần phòng, đặc biệt là không sử dụng bếp than, bếp củi; không xây chuồng nuôi gia súc, gia cầm gần nhà;không hút thuốc lá trong phòng nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ Giữ vệ sinh nhà cửa thoáng mát, sạch sẽ

Rác và nước thải sinh hoạt cần xử lí triệt để, không thải bừa bãi ra môi trường Khuyến khích phân loại rác để tái chế

1.2.6.4 Giữ ấm

Cần giữ ấm cho trẻ về mùa đông hoặc khi thời tiết thay đổi để trẻ không bị nhiễm lạnh Về mùa hè, nên giữ cho trẻ thoáng mát, tránh ra nhiều

Trang 20

mồ hôi dẫn đến trẻ dễ bị nhiễm lạnh trở lại Đó là một trong những yếu tố thuận lợi và phổ biến gây nên bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em

1.2.6.5 Tiêm chủng

Tiêm chủng cho trẻ đầy đủ và đúng lịch để giúp trẻ tăng sức đề kháng

để phòng những bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là các bệnh lây nhiễm qua đường

hô hấp; nhằm giảm tỉ lệ mắc bệnh đồng thời cũng giảm tỉ lệ tử vong do các bệnh đường hô hấp gây nên

1.2.6.6 Tuyên truyền giáo dục

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục cho cộng đồng nói chung và các bà mẹ nói riêng một cách thường xuyên và liên tục để phát hiện sớm, có hướng xử trí và biện pháp chăm sóc kịp thời trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

Đào tạo huấn luyện cho các cán bộ y tế, nhất là cán bộ y tế tham gia công tác khám và chữa bệnh về đánh giá, phân loại và xử trí đúng theo phác

đồ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Ghi chép sổ sách đầy đủ về số trẻ mắc bệnh,

số trẻ tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại địa phương, tính tỉ lệ phần trăm và báo cáo hoạt động hàng tháng

Việc phòng bệnh không tốt sẽ dễ mắc các bệnh về đường hô hấp

1.3 Khái quát về xã Hồng Kỳ[1]

Xã Hồng Kỳ là xã thuộc huyện Sóc Sơn ngoại thành Hà Nội Tổng diện tích tự nhiên toàn xã là 1.437,9 ha; diện tích đất nông nghiệp là 423,06 ha;đất lâm nghiệp chiếm 270,8 ha Địa bàn xã có tổng số hộ là 3.020 hộ, nhân khẩu

Trang 21

Phía Đông: Giáp xã Trung Giã

Phía Nam: Giáp với xã Tân Minh và xã Phù Linh

Phía Tây: Giáp với xã Nam Sơn, nằm sát với khu công nghiệp xử lí chất thải rắn Nam Sơn

* Về đặc điểm khí hậu:

Xã Hồng Kỳcũng như một số xã khác trên địa bàn huyện Sóc Sơn, là xã thuộc vùng khí hậu đồng bằng trung du Bắc Bộ Có khí hậu nhiệt đới gió mùa

ẩm Hàng năm chia làm 2 mùa rõ rệt:

Mùa đông: thường kéo dài từ tháng 11 năm trước đến hết tháng 4 năm sau, có gió mùa Đông Bắc Thời tiết khô hanh

Mùa hè: kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, có gió Đông Nam, mưa nhiều

Độ ẩm không khí cao

* Về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường:

- Kinh tế: Xã có nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp trồng lúa

và hoa màu Bên cạnh đó người dân còn buôn bán hàng hóa, chăn nuôi và dịch vụ Trong năm 2013, trong xã đã có những chuyển biến về kinh tế: tổng giá trị sản xuất trong toàn xã đạt 65.960 triệu đồng Tăng 11,3% so với năm trước Mức thu nhập bình quân đầu người đạt 30 triệu đồng/người/năm

- Văn hóa- xã hội: Công tác văn hóa – xã hội của xã luôn được quan tâm Xã Hồng Kỳ tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền chào mừng và phục

vụ các sự kiện lớn của địa phương như: Chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kì

2011 – 2016 Tổ chức và duy trì thường xuyên các phong trào văn hóa văn nghệ thể dục thể thao, làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhân dân trong xây dựng nông thôn mới, quản lý tốt các dịch vụ văn hóa, lễ hội trên địa bàn Bên cạnh đó, công tác giáo dục – đào tạo từng bước được nâng cao cả về chất và lượng Xã đã hoàn thành chương trình phổ cập giáo

Trang 22

dục trung học, tỉ lệ học sinh học hết trung học được học tiếp lên trung học phổ thông, bổ túc, học nghề đạt 98,4% Tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 53,7% Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được quan tâm Thực hiện có hiệu quả vai trò chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân và phòng chống dịch bệnh Xã có chế độ ưu tiên và quan tâm đến các đối tượng chính sách, người có công, các gia đình thuộc hộ nghèo, các gia đình và cá nhân có hoàn cảnh Thực hiện phương châm “Lá lành đùm lá rách”, tạo điều kiện cho hộ nghèo vay vốn làm ăn và đào tạo nghề cho trên 300 lao động

- Môi trường: Công tác vệ sinh môi trường được quan tâm Đến nay các thôn đã thành lập được tổ vệ sinh môi trường tự quản làm công tác thu gom rác Ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường chung của nhân dân không ngừng được nâng cao Có 75,6% các hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh

Bên cạnh những kết quả đạt được như trên còn một số tồn tại đó là: Sản xuất vẫn còn tình trạng nhân dân nhân để diện tích đất hoang hóa không đưa vào sản xuất Diện tích trồng cây vụ đông ở hầu hết các thôn đều giảm, chưa thực hiện được việc sản xuất rau màu, hàng hóa theo vùng quy hoạch tập trung Việc thực hiện chủ trương dồn điền, đổi thửa đạt kết quả bước đầu chưa cao Tăng trưởng kinh tế trong nông nghiệp còn chưa mang tính bền vững Công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới tiến bộ triển khai còn chậm

Tình trạng đổ chất thải bừa bãi tại một số thôn còn chậm được khắc phục, nước thải sinh hoạt xả bừa bãi ra ao, hồ Tại hầu hết các thôn vẫn còn xảy ra tình trạng để vật liệu xây dựng lâu ngày chiếm lòng lề đường và xây dựng bục bệ lấn chiếm lề đường chưa xử lý kiên quyết

Công tác tuyên truyền có lúc còn chưa mang tính liên tục và chưa thực

sự đi vào chiều sâu Việc thực hiện nếp sống văn minh, chấp hành pháp luật,

vệ sinh môi trường còn chuyển biến chậm và hạn chế Cục bộ tại một số nông thôn còn tiềm ẩn mức tăng các trường hợp sinh con thứ 3 trở lên

Trang 23

Đặc biệt, xã Hồng Kỳ có vị trí nằm giáp với Khu công nghiệp xử lí chất thải rắn Nam Sơn Nên môi trường bị ô nhiễm nặng nề từ các chất thải Mỗi khi thời tiết thay đổi đột ngột hoặc đặc biệt là vào mùa mưa thì tạo điều kiện thuận lợi cho ruồi, muỗi….mang mầm bệnh phát triển mạnh Môi trường đất, nước, không khí bị ô nhiễm gây ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của người dân Bởi vậy, tỉ lệ mắc các bệnh về hô hấp của trẻ em dưới 5 tuổi trên địa bàn xã Hồng Kỳ tương đối cao, đặc biệt là trẻ nhỏ thuộc khu vực thôn 2

do vị trí giáp với Khu xử lí chất thải rắn Nam Sơn nên có tỉ lệ mắc các bệnh

về hô hấp cao hơn rõ rệt so với các thôn 1, thôn 4, thôn 5, thôn 8 Mặt khác, trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân thực chất chưa có một chiến dịch nào đi sâu vào phòng chống NKHHCTđặc biệt là cho trẻ dưới 5 tuổi

Trang 24

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Hồng Kỳ- huyện Sóc Sơn- thành phố Hà Nội và bà mẹ nuôi con dưới 5 tuổi trong diện điều tra

- Địa điểm nghiên cứu: Chọn 5 thôn ngẫu nhiên(thôn 1, thôn 2, thôn 4, thôn 5, thôn 8) trong 9 thôn của xã Hồng Kỳ

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 4 năm 2014

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp chọn mẫu

Lập danh sách trẻ dưới 5 tuổi trong 5 thôn nghiên cứu, thông qua sổ theo dõi của trạm y tế, tổng số có 428trẻ Tôi đã tiến hành điều tra dựa theo danh sách trên, kết quả thu được 426 trẻ vào diện nghiên cứu (chiếm 99,5% theo danh sách) những trường hợp còn lại không điều tra được do vắng mặt hoặc sai lệch thông tin theo danh sách

2.2.2 Chỉ số nghiên cứu

* Chỉ số thông tin chung về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của các

hộ gia đình:

- Tỉ lệ các bà mẹ phân theo trình độ học vấn

- Tỉ lệ các bà mẹ phân theo nhóm tuổi

- Tỉ lệ các bà mẹ phân theo nhóm nghề nghiệp

* Chỉ số về NKHHCT của trẻ dưới 5 tuổi:

- Tỉ lệNKHHCT chung ở trẻ em dưới 5 tuổi

- Tỉ lệNKHHCT trên cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi

- Tỉ lệNKHHCT dưới cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi

Trang 25

- Tỉ lệNKHHCT trẻ em theo các nhóm tuổi: cách tính tuổi theo quy ước của WHO[5]

- Tỉ lệNKHHCT của trẻ em theo giới

- Tỉ lệNKHHCT trẻ em theo hộ gia đình có bếp đun nấu hàng ngày trong nhà

- Tỉ lệNKHHCT trẻ em ở gia đình có chuồng gia súc gần nhà, xa nhà

2.3 Phương pháp thu thập và xử lí số liệu

* Số liệu về bệnh:

- Thông qua sổ sách khám chữa bệnh của trạm y tế

- Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp bà mẹ có con dưới 5 tuổi trong diện điều tra

* Số liệu về các yếu tố liên quan:

- Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp bà mẹ có con dưới 5 tuổi trong diện điều tra về các yếu tố liên quan đến NKHHCT của trẻ

* Các số liệu được xử lý thống kê trên phần mềm M.S.Excel

Trang 26

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1.Tình hình hiện mắc NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Hồng Kỳ

Biểu đồ 1 : Tỉ lệ mắc NKHHCT ở trẻ(Theo kết quả điều tra)

Nhận xét: Tổng số trẻ mắc NKHHCT tại xã Hồng Kỳ cao chiếm 66,9%

(tức 285 trẻ trong tổng số 426 trẻ) Trong đó, số trẻ mắc NKHH trên cấp tính chiếm tỉ lệ cao nhất 84,6% trong tổng số trẻ mắc bệnh và trẻ mắc NKHH dưới cấp tính chiếm 15,4% Qua kết quả điều tra cho thấy: tại xã Hồng Kỳ tỉ lệ trẻ mắc NKHH trên cấp tính cao gấp 5 lần tỉ lệ trẻ mắc NKHH dưới cấp tính

Trang 27

Bảng 2: Phân bố tỉ lệ hiện mắc NKHHCT của trẻ dưới 5 tuổi theo giới Tình trạngbệnh

Giới tính

N

NKHHCT chung

NKHH trên cấp tính

NKHH dưới cấp tính

(Theo kết quả điều tra)

Nhận xét: Từ kết quả điều tra cho thấy:tỉ lệ trẻ nam và nữ mắc

NKHHCT gần tương đương nhau, sự khác biệt về NKHH trên cấp tính và NKHH dưới cấp tính giữa trẻ nam và trẻ nữ là không đáng kể

Bảng 3: Phân bố tỉ lệNKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi theo nhóm tuổi Tình trạng bệnh

Nhóm tuổi

N

NKHHCT chung

NKHH trên cấp tính

NKHH dưới cấp tính

Trang 28

Biểu đồ 2: Phân bố tỉ lệNKHHCT theo nhóm tuổi(Theo kết quả điều tra)

Nhận xét: Kết quả điều tra theo nhóm tuổi của trẻ dưới 5 tuổi mắc

NKHHCT cho thấy:Trẻ mắc NKHH trên cấp tỉ lệ cao nhất là trẻở nhóm tuổi

12 - <36 tháng tuổi(67,5%) và trẻ ở nhỏ dưới 2 tháng tuổimắc NKHH trên cấpthấp nhất (23,8%)

Trẻ mắc NKHH dưới cấp tính chiếm tỉ lệ cao nhất ở nhóm tuổi2 - <12 tháng tuổi (17,9%) Và lứa tuổi 36 – 60 tháng mắc NKHH dưới cấp tính thấp nhất (6,1 %)

Trang 29

3.2 Phân bố tỉ lệ NKHHCT theo các yếu tố liên quan

Bảng 4: Phân bố tỉ lệ mắc NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi

theo trình độ học vấn của mẹ Tình trạng bệnh

Học vấn

N

NKHHCT chung

NKHH trên cấp tính

NKHH dưới cấp tính

Trang 30

Biểu đồ 3: Phân bố tỉ lệNKHHCT theo trình độ học vấn của mẹ(Theo kết

quả điều tra)

Nhận xét: Kết quả điều tra trên cho thấy, tỉ lệ trẻ mắc NKHHCT cao

nhất là tỉ lệ con của bà mẹ mù chữ(84,6%) Con của bà mẹ học hết tiểu học cao thứ 2 chiếm (84%).Thấp nhất là con của bà mẹ có học vấn THPT và trên THPT (43,3%)

Bảng 5: Phân bố tỉ lệ mắc NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi theo nghề nghiệp

của mẹ Tình trạng bệnh

Nghề nghiệp

N

NKHHCT chung

NKHH trên cấp tính

NKHH dưới cấp tính

Nhận xét: Theo kết quả điều tra, ta thấy có sự chênh lệch tương đối lớn về tỉ

lệ trẻ mắc NKHHCT ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi theo nghề nghiệp của mẹ.Con của

bà mẹ làm ruộng (73,8%) và con của bà mẹ buôn bán, nội trợ, nghề khác (70,5%) có tỉ lệ mắc NKHHCT cao gấp 1,5 lần so với con của bà mẹ làm giáo viên, cán bộ công chức (39,7%)

Sở dĩ có sự ảnh hưởng này là do đặc trưng công việc của bà mẹ làm ruộng, buôn bán không có nhiều thời gian chăm sóc trẻ Bà mẹ làm ruộng và buôn bán chủ yếu có trình độ học vấn thấp, môi trường làm việc không có cơ hội tiếp xúc với thông tin truyền thông cũng như tiến bộ khoa học bằng bà mẹ làm giáo viên và cán bộ công chức

Trang 31

Bảng 6: Phân bố tỉ lệ mắc NKHHCT theo thời gian cai sữa và tiêm chủng Tình trạng bệnh

Chỉ số NC

N

NKHHCT chung

NKHH trên cấp tính

NKHH dưới cấp tính

Cai

sữa

Dưới 12 tháng 178 126 70,7 99 55,6 27 15,1 Trên 18 tháng 248 94 37,9 77 31,0 17 6,9 Tiêm

Nhận xét: Qua kết quả điều tra cho thấy: Trẻ cai sữa dưới 12 tháng có

tỉ lệ mắc bệnh NKHHCT cao hơn so với trẻ cai sữa trên 18 tháng

Trẻ tiêm chủng đủ và đúng lịch (60,9%) thì tỉ lệ mắc bệnh NKHHCT giảm xuống đáng kể(20,5%) so với trẻ tiêm chủng không đủ và không đúng lịch là (81,4%)

Trang 32

Bảng 7: Phân bố tỉ lệNKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi theo tình trạng vệ

sinh nhà ở Tình trạng bệnh

Chỉ số NC

N

NKHHCT chung

NKHH trên cấp tính

NKHH dưới cấp tính

Nhà thoáng mát 328 128 39,0 92 28,1 36 10,9 Gia đình nấu bếp củi, bếp

Nhận xét: Từ kết quả điều tra cho thấy:tỉ lệ trẻ mắc NKHHCT sống trong nhà

ẩm thấp(70,4%) cao hơn so với trẻ sống trong nhà thoáng mát (39,0%) Trẻ sống trong gia đình có đun bếp củi, bếp than có tỉ lệ mắc NKHHCT (66,5%) cao hơn tỉ lệ trẻ sống trong gia đình khôngnấu bếp củi, bếp than(45,9%).Tỉ lệ trẻ sống trong gia đình có người hút thuốc (74,8%) cao hơn tỉ lệ trẻ sống trong

Trang 33

gia đình không hút thuốc (59,8%) Trẻ sống trong gia đình có nuôi chuồng gia súc gần nhà có tỉ lệ mắc NKHHCT (60,3%) cao hơn trẻ sống trong gia đình

có chuồng gia súc xa nhà và không có (41,1%)

Bảng 8: Phân bố tỉ lệ NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi giữa các thôn 1,thôn

2,thôn 4,thôn 5,thôn 8 ( năm 2013) Tình trạng bệnh

Thôn

chung

NKHH trên cấp tính

NKHH dưới cấp tính

Trang 34

Biểu đồ 4:Phân bố tỉ lệ NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi giữa các thôn 1,thôn

2,thôn 4,thôn 5,thôn 8 (năm 2013)

Nhận xét: Tỉ lệ NKHHCT chung của trẻ tại thôn 2 là cao nhất chiếm 93,5%

tổng số trẻ trong thôn Tỉ lệ trẻ NKHHCT ở thôn 1 (59,6%), thôn 4 (55,3%), thôn 5 (67,8%), thôn 8 (60,2%) thấp hơn đáng kể so với thôn 2

Điều này có thể lý giải là do vị trí của thôn 2 giáp với Khu xử lý chất thải rắn Nam Sơn Bởi vậy, môi trường đất, nước, không khí bị ô nhiễm nặng

nề Đây là một trong những yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của dịch bệnh nói chung và NKHHCT nói riêng Bởi vậy, trẻ em dưới 5 tuổi tại thôn 2 có tỉ

lệ mắc NKHHCT cao hơn các thôn 1, thôn 4, thôn 5, thôn 8 cùng trên địa bàn

NKHH dưới cấp tính

Nhận xét:Từ kết quả điều tra cho con của bà mẹ có độ tuổi trên 35 tuổi có tỉ

lệ mắc NKHHCT cao nhất (87,2%) Tiếp đó con của bà mẹ ở độ tuổi trẻ dưới

20 tuổi là (76,5%) Và thấp nhất là con của bà mẹ có độ tuổi từ 20 đến 35 tuổi

là (59,4%)

Ngày đăng: 13/04/2018, 10:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w