Ở bậc học này để phát triển nhận thức cho trẻ bên cạnh các lĩnh vực như: cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, môi trường xung quanh, âm nhạc, tạo hình… thì việc hình thành biểu tượng t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
PHAN THỊ YÊN
HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN CHO TRẺ MẦM NON THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán
HÀ NỘI, 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 đã truyền thụ những kiến thức, những phương pháp giảng dạy ở bậc học giáo dục Mầm non giúp cho việc học tập và nghiên cứu của em, tiếp thu kiến thức trau dồi chuyên môn nghiệp vụ đạt được kết quả như mong muốn
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Năng Tâm đã nhiệt tình hướng dẫn, cung cấp những kiến thức, những kinh nghiệm quí báu, động viên, khích lệ, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Do thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, các cô giáo và bạn đọc để đề tài này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2014
Người thực hiện
Phan Thị Yên
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận là kết quả cố gắng của bản thân tôi trong quá trình học tập
và nghiên cứu ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn Năng Tâm Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu
cảu đề tài “Hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non thông qua hoạt động
tạo hình” không có sự trùng lập với bất cứ một đề tài nào khác
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2014
Người thực hiện
Phan Thị Yên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu đề tài 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Cấu trúc khóa luận 4
NỘI DUNG 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 5
1.1 Đặc điểm tâm sinh lí và nhận thức của trẻ mầm non 5
1.2 Các khái niệm cơ bản 7
1.3 Hình thành biểu tượng toán 8
1.3.1 Nội dung hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non 8
1.3.2 Vai trò, nhiệm vụ của việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non 10
1.4 Hoạt động tạo hình 16
1.4.1 Đặc điểm hoạt động tạo hình của trẻ mầm non 16
1.4.2 Vai trò của hoạt động tạo hình đối với trẻ mầm non 17
Chương 2: HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN CHO TRẺ MẦM NON THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH 21
2.1 Các nguyên tắc hình thành biểu tượng toán cho trẻ 21
2.2 Hoạt động tạo hình đối với việc hình thành các biểu tượng toán cho trẻ mầm non 25
2.3 Một số hoạt động tạo hình nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non 32
2.3.1 Hoạt động tô màu 33
2.3.2 Hoạt động vẽ 40
Trang 52.3.3 Hoạt động nặn 44
Chương 3: NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN CHO TRẺ MẦM NON THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH 48
3.1 Những thuận lợi, khó khăn 48
3.2 Một số biện pháp hình thành biểu tượng toán cho trẻ 51
KẾT LUẬN 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ em Những kỹ năng mà trẻ tiếp thu qua chương trình chăm sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ Và việc phát triển giáo dục mầm non, tăng cường khả năng sẵn sàng
đi học cho trẻ là yếu tố quan trọng trong việc pháp triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước
Với vai trò là bậc học nền tảng chất lượng giáo dục mầm non có ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi cá nhân trẻ cũng như chất lượng giáo dục ở các bậc học tiếp theo Vì vậy đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng hiện đang
là mối quan tâm đặc biệt của toàn xã hội Yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao chất lượng giáo dục là đổi mới phương pháp và cách thức dạy học
Ở bậc học này để phát triển nhận thức cho trẻ bên cạnh các lĩnh vực như: cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, môi trường xung quanh, âm nhạc, tạo hình… thì việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ giữ một vai trò to lớn nhằm phát triển ở trẻ khả năng nhanh nhạy, trí thông minh Toán học là một môn học tự nhiên có kiến thức lớn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống môi trường con người Ngay từ nhỏ chúng ta đã được làm quen với toán học Việc hướng dẫn trẻ làm quen với toán ngay từ lứa tuổi mầm non là
cơ hội giúp trẻ hình thành khả năng quan sát, tư duy, so sánh, tìm tòi, nhận biết thế giới xung quanh trẻ về số lượng, hình dạng, kích thước, vị trí trong không gian giữa các vật so sánh với nhau, đồng thời giúp trẻ giải quyết mọi vướng mắc trong cuộc sống, trẻ nhận biết vật này dài hơn vật kia ngắn hơn,
Trang 7vật này to hơn vật kia nhỏ hơn, cao hơn, thấp hơn… Thông qua việc hình thành các biểu tượng về toán là bồi dưỡng cho trẻ phát triển ngôn ngữ Giúp trẻ hình thành tư duy cụ thể chính xác nhằm chuẩn bị cho trẻ hành trang bước vào trường tiểu học được tốt hơn Thực tế cho thấy việc giúp trẻ hình thành biểu tượng toán còn gặp rất nhiểu khó khăn Vì toán học là một môn học tương đối khô khan đối với tất cả các bậc học Đặc biệt là ở bậc học mầm non, việc hình thành các biểu tượng toán cho trẻ không hề đơn giản.Tuy nhiên, trẻ mẫu giáo không lĩnh hội các khái niệm khoa học một cách hệ thống
mà chỉ lĩnh hội các tri thức đời sống hoặc các tri thức tiền khoa học Vì vậy,
để hình thành được biểu tượng toán ban đầu cho trẻ cần thông qua nhiều hoạt động khác nhau nhằm kích thích sự khám phá hứng thú của trẻ, trong đó việc
sử dụng hoạt động tạo hình để hình thành biểu tượng toán cho trẻ giúp trẻ hứng thú và đạt hiệu quả cao
Hoạt động tạo hình là hoạt động giúp trẻ có thể được tiếp xúc toàn diện với môi trường bên ngoài Thông qua sự tiếp xúc đó mà hình thành ở trẻ các kiểu tư duy sáng tạo, nhất là các mối quan hệ xã hội Tạo điều kiện, cơ sở ban đầu để trẻ tiếp cận với các môn học khác một cách tốt hơn Hoạt động tạo hình có vai trò rất lớn đối với sự phát triển nhận thức của trẻ Thông qua hoạt động tạo hình trẻ có cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu các đối tượng, miêu tả để có được hiểu biết, hình dung về đối tượng đó, từ đó để xây dựng các đối tượng Hoạt động tạo hình là phương tiện để trẻ phát triển tư duy, trí nhớ, tưởng tượng… điều đó giúp tăng thêm vốn hiểu biết của trẻ
Hoạt động tạo hình bao gồm rất nhiều hoạt động như: vẽ, xé dán, cắt, nặn, chắp ghép… trong quá trình trẻ thực hiện các hành động này cũng là lúc trẻ thực hiện các yếu tố toán học qua các hành động bên ngoài: quan sát, vẽ,
so sánh, đối chiếu… bên cạnh đó, các hành động tạo hình là các hành động phản ánh sự vật, hiện tượng có chứa đựng các yếu tố toán học Trong quá
Trang 8trình trẻ thực hiện hoạt động tạo hình đòi hỏi trẻ phải quan sát, nhận diện hình dạng, phải đếm và đối chiếu đối tượng Ngoài ra, qua hoạt động tạo hình trẻ nhận ra được mối quan hệ về số lượng của hai tập hợp
Học toán qua hoạt động tạo tạo hình giúp trẻ hứng thú trong giờ học, tiếp nhận kiến thức toán học dễ dàng hơn
Nhằm giúp trẻ tiếp thu môn phương pháp hình thành biểu tượng toán được dễ dàng và đạt hiệu quả cao Tôi đã suy nghĩ, tìm tòi quyết định đi sâu
tìm hiểu và nghiên cứu đề tài: “Hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non
thông qua hoạt động tạo hình”
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Nhằm tìm hiểu việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non thông qua hoạt động tạo hình, từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động dạy học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí và đặc điểm nhận thức của trẻ mầm non
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non thông qua hoạt động tạo hình
- Tìm hiểu việc dạy học hình thành biểu tượng toán và hoạt động tạo hình của trẻ mầm non
- Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non thông qua hoạt động tạo hình
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả của việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non thông qua hoạt động tạo hình
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu quá trình hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non thông qua hoạt động tạo hình
Trang 9- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non 3 - 6 tuổi thông qua hoạt động tạo hình qua các hoạt động: tô màu, vẽ, nặn
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
5.2 Phương pháp quan sát
5.3 Phương pháp điều tra
5.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của khóa luận bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non thông qua hoạt động tạo hình
Chương 3: Những thuận lợi, khó khăn và một số biện pháp hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non thông qua hoạt động tạo hình
Trang 10NỘI DUNG Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chương 1 sẽ trình bày cơ sở lí luận của đề tài gồm: đặc điểm tâm sinh
lí và nhận thức của trẻ mầm non; các khái niệm cơ bản; nội dung, vai trò, nhiệm vụ của việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ; đặc điểm, vai trò của hoạt động tạo hình đối với trẻ mầm non Cụ thể như sau:
1.1 Đặc điểm tâm sinh lí và nhận thức của trẻ mầm non
* Trẻ 3 - 4 tuổi
Lên 3 tuổi thế giới của trẻ đã mở rộng ra rất nhiều, và cùng với đó trẻ
cũng “trưởng thành” lên rất nhiều Trẻ mẫu giáo bé là thời kỳ có sự biến đổi
quan trọng và rõ rệt về mặt tâm sinh lý so với các giai đoạn trước đó Trẻ ở giai đoạn này hệ thống tín hiệu thứ nhất còn chiếm ưu thế nhiều hơn hệ thống tín hiệu thứ hai Trẻ nhạy cảm với các tác động bên ngoài và bị chi phối bởi nhiều yếu tố: hình dạng, màu sắc, kích thước… Sự nhận thức còn gắn liền với xúc cảm và ý muốn chủ quan của bản thân trẻ
Đối với biểu tượng toán trẻ nhận thức nhờ vào sự hoạt động tích cực của các giác quan Thông qua ngôn ngữ để trẻ khái quát những biểu tượng đó Tuy nhiên do đặc điểm nhận thức của trẻ còn thấp nên quá trình nhận thức này chưa đầy đủ và chính xác
Tư duy trực quan hành động của trẻ vẫn tiếp tục chiếm ưu thế và xuất hiện thêm một loại tư duy mới đó là tư duy trực quan hình tượng Thực ra bước chuyển này đã bắt đầu diễn ra từ cuối lứa tuổi ấu nhi (lứa tuổi nhà trẻ), nhưng phải đến đầu lứa tuổi mẫu giáo mới diễn ra một cách cơ bản Trẻ biết dùng các hình ảnh, biểu tượng và các kinh nghiệm sống để giải quyết nhiệm
vụ Tuy nhiên do vốn hiểu biết các biểu tượng còn hạn chế, đơn giản nên trẻ
Trang 11thường giải quyết các vấn đề theo ý muốn chủ quan của riêng trẻ mà không chú ý đến tính khách quan của đối tượng
* Trẻ 4 - 5 tuổi
Sự phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo nhỡ được kế thừa từ những đặc điểm của lứa tuổi trước và tiếp tục phát triển, hình thành những nhận thức mới phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ trong giai đoạn này Ở lứa tuổi này, hệ thống tín hiệu thứ nhất vẫn chiếm ưu thế nhưng đã giảm đi so với tốc
độ trước, hệ thống tín hiệu thứ hai phát triển hơn do ngôn ngữ của trẻ đã phát triển Tuy nhiên sự nhận thức vẫn gắn liến với quá trình nhận thức cảm tính
Đến tuổi mẫu giáo nhỡ, bên cạnh kiểu tư duy trực quan hành động thì kiểu tư duy trực quan hình tượng cũng đang phát triển khá mạnh mẽ Đây được coi là bước ngoặt trong tư duy của trẻ Quá trình tư duy của trẻ đã bắt đầu dựa vào những hình ảnh, sự vật, hiện tượng đã có trong đầu Cùng với sự hoàn thiện của hoạt động vui chơi và sự phát triển của các hoạt động khác mà vốn biểu tượng của trẻ mẫu giáo nhỡ được giàu lên Chức năng kí hiệu tượng trưng cũng phát triển mạnh, lòng ham hiểu biết và hứng thú nhận thức cũng tăng lên rõ rệt, đó cũng là diều kiện thuận lợi cho sự phát triển tư duy trực quan hình tượng của trẻ
Trẻ mẫu giáo nhỡ có hệ thần kinh khá hoàn chỉnh về cấu tạo cũng như chức năng Các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát đã phát triển mạnh mẽ Trẻ có thể nhận biết được những đặc điểm chủ yếu của vật, hiểu được mối quan hệ đơn giản giữa các vật
* Trẻ 5 - 6 tuổi
So với giai đoạn trước ở giai đoạn này sự nhận thức của trẻ có phần vượt trội, thể chất, trí tuệ và tính khéo léo của trẻ phát triển hơn Hệ thống tín hiệu thứ nhất không còn chiếm ưu thế như các giai đoạn trước thay vào đó là
sự phát triển mạnh mẽ cuả hệ thống tín hiệu thứ hai Ngôn ngữ của trẻ phát
Trang 12triển khá mạnh trẻ có khả năng giao tiếp như người lớn Do vậy việc diễn đạt các thuật ngữ toán học được chính xác
Các chức năng chủ yếu của cơ thể trẻ dần hoàn thiện Hệ thần kinh tương đối phát triển, chức năng phân tích, tổng hợp của vỏ não đã hoàn thiện,
số lượng các phản xạ có điều kiện ngày càng nhiều, tốc độ hình thành phản xạ
có điều kiện nhanh, trí tuệ phát triển nhanh Đây cũng là giai đoạn hoàn thiện các cấu trúc tâm lí ở trẻ, xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới - tư duy trực quan sơ đồ và những yếu tố của kiểu tư duy logic Tư duy trực quan
sơ đồ giúp trẻ có thể lĩnh hội tri thức ở trình độ khái quát cao, từ đó mà trẻ hiểu được bản chất của sự vật hiện tượng Kiểu tư duy logic sẽ được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở tuổi học sinh, nhưng những yếu tố của nó đã xuất hiện ngay ở lứa tuổi mẫu giáo lớn khi trẻ đã biết sử dụng khá thành thạo vật thay thế và đã phát triển tốt các chức năng ký hiệu của ý thức
1.2 Các khái niệm cơ bản
- Hình thành biểu tượng toán: phương pháp hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non là tổ hợp các cách thức tổ chức các hoạt động của trẻ em trong quá trình hình thành biểu tượng toán học, nhằm mục đích giáo dục toán học cho trẻ mầm non
- Hoạt động tạo hình: hoạt động tạo hình là một hoạt động nhận thức đặc biệt mang tính sáng tạo Nó phản ánh cuộc sống hiện thực bằng những hình tượng nghệ thuật, trong đó con người không chỉ khám phá và lĩnh hội thế giới mà còn cải tạo nó theo quy luật của cái đẹp, gửi gắm vào đó tình cảm và tâm hồn của người nghệ sĩ
Hoạt động tạo hình trong trường mầm non thì hoạt động tạo hình là một loại hình nghệ thuật hấp dẫn đối với trẻ Đó là phương tiện quan trọng trong giáo dục thẩm mỹ và có tác dụng to lớn trong việc hình thành nhân cách cho trẻ lứa tuổi mầm non
Trang 131.3 Hình thành biểu tƣợng toán
1.3.1 Nội dung hình thành biểu tƣợng toán
a Lứa tuổi nhà trẻ (24 - 36 tháng tuổi)
- Dạy trẻ phân biệt to - nhỏ
- Đếm trong phạm vi 5 và đếm theo khả năng
- Gộp, tách đếm hai nhóm đối tượng
- Xếp tương ứng 1-1 (ghép đôi tương ứng)
- So sánh số lượng các nhóm đối tượng (nhiều hơn - ít hơn)
2 Kích thước
So sánh các chiều kích thước
+ Độ lớn (to - nhỏ) + Độ cao (cao - thấp) + Độ dài (dài - ngắn) + Bề rộng (rộng - hẹp)
3 Hình dạng vật thể
- Nhận biết, gọi tên các hình học phẳng (hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình chữ nhật)
- Sử dụng các hình để chắp ghép
4 Định hướng trong không gian
- Phân biệt tay phải - tay trái
- Xác định phía trên - phía dưới, phía trước - phái sau của bản thân
Trang 14- Định hướng trên mặt phẳng
5 Định hướng về thời gian
Dạy trẻ nhận biết, phân biệt ngày và đêm
c Trẻ mẫu giáo nhỡ (4 - 5 tuổi)
1 Dạng tập hợp, số lượng, con số, phép đếm
- Đếm số lượng trong phạm vi 10 và đếm theo khả năng
- Thêm bớt trong phạm vi 5
- Nhận biết các số trong phạm vi 5
- Gộp hai nhóm đối tượng
- So sánh nhóm có 3 đối tượng trở lên
2 Kích thước
- So sánh kích thước của ba vật trở lên
- Đo độ dài các đối tượng
4 Định hướng không gian
- Xác định phía phải, phía trái của bản thân
- Phân biệt tay phải, tay trái của bản thân
- Xác định phía trên - phía dưới, phía trước - phái sau của người khác
5 Định hướng thời gian
- Dạy trẻ phân biệt sáng, trưa, chiều, tối, đêm
- Dạy trẻ biết thiết lập trình tự thời gian
d Trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi)
1 Dạng tập hợp, số lượng, con số, phép đếm
Trang 15- Nhận biết ý nghĩa số lượng của số, nhận biết các số trong phạm vi 10
- Đo thể tích, dung tích của một đối tượng bằng nhiều đơn vị đo
3 Hình dạng vật thể trong không gian
- Dạy trẻ nhận biết khối cầu, khối trụ, khối vuông, khối chữ nhật
- Phân biệt các khối
- Dạy trẻ biết sử dụng các hình phẳng và các khối trong hoạt động chắp ghép
4 Định hướng không gian
Xác định trên - dưới, trước - sau, phải - trái của đối tượng
5 Định hướng thời gian
- Ôn lại các biểu tượng về thời gian đã học
- Biểu tượng về ngày trong tuần, mùa trong năm, định hướng được ngày hôm qua, hôm nay và ngày mai
1.3.2 Vai trò, nhiệm vụ của việc hình thành biểu tƣợng toán cho trẻ mầm non
(xem [3], tr 56)
a Vai trò
Trong cuộc sống hàng ngày
Trẻ em có khả năng nhận biết một số biểu tượng toán học và cần thiết được hình thành một số biểu tượng toán ngay từ lứa tuổi mẫu giáo Thực tế cho thấy một số biểu tượng toán được hình thành ở trẻ từ rất sớm, song tất cả những hiểu biết ấy chỉ là do phản xạ tự nhiên của cơ thể hay do trẻ bắt trước
Trang 16người lớn Đây là kết quả của việc “tri giác trực tiếp” thông qua các hoạt
động hàng ngày của trẻ, còn việc hiểu thấu đáo, vững chắc và có hệ thống các khái niệm thì chưa có
Mặt khác do sự tiếp xúc với môi trường xung quanh còn ít, vốn ngôn ngữ còn nghèo nàn, sự hiểu biết còn hạn chế, trẻ chưa thể hiểu được ý nghĩa của các thuật ngữ toán học nên việc diễn đạt thường không chính xác Chẳng
hạn, có 3 cái bánh và 5 cái kẹo thì trẻ thường nói là “bánh nhiều hơn o”,
biểu tượng nhiều hơn của trẻ ở đây là nhiều hơn về kích thước chứ không phải
là nhiều hơn về số lượng Ví dụ trên cho thấy nếu chỉ bằng vốn hiểu biết và kinh nghiệm bản thân trẻ không thể hiểu biết và diễn đạt đúng Vì thế việc hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mẫu giáo là cần thiết đối với trẻ
Nó không chỉ giúp trẻ giải quyết những khó khăn trong cuộc sống mà giúp trẻ làm quen với thế giới xung quanh, nhận thức được các thuộc tính, các đặc điểm của những đồ vật xung quanh trẻ
Ví dụ: Nhìn bức tranh vẽ ngôi nhà trẻ nhận ra thân nhà là hình chữ nhật, mái nhà là hình tam giác, cửa sổ hình vuông
Việc hình thành các biểu tượng toán học còn giúp trẻ diễn đạt đầy đủ chính xác và ngắn gọn các ý nghĩ và mong muốn của mình.Vì vậy khi cô hỏi
“nhà con có mấy người?”, thay cho việc đọc tên lần lượt từng người trong gia đình, trẻ chỉ cần trả lời “nhà con có 4 người” Một câu trả lời ngắn gọn và
đúng yêu cầu của câu hỏi
Trang 17Mặt khác, khi có biểu tượng toán học thì trẻ học các môn khác dễ dàng hơn, hiểu đầy đủ và sâu sắc hơn Mở rộng vốn hiểu biết của trẻ về các mối quan hệ trong môi trường xung quanh
Ví dụ: Khi có biểu tượng về phép đếm, hình dạng, kích thước, định hướng trong không gian thì:
- Khi học giáo dục thể chất trẻ biết quay về phía trái, phía phải một cách chính xác
- Khi học làm quen với môi trường xung quanh trẻ biết phân lọai các
đối tượng: đây là loại quả có một hạt, đây là loại quả có nhiều hạt…
- Khi trẻ làm quen với tác phẩm văn học trẻ biết được câu chuyện có tất
cả bao nhiêu nhân vật và kể tên các nhân vật trong truyện
Qua các ví dụ trên chúng ta thấy trẻ lứa tuổi mầm non có khả năng nhận biết các biểu tượng toán học, những biểu tượng đó rất cần thiết đối với trẻ và cần được giáo viên hình thành đầy đủ, đúng, kịp thời, phù hợp với từng giai đoạn phát triển trí thông minh và đảm bảo cho sự thích nghi với cuộc
sống hàng ngày
Trong giáo dục toàn diện
Việc hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ có vai trò quan trọng trong giáo dục toàn diện (trí dục, đức dục, thể dục, mỹ dục, giáo dục lao động) cho trẻ Cụ thể:
- Góp phần phát triển trí tuệ:
Việc hình thành biểu tượng toán góp phần hình thành và phát triển hoạt
động nhận thức cho trẻ Đặc điểm của trẻ mẫu giáo là “Nhận thức chủ yếu
bằng cảm tính, tư duy trực quan hình tượng là chủ yếu” và đặc điểm hình
thành các biểu tượng toán là “Trẻ nhận biết thông qua các hoạt động” dưới sự
tổ chức, hướng dẫn của giáo viên Mỗi biểu tượng trẻ đi từ nhận biết, gọi tên dựa vào dấu hiệu bên ngoài sau đó cùng với các hoạt động trẻ đối chiếu, so
Trang 18sánh, phân tích, khái quát để đi tới nhận biết các dấu hiệu tượng trưng cho từng biểu tượng
Khi các biểu tượng đã được hình thành, trẻ vận dụng thực hành và đối chiếu với thực tế xung quanh
Ví dụ: Để hình thành biểu tượng hình vuông ở trẻ 3 - 4 tuổi thì cô cho trẻ chọn hình theo mẫu, gọi tên hình và chọn hình theo tên nhưng đến 4 - 5 tuổi, 5 - 6 tuổi cô cho trẻ khảo sát để thấy hình vuông có đường bao thẳng và không lăn được Sau đó, cô cho trẻ xếp hình vuông bằng các que tính và hoạt động xếp hình trẻ đếm số que tính, so sánh chiều dài các que tính Từ đó trẻ biết được hình vuông xếp bằng bốn que tính dài bằng nhau
Thực tế cho thấy việc hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mẫu giáo đã góp phần hình thành và phát triển hoạt động nhận thức cho trẻ , rèn luyện các thao tác tư duy giúp trẻ chuyển từ tư duy trực quan hành động sang
tư duy trực quan logic
+ Góp phần hình thành khả năng nhận thức thế giới xung quanh và giúp trẻ tìm được mối liên hệ giữa các biểu tượng toán với thế giới xung quanh
Ví dụ: Biểu tượng hình thành hình chữ nhật giúp trẻ nhận thức được mặt bàn, cửa sổ, bảng viết… là những đồ vật khác nhau nhưng chúng đều có dạng hình chữ nhật
+ Góp phần hình thành và rèn luyện các thao tác tư duy: so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa…
+ Góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo do vốn hiểu biết còn
ít, vốn ngôn ngữ nghèo nàn, trẻ chưa hiểu được ý nghĩa của các từ ngữ toán học do đó trẻ thường nói không đúng Vì vậy, khi hình thành các biểu tượng toán học bên cạnh giúp trẻ nói đúng câu, đủ ý thì điều quan trọng là phải cung cấp cho trẻ vốn từ về biểu tượng toán học, giúp trẻ hiểu và biết diễn đạt các từ
đó phù hợp với thực tế
Trang 19Ví dụ:
Xanh
Đỏ Khi so sánh hai bút chì thay cho việc nói “Bút chì xanh to hơn bút chì đỏ”, trẻ sẽ nói “Bút chì xanh dài hơn bút chì đỏ”
+ Góp phần phát triển và thúc đẩy các quá trình tâm lí ở trẻ như ghi nhớ, chú ý, tưởng tượng…
- Góp phần giáo dục đạo đức, thẩm mỹ:
Hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mẫu giáo không phải chỉ là giúp các em nhận thức được một số kiến thức toán học mà trong quá trình tổ chức các hoạt động dưới nhiều hình thức: cá nhân, tổ, nhóm, tập thể với những phương tiện khác nhau như: vẽ, nặn, xé dán, xếp hình, phân chia nhóm, phân loại các đồ vật…
Những hình thức và phương tiện giáo dục đã góp phần giáo dục trẻ ý thức tổ chức kỷ luật, tính kiên trì, lòng ham hiểu biết, sáng tạo, biết đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau… để hình thành ý thức tập thể trong cộng đồng Đó là những đức tính cần thiết học toán học sau này
Ví dụ: Khi có biểu tượng một - nhiều, dài - ngắn đã giúp trẻ vẽ một ông mặt trời là một đường cong tròn khép kín có nhiều tia nắng là các đoạn thẳng
có độ dài khác nhau xung quanh
Thông qua các hoạt động còn giúp trẻ không chỉ biết thưởng thức cái đẹp mà còn biết tạo ra cái đẹp
Trang 20Như vậy, việc hình thành các biểu tượng toán đã góp phần giáo dục toàn diện cho trẻ
Trong việc chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông
- Chuẩn bị một số kiến thức toàn ban đầu
+ Nhận biết, phân biệt được các số trong phạm vi 10, biết thêm, bớt, phân chia một nhóm các đối tượng làm hai phần trong phạm vi 10 thành thạo
+ Phân biệt, gọi đúng tên, nắm được một số dấu hiệu đặc trưng của các hình học quen thuộc
+ Nắm được kĩ năng so sánh các đối tượng về chiều dài, bề rộng, chiều cao, độ lớn Hiểu và diễn đạt các mối quan hệ này Biết đo độ dài và đo dung tích của các đối tượng bằng các thước đo quy ước
+ Biết định hướng trong không gian về các phía trên - dưới, phải - trái, trước - sau
- Chuẩn bị tâm thế cho trẻ
Trường phổ thông và trường mẫu giáo là hai môi trường có chế độ sinh hoạt, học tập, thời gian học, nội dung chương trình và các mối quan hệ (đặc biệt là của cô với trẻ) khác nhau khá nhiều Vì vậy việc hình thành các biểu tượng toán cần giúp trẻ có tâm thế sẵn sàng để vào học lớp 1 Trong các giờ hình thành biểu tượng toán cô nên tăng cường các trò chơi có luật, đặt ra nhiều câu hỏi cho cá nhân, tập thể dưới dạng nội dung các bài toán so sánh, thêm bớt, chia các phần, làm cơ sở cho trẻ chuẩn bị học các phép toán cộng, trừ ở lớp 1 Thông qua các trò chơi, các hoạt động đó đã giúp trẻ rèn luyện thói quen nhanh nhẹn, gọn gàng, ngăn nắp, có ý thức kỷ luật
b Nhiệm vụ
- Hình thành cho trẻ các biểu tượng toán học ban đầu về tập hợp, số lượng, số tự nhiên, chữ số; hình dạng, kích thước, định hướng không gian và định hướng thời gian
-Hình thành và phát triển khẳ năng quan sát có mục đích, hình thành và phát triển các thao tác tư duy: phân tích, so sánh, tập hợp…
Trang 21- Phát triển tính ham hiểu biết, tìm tòi sáng tạo của trẻ, làm phong phú kinh nghiệm và mở rộng năng lực hoạt động của trẻ
- Phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là giúp trẻ hiểu và sử dụng đúng các thuật ngữ toán học trong các trường hợp cụ thể, diễn đạt mạch lạc các yếu
tố và các mối tương quan toán học
Các nhiệm vụ trên được giải quyết một cách phối hợp và linh hoạt trên mỗi hoạt động cho trẻ làm quen với toán Tuy nhiên nhiều khi những biểu tượng toán học và những năng lực toán học của trẻ chưa được phát triển đúng lúc Để hình thành những biểu tượng toán học cho trẻ thì mọi hoạt động của trẻ phải được tổ chức một cách đúng đắn và dạy học phải có hệ thống Vì vậy
ở từng giai đoạn phát triển lứa tuổi trẻ cần tạo điều kiện thuận lợi nhất để hình thành các kiến thức, kỹ năng nhất định cho trẻ
1.4 Hoạt động tạo hình
Hoạt động tạo hình là hoạt động giúp trẻ có thể được tiếp xúc toàn diện với môi trường bên ngoài Thông qua sự tiếp xúc đó mà hình thành ở trẻ các kiểu tư duy sáng tạo, nhất là các mối quan hệ xã hội Tạo điều kiện, cơ sở ban đầu để trẻ tiếp cận với các môn học khác một cách tốt hơn
Các hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non:
- Hoạt động tô màu
- Hoạt động vẽ
- Hoạt động nặn
- Hoạt động xé dán
- Hoạt động chắp ghép
1.4.1 Đặc điểm hoạt động tạo hình của trẻ mầm non
Trẻ mầm non luôn rất nhạy cảm với cái đẹp xung quanh, đây là thời kì phát triển những cảm xúc thẩm mỹ - đó là những cảm xúc tích cực được nảy
Trang 22sinh khi trẻ tiếp xúc trực tiếp với cái đẹp trong các nghệ thuật trong đó có nghệ thuật tạo hình
Hoạt động tạo hình của trẻ lứa tuổi mẫu giáo bao gồm các hoạt động như: tô màu, vẽ, nặn, xé dán, chắp ghép… Những hoạt động này đã tạo cơ hội cho trẻ xem xét sự vật mà mình định thể hiện và nghiên cứu sự vật một cách tỉ
mỉ là quá trình trẻ phản ánh những ấn tượng từ cuộc sống xung quanh cùng những suy nghĩ, tình cảm của trẻ bằng các chất liệu khác nhau, các phương tiện khác nhau thông qua hiện tượng mang tính nghệ thuật Nhưng hoạt dộng tạo hình của trẻ mẫu giáo chưa phải là hoạt động sáng tạo thực thụ, nó không nhằm mục đích tạo nên những sản phẩm phục vụ cho xã hội, cải tạo thế giới hiện thực mà kết quả lớn nhất của nó là sự biến đổi, phát triển chính bản thân chủ thể hoạt động
1.4.2 Vai trò của hoạt động tạo hình (xem [4], tr 37)
a Hoạt động tạo hình đối với sự phát triển trí tuệ, nhận thức
- Hoạt động tạo hình là một hoạt động nhận thức đặc biệt mang tính hình tượng
- Trong hoạt động tạo hình, trẻ có nhiều cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu các đối tượng miêu tả để có được hiểu biết, sự hình thành về các đối tượng đó,
từ đó xây dựng các biểu tượng, hình tượng Từ đó khẳng định hoạt động tạo hình là một hoạt động tích cực để phát triển ở trẻ các khả năng hoạt động trí tuệ như khả năng như: óc quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng
Trong quá trình tri giác các đối tượng miêu tả, các tính chất, các thuộc tính của các sự vật hiện tượng như màu sắc, hình tượng, kích thước, tỷ lệ,… được trẻ tích cực ghi nhận, đối chiếu với các chuẩn mực cảm giác mà trẻ đã biết,
để tiếp đó trẻ phân loại , bổ sung và hình thành các biểu tượng, dần dần đến những hình tượng mang tính nghệ thuật Quá trình này đòi hỏi hoạt động nỗ lực các thao tác trí tuệ như phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, cụ thể hóa
Trang 23- Hoạt động tạo hình giúp trẻ tiếp thu, mở rộng và hệ thống hóa các chuẩn cảm giác, tri giác, màu, kích thước, hình khối, tỷ lệ… Nhờ quá trình quan sát đối tượng miêu tả mà trẻ thường xuyên sử dụng tính tích cực các chuẩn cảm giác để tìm hiểu, khám phá những điều chưa biết về các sự vật hiện tượng Từ đó trẻ tích lũy được một lượng lớn các thông tin hình ảnh cùng những hiểu biết về các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống xung quanh Chính trên cơ sở sự hiểu biết sâu sắc về các đặc điểm, tính chất của các sự vật, hiện tượng mà trẻ có dịp nắm bắt về các mối quan hệ có tính chất quy luật của mọi vật trong thế giới xung quanh
- Khi thực hiện các nhiệm vụ tạo hình, trẻ cần huy động vốn hiểu biết, vốn biểu tượng đã tích lũy được để “nhào nặn”, “chế biến” thành những hình tượng mới Các điều kiện và yêu cầu sáng tạo của hoạt động tạo hình làm cho các biểu tượng được hình thành ở trẻ trong quá trình tri giác sẽ luôn được đổi mới, bổ sung và trở thành phong phú hơn Như vậy là, chính nhờ hoạt động tạo hình mà hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh luôn được tăng lên, ngày càng trở nên giàu có hơn cả về lượng lẫn về chất
- Quá trình vẽ, nặn, xé dán, chắp ghép… đòi hỏi trẻ phải luôn tìm hiểu, khám phá, phát hiện ra các tính chất của các loại vật liệu cũng như khả năng tạo hình, khả năng tạo ra sức truyền cảm của chúng Trong quá trình tạo hình trẻ được lĩnh hội các kĩ năng sử dụng các loại dụng cụ, chất liệu như những công cụ lao động của con người Đây chính là điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển trí tuệ và nhận cách trẻ
- Hoạt động tạo hình chính là môi trường thuận lợi làm hình thành ở trẻ các phẩm chát trí tuệ như: tính tự giác, tính ham hiểu biết, tính tích cực nhận thức và óc sáng tạo,…
Trang 24b Hoạt động tạo hình đối với việc giáo dục tình cảm, đạo đức, kĩ năng giao tiếp xã hội
Hoạt động tạo hình có một vai trò lớn trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ Tham gia vào hoạt động tạo hình, trẻ có điều kiện tiếp thu các chuẩn mực thẩm mỹ - đạo đức trong xã hội, trải nghiệm các cảm xúc, tình cảm trong giao tiếp, học hỏi về các kĩ năng xã hội và đánh giá các hành vi văn hóa xã hội qua các hình tượng, các sự kiện, hiện tượng được miêu tả
c Vai trò của hoạt động tạo hình đối với việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ
Hoạt động tạo hình là một trong những hoạt động có ý nghĩa giáo dục thẩm mỹ Với tư cách là một hoạt động nghệ thuật, hoạt động tạo hình tạo nên những điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của cảm giác, tri giác thẩm mỹ: việc quan sát, tìm hiểu các sự vật hiện tượng giúp trẻ nhận ra các đặc điểm thẩm mỹ (hình dáng, màu sắc, cấu trúc…), nhận ra được các nét độc đáo tạo nên sức hấp dẫn của đối tượng miêu tả
Quá trình thể hiện các sản phẩm tạo hình (vẽ, nặn, xé dán, ghép hình…)
là điều kiện thuận lợi cho trẻ vận dụng tích cực vốn biểu tượng hình tượng đã tích lũy được để phối hợp, xây dựng hình tượng mới làm cho các sản phẩm tạo hình của trẻ ngày càng trở nên sinh động, đầy sức hấp dẫn và mang màu sắc nghệ thuật Sự thể hiện nội dung tạo hình bằng phương tiện truyền cảm mang tính trực quan (đường nét, màu sắc, hình dạng) sẽ làm cho cảm xúc thẩm mỹ của trẻ ngày càng trở nên sâu sắc hơn, trí tưởng tượng mang tính nghệ thuật của trẻ ngày càng phong phú hơn
d Vai trò của hoạt động tạo hình đối với sự phát triển thể chất của trẻ
Hoạt động tạo hình cũng có vai trò to lớn đối với sự phát triển thể chất của trẻ: tác động rất tích cực với hoạt động của tim mạch, điều hòa hoạt động của hệ thần kinh, điều chỉnh toàn bộ hoạt động của cơ thể Mặt khác, nhờ có hoạt động tạo hình mà kỹ năng vận động tinh của trẻ ngày càng trở nên thuần
Trang 25thục và khéo léo hơn, góp phần rèn luyện sự vận động và phối hợp các cơ nhỏ của bàn tay, ngón tay
e Vai trò của hoạt động tạo hình đối với việc chuẩn bị cho trẻ bước vào trường phổ thông
Hoạt động tạo hình chính là một môi trường, một phương tiện để hình thành ở trẻ những cơ sở ban đầu của hoạt động học tập trong trường phổ thông: Hoạt động học tập, khả năng đánh giá và tự đánh giá, sự khéo léo, linh hoạt trong vận động của tay, từ đó giúp cho việc học viết ở trường phổ thông
Trang 26Chương 2:
HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN CHO TRẺ
MẦM NON THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH
Chương 2 sẽ trình bày các nguyên tắc hình thành biểu tượng toán cho trẻ; vai trò của hoạt động tạo hình đối với việc hình thành biểu tượng toán; một số hoạt động tạo hình nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ Cụ thể như sau:
2.1 Các nguyên tắc hình thành biểu tượng toán cho trẻ (xem [2], tr 28)
Trong quá trình hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ Mầm non cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc dạy học đảm bảo tính phát triển
Trong quá trình dạy học, trẻ em không chỉ tiếp thu một cách thụ động những kiến thức từ phía người lớn mà trẻ thường tích cực hoạt động, giao lưu, suy nghĩ và nhận biết các mối liên hệ, quan hệ phong phú trong cuộc sống Vì vậy quá trình dạy trẻ cần hướng tới phát triển tư duy cho trẻ, phát triển các năng lực nhận biết, hình thành hứng thú đối với các kiến thức, hình thành các mối quan hệ nhất định
Trong quá trình hình thành những biểu tượng toán học cho trẻ chúng ta cần dạy trẻ nhận biết các mối quan hệ số lượng, các mối quan hệ không gian
và thời gian có trong môi trường xung quanh trẻ, qua đó hình thành ở trẻ một thái độ mới đối với môi trường xung quanh, hình thành hứng thú nhận biết và phát triển tính ham hiểu biết cho trẻ
Như vậy, trong quá trình tổ chức dạy học cho trẻ cần chú trọng tới sự phát triển tư duy cho trẻ Tư duy của trẻ phát triển theo hướng từ các thao tác thực hành với các vật cụ thể hay với các hình vẽ của chúng tới các thao tác với các khái niệm, tức là tới các thao tác trí tuệ
Trang 27Cùng với việc trẻ nắm kiến thức và hoàn thiện, biến đổi nó về chất là sự phát triển tư duy, tất cả điều đó tạo nên sự phát triển chung cho trẻ
- Nguyên tắc học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với thực tiễn
Những kiến thức toán học mà trẻ nắm được ở trường mầm non cần dựa trên những kinh nghiệm sống của trẻ, và quan trọng hơn những kiến thức này cần được trẻ ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống của trẻ thông qua các tiết học khác và các hoạt động phong phú như: vui chơi, học tập, lao động và cuộc sống sinh động của trẻ nhờ vậy những kiến thức này sẽ trở nên có ý nghĩa và bền vững hơn
Để đảm bảo nguyên tắc này, trong quá trình dạy học việc lựa chọn nội dung dạy học luôn phải gắn liền với điều kiện sống của trẻ, nhằm luyện tập cho trẻ thói quen quan tâm, chú ý tới các sự kiện, hiện tượng xung quanh trẻ, qua
đó biết được các mối quan hệ toán học có trong các sự kiện, hiện tượng đó
Trong quá trình dạy học cần sử dụng hệ thống bài tập, và các trò chơi học tập nhằm tạo điều kiện cho trẻ vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống Hơn nữa giáo viên cần suy nghĩ và tạo mọi điều kiện, tình huống để trẻ có thể ứng dụng những kiến thức, kĩ năng của mình vào các hoạt động phong phú của trẻ
- Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan
Cơ sở của nguyên tắc này là sự thống nhất giữa các quá trình nhận thức cảm tính và lí tính trong dạy học Ở trẻ nhỏ các hình thức tư duy trực quan - hành động và trực quan - hình tượng đóng vai trò chủ yếu, do vậy những kiến thức mà trẻ nắm được phần lớn ở mức độ biểu tượng Những biểu tượng này
là sản phẩm của sự tri giác trực tiếp những sự vật và hiện tượng diễn ra trong cuộc sống xã hội, qua sự quan sát các hoạt động của người lớn… Như vậy cuộc sống xung quanh trẻ là một trong những tư liệu trực quan chính, cho nên nguyên tắc trực quan trong dạy học là một nguyên tắc cơ bản
Trang 28Việc sử dụng các thiết bị trực quan đa dạng trong dạy học tạo điều kiện
để hình thành ở trẻ nhỏ những biểu tượng cụ thể, đầy đủ về các mối quan hệ toán học phong phú có trong môi trường xung quanh trẻ, chúng còn góp phần làm phong phú cụ thể hóa những kiến thức mà trẻ đã có từ trước Tính trực quan của các đồ vật được sử dụng trong quá trình dạy học cần được phức tạp dần cùng với sự phát triển tư duy của trẻ
Việc tuân theo nguyên tắc trực quan trong dạy học là cơ sở để trẻ hiểu sâu sắc những kiến thức thu được góp phần hình thành những kĩ năng, kĩ xảo cho trẻ Các biểu tượng toán học được hình thành ở trẻ ngày càng cụ thể đầy
đủ, chính xác thì trẻ càng dễ sử dụng chúng vào những dạng hoạt động vừa sức trẻ, cũng như vào quá trình nhận biết tiếp theo của trẻ
- Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính trình tự
Trong quá trình dạy trẻ, giáo viên phải xác định chính xác nội dung các kiến thức cần trang bị cho trẻ trong từng giai đoạn học tập Với mục đích đó cần lập kế hoạch dạy học cụ thể những kiến thức toán học sơ đẳng, trong đó nội dung dạy học cần được phân chia ra thành các phần nhỏ, giáo viên cần phải thiết lập các mối quan hệ giữa các phần nội dung trong các giai đoạn dạy học khác nhau, qua đó tạo điều kiện để đảm bảo tính hệ thống và tính trình tự trong dạy học
Trong quá trình dạy học cần dạy trẻ nắm được mối liên hệ bên trong giữa các phần kiến thức toán học riêng biệt nhờ vậy mà những kiến thức toán học được đưa đến trẻ sẽ mang tính tổng hợp Việc trẻ em hiểu mối liên hệ giữa các nội dung kiến thức toán học có trong chương trình có tác dụng hình thành ở trẻ một hệ thống kiến thức cân đối và phát triển tư duy cho trẻ
- Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức
Tính vừa sức trong dạy học được đảm bảo bởi khối lượng những kiến thức và kĩ năng đã tích lũy ở trẻ, bởi tính cụ thể của nội dung dạy học Trong
Trang 29đó nội dung dạy học được đưa đến trẻ theo các nguyên tắc: từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ cái đã biết đến cái chưa biết, từ gần tới xa Điều đó
có nghĩa là trẻ nhỏ chỉ lĩnh hội được những kiến thức kĩ năng phù hợp với các đặc điểm và mức độ phát triển trí tuệ của trẻ Vì vậy nội dung những kiến thức, kĩ năng dạy trẻ cần phải phù hợp với lứa tuổi trẻ và với từng trẻ
Để đảm bảo tính vừa sức trẻ những kiến thức mới truyền thụ cho trẻ cần được phức tạp dần, được củng cố qua các bài luyệ tập phong phú và được ứng dụng vào các dạng bài tập khác nhau của trẻ Sự xâm nhập của những kiến thức mới vào hệ thống những kiến thức đã lĩnh hội có tác dụng củng cố,
bổ sung và làm sâu sắc hơn những kiến thức đã có và tạo ra hiệu quả dạy học
Tóm lại, việc tuân thủ theo nguyên tắc dạy học vừa sức trẻ là điều kiện đảm bảo cho quá trình hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non đạt hiệu quả cao
- Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học
Để đảm bảo nguyên tắc này trong việc dạy học những kiến thức toán học ban đầu đòi hỏi người giáo viên càn phải nắm và vận dụng được những thành tựu của khoa học giáo dục mầm non, phản ánh được tinh thần của nội dung học tập và hoàn cảnh cụ thể Vì vậy khi dạy trẻ cần có sự lựa chọn nội dung chương trình dạy học có tính logic và tính khoa học, phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục và dạy học, đồng thời phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ
Trong quá trình hình thành những biểu tượng toán học cho trẻ cần đảm bảo tính chính xác, tính khoa học về tất cả mọi mặt như: ngôn ngữ, ký hiệu, hình vẽ, kiến thức, suy luận Thông qua quá trình hình thành các biểu tượng toán học, ngôn ngữ của trẻ sẽ được phát triển, vốn từ của trẻ thêm phong phú, giúp trẻ nắm được một số thuật ngữ khoa học chính xác
Để đảm bảo được nguyên tắc khoa học trong quá trình dạy trẻ những kiến thức toán học sơ đẳng, giáo viên cần nắm chắc những kiến thức toán học,
Trang 30đồng thời phải nắm được những quy luật phát triển chung của trẻ và những đặc điểm phát triển riêng của từng trẻ
- Nguyên tắc phát huy tính tích cực
Nếu trong quá trình dạy học mà không có sự hoạt động tư duy tích cực thì không thể có sự nắm vững kiến thức, mặt khác nếu học mà hiểu, nắm được kiến thức thì tư duy sẽ hoạt động tích cực
Để lĩnh hội được kiến thức thì trẻ phải có kĩ năng tri giác và phân tích những dấu hiệu cơ bản, kĩ năng xem xét một sự kiện, hiện tượng, hoạt động nào đó trong những mối quan hệ phong phú của nó Do vậy trong quá trình dạy học cần tạo mọi điều kiện để trẻ chủ động tìm tòi, suy nghĩ, nắm bắt kiến thức, hình thành kĩ năng mới trên cơ sở tri giác tích cực đối tượng nghiên cứu với sự tham gia của các giác quan khác nhau, qua đó góp phần kích thích hoạt động tư duy của trẻ
Để đảm bảo tính tích cực trong quá trình dạy học cần sử dụng đúng mức phương pháp dạy học nên vấn đề, giáo viên cầm đặt trẻ vào các tình huống có vấn đề, buộc trẻ phải suy nghĩ tìm tòi cách giải quyết chúng
Để trẻ luôn tích cực trên tiết học, giáo viên cần chú ý tới nội dung phong phú của tiết học cũng như thời gian tiến hành nó Thời gian của tiết học phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ
2.2 Hoạt động tạo hình đối với việc hình thành các biểu tƣợng toán cho trẻ mầm non
Làm quen với các biểu tượng toán sơ đẳng là một hoạt động giúp trẻ phát triển nhận thức Quan điểm tích hợp cho phép tích hợp nội dung giáo dục của các lĩnh vực trong mọi hoạt động của trẻ Nội dung chương trình giáo dục đưa ra là nội dung khung mang tính mở tạo cơ hội cho giáo viên linh hoạt trong việc xác định lựa chọn cách tổ chức, các hình thức hoạt động phong phú, gần gúi với cuộc sống thường ngày của trẻ Chính cách tiếp cận này giúp