1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá chế độ sinh hoạt của trẻ 4 5 tuổi ở trường mầm non hùng vương phúc yên vĩnh phúc (2014)

86 451 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá chế độ sinh hoạt cho trẻ có tầm quan trọng đặc biệt đối với trẻ: Bằng nhiều phương pháp đánh giá đa dạng, phong phú thông qua các hoạt động như vui chơi, lao động, sinh hoạt hàn

Trang 1

-

TRỊNH THỊ SEN

ĐÁNH GIÁ CHẾ ĐỘ SINH HOẠT CỦA TRẺ 4 - 5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON HÙNG VƯƠNG

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

nhất đến cô giáo - người hướng dẫn khoa học: Th.S Nguyễn Thị Việt Nga đã

tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô trong khoa Sinh - KTNN đặc biệt là các thầy cô trong tổ phương pháp dạy học sinh học đã tận tình giúp đỡ, đóng góp kiến thức qu báu để tôi

có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các cô giáo trong trường mầm non Hùng Vương - Phúc Yên - Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong việc cung cấp các số liệu về trường

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài

Đây là bước đầu tiên tôi làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi sự thiếu sót Tôi mong sẽ nhận được sự góp của các thầy cô và toàn thể bạn đọc để khóa luận của tôi ngày càng hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2014

Sinh viên

Trịnh Thị Sen

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài: “Đánh giá chế độ sinh hoạt của trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm

non Hùng Vương - Phúc Yên - Vĩnh Phúc” là kết quả nghiên cứu của riêng

tôi dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Việt Nga không trùng với kết

quả nghiên cứu nào khác

Các số liệu, kết quả thu thập được trong khóa luận là: trung thực, rõ ràng, chính xác

Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2014

Sinh viên

Trịnh Thị Sen

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BGDĐT : Bộ Giáo dục và đào tạo

ĐCQG : Đạt chuẩn quốc gia

HĐNT : Hoạt động ngoài trời

KTNN : Kĩ thuật nông nghiệp

NIH : Viện sức khỏe quốc gia Mỹ

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN I MỞ ĐẦU 1

1 L do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu đề tài 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2

4 Khách thể nghiên cứu của đề tài 3

5 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3

6 Giả thuyết khoa học của đề tài 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

7.1 Phương pháp nghiên cứu l thuyết 3

7.2 Phương pháp quan sát sư phạm 3

7.3 Phương pháp đàm thoại 3

7.4 Phương pháp thống kê toán học 3

8 Đóng góp của đề tài 4

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Tổng quan những nghiên cứu về chế độ sinh hoạt của trẻ mầm non 5

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 5

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 7

1.2 Cơ sở lí luận 9

1.2.1 Đánh giá 9

1.2.1.1 Khái niệm đánh giá 9

1.2.1.2 Ý nghĩa 10

1.2.1.3 Mục tiêu 11

1.2.2 Chế độ sinh hoạt cho trẻ ở trường mầm non 12

Trang 6

1.2.2.1 Khái niệm chế độ sinh hoạt 12

1.2.2.2 Những yêu cầu của chế độ sinh hoạt cho trẻ ở trường mầm non 13

1.2.2.3 Các hoạt động trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ ở trường mầm non 15

1.2.2.4 Chế độ sinh hoạt chung của trường mầm non 16

1.2.2.5 Tổ chức các chế độ sinh hoạt cho trẻ 17

1.2.2.5.1 Đón trẻ, thể dục sáng, điểm danh 17

1.2.2.5.2 Hoạt động học 18

1.2.2.5.3 Chơi hoạt động ở các góc 19

1.2.2.5.4 Chơi hoạt động ngoài trời 19

1.2.2.5.5 Ăn, ngủ, vệ sinh 21

1.2.2.5.6 Chơi hoạt động chiều 22

1.2.2.5.7 Trả trẻ 23

1.2.2.6 Mục tiêu đánh giá chế độ sinh hoạt 24

1.2.3 Đặc điểm tâm - sinh lí của trẻ 4 - 5 tuổi 24

1.3 Vài nét về trường mầm non Hùng Vương – Phúc Yên – Vĩnh Phúc 28

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ CHẾ ĐỘ SINH HOẠT CỦA TRẺ 4-5 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON HÙNG VƯƠNG - PHÚC YÊN 30

2.1 Nội dung tổ chức chế độ sinh hoạt cho trẻ mầm non 30

2.1.1 Tổ chức giấc ngủ cho trẻ 30

2.1.2 Tổ chức bữa ăn cho trẻ 32

2.1.3 Tổ chức hoạt động học tập cho trẻ 33

2.1.4 Tổ chức dạo chơi ngoài trời cho trẻ 36

2.1.5 Tổ chức hoạt động độc lập cho trẻ 37

2.2 Thang đánh giá chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường mầm non 38

2.3 Phương pháp tiến hành đánh giá 40

Trang 7

2.4 Kết quả đánh giá dựa trên quan sát 42

2.5 Kết quả đánh giá dựa trên phiếu điều tra giáo viên 57

CHƯƠNG 3 NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP 70

3.1 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng chế độ sinh hoạt cho trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương - Phúc Yên - Vĩnh Phúc 70

3.2 Giải pháp, khắc phục 71

PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

1 Kết luận 73

2 Kiến nghị 74

PHỤ LỤC 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 8

PHẦN I MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình là tương lai của mỗi dân

tộc, đất nước Bảo vệ và chăm sóc trẻ em là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn

dân, toàn xã hội và của mỗi gia đình Trong việc giáo dục mầm non quan

trọng là giáo dục được chế độ sinh hoạt cho trẻ một cách nề nếp, trật tự Tục

ngữ Việt Nam có câu “Uốn cây từ thủa còn non - Dạy con từ thủa con còn

thơ ngây” Vì vậy, đối với trẻ thơ việc hình thành dấu ấn ban đầu có nghĩa

to lớn vì nó là mầm mống, mấu chốt sau này của trẻ

Trong xu thế hội nhập có tính toàn cầu của đất nước, các chính sách và

chủ trương của Đảng và Nhà nước đều hướng tới xây dựng con người mới, xã

hội chủ nghĩa trong một xã hội hiện đại và văn minh cần phải có văn hoá,

luôn giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc mà thế hệ ông cha ta đã dày công vun

đắp Vì vậy, công tác giáo dục ngày càng được quan tâm, chú trọng Đặc biệt,

là bậc học mầm non, bởi đây là bậc học nền tảng, nhằm hình thành cho trẻ

những kiến thức, kĩ năng đầu tiên cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo

đức, thể chất, thẩm mĩ và những kĩ năng cơ bản để trẻ học tiếp bậc học phổ

thông Ở bậc học này, công việc của giáo viên không chỉ đơn thuần là việc

dạy trẻ kiến thức mà còn chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ từng bữa ăn, giấc ngủ Vì

vậy, việc chăm sóc, giáo dục sinh hoạt hàng ngày cho trẻ là rất cần thiết và

quan trọng Giáo viên cần giáo dục sinh hoạt hàng ngày cho trẻ và kết hợp với

đánh giá sinh hoạt hàng ngày cho trẻ trong tất cả hoạt động mà trẻ tham gia

Từ đó hình thành cho trẻ các kĩ năng cơ bản

Ở trẻ 4 - 5 tuổi nói riêng và trẻ ở các độ tuổi mầm non khác nói chung,

mọi phẩm chất và nhân cách được hình thành, phát triển trong những điều

kiện ổn định, trên nền tảng thói quen Do vậy, cần tạo ra tình huống ổn định

Trang 9

để hình thành phẩm chất, nhân cách tốt Đồng thời, cũng phải thay đổi điều

kiện sống để củng cố chế độ sinh hoạt hàng ngày phù hợp trong điều kiện

mới Đây là để tạo ra những mẫu người linh hoạt để thích ứng với mọi hoàn

cảnh khác nhau trong cuộc sống Đánh giá chế độ sinh hoạt cho trẻ có tầm

quan trọng đặc biệt đối với trẻ: Bằng nhiều phương pháp đánh giá đa dạng,

phong phú thông qua các hoạt động như vui chơi, lao động, sinh hoạt hàng

ngày, ăn, ngủ, học tập… Trẻ được rèn luyện các kĩ xảo, phát triển những xúc

cảm thẩm mĩ tốt của trẻ với quá trình thực hiện Bằng hoạt động dạy học,

thông qua các tiết học như làm quen với môi trường xung quanh, văn học, âm

nhạc, tạo hình, các hoạt động vui chơi Trẻ sẽ lĩnh hội được những biểu tượng

đúng về quá trình sinh hoạt và nghĩa của nó Hai con đường trên có những ưu

thế riêng với việc đánh giá chế độ sinh hoạt cho trẻ, góp phần giáo dục, hoàn

thiện trẻ

Vì thế, là một giáo viên mầm non tương lai, chúng tôi đặc biệt rất quan

tâm tới vấn đề sinh hoạt hàng ngày cho trẻ nên chúng tôi chọn đề tài “Đánh

giá chế độ sinh hoạt của trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương -

Phúc Yên - Vĩnh Phúc” nhằm đánh giá chế độ sinh hoạt cho trẻ, tìm ra

nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp cần thiết nhằm nâng cao chất lượng

sinh hoạt cho trẻ mầm non

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Đánh giá tình hình về chế độ sinh hoạt cho trẻ ở trường mầm non Hùng

Vương ở Phúc Yên - Vĩnh Phúc Từ đó, đưa ra các biện pháp kiến nghị để

nâng cao hiệu quả việc chăm sóc - giáo dục chế độ sinh hoạt cho trẻ ở trường

mầm non

3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu cơ sở l luận về đánh giá

- Tìm hiểu nội dung chế độ sinh hoạt cho trẻ

Trang 10

- Tìm hiểu thang đánh giá chế độ sinh hoạt của trẻ

- Đánh giá tình hình chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường mầm non

- Đưa ra các giải pháp nâng cao chế độ sinh hoạt của trẻ mầm non

4 Khách thể nghiên cứu của đề tài

Trẻ 4 - 5 tuổi trường mầm non Hùng Vương - Phúc Yên - Vĩnh Phúc

5 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Chế độ sinh hoạt của trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương -

Phúc Yên - Vĩnh Phúc

6 Giả thuyết khoa học của đề tài

Nếu đánh giá chính xác chế độ sinh hoạt cho trẻ 4 - 5 tuổi trường mầm

non Hùng Vương - Phúc Yên - Vĩnh Phúc thì chúng ta sẽ tìm được các giải

pháp tốt nhất để góp phần nâng cao chế độ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ giúp

trẻ có thể phát triển một cách toàn diện

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu cơ sở l thuyết về đánh giá chế độ sinh hoạt cho trẻ

mầm non

- Nghiên cứu nội dung về chế độ sinh hoạt cho trẻ mầm non

7.2 Phương pháp quan sát sư phạm

- Tiến hành quan sát hoạt động của trẻ 4 - 5 tuổi thông qua chế độ sinh

hoạt hàng ngày

7.3 Phương pháp đàm thoại

- Tiến hành trao đổi đàm thoại với giáo viên học sinh (trẻ 4 - 5 tuổi)

trường mầm non Hùng Vương - Phúc Yên - Vĩnh Phúc lúc đón và trả trẻ

7.4 Phương pháp thống kê toán học

- Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm xử l , sử dụng số liệu

nghiên cứu của việc điều tra thực nghiệm

Trang 11

- Sử dụng công thức và thống kê nhƣ công thức tính %, giá trị trung bình

8 Đóng góp của đề tài

- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về đánh giá và chế độ sinh hoạt

- Đánh giá tình hình về chế độ sinh hoạt và đƣa ra các giải pháp

Trang 12

PHẦN II NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan những nghiên cứu về chế độ sinh hoạt của trẻ mầm non

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Việc nghiên cứu một cách khoa học về chế độ sinh hoạt cho trẻ mầm

non có từ rất sớm như tổ chức về giấc ngủ, bữa ăn, hoạt động học tập, tổ chức

dạo chơi… Đặc biệt, về giấc ngủ đã được bắt đầu từ giữa thế kỉ XIX Với

những nghiên cứu về l thuyết của giấc ngủ Trong đó, có l thuyết vỏ não

của I.P.Paplôp mang nghĩa đặc biệt quan trọng

Theo I.P.Paplôp thì thời gian và nhịp điệu sinh hoạt có một tầm quan

trọng lớn lao trong chế độ sinh hoạt Trong học thuyết và hoạt động thần kinh

bậc cao ông đã chỉ ra rằng “Dưới ảnh hưởng của hệ thần kinh trung ương, cơ

thể sống và hoạt động rất chính xác và nhịp nhàng: tim đập nhịp nhàng, nhịp

tuần hoàn của máu và tiêu hóa thức ăn, nhịp tăng giảm năng lượng và sự mệt

mỏi của cơ thể được biểu hiện ở sự lên xuống của đường cong sinh l hoạt

động ngày và đêm của cơ thể sống” [1]

Theo kết quả nghiên cứu của Viện sức khỏe quốc gia Mỹ (NIH) thì

những đứa trẻ ngủ đủ thời gian mỗi ngày sẽ ít bị béo phì, ít bị tai nạn bất

thường, có tâm trạng vui vẻ thoải mái và kết quả học tập tốt hơn Những đứa

trẻ ngủ ít thường bị hiếu động thái quá thiếu tập trung tư tưởng trong học tập,

hay cáu kỉnh vô cơ và đôi khi có biểu hiện rối loạn hành vi Ông Carl Hunt –

Giám đốc trung tâm nghiên cứu về rối loạn giấc ngủ thuộc NIH còn khẳng

định: “Bất kể làm việc gì trẻ em cũng sẽ làm tốt hơn nếu chúng có một giấc

ngủ tốt” [9]

Theo báo cáo của bác sĩ Brett R.Kuln - Trường Đại học Nebraska tại

hội nghị thường niên của Hiệp hội nghiên cứu giấc ngủ: khuyến khích trẻ ngủ

Trang 13

nhiều có thể trừ ác mộng và mộng du Mặc dù người ta cho rằng tình trạng

này có liên quan đến một số yếu tố di truyền nhưng tác giả cho rằng những trẻ

bị rối loạn này có thể bị giảm các biểu hiện bệnh l nếu tăng tổng số thời gian

ngủ Tác giả khuyên các bậc cha mẹ, các cô giáo nên cho trẻ ngủ trưa, cần cho

trẻ ngủ nhiều hơn bằng cách không để ti vi và trò chơi điện tử trong phòng

ngủ của trẻ Tăng tổng số thời gian ngủ làm giảm rõ rệt tần suất các cơn ác

mộng [9]

Trong thời gian gần đây bác sĩ Mare Weissbluth – chuyên gia hàng đầu

về giấc ngủ của Mỹ đã đưa ra những tư liệu, nghiên cứu của mình ông đã đề

cập đến những vấn đề: “Để trẻ có giấc ngủ ngon” với phương pháp tìm ra

nguyên nhân và giả thuyết những rối loạn giấc ngủ [9]

Nói về ảnh hưởng của sự ăn uống đối với sức khỏe của trẻ S Freud

(1835 - 1993) nhà tâm lí học người Áo thấy rằng: Sự ăn uống có ảnh hưởng

rất lớn đến cân nặng của trẻ Ông khẳng định trong trường hợp thiếu ăn các

xương cốt vẫn dài ra, trái lại cân nặng đứng nguyên hay sụt đi

Như ở nhà trẻ Brom – Lây Hít (Bromley Heath ) một nhà trẻ nổi tiếng

ở Mỹ, người ta đã tiến hành có kết quả một chương trình nuôi dạy trẻ dưới 3

tuổi, trong đó có việc dạy nói ngay trong bữa ăn như: “Cà rốt màu đỏ”, “đậu

côve màu xanh” và khuyến khích trẻ nhắc lại những câu ấy Cô chỉ vào một

cháu rồi nói: “Rôbe đang ăn”, rồi chỉ vào cháu khác “Anixa cũng đang ăn” và

khuyến khích trẻ nhắc lại Một bữa ăn có sự giao tiếp vui vẻ giữa người lớn và

trẻ con như vậy sẽ rất sinh động làm cho trẻ ăn thêm ngon mà lại học nói một

cách thoải mái [1]

Mãi đến năm 1967, trong cuốn “Cán bộ giữ vườn trẻ và nhóm trẻ nhỏ

của vườn trẻ Mẫu giáo” của tác giả M.Đ Côvryghina mới đưa ra một số vấn

đề lưu khi tổ chức bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non: cho trẻ ăn tùy thích,

không được bắt buộc trẻ ăn như thế dạ dày tiết dịch mạnh, giữa các bữa ăn

Trang 14

không bao giờ cho ăn bánh kẹo ngọt, cho trẻ ăn không đúng lúc sẽ làm giảm

khẩu vị làm ức chế trung tâm điều khiển ăn uống và làm phá hoại chế độ ăn

uống đúng đắn

Với những nghiên cứu trên ta thấy được các tác giả quan tâm từ rất sớm

song đối tượng của họ thường là những trẻ em có vấn đề về giấc ngủ, bữa ăn

cùng với hoàn cảnh kinh tế khác nhau Chính xuất phát từ lí do trên mà việc

đưa ra một số biện pháp đảm bảo giấc ngủ ngon, chế độ ăn hợp lí là cần thiết

Chứng tỏ rằng trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có

liên quan tới lứa tuổi mầm non Mỗi tác giả nghiên cứu một hướng khác nhau

nhưng tất cả hướng tới một mục tiêu việc chăm sóc, giáo dục trẻ từ giấc ngủ,

bữa ăn, học tập, vui chơi cho trẻ

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước

Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng thì sự ăn uống có ảnh hưởng rất

lớn đến sức khỏe của trẻ.Trẻ được nuôi dưỡng tốt ăn uống đầy đủ thì da dẻ

hồng hào, thịt chắc nịch và cân nặng đảm bảo Sự ăn uống không điều độ sẽ

ảnh hưởng đến sự tiêu hóa của trẻ

Danh y Việt Nam, Tuệ Tĩnh (XIV) đã từng nói “Thức ăn là thuốc,

thuốc là thức ăn”, khoa học dinh dưỡng cũng cho chúng ta biết: Thức ăn, các

chất dinh dưỡng làm vật liệu xây dựng cơ thể Các vật liệu này thường xuyên

đổi mới và thay thế thông qua quá trình hấp thụ và chuyển hóa các chất trong

cơ thể Ngược lại cơ thể không được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ gây

ra bệnh tật

- Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Chúc với tác phẩm “Hướng dẫn tổ chức

hoạt động vui chơi” - đã đề cập đến các loại trò chơi, mức độ, mối quan hệ

trong trò chơi

- Nguyễn Thị Ánh Tuyết với luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu “Một số

biện pháp tổ chức HĐNT nhằm phát triển thể lực cho trẻ 5 - 6 tuổi” tác giả đã

Trang 15

đề cập đưa ra các biện pháp: chọn lựa trò chơi phù hợp nhằm phát triển thể

lực, lập kế hoạch, tạo môi trường phong phú, đánh giá trẻ trong HĐNT

- Đặng Hồng Phương với nghiên cứu “Thực trạng sử dụng biện pháp tổ

chức hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi” công bố kết quả khảo

sát nhận thức của giáo viên về các trường mầm non ở Hà Nội, Hà Tây (cũ),

Thái Bình, Nghệ An về nội dung tổ chức các hoạt động ngoài trời cho trẻ

- Báo cáo “Kết quả điều tra tình hình giấc ngủ của trẻ ở một số nhà trẻ

ở Hà Nội ”– Vũ Thị Chín, Nguyễn Thị Thanh Vân, Nguyễn Văn Lai, Nguyễn

Sinh Thảo – 1986

- “Tổ chức ăn, ngủ trưa ở trường Mẫu Giáo” - Đỗ Xuân Hòa – Khoa

giáo dục Mẫu giáo – 1982

- “Sự cần thiết đảm bảo giấc ngủ cho trẻ ” - Lê Thị Ngọc Ái – Tập san

Giáo dục Mầm Non 4/1990

- “Báo cáo tổng kết phần: Vệ sinh chăm sóc và vệ sinh phòng bệnh ” -

Lê Thị Ngọc Ái

- “Khảo sát khẩu phần ăn trưa và bữa phụ” - Lê Thị Khánh Hòa

(1983) có đưa ra khảo sát khẩu phần ăn trưa năng lượng của trẻ ở trường mầm

non

- Tác giả Hoàng Thị Phương với giáo trình “Vệ sinh trẻ em” đã nghiên

cứu và giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc bảo vệ và củng cố sức

khỏe của trẻ lứa tuổi mầm non, hướng dẫn cho mọi người kĩ năng chăm sóc

trẻ, cách thức tổ chức và đánh giá hiệu quả giáo dục trẻ

- “Điều tra tình trạng dinh dưỡng của trẻ mẫu giáo ở một số trường

phía Bắc”- Nguyễn Thị Ngọc Trâm và “Tình hình cung cấp dưỡng chất cơ

bản cho trẻ ở một số trường Mẫu giáo” - Võ Thị Cúc (1992) cũng cho thấy

việc cung cấp dưỡng chất cơ bản (Gluxit, Lipit) cho trẻ mẫu giáo ở các trường

mầm non của nước ta hiện nay còn thấp Hai tác giả cùng nhấn mạnh việc

Trang 16

nâng cao hơn nữa kiến thức khoa học về dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo đối với

các cơ sở nuôi dạy trẻ, tránh tình trạng cho trẻ ăn theo kinh nghiệm hoặc tổ

chức dinh dưỡng thiếu lí luận toàn diện, chặt chẽ và kém hiệu quả

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong nước về vấn đề này không

nhiều mà chủ yếu là tổng kết, đánh giá tình hình giấc ngủ trưa, dinh dưỡng,

khẩu phần ăn, vui chơi của trẻ ở trường mầm non chưa quan tâm, đi sâu vào

cách thức tổ chức ngủ trưa, tổ chức bữa ăn như thế nào để đạt hiệu quả cao

Hơn thế nữa là những nghiên cứu được thực hiện từ những năm 1975 - 1991

cho nên giá trị thực tiễn cũng giảm dần

1.2 Cơ sở lí luận

1.2.1 Đánh giá

1.2.1.1 Khái niệm đánh giá

Đánh giá (evaluation) là quá trình hình thành những nhận định, phán

đoán về kết quả của công việc, dựa vào những phân tích thông tin thu được,

đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết

định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và

hiệu quả công việc [8]

Đánh giá không đơn thuần là sự ghi nhận thực trạng mà còn là đề xuất

những quyết định làm thay đổi thực trạng.Vì thế, đánh giá được coi là một

khâu quan trọng, phải được quan tâm ngay từ khâu làm kế hoạch và trong

suốt quá trình triển khai công viêc (sơ đồ sau) [8]

Trang 17

1.2.1.2 Ý nghĩa

* Đối với giáo viên [8]:

Như đã nói ở phần trên, việc kiểm tra, đánh giá trẻ em cung cấp cho

giáo viên những thông tin “Liên hệ ngược ngoài” giúp người dạy điều chỉnh

hoạt động dạy

Kiểm tra, đánh giá kết hợp với theo dõi thường xuyên tạo điều kiện cho

giáo viên nắm được một cách cụ thể và khá chính xác năng lực trình độ của

mỗi trẻ phụ trách để có biện pháp giúp đỡ riêng thích hợp

Kiểm tra đánh giá một cách công phu sẽ cung cấp cho giáo viên không

chỉ những thông tin về trình độ chung của cả lớp và khối lớp mà còn tạo điều

kiện cho trẻ em nắm được những trẻ có tiến bộ rõ rệt hoặc sút kém đột ngột để

động viên hoặc giúp đỡ kịp thời Người giáo viên có trách nhiệm và kinh

nghiệm thường xem kiểm tra đánh giá như một biện pháp cá nhân hóa dạy học,

giúp cho mỗi trẻ tự đánh giá để tự quyết định cách học phù hợp với mình

Kiểm tra đánh giá tạo cơ hội cho giáo viên xem xét hiệu quả của những

cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mà mình đang theo

đuổi, nhất là những giáo viên đang tâm huyết muốn hoàn thiện việc dạy học

của mình bằng con đường thực nghiệm nghiên cứu khoa học giáo dục

Trang 18

* Đối với cán bộ quản lý giáo dục [8]:

Kiểm tra đánh giá trẻ cung cấp cho cán bộ quản lý giáo dục các cấp

những thông tin cơ bản về thực trạng dạy và học trong một đơn vị giáo dục để

có những chỉ đạo kịp thời, kịp thời uốn nắn những lệch lạc, khuyến khích hỗ

trợ những sáng kiến hay bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục

Tóm lại, việc kiểm tra đánh giá trẻ em có nghĩa về nhiều mặt trong đó

quan trọng nhất là bản thân của mỗi học sinh

1.2.1.3 Mục tiêu

Làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được về các mục tiêu dạy

học, tình trạng kiến thức, kỹ năng thái độ của trẻ đối chiếu với yêu cầu của

chương trình phát hiện những nguyên nhân, sai sót, giúp trẻ em điều chỉnh

hoạt động học [8]

Công khai hóa các nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi trẻ

em và của tập thể lớp, tạo cơ hội cho trẻ phát triển kỹ năng tự đánh giá, giúp

trẻ em nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên thúc đẩy việc

học tập

Giúp cho giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh điểm

yếu của mình tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động dạy phấn đấu không

ngừng nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học [8]

Việc đánh giá trẻ không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và

định hướng điều chỉnh hoạt động của học trò mà còn đồng thời tạo điều kiện

nhận định thực trạng và định hướng điều chỉnh hoạt động dạy của thầy [8]

Trong nhà trường việc đánh giá kết quả học tập của trẻ em được thực

hiện chủ yếu thông qua việc tổ chức kiểm tra và quan sát sinh hoạt hàng ngày

một cách cũng có hệ thống theo những quy định chặt chẽ Vì thế kiểm tra và

đánh giá là hai việc đi liền nhau tuy rằng không phải mọi việc kiểm tra đều

hướng tới mục đích đánh giá [8]

Trang 19

1.2.2 Chế độ sinh hoạt cho trẻ ở trường mầm non

1.2.2.1 Khái niệm chế độ sinh hoạt

- Theo tác giả Hoàng Thị Phương nói: Chế độ sinh hoạt là sự luân

phiên rõ ràng và hợp lí các dạng hoạt động và nghỉ ngơi của trẻ trong một

ngày, nhằm thỏa mãn đầy đủ nhu cầu về ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân, hoạt động

và nghỉ ngơi của trẻ theo lứa tuổi, đảm bảo trạng thái cân bằng của hệ thần

kinh, giúp cơ thể phát triển tốt Thời gian cho từng hoạt động có thể linh hoạt

từ 5 - 10 phút [2]

Chế độ sinh hoạt là điều kiện quan trọng để giáo dục cho trẻ có kết quả

Khi chế độ sinh hoạt đã trở thành thói quen thì nó giúp trẻ pháp triển tính độc

lập tích cực sáng tạo của trẻ giúp trẻ có những phẩm chất đạo đức, sinh hoạt

có nề nếp theo trật tự thời gian

- Trong “Chương trình Giáo dục mầm non” – Ban hành theo thông tư

số17/2009/TT/BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục

và Đào tạo do Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã k với khái niệm: Chế độ

sinh hoạt là sự phân bổ thời gian và các hoạt động trong ngày ở cơ sở giáo

dục mầm non một cách hợp lí nhằm đáp ứng nhu cầu về tâm lý và sinh lý

của trẻ, qua đó giúp trẻ hình thành thái độ, nề nếp, thói quen và những kỹ

năng sống tích cực [9]

- Ngoài ra theo tác giả Nguyễn Thị Oanh: Chế độ sinh hoạt của trẻ ở

trường mầm non được hiểu là sự sắp xếp trình tự các hoạt động của trẻ trong

mỗi ngày và phân bố thời gian cho các hoạt động căn cứ vào đặc điểm phát triển

tâm - sinh lí lứa tuổi của trẻ và điều kiện thực tiễn của từng địa phương nhằm

thực hiện có hiệu quả quá trình chăm sóc - giáo dục trẻ ở trường mầm non [4]

Như vậy, chế độ sinh hoạt là sự phân bổ thời gian hoặc luân phiên rõ

ràng và hợp lí các dạng hoạt động và nghỉ ngơi của trẻ trong một ngày ở các

cơ sở giáo dục mầm non nhằm đáp ứng nhu cầu về tâm lý và sinh lý của trẻ,

Trang 20

qua đó giúp trẻ hình thành thái độ, nền nếp, thói quen và những kỹ năng sống

tích cực Đặc biệt, việc phân bố thời gian cho các hoạt động căn cứ vào đặc

điểm phát triển tâm - sinh lí lứa tuổi của trẻ và điều kiện thực tiễn của từng

địa phương

* Ý nghĩa về chế độ sinh hoạt cho trẻ ở trường mầm non

- Chế độ sinh hoạt có nghĩa giáo dục đối với trẻ Do sự thường xuyên

lặp lại các thao tác, các hoạt động trong thời gian nhất định và theo một trình

tự nhất định làm cho trẻ nắm được những sinh hoạt hợp lý những kỹ năng văn

hóa - vệ sinh và hoạt động

- Chế độ sinh hoạt cũng giúp trẻ có những phẩm chất và thói quen đạo

đức sinh hoạt có nề nếp trật tự theo trật tự thời gian.Thói quen giờ nào việc

nấy, thói quen điều chỉnh hành vi bản thân cho phù hợp với tập thể, thói quen

tuân thủ quy tắc chung của tập thể

- Việc thực hiện nghiêm túc, đúng đắn chế độ sinh hoạt của trẻ sẽ là

điều kiện quan trọng để phát triển cân đối giữa thể lực và tâm lí cho trẻ Trẻ

được sống trong trạng thái thăng bằng của hệ thần kinh, trẻ cảm thấy vui vẻ,

sảng khoái

Ví dụ: Đón trẻ là hoạt động mang tính chất tĩnh, cho nên tiếp theo hoạt

động này là thể dục sáng - hoạt động mang tính chất động

- Thực hiện nghiên túc chế độ sinh hoạt hàng ngày còn là điều kiện

tích cực để giáo dục hình thành cho trẻ một số nét tính cách tốt như: tính kỷ

luật, tinh thần tự giác, tính khoa học và giáo dục trẻ biết kiềm chế, biết phối

hợp hoạt động trong tập thể

1.2.2.2 Những yêu cầu của chế độ sinh hoạt cho trẻ ở trường mầm non

Chế độ sinh hoạt đúng sẽ đưa trẻ vào nề nếp, thúc đẩy quá trình tiêu

hóa, làm cho trẻ ăn ngủ ngon hơn có khả năng làm việc cao hơn tạo cho sự

phát triển thể chất diễn ra bình thường và sức khỏe của trẻ được củng cố Việc

Trang 21

tổ chức tốt chế độ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ chính là tạo điều kiện để cho hệ

thần kinh trẻ phát triển, hoạt động bình thường, đề phòng trạng thái hưng

phấn không thích hợp của hệ thần kinh giúp trẻ hoạt động và nghỉ ngơi tốt

- Chế độ sinh hoạt cần đảm bảo yêu cầu sau:

+ Chế độ sinh hoạt ở trường mẫu giáo được xây dựng trên cơ sở những

đặc điểm sinh, tâm lí của trẻ trên cơ sở đó những nhiệm vụ giáo dục và điều

kiện sinh hoạt quyết định

+ Chế độ sinh hoạt phải thể hiện rõ các hoạt động trong ngày của trẻ

được sắp xếp theo trình tự nhất định, phù hợp với chức năng cơ thể với môi

trường sống

+ Chế độ sinh hoạt cần đảm bảo theo thời gian cần thiết cho mỗi hoạt

động trong ngày phù hợp với nhu cầu sinh lí và khả năng hoạt động của các

độ tuổi

Ví dụ: Theo lứ tuổi, số bữa ăn của trẻ cũng tăng lên: trẻ 1 tháng tuổi ăn

7 bữa trong ngày, trẻ từ 1- 5 tháng ăn 6 lần trong ngày, trẻ từ 5 - 12 tháng ăn 5

lần trong ngày, trẻ từ 12 - 72 tháng ăn 4 lần trong ngày Thay vào đó khoảng thời

gian giữa các bữa ăn tăng theo lứa tuổi từ 3,5 đến 4 giờ và 4,5 giờ một lần [2]

+ Chế độ sinh hoạt phải đảm bảo sự cân bằng giữa các hoạt động và

nghỉ ngơi, giúp trẻ có thể tiến hành hoạt động dưới nhiều dạng khác nhau và

tránh quá sức đối với trẻ

+ Chế độ sinh hoạt phải được lặp đi lặp lại không được xáo trộn nhiều

để tạo thói quen, nề nếp cho trẻ

+ Chế độ sinh hoạt phải được tổ chức một cách linh hoạt và phù hợp

đối với mọi trẻ, đồng thời chế độ sinh hoạt cần chú tới những đặc điểm

riêng của từng trẻ: với những trẻ yếu, hệ thần kinh dễ bị kích thích thì cần

tăng cường thời gian ngủ, nghỉ ngơi nhiều hơn các trẻ khác

Trang 22

Việc chấp hành nghiêm chỉnh chế độ sinh hoạt một ngày từ đầu đến

cuối với tất cả các yếu tố cấu thành của nó luôn luôn dẫn tới hình thành mối

liên hệ có điều kiện bền vững ở trẻ, làm cho quá trình luân chuyển từ hoạt

động này sang hoạt động khác ở cơ thể trẻ diễn ra một cách dễ dàng Bởi vì,

cơ thể trẻ trong mỗi thời điểm nhất định giống như được chuẩn bị trước cho

dạng hoạt động mà chúng cần phải thực hiện và tất cả quá trình sống (tiêu hóa

thức ăn, hưng phấn, ức chế …) diễn ra nhanh hơn, tiết kiệm hơn với sự tiêu

tốn năng lượng ít hơn Chế độ sinh hoạt đúng đưa trẻ vào nề nếp, thúc đẩy

quá trình tiêu hóa, làm cho trẻ ăn ngủ ngon hơn, có khả năng làm việc cao

hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển thể chất diễn ra bình thường và sức khỏe

của trẻ được củng cố [2]

1.2.2.3 Các hoạt động trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ ở trường

mầm non

Để đảm bảo chế độ sinh hoạt đúng ở trường mầm non cần phải chia

thành các nhóm khác nhau theo lứa tuổi Mỗi nhóm tuổi là một lớp và có chế

độ sinh hoạt riêng nhằm đảm bảo cho việc giáo dục trẻ diễn ra thuận lợi và dễ

dàng giúp cơ thể phát triển tốt Các hoạt động diễn ra trong một ngày của trẻ

là ngủ, vui chơi, dạo chơi Các hoạt động này được được phân định rõ ràng

trong chế độ sinh hoạt theo trình tự theo thời gian khác nhau theo lứa tuổi

Chế độ sinh hoạt của trẻ được chương trình chăm sóc do Bộ giáo dục –

Đào tạo ban hành cụ thể như sau [1]:

Trang 23

Việc thực hiện chế độ không cứng nhắc, khi áp dụng với mỗi em cần có

sự linh hoạt Có thể xê dịch thời gian biểu sao cho phù hợp với điều kiện,

hoàn cảnh Vì vậy, các hoạt động trong chế độ sinh hoạt của trẻ cần đảm bảo

9h20 - 10h10 9h40 - 10h30 - Chơi và hoạt động ngoài trời

10h10 - 11h10 10h30 - 11h30 - Vệ sinh - ăn trƣa

11h10 - 14h00 11h30 - 14h00 - Ngủ trƣa

14h00 - 15h50 14h00 - 14h40 - Vệ sinh, ăn phụ

15h50 - 15h40 14h40 - 15h50 - Chơi và hoạt động theo ý thích

15h40 - 17h00 15h50 - 17h00 - Trả trẻ

Trang 24

1.2.2.5 Tổ chức các chế độ sinh hoạt cho trẻ

1.2.2.5.1 Đón trẻ, thể dục sáng, điểm danh

* Đón trẻ chăm sóc trẻ:

- Đón trẻ:

+ Giáo viên đón trẻ với thái độ vui vẻ, niềm nở Đối với những cháu

mới đi mẫu giáo, một vài ngày đầu gần gũi với trẻ, đón và dẫn trẻ vào tận lớp

+ Dạy trẻ chào cô, chào bố mẹ, các bạn, chào khách khi đến lớp

Hướng dẫn cho trẻ cách cất guốc, dép, mũ đúng nơi quy định

+ Khi đón trẻ, giáo viên có thể trao đổi với phụ huynh về một số điều

cần thiết để tiếp tục theo dõi, chăm sóc khi trẻ ở trường, giáo dục thói quen vệ

sinh cho trẻ một cách thống nhất

- Chơi tự do: Cho trẻ chơi tự do tại các góc hoặc cùng trẻ trò chuyện về

những điều liên quan đến chủ đề đang tiến hành, về bản thân trẻ và những sự

kiện xảy ra hàng ngày xung quanh trẻ

- Thể dục sáng (6 - 8 phút): Bắt đầu trước giờ học 15 phút và được tiến

hành thường xuyên hàng ngày, có thể cho trẻ tập trong lớp hoặc ngoài sân phụ

thuộc vào điều kiện của phòng lớp và thời tiết Nên cho trẻ tập theo nhạc là tốt

nhất Nếu sân trường rộng có thể tạo điều kiện cho toàn trường tập cùng một

thời điểm, tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc với không khí trong lành đồng thời

tắm nắng ban mai góp phần nâng cao sức đề kháng của cơ thể

- Điểm danh: Cần thực hiện dưới nhiều hình thức, giúp trẻ biết tên và

quan tâm đến nhau: giáo viên có thể gọi tên lần lượt từng trẻ hoặc làm cho

mỗi trẻ một thẻ tên - kí hiệu Khi đến lớp trẻ tự gắn lên bảng thành dãy theo tổ

hoặc theo chữ cái đầu của tên Sau đó, trẻ đếm tên - kí hiệu, phát hiện trẻ vắng

mặt hoặc cũng có thể cho trẻ trong tổ quan sát, phát hiện bạn vắng mặt

* Trò chuyện với trẻ đầu mỗi ngày: Để chuẩn bị cho trẻ bước vào một

ngày mới ở trường mầm non sau khi điểm danh cô giành một thời gian ngắn

Trang 25

(5 - 7 phút) để trò chuyện với trẻ giúp trẻ được sống trong tâm trạng thoải

mái, vui vẻ

Ví dụ: Hôm nay thời tiết đột ngột thay đổi tất cả trẻ đều cảm nhận được

điều đó có thể nội dung thời tiết có thể trở thành nội dung trò chuyện của cô

và trẻ, qua đó cô có thể nhắc nhở trẻ về cách ăn mặc cho phù hợp với sự thay

đổi của thời tiết định hướng cho trẻ cách quan sát và cảm nhận sự thay đổi của

thời tiết

1.2.2.5.2 Hoạt động học

Mang tính tích hợp và được dự kiến theo kế hoạch tuần phù hợp với

các lĩnh vực, nội dung giáo dục trong chương trình và theo chủ đề Các tiết

học được tổ chức một cách có hệ thống và có kế hoạch trong chế độ sinh hoạt

vào buổi sáng Thời gian tổ chức tiết học tăng dần theo lứa tuổi mỗi tiết học

không quá 20 - 25 phút Giữa các tiết học cần cho trẻ nghỉ ngơi ít nhất là từ

5 - 10 phút

Mỗi ngày trẻ được học một nội dung trọng tâm (Phát triển nhận thức,

phát triển ngôn ngữ, phát triển thẩm mĩ, phát triển thể chất, âm nhạc, tạo hình)

tích hợp với một hoặc hai nội dung khác mang tính chất bổ trợ Đây là phần ta

có thể tích hợp giáo dục thói quen vệ sinh, kĩ năng xã hội… cho trẻ một cách

hiệu quả và đem lại hiệu quả Thông qua các môn học ta có thể giáo dục sinh

hoạt hàng ngày cho trẻ

Ví dụ: Với tiết học “Làm quen với tác phẩm văn học”, có thể dạy trẻ

các bài thơ, câu chuyện Thông qua câu chuyện,bài thơ, ca dao, câu đố mà trẻ

học được những bài học nhất định Giáo viên chủ động lồng ghép các kiến

thức hàng ngày cho trẻ, giúp trẻ nhận thức các kiến thức một cách dễ dàng,

thuận lợi

Với tiết học “Làm quen với môi trường xung quanh”, đây là tiết học dễ

dàng lồng ghép nhất, giáo viên vừa cung cấp kỹ năng cho trẻ mà còn cho trẻ

Trang 26

thực hành ngay Thông qua, các chủ đề giáo viên có thể lồng ghép sinh hoạt

hàng ngày một cách khéo léo và chủ động giúp trẻ hình thành kiến thức, kĩ năng

Tương tự, trong tất cả các tiết học của trẻ như làm quen với biểu tượng

toán, tạo hình, âm nhạc đều có thể xen kẽ các nội dung giáo dục sinh hoạt cho

trẻ nhiều hay ít

1.2.2.5.3 Chơi hoạt động ở các góc

- Xây dựng môi trường, sắp xếp các góc chơi theo hướng mở tạo điều

kiện để cho trẻ được tự do các nhóm chơi, tham gia vào các trò chơi và hoạt

động theo thích ở các góc Trò chơi đóng vai, trò chơi lắp ghép, xây dựng

đóng vị trí trung tâm với trẻ 4 - 5 tuổi

Giáo viên khuyến khích trẻ tham gia trò chơi sáng tạo như vẽ, nặn, cắt,

xé, dán, ôn lại các bài hát múa, vận động Nội dung chơi phù hợp với độ tuổi

và đảm bảo an toàn cho trẻ, giúp trẻ ôn lại kiến thức kĩ năng sinh hoạt hàng

ngày một cách tự nhiên, thoải mái nhất, đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề

- Kết thúc chơi cô hướng dẫn trẻ tự cất đồ chơi, sắp xếp đồ chơi, đồ

dùng gọn gàng, ngăn lắp, đúng nơi quy định để chuẩn bị sang hoạt động khác

1.2.2.5.4 Chơi hoạt động ngoài trời

Ở thời điểm này, giáo viên tổ chức cho trẻ chơi và tham gia vào các

hoạt động ngoài phạm vi của lớp học với mục đích: Tạo điều kiện cho trẻ

được tiếp xúc với không khí trong lành của thiên nhiên, rèn luyện sức khỏe,

thiết lập mối quan hệ giữa trẻ với môi trường xung quanh, góp phần mở rộng

vốn hiểu biết của trẻ về môi trường tự nhiên - xã hội, thỏa mãn nhu cầu chơi

và hoạt động theo thích của trẻ [6]

- Tùy thuộc và nội dung của chủ đề trong tuần, điều kiện của trường lớp,

hoạt động ngoài trời có thể được tiến hành với một số nội dung, hình thức sau:

+ Chơi tự do với các thiết bị, đồ chơi ngoài trời, làm đồ chơi và chơi

với các vật liệu thiên nhiên như cây, quả, hoa, lá, cát, sỏi, nước

Trang 27

+ Chơi những trò chơi vận động, trò chơi dân gian mà trẻ yêu thích

nhằm tăng cường khả năng vận động cơ thể như chạy nhảy, leo trèo, nắm bắt

+ Quan sát một số sự thay đổi của các hiện tượng thiên nhiên, âm

thanh, thời tiết cây cối, hoa lá, hoạt động của con người, con vật

+ Tham gia vào các hoạt động chăm sóc ở góc thiên nhiên như tưới

cây, lau lá, nhặt lá, chăm sóc và cho các con vật yêu thích ăn

+ Dạo chơi trong sân trường, thăm các khu vực trong trường (thăm nhà

bếp, phòng y tế và các nhóm lớp học khác ) hoặc tham quan ngoài khu vực

trường như: công viên, sở thú, cánh đồng, cửa hàng…thuộc cộng đồng dân cư

gần trường

- Khi thực hiện kế hoạch tuần và tổ chức cho trẻ chơi, hoạt động ngoài

trời nên lưu :

+ Tùy theo tình huống, điều kiện cụ thể của trường lớp mỗi ngày nên

lựa chọn và tổ chức cho trẻ thực hiện 1 đến 2 nội dung mang tính tập thể theo

nhóm và những nội dung tùy theo thích của trẻ

+ Khi tổ chức thực hiện những nội dung trên cần tổ chức phối hợp, hợp

lí hoạt động có tính động (chạy, nhảy, leo, trèo) với những nội dung mang

tính chất tĩnh (ngồi nghe kể chuyện, hát )

+ Những ngày cho trẻ đi ra ngoài khu vực sân trường cần chuẩn bị chu

đáo, lên kế hoạch cụ thể và liên hệ từ trước

+ Những ngày thời tiết mưa quá lạnh không thể tổ chức cho trẻ chơi và

tham gia các hoạt động ở ngoài trời nên cho trẻ chơi trò chơi vận động, trò

chơi dân gian nhẹ nhàng trong lớp hoặc trò chơi học tập, quan sát hiện tượng

thay đổi của thời tiết Nên lưu nhắc nhở hướng dẫn trẻ biết cách mặc thêm

áo hoặc cởi bớt khi thời tiết thay đổi

- Trước khi ra ngoài nên nhắc nhở trẻ tự mặc quần áo, đi dày dép phù

hợp với thời tiết Chú tới thể trạng của trẻ để gợi , khuyến khích trẻ tham

Trang 28

gia và những hoạt động phù hợp Giáo viên nên giới thiệu và nói rõ khu vực

chơi của lớp Tập cho trẻ làm quen với hiệu lệnh khi cần tập trung trẻ lại một

chỗ hoặc chuẩn bị vào lớp

- Trong quá trình chơi cô luôn bao quát tất cả nhóm chơi trong sân

trường, nhắc nhở trẻ không chơi quá khu vực quy định của lớp, giữ gìn vệ

sinh…và chú ý quan sát kịp thời giải quyết những xung đột của trẻ, xử l

nhanh nhạy những tình huống xảy ra trong quá trình chơi đảm bảo an toàn

cho trẻ

- Kết thúc hoạt động nên tập trung trẻ, hướng dẫn trẻ vào lớp, tự cất

giày dép đúng nơi quy định tự rửa tay, lau mặt nghỉ ngơi một vài phút và

chuẩn bị cho hoạt động tiếp theo

1.2.2.5.5 Ăn, ngủ, vệ sinh

* Vệ sinh, ăn trưa

Sắp xếp công việc một cách hợp lí từ khâu chuẩn bị ăn đến khâu vệ

sinh sau khi ăn Trẻ mẫu giáo đã có khả năng làm một số công việc tự phục

vụ, vì vậy tùy vào lứa tuổi cô giáo nên tạo điều kiện cho trẻ cùng chuẩn bị bữa

ăn trưa như ở lứa tuổi 4 - 5 tuổi trẻ có thể kê bàn, sắp bát vào bàn bưng cơm

cho các bạn Trước giờ ăn, cô tổ chức cho trẻ vệ sinh cá nhân như đi vệ sinh

trước khi ăn, rửa mặt, rửa tay Làm được điều đó, một mặt cô giúp trẻ thỏa

mãn nhu cầu tự phục vụ để khẳng định mình, mặt khác kết hợp hình thành

cho trẻ một số thói quen văn hóa vệ sinh và kĩ năng lao động tự phục vụ Cô

giáo nên xếp những trẻ ăn chậm, lười ăn, trẻ mới ốm dậy, mới đi học ngồi vào

những bàn nhất định để thuận lợi cho việc chăm sóc trẻ

Để giúp trẻ ăn ngon miệng, hấp thụ thức ăn tốt, trước bữa ăn, cô giáo

giới thiệu các món ăn tạo cho trẻ tâm trạng hào hứng, chờ đợi món ăn Khi

giới thiệu món ăn cô giáo kết hợp cho trẻ nói về lợi ích của các món ăn Nhắc

nhở trẻ mời cô và các bạn trước khi ăn, khi ăn không nói chuyện riêng

Trang 29

Khi trẻ ăn xong trẻ tự biết cất bát thìa, cất ghế và bàn giúp cô nhắc nhở

trẻ vệ sinh sạch sẽ, không cho trẻ chạy nhảy nhiều sau khi ăn

* Ngủ trưa

+ Trước khi ngủ trưa

Nhắc trẻ đi vệ sinh lấy gối, chăn

Bố trí chỗ ngủ sạch sẽ, gọn gàng, ấm vào mùa đông, mát vào mùa hè

Giảm bớt ánh sáng vào phòng ngủ bằng cách tắt đèn, buông rèm

Cho trẻ nghe hát ru, không gian yên tĩnh, vỗ về để trẻ cảm thấy an toàn

+ Trong khi trẻ ngủ

Phân công giáo viên trực khi trẻ ngủ để phòng kịp thời các tình huống

xảy ra khi trẻ ngủ

Chú nhiệt độ, ánh sáng, tiếng ồn khi trẻ ngủ

Khi ngủ cho trẻ mặc quần áo vừa phải, thoáng mát

+ Sau khi trẻ ngủ dậy

Trẻ nào dậy trước cô cho dậy trước, không đánh thức đồng loạt trẻ

Cho trẻ yếu ngủ thêm giấc

Hướng dẫn trẻ tự cất gối, xếp chăn, đi vệ sinh

+ Ăn phụ chiều

Sau khi trẻ ngủ dậy, nhắc nhở trẻ tự đi vệ sinh lau mặt và rửa tay sạch

sẽ trước khi ăn bữa phụ

1.2.2.5.6 Chơi hoạt động chiều

Cô tự lên kế hoạch cho phù hợp với tình hình của lớp mình Nội dung

của sinh hoạt chiều có thể là:

+ Hướng dẫn trò chơi mới (vận động, học tập, xây dựng)

+ Tổ chức cho trẻ trò chơi sáng tạo

+ Củng cố nội dung của các môn học mà trẻ chưa nắm vững

Trang 30

Mỗi buổi chiều chỉ nên thực hiện một nội dung chính, thời gian còn lại

cho trẻ chơi tự do

* Nêu gương bé ngoan

Để kịp thời động viên những hành vi tốt và giúp trẻ hào hứng tham gia

các hoạt động có thể nêu gương theo 3 thời điểm:

+ Sau giờ học

+ Sau giờ chơi

+ Sau buổi sinh hoạt chiều

Có thể nêu gương dưới nhiều hình thức khác nhau ở các thời điểm khác

nhau Còn các thời điểm khác thì nêu gương nên đi vào bản chất sự việc, giải

thích cho trẻ hiểu thế nào là hành vi tốt, xấu

1.2.2.5.7 Trả trẻ

+ Trước khi cho trẻ ra về: Cô trò chuyện cùng với trẻ, khuyến khích

nêu gương tốt trong ngày, tạo cho trẻ tâm trạng hào hứng vui vẻ, có những ấn

tượng tốt với lớp, với cô, với bạn để trẻ hôm sau lại thích đến trường

+ Hướng dẫn trẻ làm vệ sinh cá nhân: lau mặt, rửa tay, sửa sang quần

áo, đầu tóc gọn gàng, sạch sẽ Trong thời gian chờ đợi bố mẹ đến đón, nên

cho trẻ chơi tự do với một số đồ chơi dễ cất hoặc cho trẻ cùng nhau xem

truyện tranh, đọc thơ kể chuyện, chơi các trò chơi dân gian Tùy theo điều

kiện, có thể cho trẻ chơi với các đồ chơi thiết bị ngoài trời không nên để trẻ

ngồi chời một chỗ chờ bố mẹ đến đón

+ Khi bố mẹ đến đón, hướng dẫn trẻ tự cất đồ chơi đúng nơi quy định,

chào bố mẹ, chào cô giáo, chào các bạn trước khi ra về và giáo dục trẻ các kỹ

năng tự phục vụ Nên giành thời gian trao đổi với bố mẹ một số thông tin cần

thiết trong ngày về cá nhân trẻ cũng như một số hoạt động của lớp cần có sự

phối hợp với gia đình Tuyệt đối không trả trẻ cho người lạ và trẻ em chưa có

khả năng bảo đảm an toàn cho trẻ

Trang 31

- Lưu kiểm tra điện, nước, đóng cửa cẩn thận trước khi ra về

1.2.2.6 Mục tiêu đánh giá chế độ sinh hoạt

Đánh giá chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường mầm non nhằm xác định

thực trạng chăm sóc và giáo dục trẻ ở trường mầm non Trên cơ sở đó có thể

điều chỉnh việc tổ chức các hoạt động và sinh hoạt của trẻ cho phù hợp với

lứa tuổi, đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh hệ thần kinh

1.2.3 Đặc điểm tâm - sinh lí của trẻ 4 - 5 tuổi

* Đặc điểm sinh lí:

Sự phát triển cơ thể diễn ra chậm hơn giai đoạn trước về số lượng:

chiều cao trung bình hàng năm tăng từ 5cm - 8cm, cân nặng trung bình hằng

năm tăng được từ 1 kg - 1,5 kg Ở lứa tuổi này đây là thời kì thuận lợi để trẻ

tiếp thu và củng cố các kỹ năng cần thiết Trẻ em ở lứa tuổi này lớn nhanh,

cảm thấy như gầy hơn, mất vẻ tròn trĩnh, mập mạp đã có ở tuổi nhà trẻ Đặc

trưng của trẻ em lứa tuổi này là cơ thể phát triển chưa ổn định và khả năng

vận động còn hạn chế

Đặc điểm chủ yếu của trẻ ở thời kì này:

- Biến đổi chủ yếu về số lượng hơn là biến đổi về chất lượng

- Trẻ chậm lớn hơn so với thời kì bú mẹ Cường độ của quá trình

chuyển hóa năng lượng yếu đi, chuyển hóa cơ bản giảm hơn

- Các chức năng của cơ thể dần dần hoàn thiện Đặc biệt là chức năng

vận động phối hợp động tác Cơ lực phát triển nhanh.Vì vậy, trẻ làm được

những động tác khéo léo hơn, gọn gàng hơn, có thể làm được những công

việc tương đối khó, phức tạp hơn và một số công việc tự phục vụ như ăn, tự

mặc quần áo, tự đi tất, tự tắm rửa

- Hệ thần kinh tương đối phát triển, hệ thần kinh trung ương và ngoại

biên đã biến hóa, chức năng phân tích, tổng hợp của vỏ não đã hoàn thiện, số

lượng các phản xạ có điều kiện ngày càng nhiều, tốc độ hình thành phản xạ có

Trang 32

điều kiện nhanh Do đó, trẻ có thể nói được những câu dài, có biểu hiện ham

học có ấn tượng sâu sắc đối với những người xung quanh

- Đến thời kì mẫu giáo, thể chất, trí tuệ và tính khéo léo phát triển hơn

Lúc này trẻ đã biết chơi tập thể với nhau, đã học được những bài hát ngắn Vì

vậy, tác dụng tốt hay xấu của môi trường xung quanh dễ tác động đến trẻ

+ Hệ thần kinh: Từ lúc trẻ mới sinh, hệ thần kinh của trẻ chưa chuẩn bị

đầy đủ để thực hiện các chức năng của mình Trẻ em từ 4 - 5 tuổi quá trình

ức chế tích cực dần dần phát triển, trẻ đã có khả năng phân tích, đánh giá,

hình thành kỹ năng, kỹ xảo, vận động và phân biệt được các hiện tượng xung

quanh Vì vậy, ở lứa tuổi này hệ thần kinh ngày càng phát triển, khả năng

hoạt động của các tế bào thần kinh tăng lên, quá trình cảm ứng ở vỏ não phát

triển, trẻ có thể tiến hành hoạt động trong thời gian lâu hơn

+ Hệ vận động: bao gồm hệ xương, hệ cơ và khớp [3]

Hệ xương của trẻ chưa hoàn toàn cốt hóa, thành phần hóa học, xương

của trẻ có chứa nhiều nước và chất hữu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn,

nên có nhiều sụn xương, xương mềm dễ bị cong, gãy Vận động cơ thể hợp l

có thể làm cho hình thái cấu trúc xương của trẻ em có chuyển biến tốt như:

thành xương dày lên, đường kính to ra, tăng được công năng chống đỡ áp lực,

chống cong vẹo, chống gãy xương

Hệ cơ của trẻ em phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ

mảnh, thành phần nước trong cơ tương đối nhiều, nên sức mạnh cơ bắp còn

yếu, cơ nhanh mệt mỏi Khi trẻ được thường xuyên tham gia vận động thể lực

hợp l sẽ tăng cường hiệu quả công năng các tổ chức cơ bắp, làm cho sức

mạnh và sức bền của cơ bắp phát triển

Khớp của trẻ có đặc điểm là ổ khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp

mềm yếu, dây chằng còn lỏng lẻo, tính vững chắc của khớp tương đối kém

Trang 33

Hoạt động vận động phù hợp với lứa tuổi của trẻ sẽ giúp khớp được rèn

luyện, từ đó tăng dần tính vững chắc của khớp

+ Hệ tuần hoàn: Hệ tuần hoàn là một hệ thống đường ống khép kín do

tim và mạch cấu tạo thành còn gọi là hệ tim mạch Vận động của tim chủ yếu

dựa vào sự co bóp của cơ tim Trẻ càng nhỏ thì tần số mạch đập càng nhanh

Điều hòa thần kinh tim ở trẻ còn chưa hoàn thiện, nên nhịp co bóp dễ mất ổn

định, cơ tim dễ hưng phấn và chóng mệt mỏi khi tham gia vận động kéo dài

Nhưng khi thay đổi hoạt động, tim của trẻ em nhanh hồi phục Để tăng cường

công năng của tim, khi cho trẻ luyện tập nên đa dạng hóa các bài tập, nâng

dần hệ vận động cũng như cường độ vận động, phối hợp động và tĩnh một

cách nhịp nhàng

+ Hệ hô hấp: Hệ hô hấp được cấu thành bởi đường hô hấp gồm mũi,

mồm, họng, khí quản nhánh phế quản và phổi Phổi của trẻ em lớn dần theo

độ tuổi, nhịp thở của trẻ 4 tuổi là 25 - 30 lần/phút, đối với trẻ 5 tuổi 25 - 25

lần/phút Số nhịp thở của trẻ giảm dần theo lứa tuổi Đường hô hấp của trẻ

tương đối hẹp, niêm mạc đường hô hấp mềm mại, mao mạch phong phú, dễ

phát sinh nhiễm cảm Do đó, nên tiến hành thể dục ở ngoài trời nơi không khí

thoáng mát

+ Hệ trao đổi chất: Cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi bổ sung liên tục

năng lượng tiêu hao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và

mô Qúa trình hấp thu ở trẻ vượt cao hơn quá trình phân hủy và đốt cháy Do

đó, cần thường xuyên thay đổi vận động của các cơ, chọn hình thức vận động

phù hợp với trẻ

Qua phân tích trên, ta thấy các hệ cơ quan của cơ thể mặc dù đảm nhận

những nhiệm vụ khác nhau và có các chức năng khác nhau nhưng chúng có

ảnh hưởng lẫn nhau, phối hợp chặt chẽ lẫn nhau làm thành một thể thống nhất

Trang 34

để tồn tại Cơ thể vận động dưới sự chi phối và điều tiết của hệ thần kinh, dựa

và sự hợp tác chung của cơ bắp, khớp dây chằng để thực hiện

Việc thực hiện chế độ vận động hợp l cho cơ thể trẻ em sẽ giúp quá

trình phát triển của cơ thể tốt hơn, nếu ngược lại sẽ có hại cho sức khỏe của

cơ thể trẻ

+ Hệ tiêu hóa: ngày càng hoàn thiện, quá trình hình thành men tiêu hóa

được tăng cường, sự hấp thụ thức ăn ngày càng tốt hơn [2]

+ Cơ quan phát âm ngày càng phát triển và hoàn thiện Ở giai đoạn này

ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển hành vi của trẻ [2]

* Đặc điểm tâm lí:

+ Trẻ bước qua giai đoạn khủng hoảng tuổi lên 3 và bắt đầu hình thành

thức bản ngã Trẻ tư duy độc lập hơn, không cần thao tác trực tiếp với đồ

vật quá nhiều, ở trẻ hình thành tư duy trực quan hình tượng rõ nét

+ Trẻ mong muốn làm được những việc như người lớn nhưng bản thân

trẻ lại chưa đủ khả năng để thực hiện, nên trẻ tham gia vào trò chơi đóng vai

theo chủ đề và ướm mình vào các công việc như người lớn

+ Trẻ có khả năng lao động tự phục vụ bản thân và mong muốn giúp đỡ

người khác, hòa nhập cộng đồng, vui chơi đoàn kết với bạn bè, biết thể hiện

tình cảm với mọi người xung quanh một cách đúng mực

+ Trẻ biết nói câu dài, nói lời hay, thích ca hát, nghe hát, nghe nhạc, biết bộc lộ cảm xúc trước vẻ đẹp của các sự vật, hiện tượng xung quanh

+ Động cơ hành vi của trẻ mẫu giáo nhỡ đã có nhiều màu, nhiều vẻ:

Động cơ tự khẳng định mình, động cơ nhận thức, muốn khám phá thế giới

xung quanh

 Trẻ độ tuổi 4 - 5 tuổi có những tiến bộ rõ nét về mọi mặt: Thể chất, nhận

thức, ngôn ngữ, tình cảm, kĩ năng xã hội và xúc cảm thẩm mĩ so với trẻ lứa

Trang 35

tuổi trước đó Và trẻ 4 - 5 tuổi có những tiềm năng để phát triển hơn nữa ở

những lứa tuổi sau

1.3 Vài nét về trường mầm non Hùng vương, thị xã Phúc Yên, tỉnh

Vĩnh Phúc

Trường mầm non Hùng Vương thành lập ngày 30/6/2006, thuộc tổ 10

phường Hùng Vương, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuy mới thành lập

được gần 8 năm nhưng cho đến nay, trường đã có những thay đổi hết sức

đáng chú : Trường đã được công nhận là “trường chuẩn quốc gia độ 1” và

hiện nay quy mô của trường đã được mở rộng hơn rất nhiều

Với tổng số 478 trẻ với 17 nhóm lớp trong đó:

+ Khối nhà trẻ gồm 2 lớp

+ Khối 3 - 4 tuổi gồm 5 lớp: từ 3 - 4A1 đến 3 - 4A5

+ Khối 4 - 5 tuổi gồm 5 lớp: Từ 4 - 5A1 đến 4 - 5A5

+ Khối 5 - 6 tuổi gồm 5 nhóm lớp: Từ 5 - 6A1 đến 5 - 6A5

- Tất cả 17/17 nhóm lớp đều thực hiện tốt chương trình “đổi mới hình

thức chăm sóc và giáo dục trẻ”

- Sau hơn 8 năm xây dựng và phát triển số lượng cán bộ giáo viên

giảng dậy và quản lí của trường hiện nay là 45 cán bộ Đội ngũ giáo viên hiện

nay có 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn nghiệp vụ sư phạm, số lượng

giáo viên giỏi các cấp đều tăng hằng năm, hiện nay trường có 2 giáo viên giỏi

cấp tỉnh và đã tham gia vào các chương trình dự thi giáo viên dậy giỏi của

tỉnh đem lại vinh dự cho trường với rất nhiều giải nhất, nhì….Đội ngũ giáo

viên tâm huyết với nghề, chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ, luôn đoàn kết giúp đỡ

lẫn nhau cùng tiến bộ, giúp đỡ nhau để tìm ra các phương pháp giảng dạy tốt

nhất, nâng cao trình độ chuyên môn của mình

Về điều kiện vật chất, trang thiết bị dạy học: Trẻ được học trong ngôi

trường khang trang, thoáng mát, sạch sẽ với đầy đủ phòng học, trang thiết bị

Trang 36

nhằm phục vụ công tác chăm sóc và giáo dục trẻ Trẻ được đến trường đầy

đủ, được học tập và vui chơi cùng bạn bè và cô giáo Các cháu ngoan khỏe,

tích cực tham gia các hoạt động do cô tổ chức, tỷ lệ bé ngoan bé chuyên cần

đạt 98% (số liệu năm 2013 - 2014) Đến trường mầm non trẻ được các cô tận

tình dạy dỗ, chăm sóc từ việc học hành, ứng xử trong giao tiếp trong mối

quan bạn bè đến việc chăm lo cho các con từng giấc ngủ, đó chính là người

mẹ hiền thứ hai của trẻ

Trang 37

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ CHẾ ĐỘ SINH HOẠT CỦA TRẺ 4 - 5

TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON HÙNG VƯƠNG - PHÚC YÊN

2.1 Nội dung tổ chức chế độ sinh hoạt cho trẻ mầm non

2.1.1 Tổ chức giấc ngủ cho trẻ

Giấc ngủ của trẻ có nghĩa to lớn trong việc phục hồi khả năng làm

việc của các tế bào thần kinh Ngủ là nhu cầu sinh lí không thể thiếu được của

của cơ thể Trẻ sơ sinh ngủ 20 giờ trong ngày, người lớn ngủ 7 - 8 giờ Trung

ương thần kinh của trẻ hoạt động còn rất yếu và rất dễ bị mệt mỏi khi trẻ thức

Để có thể khôi phục lại trạng thái bình thường của các tế bào thần kinh, việc

tổ chức giấc ngủ tốt (đúng và đủ thời gian cần thiết ) cho trẻ là rất cần thiết và

có nghĩa lớn đối với việc bảo vệ sức khỏe của trẻ

Nhu cầu ngủ của trẻ mầm non phụ thuộc vào lứa tuổi, trạng thái, sức

khỏe và đặc điểm hoạt động thần kinh của trẻ Đối với những trẻ có sức khỏe

và thần kinh yếu, cần tạo cho trẻ ngủ nhiều hơn những trẻ khác từ 1-1,5 giờ

Để hình thành ở trẻ thái độ tích cực đối với quá trình ngủ cần chú đến

phương pháp tổ chức ngủ cho trẻ

* Phương pháp tổ chức giấc ngủ cho trẻ

Muốn vậy khi tổ chức cho trẻ ngủ chúng ta cần lưu ý những công việc sau:

Vệ sinh trước khi ngủ: Cần vệ sinh phòng ngủ và vệ sinh cá nhân [2]

- Vệ sinh phòng ngủ:

+ Chế độ không khí: Thông thoáng, phòng ngủ sạch sẽ, yên tĩnh, có

diện tích phù hợp, phù hợp theo mùa thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa

đông

+ Chế độ ánh sáng: Hạn chế ánh sáng trong phòng ngủ của trẻ, tránh

trói mắt trẻ không ngủ được

Trang 38

+ Các trang thiết bị trong phòng: giường ngủ phải có kích thước phù

hợp với lứa tuổi, gối mỏng, có độ cứng vừa phải

- Vệ sinh cá nhân cho trẻ:

+ Mặc quần áo phù hợp với thời tiết, tạo ra cảm giác thoải mái, dễ chịu

cho trẻ ngủ, hình thành phản xạ “chuẩn bị ngủ”, làm cho giấc ngủ của trẻ diễn

ra nhanh hơn, trẻ ngủ sâu hơn

+ Không cho trẻ ăn quá no, vận động quá nhiều, uống các chất kích

thích trước khi ngủ

+ Cho trẻ vệ sinh cá nhân, mặc quần áo phù hợp với thời tiết

Vệ sinh trong khi ngủ [2]:

+ Giáo viên phải có trong phòng ngủ để theo dõi quá trình trẻ ngủ: tư

thế, nhiệt độ, độ ẩm, không khí, ánh sáng, tiếng ồn và xử lí các trường hợp

cần thiết xảy ra trong giấc ngủ của trẻ

+ Cho trẻ ngủ đúng thời gian nhất định trong ngày

+ Cho trẻ nghe hát ru hay nghe nhạc nhẹ có tác dụng làm cho trẻ ngủ

nhanh hơn, nếu được lặp lại thường xuyên

+ Không để trẻ nằm ở một tư thế lâu, cần thay đổi vài lần trong một

giấc ngủ, không được kéo chăn chum kín đầu, không được nằm sấp, úp mặt

vào gối, không nằm cả người lên gối

+ Theo dõi không khí trong phòng, khi thấy ngột ngạt cần thông khí

từng phần ngay cả khi có trẻ trong phòng

+ Cần giữ yên tĩnh cho trẻ ngủ, tránh cười nói to, gây ra chấn động

mạnh, làm trẻ thức giấc

Vệ sinh sau khi ngủ [2]:

+ Cho trẻ thức dậy khi đã ngủ đủ giấc Cho trẻ dậy và đi vệ sinh cá

nhân một cách trật tự, nề nếp, cho trẻ vận động nhẹ nhàng và ăn bữa phụ

Trang 39

+ Do sự khác biệt cá nhân mà nên cho trẻ ngủ và thức dậy theo nhóm,

chứ không đồng loạt Tốt nhất là nên rèn luyện cho trẻ tự thức dậy trong vòng

30 - 45 phút

2.1.2 Tổ chức bữa ăn cho trẻ

Trước khi ăn [2]:

+ Chuẩn bị phòng ăn sạch sẽ, thoáng mát Bàn ghế sắp xếp thuận tiện

cho trẻ đứng lên, ngồi xuống

+ Dụng cụ ăn uống đảm bảo sạch sẽ, kích thước phù hợp và được sắp

xếp hợp l

+ Không cho trẻ vận động quá nhiều, ăn vặt trước khi ăn Cho trẻ rửa

tay, rửa mặt trước khi ăn

+ Cho trẻ ăn vào những thời điểm nhất định trong ngày tạo phản xạ có

điều kiện, kích thích cảm giác ngon miệng

Trong khi ăn [2]:

+ Cho trẻ ăn theo nhu cầu của cơ thể, cần tạo ra bầu không khí thoải

mái, dễ chịu trong phòng ăn

+ Cần rèn luyện cho trẻ ăn hết suất ăn của mình và các hành vi ăn uống

có văn hóa Không ăn vội vàng, nhai kỹ, không nói chuyện đùa nghịch khi ăn,

cầm thìa bát đĩa đúng cách

+ Khi ăn cần quan sát xem trẻ ăn có ngon miệng không, trẻ có ăn hết

suất không, trẻ có biểu hiện gì khác thường không… Từ đó tìm hiểu nguyên

nhân và đề ra biện pháp khắc phuc

 Sau khi ăn [2]:

+ Cho trẻ lau miệng, rửa tay, uống nước, xúc miệng bằng nước muối

+ Cho trẻ nghỉ ngơi và ngủ sau khi ăn

Trang 40

2.1.3 Tổ chức hoạt động học tập cho trẻ

- Trong các hoạt động của trẻ mầm non, hoạt động học tập thường có

ảnh hưởng lớn đến sự căng thẳng trí tuệ và thể chất Hoạt động học tập của trẻ

mầm non có một số đặc trưng sau đây:

+ Học tập chưa phải là hoạt động chủ đạo của trường mầm non

+ Hoạt động học tập đòi hỏi trẻ phải thực hiện lao động trí tuệ căng thẳng

* Tổ chức chế độ học cho trẻ ở trường mầm non[2]

Một chế độ hợp lí đòi hỏi xác định mức độ dạy học, thời gian dạy học,

thời điểm dạy học phù hợp với đối tượng

- Mức độ học của trẻ mầm non

Những kết quả nghiên cứu về mối quan hệ của cơ thể với môi trường

đã cho thấy rằng: dưới tác động của bất kì yếu tố nào của môi trường (trong

đó có tác động dạy học), cơ thể con người bao giờ cũng trả lời bằng những

phản ánh toàn vẹn Cơ thể trẻ ở mỗi giai đoạn lứa tuổi có nhứng khả năng

hoạt động nhất định Do vậy, cần phải xác định nội dung, phương pháp dạy

học ở mức độ phù hợp với trẻ, giúp chúng có thể giải quyết nhiệm vụ học tập

khi có sự nỗ lực và cố gắng nhất định [2]

- Thời gian học của trẻ mầm non

Cần dựa vào lí thuyết về sự “tự điều khiển” cơ thể của hai nhà sinh lí

học Nga: Secchênôv và palôv để xác định thời gian hợp lí của trẻ Biểu hiện

của sự tự điều khiển là do sự dao động của các chức năng ngoại biên, được

thể hiện rõ trong từng giai đoạn hoạt động của con người Qúa trình này có

thể chia làm 3 giai đoạn [2]:

Giai đoạn I: Thích ứng Khi tiến hành bất kì hoạt động nào, cơ thể cần

có thời gian nhất định để đạt được khả năng làm việc tối ưu

Ngày đăng: 13/04/2018, 10:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w