1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tình hình dịch bệnh và sự lưu hành virus cúm a (h5n1, h5n6, h7n9) trên gà, vịt tại tỉnh lạng sơn giai đoạn 2012 2015 và đề xuất giải pháp kiểm soát dịch bệnh

109 227 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Độc lực của virus Dựa vào các đặc điểm di truyền phân tử và sinh bệnh học, virus cúm A được phân làm hai loại là loại độc lực thấp LPAI và loại độc lực cao HPAI, cả hai loại đều cùng tồ

Trang 2

Mã số ngành: 60 64 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG XUÂN BÌNH

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan trên đây là đề tài nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên,10 tháng 10 năm 2016

Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 4

tổ chức và tạo điều kiện cho tôi tham dự khóa học Cao học Thú y K22, đồng thời giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Đặng Xuân Bình đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo, tập thể cán bộ, nhân viên của Chi cục Thú y tỉnh Lạng Sơn, Trạm Thú y các huyện, thành phố Lạng Sơn, Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương, Cơ quan Thú y vùng II và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới người thân trong gia đình đã luôn giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, 10 tháng 10 năm 2016

Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Đặc điểm sinh học của virus cúm gia cầm 3

1.1.2 Đặc điểm dịch tễ của bệnh cúm gia cầm 10

1.1.3 Triệu chứng lâm sàng, bệnh tích 11

1.1.4 Đáp ứng miễn dịch chống bệnh cúm ở gia cầm 14

1.1.5 Chẩn đoán bệnh cúm gia cầm 17

1.1.6 Các biện pháp phòng bệnh 18

1.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới 24

1.3 Tình hình dịch cúm gia cầm tại Việt Nam 27

1.3.1 Dịch cúm A/H5N1 27

1.3.2 Dịch cúm A/H5N6 30

1.3.3 Dịch cúm A/H7N9 31

1.3.4 Bệnh cúm trên người 31

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Đối tượng, phạm vi, địa điểm, thời gian và điều kiện nghiên cứu 36

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 36

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 36

2.1.3 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 36

Trang 6

2.2 Nội dung nghiên cứu 36

2.2.1 Nghiên cứu tình hình dịch cúm cúm A/H5N1, H5N6, H7N9 trên đàn gia cầm tỉnh Lạng Sơn từ năm 2012 - 2015 36

2.2.2 Giám sát sự lưu hành của virus cúm A/H5N1, H5N6, H7N9 trên đàn gia cầm của tỉnh Lạng Sơn qua các năm, từ năm 2012 - 2015 36

2.2.3 Xây dựng bản đồ dịch tễ bệnh cúm gia cầm tại Lạng Sơn giai đoạn 2012 -6/2016 36

2.2.4 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 36

2.3 Vật liệu nghiên cứu 36

2.3.1 Mẫu bệnh phẩm 36

2.3.2 Tài liệu, số liệu 38

2.3.3 Máy móc - Dụng cụ - Hoá chất - Nguyên liệu 38

2.4 Phương pháp nghiên cứu 38

2.4.2 Phương pháp chẩn đoán phòng thí nghiệm 39

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 40

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41

3.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm ở Lạng Sơn giai đoạn 2012 - 2015 41

3.1.1 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Lạng Sơn giai đoạn 2012- 2015 41

3.1.2 Đặc điểm của dịch cúm gia cầm ở Lạng Sơn theo mùa 43

3.1.3 Đặc điểm bệnh cúm gia cầm ở Lạng Sơn theo loài 44

3.1.4 Đặc điểm bệnh cúm gia cầm ở Lạng Sơn theo phương thức chăn nuôi 46

3.1.5 Đặc điểm bệnh cúm gia cầm ở Lạng Sơn theo quy mô đàn 48

3.2 Tình hình tiêu thụ gia cầm tại chợ, điểm thu gom gia cầm trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 49

3.3 Tình hình gia cầm và sản phẩm gia cầm không rõ nguồn gốc nhập lậu vào tỉnh Lạng Sơn 50

3.4 Khảo sát sự lưu hành của virus cúm A (H5N1, H5N6, H7N9) trên gà và vịt tại chợ, điểm thu gom gia cầm ở Lạng Sơn 51

3.4.1 Xác định sự lưu hành của virus cúm A/H5N1 trên đàn gà nhập lậu 51

Trang 7

3.4.2 Xác định sự lưu hành của virus cúm A/H5N1 trên gà tại chợ phiên Lạng Sơn 54

3.4.3 Xác định sự lưu hành của virus cúm type A/H5N1 trên đàn vịt tại chợ biên giới của tỉnh Lạng Sơn 56

3.4.4 Tình hình nhiễm virus cúm A/H5N1 trong mẫu swab hầu họng, môi trường của vịt tại chợ biên giới tỉnh Lạng Sơn 57

3.4.5 Tình hình nhiễm virus cúm A/H5N6 trên gà, vịt tại chợ biên giới Lạng Sơn năm 2014 - 2015 62

3.4.6 Giám sát sự lưu hành của virus cúm A/H7N9 trên gà tại chợ Lạng Sơn 67

3.4.7 Giám sát sự lưu hành của virus cúm A/H7N9 trên gà tại chợ Lạng Sơn năm 2015 72

3.5 Xây dựng bản đồ dịch tễ về sự lưu hành của vi rút cúm A/H5N1, H5N6, H7N9 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2012 - 6/2016 75

3.6 Đề xuất biện pháp kiểm soát dịch cúm gia cầm tại Lạng Sơn 78

3.6.1 Biện pháp quản lý 78

3.6.2 Biện pháp kỹ thuật 78

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 79

1 Kết luận 79

2 Đề nghị 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC ẢNH MINH HỌA 90

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

ARN Acid ribonucleic

CT Chất thải

Ct Cycle threshold

cs Cộng sự

ĐTG Điểm thu gom

GMT Geometic Mean Titer

NN & PTNN Nông nghiệp và phát triển nông thôn

OIE Office International Epizooties

P Phân tươi

PBS Phosphate Buffered Saline

RT - PCR Reverse Transcription - Polymerase Chain Reaction

rtRT - PCR Real time Reverse Transcription - Polymerase Chain Reaction WHO World Health Organization

XN Xét nghiệm

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: So sánh tình hình dịch cúm H5N1với cùng kỳ năm 2013 28

Bảng 1.2: So sánh tình hình dịch cúm H5N1 với cùng kỳ năm 2014 29

Bảng 1.3: So sánh tình hình dịch cúm H5N6 với cùng kỳ năm 2014 30

Bảng 3.1.Tình hình dịch cúm gia cầm ở Lạng Sơn giai đoạn 2012 -2015 41

Bảng 3.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Lạng Sơn theo mùa 43

Bảng 3.3 Đặc điểm bệnh cúm gia cầm ở Lạng Sơn theo loài 45

Bảng 3.4 Đặc điểm bệnh cúm gia cầm ở Lạng Sơn theo phương thức chăn nuôi 46

Bảng 3.5 Đặc điểm bệnh cúm gia cầm ở Lạng Sơn theo quy mô đàn 48

Bảng 3.6 Tình hình tiêu thụ gia cầm tại chợ ở Lạng Sơn 49

Bảng 3.7 Tình hình gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu tiêu thụtại Lạng Sơn bị thu giữ và tiêu hủy 50

Bảng 3.8 Kết qủa khảo sát tỷ sự lưu hành của virus cúm gia cầm type A (H5N1) trong mẫu swab ổ nhớp gia cầm nhập lậu 52

Bảng 3.9 Tình hình nhiễm virus cúm gia cầm type A (H5N1) trong mẫuswab ổ nhớp trên đàn gia cầm tại chợ phiên 54

Bảng 3.10 Tình hình nhiễm virus cúm gia cầm type A (H5N1) trong mẫu swab ổ nhớp của vịt tại chợ biên giới Lạng Sơn 56

Bảng 3.11 Tình hình nhiễm virus cúm gia cầm type A(H5N1) trong mẫuswab hầu họng tại chợ biên giới Lạng Sơn 58

Bảng 3.12 Tình hình nhiễm virus cúm gia cầm type A(H5N1) trong mẫu môi trường tại chợ biên giới Lạng Sơn 59

Bảng 3.13 Tình hình nhiễm virus cúm gia cầm type A(H5N6) trong mẫu swab hầu họng gia cầm tiêu thụ tại chợ biên giới Lạng Sơn 63

Bảng 3.14 Tình hình nhiễm virus cúm gia cầm type A (H5N6) trong môi trường tại chợ biên giới Lạng Sơn 65

Bảng 3.15 Tình hình nhiễm virus cúm gia cầm type A(H7N9) trong mẫuhầu họng gia cầm tại chợ, điểm thu gom gia cầm năm 2014 68

Bảng 3.16 Tình hình nhiễm virus cúm gia cầm type A(H7N9) trong mẫu môi trường tại chợ, điểm thu gom gia cầm năm 2014 70

Trang 10

Bảng 3.17 Tình hình nhiễm virus cúm type A(H7N9) trong mẫu hầu họng gia cầm

tại chợ, điểm thu gom gia cầm năm 2015 72 Bảng 3.18 Tình hình nhiễm virus cúm type A(H7N9) trong mẫu môi trườngtại

chợ, điểm thu gom gia cầm năm 2015 74 Bảng 3.19 Kết quả định vị GPS tại địa điểm lấy mẫu 76

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ biểu diễn diễn tình hình dịch cúm gia cầm ở Lạng Sơn theo mùa vụ 44 Hình 3.2 Biểu đồ biểu diễn tình hình dịch cúm gia cầm ở Lạng Sơn theo loài gia cầm 46 Hình 3.3 Biểu đồ biểu diễn tình hình dịch cúm gia cầm ở Lạng Sơntheo phương

thức chăn nuôi 47 Hình 3.4 Biểu đồ biểu diễn tình hình dịch cúm gia cầm ở Lạng Sơntheo quy mô đàn 49 Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn tỷ lệ nhiễm virus cúm gia cầm type A (H5N1) trong

mẫu swab ổ nhớp trên đàn gia cầm nhập lậu vào Lạng Sơn 54 Hình 3.6 Biểu đồ biểu diễn tình hình nhiễm virus cúm gia cầm type A (H5N1)

trong mẫu swab ổ nhớp gia cầm tại chợ phiên Lạng Sơn 55 Hình 3.7 Biểu đồ biểu diễn tình hình nhiễm virus cúm gia cầm type A (H5N1)

trong mẫu swab ổ nhớp của vịt tại chợ biên giới Lạng Sơn 57 Hình 3.8 Biểu đồ biểu diễn tình hình nhiễm virus cúm gia cầm type A (H5N1)

trong mẫu swab hầu họng và môi trường tại chợ biên giới năm 2014 61 Hình 3.9 Biểu đồ biểu diễn tình hình nhiễm virus cúm gia cầm type A(H5N1)

trong mẫu swab môi trường tại các chợ biên giới Lạng Sơn năm 2015 62 Hình 3.10 Biểu đồ biểu diễn tình hình nhiễm virus cúm gia cầm type A (H5N6)

trong mẫu hầu họng, môi trường tại chợ biên giới Lạng Sơn năm 2014 67 Hình 3.11 Biểu đồ biểu diễn tình hình nhiễm virus cúm gia cầm type A (H5N6)

trong mẫu hầu họng, môi trường tại chợ biên giới Lạng Sơn năm 2015 67 Hình 3.12 Bản đồ phân bố sự lưu hành của vi rút cúm A/H5N1, H5N6tỉnh Lạng

Sơn giai đoạn 2012 - 6/2016 77

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bệnh cúm gia cầm là một bệnh truyền nhiễm có tốc độ lây lan rất nhanh với tỷ

lệ chết cao trong đàn gia cầm bị bệnh Bệnh do virus cúm type A, thuộc họ

Orthomyxoviridae với nhiều phân type khác nhau gây ra Virus gây bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao (Highly pathogenic avian influenza - HPAI) chủ yếu là các virus phân type H5, H7, và H9 gây bệnh cho gà, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu và có thể gây bệnh cho người Gen của virus cúm gia cầm dễ bị biến đổi trong lịch sử, dịch cúm gia cầm đã phát thành đại dịch trên người ở nhiều nước trên thế giới (Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm (2007) [2]

Bệnh gây thiệt hại và ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội rất lớn bởi gia cầm mắc bệnh luôn có tỷ lệ chết cao, có thể lây lan trực tiếp từ gia cầm bệnh cho người; gia cầm mắc cúm làm giảm sản lượng trứng, thịt, tăng chi phí thức ăn, chi phí khác trong việc kiểm soát giết mổ và ngăn chặn dịch

Bệnh cúm gia cầm đã gây thiệt hại kinh tế lớn cho người chăn nuôi ở nhiều nơi trên thế giới Riêng ở châu Á, bệnh bùng nổ ở Hồng Công năm 1997 đã làm tổn thất 2 triệu gà mái đẻ Tại Việt Nam, bệnh cúm A/H5N1 xuất hiện vào năm 2003 đến năm

2014 lần đầu tiên xuất hiện bệnh cúm A/H5N6 Đến nay (tháng 8/2016) bệnh vẫn chưa hoàn toàn được khống chế bởi nhiều nguyên nhân như việc nảy sinh những biến chủng virus cúm mới, việc chăn nuôi nhỏ lẻ khó kiểm soát bệnh, ý thức của người dân và thú

y cơ sở trong việc kịp thời khai báo bệnh

Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam có nhiều tuyến đường quốc lộ chạy qua, đó là các tuyến 1A, 1B, 4A, 4B và đường 279 Mạng lưới đường giao thông phân bổ tương đối đều và thuận lợi, là điểm nút của sự giao lưu kinh tế với các tỉnh Lạng Sơn còn có đường biên giới chung với Trung Quốc dài 253

km và có 2 cửa khẩu quốc tế; 2 cửa khẩu quốc gia và 7 cặp chợ biên giới đã tạo điều kiện cho Lạng Sơn trở thành điểm giao lưu, trung tâm buôn bán thương mại quan trọng của các tỉnh trong cả nước với Trung Quốc, qua đó sang các nước Trung Á, châu

Âu Ở vị trí giao lưu kinh tế thương mại của cả nước, bệnh cúm gia cầm cũng đã bùng phát ở Lạng Sơn ở nhiều điểm và thời gian khác nhau gây tổn thất cho nông dân Năm

2014, tại huyện Tràng Định, lần đầu tiên đã xuất hiện bệnh cúm A/H5N6 gây bệnh cho đàn gà xảy ra trên địa bàn tỉnh

Trước tình hình dịch cúm gia cầm tại Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển trên diện rộng, diễn biễn dai dẳng, ngày càng phức tạp, dự báo về khả năng xuất hiện sự biến chủng virus cúm có thể gây ra đại dịch cúm ở người Tại Lạng Sơn, lần đầu tiên đã

Trang 13

xuất hiện bệnh cúm A/H5N6 gây bệnh cho đàn gà xảy ra trên địa bàn tỉnh Nhằm chủ

động đối phó với dịch cúm gia cầm, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tình hình dịch bệnh và sự lưu hành virus cúm A (H5N1, H5N6, H7N9) trên gà, vịt tại tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2012 - 2015 và đề xuất giải pháp kiểm soát dịch bệnh”

2 Mục tiêu của đề tài

- Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, tình trạng mang trùng vius cúm gia cầm type A subtype H5N1, H5N6, H7N9 trên đàn gà, vịt và trong môi trường tại tỉnh Lạng Sơn

- Đề xuất giải pháp phòng, chống dịch cúm gia cầm tại tỉnh Lạng Sơn

3 Ý nghĩa của đề tài

- Bổ sung tư liệu khoa học về đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành các chủng virus cúm type A, subtype H5N1, H5N6, H7N9 trên đàn gà, vịt và môi trường tại tỉnh Lạng Sơn

- Các kết quả nghiên cứu về sự lưu hành của virus Cúm A trên đàn gia cầm tại tỉnh Lạng Sơn từ năm 2012 đến 2015 là cơ sở khoa học cho cơ quan thú y địa phương xây dựng chiến lược quản lý, ngăn ngừa, khống chế dịch bệnh, bảo vệ đàn gia cầm và bảo vệ sức khỏe con người

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Đặc điểm sinh học của virus cúm gia cầm

1.1.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc

Virus cúm type A thuộc họ Orthomyxoviridae, có hình cầu, đường kính 80-120

nm, đôi khi có dạng hình sợi, trọng lượng phân tử khoảng 250 triệu Dalton (Da) Hạt virus có cấu tạo đơn giản gồm màng bao ngoài (envelope), vỏ (capsid) và lõi là RNA sợi đơn âm (negative single strand) (Murphy và Webstenf, 1996)[78]

Vỏ virus có chức năng bao bọc và bảo vệ vật chất di truyền RNA của virus, bản chất cấu tạo là màng lipid kép, có nguồn gốc từ màng nguyên sinh chất của tế bào nhiễm được đặc hiệu hoá gắn các protein màng của virus Trên bề mặt có khoảng 500

“gai mấu” nhô ra và phân bố dày đặc, mỗi gai mấu dài khoảng 10-14 nm có đường kính 4-6 nm, đó là những kháng nguyên bề mặt vỏ virus, bản chất cấu tạo là glycoprotein gồm HA, NA, MA (matrix antigen) và các dấu ấn khác của virus (Lê Thanh Hoà và cs, 2004)[20], (Zhou và cs, 2007)[102] Có sự phân bố không đồng đều giữa các phân tử HA và NA (tỷ ỉệ khoảng 4 HA/1 NA), đây là hai protein kháng nguyên vỏ có vai trò quan trọng trong quá trinh xâm nhiễm của virus ở tế bào vật chủ (Murphy và Webster, 1996)[78], (Wang và cs., 2008)[97]

Vật chất di truyền (còn gọi là hệ gen) của virus cúm A là RNA sợi đơn âm (viết tắt là (-) ssRNA), gồm 8 phân đoạn riêng biệt (PB2, PB1, PA, HA, NP, NA, M và NS),

mã hoá cho 11 protein tương ứng của virus, trong đó phân đoạn M mã hoá cho 2 protein là MI và M2; phân đoạn NS mã hoá cho 2 protein là NS1 và NS2 (còn gọi là NEP), phân đoạn PB1 mã hoá cho 2 protein là PB1 và PB1-F2 (Murphy và Webster, 1996)[78]; Conenello và cs., 2007)[46]

Phân bố trên bề mặt của virus là loại protein gây ngưng kết hồng cầu có tên gọi

là Hemagglutinin (HA) và một loại protein có tên gọi Neuraminidae (NA), chúng là các glycoptein riêng biệt (Kawoaka, 1988)[66]

Hạt virion có cấu trúc là axit ribonucleic sợi âm ở dạng đơn, độ dài 13.500 nucleotit chứa 8 phân đoạn kế tiếp nhau mã hóa cho 10 loại protein khác nhau của virus là HA, NA, NP, M1, M2, BP1, BP2, PA, NS1, NS2 Tám phân đoạn của sợi RNA có thể tách và phân biệt rõ ràng nhờ phương pháp điện di (Murphy và cs., 1996)[78]

Trang 15

- Phân đoạn 1 - 3: Mã hóa cho protein PB1, PB2 và PA là các protein có chức năng là enzyme polymerase tổng hợp axit Ribonucleic nguyên liệu cho hệ gen và các ARN thông tin tổng hợp protein của virus

- Phân đoạn 4: Mã hóa cho protein Hemagglutinin (HA) là một protein bề mặt cắm gốc vào bên trong, có chức năng bám dính vào thụ thể của tế bào, có khả năng gây ngưng kết hồng cầu, có khả năng hợp nhất vỏ virus với màng tế bào nhiễm và tham gia vào phản ứng trung hòa virus HA là polypeptit gồm 2 chuỗi HA1 và HA2 nối với nhau bằng đoạn oligopeptit ngắn, thuộc loại hình mô typ riêng đặc trưng cho các subtype H (H1 - H16) trong tái tổ hợp tạo nên biến chủng Mô typ của chuỗi oligopeptit này chứa một số axit amin cơ bản làm khung, thay đổi đặc hiệu theo từng loại hình subtype H Sự thay đổi thành phần của chuỗi nối quyết định độc lực của virus thuộc biến chủng mới (Lê Thanh Hòa, 2004) [20]

- Phân đoạn 5: Mã hóa cho protein Nucleoprotein (NP) một loại protein được phosphoryl hóa, có biểu hiện tính kháng nguyên đặc hiệu theo nhóm (Group - Specific), tồn tại trong hạt virion trong dạng liên kết với mỗi phân đoạn ARN nên loại

NP còn được gọi là Ribonucleo protein (Lê Thanh Hòa, 2004) [20]

- Phân đoạn 6: Mã hóa cho protein enzim Neuraminidae (NA), có chức năng là

một enzyme phân cắt HA sau khi virus vào bên trong tế bào nhiễm Phân đoạn 6 là gen chịu trách nhiệm tổng hợp protein, giúp giải phóng ARN virus từ endosome và tạo hạt virus mới

- Phân đoạn 7: Mã hóa cho 2 tiểu phần protein đệm (Matrix protein) M1 và M2

là protein màng không được glycosyl hóa, có vai trò làm đệm bao bọc lấy ARN hệ gen M2 là một tetramer có chức năng tạo khe H+ giúp cởi bỏ virus sau khi xâm nhập vào tế bào cảm nhiễm M1 có chức năng tham gia vào quá trình tổng hợp và nẩy mầm của virus (Horimoto và cộng sự, 1995)[60]

Trang 16

- Phân đoạn 8: Có độ dài ổn định (890 nucleotit) mã hóa cho 2 tiểu phần protein không cấu trúc NS1 và NS2 có chức năng chuyển ARN từ nhân ra kết hợp với M1, kích thích phiên mã, chống interferon (Luong G và cs., 1992)[72]

1.1.1.2 Kháng nguyên của virus

Các loại kháng nguyên được nghiên cứu nhiều nhất là protein nhân (Nucleoprotein-NP), protein đệm (matrix protein-M1), protein gây ngưng kết hồng cầu (Hemagglutinin-HA) và protein enzym cắt thụ thể (Neuraminidase-NA) NP và M1 là protein thuộc loại hình kháng nguyên đặc hiệu nhóm (genus specific antigen); HA và NA

là protein thuộc loại hình kháng nguyên đặc hiệu type và dưới type (type specific antigen)

Kháng thể đặc hiệu của kháng nguyên HA có khả năng trung hòa các loại virus tương ứng, chúng là kháng thể trung hòa có khả năng triệt tiêu virus gây bệnh Nó có thể phong toả sự ngưng kết bằng cách kết hợp với kháng nguyên HA Do vậy, thụ thể của hồng cầu không bám vào được để liên kết tạo thành mạng ngưng kết Người ta gọi phản ứng đặc hiệu kháng nguyên-kháng thể có hồng cầu tham gia là phản ứng ngăn cản ngưng kết hồng cầu HI (Hemagglutination inhibition test)

Phản ứng ngưng kết hồng cầu (HA) và phản ứng ngăn cản ngưng kết hồng cầu (HI) được sử dụng trong chẩn đoán virus cúm gia cầm

Theo một số tác giả cho thấy sự phức tạp trong diễn biến kháng nguyên của virus

cúm là sự biến đổi và trao đổi trong nội bộ gen dẫn đến sự biến đổi liên tục về tính kháng nguyên Khi nghiên cứu về đặc tính kháng nguyên của virus cúm thấy giữa các biến thể tái tổ hợp và biến chủng subtype về huyết thanh học không hoặc rất ít có phản ứng chéo Đây là điểm trở ngại lớn cho việc nghiên cứu nhằm tạo ra vacxin cúm để phòng bệnh cho người và động vật (Ito và cộng sự, 1998 [64]; Kawoaka.I, 1991 [65])

Khi xâm nhập nhiễm vào cơ thể động vật, virus cúm A kích thích cơ thể sản

sinh ra kháng thể đặc hiệu, trong đó quan trọng hơn cả là kháng thể kháng HA, chỉ có

kháng thể này mới có vai trò trung hòa virus và cho bảo hộ miễn dịch Một số kháng thể khác có tác dụng kìm hãm sự nhân lên của virus, kháng thể kháng M2 ngăn cản chức năng M2, không cho quá trình bao gói virus xảy ra (Lu X và cộng sự, 1999)[71]; (Seo S và cộng sự, 2001)[88]

Thành phần hoá học của virus cúm A bao gồm: RNA chiếm 0,8-1,1%, protein 70-75%, lipid 20-24% và 5-8% carbohydrate Lipid tập trung ở màng virus, chủ yếu là lipid có gốc photpho, số còn lại là cholesterol, glycolipid Carbohydrate gồm các loại men galactose, majmose, ribose, fructose, glucosamine Thành phần protein chủ yếu của virus là glycoprotein (Murphy và Webster, 1996[78]; Lê Văn Năm, 2004[26]) Có

2 cách biến đổi kháng nguyên của virus cúm:

Trang 17

- Đột biến tái tổ hợp di truyền là hiện tượng tái tổ hợp gen, ít xảy ra hơn so với hiện tượng đột biến điểm Hiện tượng này chỉ xảy ra khi 2 hoặc nhiều loại virus cúm khác nhau cùng nhiễm vào một tế bào chủ do sự trộn lẫn 2 bộ gen của virus, tạo nên sự sai khác cơ bản về bộ gen của virus cúm đời con so với virus bố mẹ Khi hiện tượng tái tổ hợp gen xuất hiện có thể sẽ gây ra các vụ dịch lớn cho người và động vật với mức độ nguy hiểm không thể lường trước được Vụ dịch năm 1918-1819 làm chết khoảng 50 triệu người mà tác nhân gây bệnh là virus H1N1 từ lợn lây sang người kết hợp với virus cúm người tạo ra chủng virus mới có độc lực rất mạnh (Phạm Sỹ Lăng

và cs, 2012) [24]

- Đột biến điểm (đột biến ngẫu nhiên) là kiểu đột biến xảy ra liên tục thường xuyên trong quá trình tồn tại của virus mà bản chất là do có sự thay đổi nhỏ về trình tự nucleotit của gen mã hóa, đặc biệt đối với kháng nguyên H và kháng nguyên N Kết quả là tạo ra các phân type cúm hoàn toàn mới có tính thích ứng với loài vật chủ khác nhau và có mức độ độc lực gây bệnh khác nhau Chính nhờ sự biến đổi này mà virus cúm A tạo nên 16 biến thể gen HA (H1- H16) và 9 kháng nguyên N (N1 - N9) (Cục Thú y, 2016)[17]

Do hạt virus cúm A có cấu trúc là 8 đoạn gen nên về lý thuyết từ 2 virus có thể xuất hiện 256 kiểu tổ hợp của virus thế hệ sau (Cục Thú y, 2016)[17]

1.1.1.3 Độc lực của virus

Dựa vào các đặc điểm di truyền phân tử và sinh bệnh học, virus cúm A được phân làm hai loại là loại độc lực thấp (LPAI) và loại độc lực cao (HPAI), cả hai loại đều cùng tồn tại trong tự nhiên (Kelly và cs, 2008)[68]

- LPAI: là loại virus cúm A khi phát triển trong cơ thể có thể gây bệnh cúm nhẹ không có triệu chứng lâm sàng điển hình và không làm chết vật chủ Là loại virus lây truyền rộng rãi và tạo nên các ổ bệnh trong tự nhiên của virus cúm A, loại này có thể trao đổi gen với các chủng virus có độc lực cao đồng nhiễm trên cùng một tế bào và trở thành loại virus độc lực cao nguy hiểm (Webster, 1998)[98]

- HPAI: là loại virus có khả năng gây tổn thương nhiều cơ quan nội tạng trong

cơ thể nhiễm, chúng thường gây chết 100% số gia cầm trong vòng 48 giờ sau nhiễm Virus loại HPAI phát triển tốt trên tế bào phôi gà và tế bào thận chó trong môi trường nuôi cấy không có trypsin Loại này rất nguy hiểm và gây lo ngại cho cộng đồng (Webster, 1998)[98]

Độc lực của virus cúm gia cầm có sự dao động lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu

tố, trước hết là protein HA Năm 1981, Bankowski và cộng sự đã cho thấy virus cúm

Trang 18

gà có kháng nguyên bề mặt H7 thuộc loại có độc lực cao Tuy nhiên, Pensyvania (Mỹ)

đã chứng kiến một dịch cúm gà gây chết 75% số gà, nhưng khi phân lập virus có kháng nguyên bề mặt là H5, chứ không phải là H7 Để đánh giá độc lực của virus cúm, người ta đã sử dụng phương pháp gây bệnh cho gà từ 3 - 6 tuần tuổi bằng cách tiêm tĩnh mạch nước trứng đã được gây nhiễm virus Sau đó đánh giá mức độ nhiễm bệnh của gà để cho điểm (chỉ số IVPI) Điểm tối đa là 3 điểm và đó là virus có độc lực cao nhất Theo quy định của Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) thì virus nào có chỉ số IVPI từ 1,2 trở lên thuộc loại có độc lực cao (OIE, 1992 [103]; Nguyễn Tiến Dũng, 2004 [18])

Bằng phương pháp tiêm tĩnh mạch 0,2 ml nước trứng đã gây nhiễm virus được pha loãng ở nồng độ 1/10 cho gà mẫn cảm từ 3 - 6 tuần tuổi, các nhà khoa học đã thống nhất phân độc lực của virus ra 3 loại như sau:

- Virus có độc lực cao: Nếu sau khi tiêm tĩnh mạch 10 ngày phải gây chết từ 100% số gà thực nghiệm Virus gây bệnh cúm gà (có thể là type phụ) phải gây chết 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm và phát triển tốt trên tế bào xơ phôi trong môi trường nuôi cấy không có trypsin Theo Nguyễn Tiến Dũng (2008)[19] protein HA gồm tiểu phần HA1 và HA2 nối với nhau trong cấu trúc bậc 1 qua chuỗi axit amin kiềm gọi là Cleavage site (điểm cắt) Khi xâm nhập vào ký chủ có hoạt tính giống như trypsin (trypsin-like) sẽ cắt đôi cấu trúc này ra thì virus mới bám vào thụ thể của tế bào ký chủ, xâm nhập vào nội bào và bắt đầu quá trình tăng sinh Men trypsin và tương đương chỉ có tác dụng vào các axit amin kiềm (Arginine và Lysine), do vậy nếu điểm cắt càng có nhiều loại axit amin này thì khả năng HA được cắt đôi càng lớn và quá trình xâm nhập vào nội bào càng nhanh nên virus có độc lực càng cao

75 Virus có độc lực trung bình: Là những chủng virus gây dịch cúm gà với triệu chứng lâm sàng rõ rệt nhưng gây chết gà không quá 15% số gà bị nhiễm bệnh tự nhiên hoặc không gây quá 20% số gà thực nghiệm

- Virus có độc lực thấp: Là những virus phát triển tốt trong cơ thể gà, có thể gây

ra bệnh nhưng không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt, không tạo ra bệnh tích đại thể và không làm chết gà

Trong thực tế người ta phân virus cúm gà ra làm 2 loại là virus có độc lực thấp (Low pathogenicity avian influenza - LPAI) và virus có độc lực cao HPAI Cho đến nay người ta thừa nhận chỉ có 2 biến chủng virus có cấu trúc kháng nguyên H5 và H7 được coi là loại có độc lực cao gây bệnh ở gia cầm, nhưng không phải tất cả các chủng mang gen H5 và H7 đều gây bệnh (Horimoto T và cs., 1995)[60] Các chủng virus cúm có độc lực thấp trong quá trình lưu hành trong thiên nhiên và trong đàn thủy cầm có thể đột biến gen hoặc đột biến tái tổ hợp để trở thành các chủng có độc lực cao (Mo I.P và cs., 1997)[75]

Trang 19

Theo Mary J.P và cộng sự (2008)[25] tất cả các virus cúm phân lập được ở Việt Nam trong năm 2005 - 2007 không chỉ có độc lực cao với gà, mà còn gia tăng đáng kể độc lực đối với vịt so với các virus phân lập trước đó Sự tăng độc tính này là

hệ quả của sự gia tăng virus nhân lên trong các cơ quan nội tạng và sự tăng thích nghi

ở diện rộng hơn của virus đối với các cơ quan nội tạng Sự thay đổi độc tính của các virus đang lưu hành này có ảnh hưởng lớn tới dịch tễ học của virus và công tác khống chế dịch cúm gia cầm

1.1.1.4 Sức đề kháng của virus

Virus cúm A tương đối nhạy cảm với các tác nhân vật lý hay hoá học Virus tồn tại thích hợp trong khoảng pH từ 6,5 đến 7,9, ở độ pH quá acid hay quá kiềm thì khả năng lây nhiễm của virus bị giảm mạnh (Fang và cs, 2008 [52] Lớp vỏ ngoài của virus bản chất là lớp lipid kép, có nguồn gốc từ màng tế bào nhiễm, dễ bị phá hủy bởi các dung môi hoà tan lipid, chất tẩy rửa và các chất sát trùng như phenol, formaldehyde, natri hypoclorid, acid loãng và hydroxylamine Virus bị bất hoạt dưới ánh sáng trực tiếp sau 40 giờ, tồn tại được 15 ngày dưới ánh sáng thường Tia tử ngoại bất hoạt được virus nhưng không phá hủy được kháng nguyên của chúng Tuy nhiên, virus cúm A dễ

bị tiêu diệt hoàn toàn ở 100°C và ở 60°C trong 30 phút, tồn tại ít nhất 3 tháng ở nhiệt

độ thấp (trong phân gia cầm) và tới hàng năm ở nhiệt độ dưới âm (-70°C) Trong phủ tạng gia cầm (40°C) virus tồn tại được 25-30 ngày, nhưng chỉ tồn tại 7-8 ngày ở nhiệt

độ cơ thể người (37°C) Trong nước, virus có thể sống tới 4 ngày ở nhiệt độ 30°C (Murphy và Webster, 1996)[78], (Webster, 1998[98] Virus cúm gia cầm tồn tại khá lâu trong các vật chất hữu cơ như ở phân gà chúng sống được từ 30 - 35 ngày ở nhiệt

độ 40C và 7 ngày ở nhiệt độ 200C; trong thức ăn, nước uống bị ô nhiễm virus có khả năng tồn tại hàng tuần Đây chính là nguồn bệnh nguy hiểm và tiềm tàng để làm lây lan dịch bệnh (Lê Văn Năm, 2004) [27]

Do cấu trúc vỏ ngoài của virus là lipit nên chúng mẫn cảm với các chất dung môi và chất tẩy rửa như formalin, axit, ete, β - propiolacton

Ở mùa đông do niệt đọ thấp nên lớp vỏ của virus trở thành một dạng gel có khả năng co dãn như cao su có thể bảo vệ virus Tuy nhiên, ở nhiệt độ ấm hơn thì lớp gel bảo hộ này bị tan chảy ra thành pha lỏng và không đủ độ cứng để bảo vệ virus chống lại các yếu tố khác Như vậy, thường về mùa hè sức đề kháng của virus kém nên tỷ lệ gia cầm mắc bệnh vào mùa hè và mùa thu thường ít hơn vào mùa đông và mùa xuân Dịch cúm gia cầm thường hay xảy ra vào tháng 3; 4; 10 và tháng 11 hàng năm (Đỗ Ngọc Thúy (2008)[33]

Trang 20

Bệnh cúm gia cầm xảy ra quanh năm, nhưng thường tập trung vào vụ đông xuân từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 năm sau Khi có những biến đổi bất lợi về điều kiện thời tiết như nhiệt độ lạnh, độ ẩm cao, thời tiết có những thay đổi đột ngột, làm giảm sức đề kháng tự nhiên của con vật Mặt khác thời điểm này có mật độ chăn nuôi cao nhất trong năm, các hoạt động vận chuyển, giết mổ gia cầm diễn ra cao nhất trong năm cũng là điều kiện thuận lợi để dịch bệnh phát sinh lây lan

1.1.1.5 Cơ chế sinh bệnh

Sau khi xâm nhập vào cơ thể, virus cúm tiếp cận tế bào đích (chủ yếu là tế bào biểu mô đường hô hấp) và bắt đầu quá trình nhân lên Khi số lượng virus tăng lên nhanh làm cho tế bào nhiễm bị phá hủy hàng loạt do bị dung giải trực tiếp hoặc mất trạng thái cân bằng vốn có của chúng, gây tổn thương không chỉ đường hô hấp trên mà còn gây tổn thương sâu ở các phế nang và phế quản nhỏ dẫn đến suy giảm hô hấp khiến sức đề kháng của cơ thể giảm sút rõ rệt, làm kế phát các bệnh vi khuẩn, virus khác… từ đó có thể gây tử vong nhanh (Cinatl và cs, 2007a) [44], (Korteweg và Gu, 2008) [69], (De Jong và cs, 2005a) [47] Sinh bệnh học của virus cúm A/H5N1 ở động vật được quyết định bởi khả năng nhân lên nhanh của virus và khả năng tác động đến nhiều loại mô bào của vật chủ (Maines và cs, 2005)[73], (Govorkova và cs, 2005) [58] Ở người, virus cúm sinh bệnh phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như sự tương tác

của virus với các hàng rào sinh học, loại tế bào đích, quá trình viêm và sự rối loạn điều

hòa miễn dịch (Cinatl và cs, 2007a) [44]

Theo Korteweg và Gu (2008)[69] có nhiều yếu tố liên quan đến sinh bệnh học của virus cúm A/H5N1, sự kết hợp giữa các yếu tố đó sẽ quyết định mức độ tổn thương mô bào và sự trầm trọng của bệnh, cũng như sự rối loạn điều hòa cytokine và chemokine có thể là một trong những cơ chế chủ yếu trong sinh bệnh học của virus cúm A/H5N1

1.1.1.6 Danh pháp

Để ký hiệu và lưu trữ một cách khoa học và đầy đủ các chủng virus cúm phân lập được, từ năm 1980 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra một hệ thống phân loại mới, được quy định ký hiệu theo trình tự: Serotype/ loài nhiễm/ nơi phân lập/ số hiệu chủng/ thời gian phân lập/ loại hình Subtype HA (H) và NA (N) Ví dụ: Virus cúm có

ký hiệu A/GS/HK/437/4/99/H5N1 có nguồn thông tin là Cúm nhóm A; loài nhiễm là ngỗng (GS = goose); nơi phân lập là Hồng Kông (HK); số hiệu 437; thời gian phân lập tháng 4/1999; Subtype H5N1 (Đào Yến Khanh, 2005)[21]

Trang 21

1.1.1.7 Đặc tính nuôi cấy

Theo Lê Văn Năm (2004)[26] virus cúm gà phát triển tốt trên phôi gà ấp được

từ 9-11 ngày tuổi, trong nước phôi gà tập trung khá nhiều virus và có thể lưu giữ virus được vài tuần ở điều kiện 40C Khả năng tồn tại và gây bệnh của virus rất cao nếu bảo quản nước phôi đó ở - 700C hoặc cho đông khô Virus cúm gà cũng phát triển tốt trong môi trường tế bào xơ phôi gà (CEF) và tế bào thận chó MDCK (Madin Darby Canine Kidney cell) với điều kiện môi trường nuôi cấy tế bào không chứa trypsin

1.1.2 Đặc điểm dịch tễ của bệnh cúm gia cầm

1.1.2.1 Động vật mẫn cảm

Các loài gia cầm như gà, vịt, ngan, chim cút, vẹt, bồ câu và chim hoang dã (đặc biệt thủy cầm di trú) đều mẫn cảm với virus cúm Phần lớn các loài gia cầm non đều mẫn cảm với virus cúm type A Ngoài ra, virus cúm type A còn gây bệnh cho nhiều loài động vật có vú như lợn, ngựa, chồn, hải cẩu, thú hoang dã và cả con người Lợn mắc bệnh cúm thường do subtype H1N1 và H3N2 Vịt nuôi bị nhiễm virus nhưng ít phát thành bệnh do vịt có sức đề kháng với virus gây bệnh Tuy nhiên, vào năm 1961 ở Nam Phi đã phân lập được virus cúm type A (H5N1) gây bệnh cho cả gà và vịt (Bùi Quang Anh và cộng sự, 2004 [1];

và là nguồn gieo rắc virus cho các loài khác, đặc biệt là gia cầm

Với các vật chủ khác, virus cúm có thời gian lưu giữ trong cơ thể và khả năng gây bệnh khác nhau, không theo quy luật Theo Nguyễn Tiến Dũng (2008)[19] virus cúm gia cầm có 3 loại ký chủ gồm vật chủ lưu giữ (Reservoir host): chỉ cho phép virus nhân lên với lượng thấp và virus gây ra bệnh rất nhẹ, như vịt và một số thủy cầm vẫn được coi là vật chủ lưu giữ H5N1, nhờ đó virus có khả năng tồn tại Vật chủ hứng chịu (Spillover host): cho phép virus nhân lên với lượng lớn và bệnh gây ra cũng rất nặng, thường là bệnh toàn thân và gây tử vong như ở gà, gà tây và chim cút đối với H5N1

Vật chủ lệch (Aberrant host): ở đó virus chỉ nhân lên với số lượng nhỏ nhưng bệnh do

chúng gây ra lại rất nghiêm trọng và thường gây tử vong như ở người, chó, mèo là vật chủ lệch của virus H5N1

1.1.2.3 Sự truyền lây

Theo Lê Văn Năm (2004)[26] virus cúm nhiễm vào gia cầm được nhân lên trong

Trang 22

đường hô hấp và tiêu hóa Sự truyền lây của bệnh được thực hiện theo 2 phương thức là lây trực tiếp: do gia cầm khỏe mạnh tiếp xúc với gia cầm mắc bệnh thông qua không khí được bài tiết từ đường hô hấp bị nhiễm virus Và lây gián tiếp: qua những dụng cụ chăn nuôi, phân, thức ăn, nước uống, quần áo, giầy dép, phương tiện vận chuyển, lồng nhốt, chim, thú, côn trùng có mang mầm bệnh Virus cúm dễ dàng lây truyền tới vùng khác do con người, phương tiện vận chuyển, dụng cụ và thức ăn chăn nuôi

Bệnh cúm lưu hành với tỷ lệ cao hơn đối với các đàn gia cầm nằm trên đường

di trú của các loài thủy cầm và các đàn gia cầm nuôi nhốt trong các trang trại, vịt được nuôi vỗ béo tại các cánh đồng gần trang trại Các ổ dịch cúm thường có nguy cơ xuất hiện cao ở các mùa có hoạt động của thủy cầm di trú Phần lớn các ổ dịch đều ghi nhận

có sự tiếp xúc với thủy cầm tại thời điểm phát dịch đầu tiên Từ người và các động vật

có vú khác, phần lớn các ổ dịch cúm gia cầm gần đây đã có sự lây lan thứ cấp thông

qua con người Cục thú y, 2004[17]), (Van Kerkhove MD và cs, 2011) [96]

1.1.2.3 Tính gây bệnh của virus cúm A

Theo Alexander (1993)[35] virus cúm được hấp phụ vào bề mặt tế bào nhờ có receptor mà bản chất là glycoprotein chứa axit sialic, từ đấy virus chui qua màng tế bào nhờ một loại men đặc biệt để vào trong nguyên sinh chất và nhân tế bào Tại đó virus sinh trưởng và phát triển nhanh chóng

Virus cúm A có tính thích ứng lây nhiễm cao với biểu mô đường hô hấp, gây bệnh chủ yếu ở đường hô hấp và cũng có thể tác động gây tổn thương nhiều cơ quan khác trong cơ thể của các động vật cảm nhiễm, do đó còn được gọi là virus hướng đa phủ tạng (Webster, 1998)[98], (Nicholson và cs, 2003)[80] Khả năng gây bệnh của virus cúm A phụ thuộc vào độc lực và tính thích nghi vật chủ của từng chủng virus Thông thường chúng không gây bệnh hoặc chỉ gây bệnh nhẹ giới hạn ở đường hô hấp của chim hoang dã và gia cầm, nhưng một số chủng cường độc (H5, H7, và Hl, H2, H3) có thể gây bệnh nặng ở hầu hết các cơ quan trong cơ thể, gây nên dịch cúm

ở gia cầm và ở người, có lẽ do tính thích ứng thụ thể sialic của chúng (Suzuki, 2005)[92] Hầu hết các chủng virus cúm A nhân lên rất tốt trong phôi gà sau lần cấy truyền thứ nhất, tuy nhiên các chủng cường độc phân type H5, H7 gây chết phôi gà ngay sau vài giờ, cả khi số lượng virus rất thấp khi chưa được nhân lên nhiều Ngoài

ra, người ta có thể gây bệnh cúm thực nghiệm trên chuột lang, chuột Hamster, chồn đất (De Wit và Fouchier, 2008)[49]

1.1.3 Triệu chứng lâm sàng, bệnh tích

Trang 23

1.1.3.1 Triệu chứng lâm sàng

Khi gia cầm bị phơi nhiễm virus, tùy thuộc vào độc lực của chủng virus mà chúng có thể không mắc bệnh, bị bệnh nhẹ, ở dạng mang trùng hoặc bị bệnh nặng Triệu chứng lâm sàng của bệnh cúm gia cầm thay đổi và bị chi phối bởi độc lực của virus, loài vật cảm nhiễm, tuổi, thời gian tác động, các bệnh kế phát do vi khuẩn và điều kiện môi trường (Beard, 1998)[41]

Thời gian nung bệnh từ vài giờ đến 21 ngày, có trường hợp kéo dài đến 28 ngày Gia cầm bị bệnh sốt cao, chảy nước mắt, nước mũi, đứng tụm một chỗ, lông xù, phù đầu và mắt, da tím tái, chân xuất huyết, chảy dịch ở miệng Con vật khi sốt cao có

biểu hiện không bình thường ở hệ thống tiêu hoá, hô hấp và thần kinh Triệu chứng

chung là giảm hoạt động, giảm tiêu thụ thức ăn, gầy yếu Trường hợp nặng có biểu hiện ho, khó thở, rối loạn thần kinh, ỉa chảy, một số con có biểu hiện co giật hoặc ở tư thế không bình thường Những triệu chứng trên có thể xảy ra cùng một lúc hoặc riêng

rẽ Trong trường hợp quá cấp tính thì gây chết gia cầm đột ngột như ở các vụ dịch năm

2004 - 2005 tại Việt Nam, triệu chứng lâm sàng đã không biểu hiện và gia cầm chết chỉ sau vài giờ khi có sự tác động của mầm bệnh Toàn bộ các ca bệnh cấp tính hoặc

quá cấp tính đều bị chết, có khi lên đến gần 100% Trường hợp cấp tính gia cầm chết

xuất hiện chỉ 24 giờ sau khi có triệu chứng đầu tiên và thường kéo dài trong khoảng 48 giờ Trứng đẻ ra sau khi gia cầm nhiễm bệnh thường không có vỏ cứng phía ngoài Một số gà mái đẻ có thể khỏi bệnh nhưng rất hiếm khi đẻ trứng bình thường trở lại (Tô Long Thành, 2004)[29]

Bệnh cúm thường lây lan nhanh, gia cầm chết đột ngột với tỷ lệ cao, với chủng virus độc lực cao (HPAI) thì tỷ lệ chết từ 15 - 100%, với chủng virus độc lực thấp (LPAI) có tỷ lệ chết thấp hơn và mức độ biểu hiện triệu chứng cũng nhẹ hơn Tuy nhiên, khi có sự bội nhiễm hoặc điều kiện chăn nuôi bất lợi thì tỷ lệ tử vong có thể tới

60 - 70% với các biểu hiện triệu chứng nặng hơn (Nguyễn Tiến Dũng, 2004 [18]; Lê

Văn Năm, 2004 [26])

Đối với người, sau khi nhiễm virus, thời gian ủ bệnh từ 1 đến 5 ngày trung bình

là khoảng 3 ngày Lúc đầu bệnh nhân sốt cao 39°C và thường kéo dài từ 1 đến 3 ngày Bệnh nhân cảm thấy khó chịu, toàn thân đau ê ẩm, ho, sổ mũi, nhức đầu, có thể tiến tới khó thở rồi ngạt thở, kèm theo các rối loạn về thính giác và thị giác Đặc biệt, chủng virus cúm A/H5N1 gây tỷ lệ tử vong rất cao cả ở gia cầm và trên người (Hui,

2008)[Error! Reference source not found.] Trong trường hợp không xảy ra những

biến chứng phức tạp, sự gây nhiễm tự giới hạn và bệnh nhân tự phục hồi trong vòng

Trang 24

một tuần Tuy nhiên, nếu trường hợp diễn biến phức tạp, bệnh có thể trở nên trầm trọng thậm chí có thể dẫn đến tử vong, đó là trường hợp bị biến chứng đi kèm viêm phổi do virus hoặc do vi khuẩn hoặc cả hai (Bauer và cs, 2006[40]; Gambotto và cs, 2008[54])

1.1.3.2 Bệnh tích

Bệnh tích đại thể:

Bệnh tích đại thể bệnh cúm ở các loài vật khác nhau thì có biểu hiện khác nhau Đối với gà, bệnh tích thường gặp ở mào, tích xuất huyết, sưng to, phù quanh mí mắt Thể nhẹ thấy bệnh tích ở các xoang trong cơ thể đặc trưng bởi viêm cata, lắng đọng fibrin, có mủ hoặc hình thành casein Có thể phù ở niêm mạc khí quản với dịch thẩm xuất khác nhau từ thanh dịch đến casein Viêm xoang bụng cata hoặc fibrin, có thể viêm dính buồng trứng với xoang bụng Ống dẫn trứng ở gà mái đẻ thường bị xuất huyết nặng Xuất huyết dưới da ống chân hoặc kẽ ngón chân thành vệt đỏ rất rõ Xuất huyết điểm trên bề mặt niêm mạc và tương mạc nội tạng Xuất huyết hầu hết toàn bộ đường tiêu hoá, đặc biệt thấy rõ ở manh tràng, dạ dày tuyến Tụy thường sưng to, có những vạch vàng hoặc đỏ sẫm theo chiều dọc; túi Fabricius ở gà xung huyết và xuất huyết Bệnh tích này rất giống với bệnh tích của bệnh Newcastle (Lê Văn Năm, 2004[27], (Alexander, 2000[36]) Mức độ biến đổi bệnh tích đại thể bệnh cúm gia cầm cũng đa dạng và rất khác nhau trong cùng một đàn, phụ thuộc rất nhiều vào độc lực virus, quá trình diễn biến của bệnh Những biến đổi mang tính tổng quan như mào và tích thâm tím, phù nề, xuất huyết dưới da và rìa tích Xuất huyết dưới da ống chân thành vệt, nốt Khí quản viêm xuất huyết, chứa nhiều đờm Túi khí phù nề, thành túi

khí dầy và có nhiều fibrin bám dính Phổi viêm cata, xuất huyết đến viêm fibrin làm

phổi dính vào lồng ngực Viêm xuất huyết đường ruột, đặc biệt vùng hậu môn, van hồi manh tràng, dạ dày tuyến và niêm mạc tá tràng Bao tim tích nước vàng, xuất huyết màng bao tim, mỡ vành tim, cơ tim Lách biến màu lốm đốm vàng, rắn chắc hơn bình thường Tụy khô ròn, xuất huyết.Viêm xuất huyết buồng trứng, ống dẫn trứng, nhiều trường hợp trứng non dập vỡ, xoang bụng tích nước vàng lợn cợn Xuất huyết màng treo ruột, màng bao dạ dày tuyến, dạ dày cơ, màng xương lồng ngực có thể coi là đặc điểm riêng của bệnh cúm gia cầm Các biến đổi bệnh lý đại thể của bệnh cúm gia cầm trên ngan và vịt về cơ bản cũng giống như trên gà Tuy nhiên, tần suất biến đổi tập trung chủ yếu ở phổi, túi khí, tim, buồng trứng, xương lồng ngực, cơ quan sinh sản và đường ruột (Lê Văn Năm, 2004)[27]

Ở người, virus cúm xâm nhập vào niêm mạc phế nang phế quản, nhân lên và gây huỷ hoại biểu mô túi khí, gây xung huyết, xuất huyết và tràn dịch phổi Mặt khác,

Trang 25

virus cúm có khả năng gây nhiễm khí quan, ruột, não và có thể xuyên qua nhau thai xâm nhập bào thai Mất cân bằng điều hoà miễn dịch do hiện tượng tăng cytokine không kiềm chế gọi là “bão cytokine” (cytokine storm) thường xảy ra dẫn đến cơ thể

bị suy sụp và tử vong (Korteweg và Gu, 2008)[69]

Bệnh tích vi thể:

Bệnh tích vi thể của bệnh cúm gia cầm chủ yếu là xung huyết, xuất huyết, thâm nhiễm bạch cầu ở não và một số cơ quan khác Mạch quản của các cơ quan như mào, tích, lách, gan, phổi, thận, cơ tim, cơ vân, não và một số cơ quan khác bị giãn rộng và thâm nhiễm tế bào xung quanh mạch quản (Beard, 1998)[41]

Các biến đổi đặc trưng về tổ chức học bao gồm phù nề, xung huyết, xuất huyết

và thâm nhập bạch cầu đơn nhân ở cơ vân, cơ tim, lách, phổi, mào, tích, gan, thận, mắt

và thần kinh Ngoài tế bào bạch cầu đơn nhân còn có tế bào đặc trưng cho phản ứng viêm hoại tử (Lê Văn Năm, 2004)[27]

1.1.4 Đáp ứng miễn dịch chống bệnh cúm ở gia cầm

Miễn dịch là trạng thái đặc biệt của cơ thể không mắc phải tác động có hại của yếu tố gây bệnh (thường gọi là các kháng nguyên), trong khi đó các cơ thể cùng loài hoặc khác loài lại bị tác động trong điều kiện sống như nhau (Nguyễn Như Thanh, 2001 [28], Nguyễn Quang Tuyên, 2003 [34]) Cũng như các động vật khác, miễn dịch chống virus cúm của gia cầm có hai loại là miễn dịch không đặc hiệu và miễn dịch đặc hiệu

1.1.4.1 Miễn dịch không đặc hiệu

Theo Nguyễn Quang Tuyên (2003)[34] khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể, động vật bảo vệ trước hết bằng miễn dịch không đặc hiệu nhằm ngăn cản hoặc giảm số lượng và khả năng gây bệnh của chúng Miễn dịch không đặc hiệu có vai trò quan trọng khi miễn dịch đặc hiệu chưa phát huy tác dụng Hệ thống miễn dịch không đặc hiệu của gia cầm gồm hàng rào vật lý như da, niêm mạc và các dịch tiết có tác dụng bảo vệ cơ thể ngăn cản tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể Khi mầm bệnh qua hàng rào da và niêm mạc nó gặp phải hàng rào sinh học là kháng thể dịch thể tự nhiên không đặc hiệu như bổ thể có tác dụng làm tan màng vi khuẩn, làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào (opsonin hóa) Ngoài ra, bổ thể cũng có vai trò nhất định trong cơ chế đáp ứng miễn dịch đặc hiệu, nhiều trường hợp sự tương tác giữa kháng nguyên và kháng thể cần sự có mặt của bổ thể Interferol (IFN) do nhiều loại tế bào tiết ra nhưng nhiều nhất là tế bào diệt tự nhiên (NK) Khi Interferol được sản sinh ra, nó gắn vào tế bào bên cạnh và cảm ứng tế bào đó sản sinh ra protein AVP (anti virus protein), do đó khi virus xâm nhập vào tế bào nhưng không nhân lên được

Trang 26

Các hàng rào tế bào như tiểu thực bào, quan trọng nhất là bạch cầu đa nhân trung tính chiếm 60 - 70% tổng số bạch cầu ở máu ngoại vi, nó thực bào những phân

tử nhỏ và vi khuẩn ngoài tế bào Đại thực bào khi được hoạt hóa nó sẽ nhận biết và tiêu hóa các vật lạ, ngoài ra nó còn giữ vai trò quan trọng trong sự trình diện kháng nguyên tới tế bào T và kích thích tế bào T sản sinh ra IL-1 Đại thực bào còn tiết ra interferol có hoạt tính kháng virus, lysozyme và các yếu tố khác có tác dụng kích thích phản ứng viêm Các tế bào diệt tự nhiên (NK) là một quần thể tế bào lâm ba cầu có nhiều hạt với kích thước lớn Các tế bào này có khả năng tiêu diệt các tế bào đã bị nhiễm virus và các tế bào đích đã biến đổi, nó còn tiết ra interferol làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào

1.1.4.2 Miễn dịch đặc hiệu

Theo Nguyễn Quang Tuyên (2003)[34] kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể sẽ kích thích cơ thể sản sinh ra kháng thể đặc hiệu để loại trừ kháng nguyên đó Kháng thể đặc hiệu có thể là kháng thể dịch thể hoặc có thể là kháng thể tế bào nên người ta phân miễn dịch đặc hiệu ra thành miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào

Miễn dịch dịch thể do các tế bào lympho B đảm nhiệm, nó tiết ra các loại globulin miễn dịch (Ig) gồm có IgG, IgM, IgA IgE và IgD Ở gia cầm, các lympho bào bắt nguồn từ tủy xương đi tới túi Fabricius, ở đây chúng được huấn luyện để trở thành các lympho B mẫn cảm, sau đó di tản đến các cơ quan lympho ngoại biên, chúng khu trú ở các tâm điểm mầm và vùng tủy của lách, hạch bạch huyết Các tế bào B đều

có khả năng sinh kháng thể khác nhau dựa vào cấu trúc kháng nguyên tương ứng Khi

tế bào B có thể sản sinh IgG thì nó cũng khả năng sản sinh một kháng thể khác, nhưng

dù là lớp kháng thể nào thì tất cả kháng thể do chúng sản sinh ra đều có khả năng nhận biết kháng nguyên tương ứng mà thôi Tức là vùng Fab của phân tử kháng thể không thay đổi mà chỉ có vùng Fc là khác nhau tùy vào lớp kháng thể

Trong hạch lâm ba, các lympho B có thể gặp kháng nguyên và sau khi đã nhận biết kháng nguyên và kích thích bởi các cytokilles do tế bào T tiết ra, chúng được biệt hóa thành tương bào để sản sinh kháng thể Đáp ứng của kháng thể khi gặp kháng nguyên lần đầu gọi là đáp ứng sơ cấp Sau khi xuất hiện vài ngày, hàm lượng kháng thể trong máu mới tăng và các kháng thể đầu tiên chủ yếu là IgG, cũng có thể có IgM nhưng với hàm lượng thấp

Kháng thể dịch thể chỉ có tác dụng với virus khi nó ở ngoài tế bào, lớp IgG và IgM kết hợp với virus, có sự tham gia của bổ thể làm tiêu diệt virus, các kháng thể này còn ngăn không cho virus kết hợp với receptor của tế bào tương ứng, ngăn cản giữa virus và màng tế bào Lớp IgA có trong niêm mạc có khả năng tiêu diệt virus ở hàng

Trang 27

rào niêm mạc, không cho virus xâm nhập vào trong Một số lympho B sau khi nhận biết kháng nguyên sẽ thành các tế bào lympho B nhớ, làm cho đáp ứng miễn dịch lần sau đối với kháng nguyên nhanh và mạnh hơn

Quá trình đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào do tế bào lympho T đảm nhiệm Các lympho bào bắt nguồn từ tủy xương di chuyển đến tuyến ức, tại đó chúng

được huấn luyện, biệt hóa thành tiền lympho T, thành lympho T non rồi thành lympho

T chín Từ tuyến ức chúng di tản đến các cơ quan lympho ngoại vi như các hạch lâm

ba, các mảng payer ở ruột hoặc tới lách Khi đại thực bào đưa thông tin đến các lympho T, chúng tiếp nhận và biệt hóa trở thành nguyên bào lympho T rồi thành tế bào mẫn cảm với kháng nguyên có chức năng như một kháng thể đặc hiệu và gọi là kháng thể tế bào Các tế bào lympho T thực hiện hai chức năng quan trọng là chức năng hỗ trợ và chức năng thực hiện Chức năng hỗ trợ do các lympho T có dấu ấn CD4 đảm nhiệm (TH), giúp các tế bào lympho B phát triển thành tương bào để sản xuất kháng thể và các tế bào TCD8 trở thành tế bào TC gây độc rồi được hoạt hóa và tiêu diệt tế bào đích Đa số các tế bào T hỗ trợ thể hiện dấu ấn CD4 nhận biết kháng nguyên được trình diện trên bề mặt của các tế bào trình diện kháng nguyên với các phân tử MHC lớp II Chức năng này do 2 tiểu quần thể TH đảm trách: TH1 tham gia phản ứng quá mẫn muộn, sản xuất IL-2 và interferol γ, TH2 hỗ trợ tế bào B và sản xuất chủ yếu IL-4, IL-5 Sản sinh ra các cytokilles có tác dụng điều khiển sự phát triển của các dòng tế bào bạch cầu và các tế bào mầm của hệ thống tạo máu, hoạt hóa các tế bào đại thực bào Chức năng thực hiện do các lympho T mang dấu ấn CD8 đảm nhiệm, gồm có hai loại là lympho T gây độc (TC) đối với tế bào bị nhiễm virus, tế bào ung thư và mảnh ghép dị loài, có khả năng nhận biết các mảnh peptit của kháng nguyên tế bào đích gắn với các phân tử MHC lớp I và các lympho T ức chế (TS) sẽ triệt thoái quá trình sản sinh imunoglobulin của tế bào B và triệt thoái hoặc ức chế các phản ứng quá mẫn muộn và miễn dịch tế bào

Sự hình thành kháng thể và quá trình đáp ứng miễn dịch phụ thuộc rất nhiều yếu tố như trạng thái sức khoẻ của cơ thể, điều kiện ngoại cảnh, chăm sóc, nuôi dưỡng Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể như đặc tính của kháng nguyên cao sẽ kích thích sinh kháng thể tốt, đường xâm nhập của kháng nguyên vào

cơ thể, liều lượng kháng nguyên sẽ kích thích cơ thể sản sinh miễn dịch ở mức cao

mà không gây ức chế và tê liệt miễn dịch Tiêm nhắc lại vaccine sẽ tạo cho kháng thể được sinh ra nhiều và duy trì trong thời gian dài hơn, chất bổ trợ có trong vaccine sẽ giữ và duy trì lượng kháng nguyên lâu trong cơ thể từ đó kích thích các cơ quan có thẩm quyền miễn dịch tạo ra kháng thể ở mức cao và duy trì trong thời gian dài hơn

Trang 28

1.1.5 Chẩn đoán bệnh cúm gia cầm

1.1.5.1 Chẩn đoán dựa vào các yếu tố dịch tễ

Căn cứ vào các yếu tố dịch tễ như bệnh lây lan nhanh, tỷ lệ chết cao lên tới 100% số gia cầm mắc bệnh, những vùng có ổ dịch cũ, những nơi gia cầm chưa được tiêm phòng vaccine cúm hoặc tiêm phòng chưa đủ thời gian đáp ứng miễn dịch, hoặc

đã tiêm phòng nhưng qua khảo sát hiệu giá kháng thể bảo hộ chỉ đạt ở mức thấp (Lê Văn Năm, 2004)[27]

1.1.5.2 Chẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm sang và bệnh tích

Căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng và biểu hiện bệnh tích để chẩn đoán, lưu ý tới một số đặc điểm chính như gia cầm mắc bệnh chảy nhiều nước mắt, viêm xoang mũi, mào, tích và chân tái xanh, phù đầu và mí mắt, lông cổ dựng ngược, ỉa chảy và có triệu chứng thần kinh

Căn cứ vào những bệnh tích điển hình như phổi, gan, thận, lách sưng to, hoại tử màu vàng hoặc màu xám Xuất huyết mỡ vành tim, ruột viêm cata và xuất huyết Ở gà mái đẻ ống dẫn trứng viêm, vỡ trứng non Xuất huyết dạ dày cơ, đôi khi xuất huyết dạ dày tuyến giống với bệnh Newcastle, xuất huyết điểm ở ruột, sưng hạch ruột Túi Fabricius xuất huyết điểm, lỗ huyệt xuất huyết Xuất huyết và hoại tử tuyến tụy, tuyến tụy chuyển sang màu vàng, có các vệt sẫm màu Phù keo nhầy và xuất huyết cơ đùi (phần giáp đầu gối), da chân xung huyết đỏ sẫm Chảy máu lỗ chân lông, máu không đông hoặc khó đông Trong trường hợp gia cầm chết do bệnh ở thể quá cấp tính thì biểu hiện bệnh tích thường không điển hình (Beard, 1998)[41]; Alexander, 2000[36])

1.1.5.3 Chẩn đoán phi lâm sàng

Bệnh cúm gia cầm có triệu chứng rất đa dạng, nếu chỉ dựa trên các đặc điểm lâm sàng thì chẩn đoán không chắc chắn, trừ trường hợp trong giai đoạn xảy ra dịch Muốn chẩn đoán chính xác bệnh cúm gia cầm và bệnh cúm ở người cần phải thực hiện chẩn đoán phòng thí nghiệm Các xét nghiệm phát hiện sự hiện diện của virus cúm trong cơ thể bệnh, đó là các phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu (HI), test chẩn đoán nhanh (Capillia Flu A/B test), hoặc các chẩn đoán xác định dựa vào các xét nghiệm huyết thanh học và phân lập virus (Nicholson và cs, 2003[80]

Phương pháp chẩn đoán bệnh cúm gia cầm rất hiệu quả và có độ chính xác cao

là phân lập vi rút Nhưng trở ngại đối với phương pháp này là đòi hỏi kỹ thuật tương đối nghiêm ngặt: phôi gà từ gà mái chưa có miễn dịch, thường là gà nuôi ở trạng thái

cô lập bệnh đặc hiệu (gà SPF) nên không phải phòng thí nghiệm nào cũng có thể thực hiện được (FAO, 2004)[53]

Trang 29

Các phương pháp Real-time PCR và reverse transcription-PCR (RT-PCR), kể

cả PCR đa gen (multiplex-PCR), trực tiếp sử dụng nguồn gen của virus cúm A và cúm A/H5N1 từ mẫu bệnh phẩm, gần đây đã được đưa vào ứng dụng, cho phép chẩn đoán xác định và phân biệt sự hiện diện của các chủng virus cúm A gây bệnh, có độ chính xác và tin cậy cao chỉ với một lượng nhỏ mẫu bệnh phẩm (OIE, 2005[103]; Wu và cs, 2008a [99]) Đây là những phương pháp phát hiện virus phổ biến nhất hiện nay và rất nhiều phòng thí nghiệm ở Việt Nam đã có khả năng thực hiện

1.1.6 Các biện pháp phòng bệnh

1.1.6.1 Phòng bệnh bằng biện pháp vệ sinh

Theo Lê Văn Năm, 2004)[26] bệnh cúm gia cầm cũng như các bệnh truyền nhiễm khác, quá trình sinh dịch có ba khâu quan trọng là nguồn bệnh, yếu tố truyền lây, động vật cảm nhiễm và có sự liên hệ giữa ba khâu đó Để kiểm soát, khống chế bệnh cúm gia cầm

có hiệu quả, cần tác động vào cả ba khâu của quá trình sinh dịch

Đối với nguồn bệnh: Tiêu hủy triệt để gia cầm mắc bệnh, thực hiện tốt công tác

vệ sinh khử trùng tiêu độc để tiêu diệt mầm bệnh Tăng cường công tác giám sát phát hiện bệnh, khi phát hiện thấy gia cầm mang virus phải tiêu hủy ngay

Đối với yếu tố truyền lây: Thực hiện tốt kiểm dịch vận chuyển, kiểm dịch gia cầm nhập khẩu, không vận chuyển gia cầm từ các nước hoặc các khu vực có dịch vào địa phương Thực hiện nuôi cách ly, hạn chế người và phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi Không nuôi chung các loại gia cầm (gà, vịt, ngan) trong cùng chuồng nuôi

Ngăn chặn sự xâm nhập và tiếp xúc của dã cầm với gia cầm Quản lý chặt chẽ việc

buôn bán, giết mổ gia cầm, quy hoạch khu vực buôn bán, giết mổ gia cầm riêng Thực hiện tốt công tác vệ sinh, khử trùng, tiêu độc Tuyên truyền hướng dẫn các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, các biện pháp phòng chống dịch cúm gia cầm để người chăn nuôi và nhân dân tự giác, chủ động thực hiện

Đối với động vật cảm thụ: Tích cực tuyên truyền để thay đổi dần tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi trang trại, chăn nuôi công nghiệp Quy hoạch khu vực chăn nuôi gia cầm ra xa khu dân cư Xây dựng chuồng trại đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, không gây ô nhiễm môi trường Thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y Chăm sóc nuôi dưỡng tốt để nâng cao sức đề kháng tự nhiên cho gia cầm

Trong điều kiện chăn nuôi gia cầm của Việt Nam hiện nay, để kiểm soát dịch cúm gia cầm, một biện pháp rất quan trọng là tạo miễn dịch chủ động bằng cách tiêm vaccine cho đàn gia cầm

Trang 30

1.1.6.2 Sử dụng vaccine trong phòng chống bệnh cúm gia cầm

Đối với bệnh truyền nhiễm, sử dụng vaccine để phòng bệnh được coi là biện pháp có tính chiến lược, nhằm ngăn chặn lây lan, tạo bảo hộ miễn dịch (Subbarao và Luke, 2007)[90] Để phòng chống dịch cúm A/H5N1 ở gia cầm và dự phòng dịch cúm trên người, nghiên cứu phát triển vắc xin không những ngăn ngừa giảm được bệnh ở gia cầm, mà còn khống chế nguồn truyền lây của loại virus nguy hiểm này sang người (OIE,

2005 [103]; (Subbarao và Luke, 2007 [90]) Kháng thể đặc hiệu có thể được cơ thể sinh

ra do kích thích của kháng nguyên trong vắc xin, đó là các kháng thể kháng HA, NA,

MA và nhiều loại hình khác của virus đương nhiễm, góp phần vô hiệu hoá virus cúm A/H5N1 khi chúng xâm nhập vào (Lê Thanh Hòa và cs, 2004 [20]; Nayak và cs., 2010

[79]) Có nhiều loại kháng thể, nhưng trước hết chỉ kháng thể kháng HA (H5 có vai trò

tiên quyết quan trọng trong quá trình trung hòa virus cho bảo hộ miễn dịch Các vaccine

phòng bệnh hiện nay dựa trên cơ sở hai loại chính là vaccine truyền thống và vaccine thế hệ mới (Subbarao và Luke, 2007 [90]; Capua và Alexande, 2008 [42])

Vaccine truyền thống: bao gồm vaccine vô hoạt đồng chủng và dị chủng

Vaccine vô hoạt đồng chủng (homologous vắc xin) là loại vaccine được sản xuất chứa cùng những chủng virus cúm gia cầm giống chủng gây bệnh trên thực địa (Swayne và Suarez, 2000)[93] Vaccine vô hoạt dị chủng (heterologous vaccine) là vaccine sử dụng các chủng virus có kháng nguyên HA giống chủng virus trên thực địa, nhưng có kháng nguyên NA dị chủng

Vaccine thế hệ mới hay vaccine công nghệ gen: là loại vaccine được sản xuất

nhờ sử dụng kỹ thuật gen để loại bỏ các vùng “gen độc" Các loại vaccine này đang

được nghiên cứu hoặc đã đưa vào sử dụng phổ biến, bao gồm:

- Vaccine tái tổ hợp có vector đậu gia cầm dẫn truyền: Loại vaccine này sử dụng virus đậu gia cầm làm vector tái tổ hợp hai gen H5 và NI phòng chống virus type H5N1 và H7N1 (Qiao và cs, 2006)[85] Ví dụ, hãng Merial của Pháp sản xuất vaccine Trovac AIV-H5 lấy nguồn gen H5 từ chủng A/Turkey /Ireland/83 (H5N2) sử dụng được cho gia cầm lúc 1 ngày tuổi

- Vaccine dưới nhóm chứa protein kháng nguyên NA, HA tái tổ hợp và tách chiết làm vaccine (Peyre và cs, 2008 [83]; Prel và cs, 2008 [84])

- Vaccine tái tổ hợp có vector dẫn truyền: sử dụng adenovirus hoặc Newcastle virus hoặc virus đậu chim làm vector dẫn truyền, lắp ghép gen kháng nguyên H5 vào hệ gen của adenovirus, tạo nên virus tái tổ hợp làm vaccine phòng chống virus cúm A/H5N1 (Gao và cs, 2006 [56]; Romer Oberdorfer và cs, 2008 [86]; Hu và cs, 2011 [62])

Trang 31

- Vaccine DNA: sản phẩm DNA plasmid tái tổ hợp chứa gen HA, NA, NP, M2 đơn lẻ hoặc đa gen (Keawcharoen và cs, 2005 [67]; Patel và cs, 2009 [82])

- Vaccine nhược độc virus cúm nhân tạo: được sản xuất bằng kỹ thuật di truyền ngược, virus cúm nhân tạo được lắp ghép chứa đầy đủ hệ gen, trong đó các gen kháng nguyên H5 có vùng "độc” đã được biến đổi bằng kỹ thuật gen (Tian và cs, 2005 [94]; Suguitan và cs., 2009 [91]) Có 3 loại vaccine đã được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công nhận về độ an toàn và khuyến cáo đưa vào chương trình sản xuất vaccine trên thế giới hiện nay, đó là NIBRG-14 (NIBSC), VN/04xPR8-rg (SJCRH) và VNH5N1 -PR8/CDC-rg (CDC) Hai chủng cúm A/H5N1 cung cấp nguồn gen H5 và NI là A/Vietnam/1194/2004 (H5N1) hoặc A/Vietnam/1203/2004(H5N1) (Nicolson và cs., 2005)[81] Trung Quốc cũng là nước sản xuất nhiều giống virus vaccine chống cúm, ở Viện Nghiên cứu Thú y Cáp Nhĩ Tân đã thành công trong việc tạo giống vắc xin vô hoạt nhũ dầu đơn chủng lấy nguồn gen H5 và N2 từ chủng A/Turkey/England/N-28/73(H5N2), loại phân type H5N2 có độc lực yếu; hay giống vaccine vô hoạt nhũ dầu đơn chủng lấy nguồn gen H5 và NI từ chủng A/Goose/Guangdong/1996(H5Nl), loại

có độc lực yếu (Tian và cs, 2005 [94]; (Qiao và cs, 2006 [85]) Các loại vaccine này đã được nhập và sử dụng tại Việt Nam từ năm 2006 cho đến nay

Vaccine thế hệ mới chủng NIBRG-14: Chủng NIBRG-14 là giống virus vaccine nhược độc thế hệ mới, thuộc loại hình vaccine được xoá gen bằng công nghệ gen, được lắp ráp nhân tạo bằng kỹ thuật di truyền ngược (reverse genetics - based technology) và thích ứng nhân lên khi nuôi cấy trên phôi gà (Marsh và Tannock, 2005)[74] Phương pháp di truyền ngược được sử dụng để tạo ra chủng virus nhân tạo nhược độc làm vaccine, cụ thể hệ gen của chủng nhân tạo NIBRG-14 được tái tổ hợp gen trên cơ sở sử dụng chủng gốc PR8/34 (A/Puerto Rico/8/34/Mount Sinai(HlNl)) cung cấp 6 gen khung là PA, PB1, PB2, NP, M, NS làm nền, còn các gen kháng nguyên HA(H5) và NA(N1) được lấy từ chủng cúm cường độc gây bệnh phân lập năm

2004 tại Việt Nam (A/Vietnam/1194/2004(H5N1) (Tian và cs, 2005)[94] Bằng thao tác kỹ thuật gen, gen H5 đã bị đột biến làm mất hẳn 4 amino acid RRRL, cùng với một

số đột biến điểm ở các bộ mã ở hai đầu của vùng “độc”, làm thay đổi 3 amino acid tại

vùng gây độc Mặc dù virus được xử lý làm mất độc tính gây bệnh nhưng vẫn giữ nguyên bản chất đặc tính kháng nguyên bề mặt giống hệt như virus cúm A/H5N1 đã lấy mẫu ban đầu, do vậy, có khả năng tạo kháng thể kháng lại kháng nguyên bề mặt loại virus H5N1 gây bệnh trong tự nhiên (Peyre và cs, 2008 [83]; Doherty và cs, 2006 [50])

Phòng hộ chống lại bệnh cúm gia cầm là kết quả của đáp ứng miễn dịch chống

Trang 32

lại protein Haemaglutinin (HA) Hiện nay đã xác định được 16 subtype khác nhau từ H1 đến H16 Ở mức độ nào đó chống lại protein Neuraminidae (NA) đã xác định được

9 subtype từ N1 đến N9 Các đáp ứng miễn dịch kháng lại protein bên trong như Nucleoprotein (NP) và protein Matrix (M) của virus đã được chứng minh là không đủ

để tạo phòng hộ trên thực địa Vì vậy, không có loại vaccine nào chung cho tất cả các virus cúm gia cầm Trong thực tế, sự phòng hộ được tạo ra nhờ các subtype Haemagglutinin có trong vaccine (Tô Long Thành, 2006) [30]

Khi virus nhân lên trong tế bào ký chủ sẽ có sự sai lệch trong sao chép dẫn đến thay đổi một hay nhiều nucleotit, làm thay đổi cấu trúc của mã di truyền và protein

HA Sự biến đổi ở gen HA là quan trọng nhất Để phòng bệnh cúm, người ta phải chế tạo vaccine dựa chủ yếu vào kháng nguyên HA Do vậy hàng năm, nhóm chuyên gia

về cúm của WHO thường xuyên phải xem xét và chọn ra loại virus mới để sản xuất vaccine thay thế cho chủng virus năm trước (Nguyễn Tiến Dũng, 2008)[19]

1.1.6.3 Hóa dược liệu sử dụng phòng chống bệnh cúm gia cầm

Một số loại hóa dược sử dụng trong các thuốc ức chế virus không đặc hiệu có tác dụng ngăn cản quá trình giải phóng virus ra khỏi tế bào nhiễm (ức chế NA), hoặc ức chế quá trình thoát vỏ và bao gói của virus do ức chế kênh vận chuyển protein NP vào nhân

tế bào trong quá trình nhân lên của virus trong tế bào nhiễm (Basler, 2007)[39] Các loại hóa dược sử dụng phổ biến trong phòng chống virus cúm A bao gồm:

Hóa dược ức chế kênh vận chuyển ion M2: Nhóm Adamatane gồm có Amantadine và Rimantadine là những loại hóa được chống virus cúm được cấp phép đầu tiên (Hayden, 2006)[59] Cả hai loại này đều có tác dụng ở mức liều thấp chống lại các phân type virus cúm A khác nhau nhưng không có tác dụng đối với virus cúm

B Adamatane hướng đến vùng xuyên màng (transmembrane domain) trong protein M2 của virus cúm A, ức chế sự xâm nhập của dòng proton vào ữong virus, và sau đó

là ức chế sự giải phóng RNP khỏi MI (quá trình “cởi áo”), là quá trình cần thiết để vận chuyển RNP vào trong nhân Adamantane còn có tác động chống virus ở các giai đoạn sau của quá trình nhân lên của virus, khi tế bào nhiễm chủng virus cúm gia cầm H5 và H7, do tương tác với hoạt động chuyển vận ion của M2 trong quá trình vận chuyển

ngoại bào (Cinatl và cs, 2007b)[45]

Tuy nhiên, hiện nay virus cúm A đã đề kháng với Amantadine và Rimantadine Đột biến thay thế serin bằng asparagin ở vị trí 31 trong protein M2 đã làm cho virus cúm A/H5N1 kháng với Amantadine (Tosh và cs, 2011) [95] Sự kháng thuốc xuất hiện nhanh sau khi điều trị bệnh nhân nhiễm virus cúm A bằng Amantadine Virus

Trang 33

kháng Amantadine có đầy đủ độc lực và khả năng lây truyền (Cinatl và cs, 2007b)[45]

Hóa dược ức chế NA: Các thuốc ức chế NA đã xuất hiện trong khoảng hơn 6 thập kỷ qua (Hayden, 2006)[59] Chúng được đưa vào sử dụng trong thực tiễn lâm sàng năm 1999 và Oseltamivir (một loại thuốc uống) đã nhanh chóng trở thành loại thuốc được lựa chọn chủ yếu trong điều trị bệnh cúm và dự phòng cho các đại dịch (Moscona, 2005)[77] NA của virus thủy phân acid sialic của sialoglycan, thúc đẩy giải phóng virus vừa được tạo thành ra khỏi tế bào nhiễm bằng cách phá hủy thụ thể trên tế bào chủ và của chính virus, tiếp đến là chu trình nhân lên của virus trong tế bào Các thuốc ức chế NA tương tác với quá trình này và ức chế sự giải phóng virus cúm mới hình thành khỏi tế bào nhiễm Sử dụng các thuốc ức chế NA trong điều trị có thể

ức chế hiệu quả các bước khởi đầu trong quá trình nhân lên của virus cúm Do vậy, để

có hiệu quả điều trị cao, việc sử dụng sớm thuốc ức chế NA cho bệnh nhân mắc bệnh

cúm là rất cần thiết (Cinatl và cs, 2007b)[45]

Oseltamivir (Tamiflu) và Zanamivir (Relenza) là hai loại thuốc ức chế NA chính được sử dụng trong lâm sàng Oseltamivir là dạng thuốc uống, trong khi Zanamivir là thuốc bột dùng để ngửi nhờ một thiết bị hỗ trợ thở Cả hai loại thuốc đều

có hiệu quả đối với tất cả các phân type NA nên được sử dụng để điều trị tất cả các chủng virus cúm Do virus cúm nhân lên trong đường hô hấp đạt đỉnh trong khoảng 24-72 giờ sau khi xuất hiện bệnh nên các thuốc ức chế NA cần được sử dụng càng sớm càng tốt (Moscona, 2005)[77] Lợi thế chủ yếu của các thuốc ức chế NA so với các thuốc ức chế kênh chuyển vận ion M2 là khó tạo ra các chủng virus cúm kháng thuốc (Monto, 2006)[76] Các nghiên cứu gần đây cho thấy đột biến H252Y trong NA làm cho virus có tính kháng Oseltamivir cao (Shu và cs, 2011)[89]

Có thể sử dụng Oseltamivir để dự phòng trong vòng 48 giờ sau tiếp xúc với mầm bệnh và là loại thuốc dự trữ chiến lược phòng dịch cúm A/H5N1, tuy nhiên thuốc cũng có một vài tác dụng phụ trên người được ghi nhận như gây rối loạn tâm thần và

có thể gây độc sau khi điều trị liều cao (Aoki và cs, 2007)[37]

Điều trị cúm A/H5N1 có thể đạt kết quả tối ưu khi sử dụng phối hợp hai thuốc

ức chế NA với nhau, hoặc một thuốc ức chế NA với một thuốc nhóm Adamantane (nếu kiểu gen của loại virus cúm đang lưu hành mẫn cảm với Adamantane), hoặc một thuốc ức chế NA kết hợp với Ribavirin (Cinatl và cs, 2007b)[45] Các nghiên cứu cho thấy, phối hợp Adamatane với thuốc ức chế NA trong điều trị có thể làm giảm sự xuất hiện các biến chủng virus cúm kháng thuốc (Ilyushina và cs, 2006)[63]

1.1.6.4 Một số loại vaccine phòng bệnh cúm gia cầm và cách sử dụng

a) Vaccine sản xuất trong nước:

Tháng 3/2012 Công ty thuốc thú y Trung ương (NAVETCO), Việt Nam đã cho

Trang 34

ra mắt sản phẩm vaccine phòng bệnh cúm gia cầm

* Tên vác xin: NAVET VIFLUVAC

* Đặc tính: Vaccine chứa virus Cúm A/H5N1 chủng NIBRG-14, là chủng virus được tạo ra từ chủng A/Vietnam/1194/2004 (H5N1) và chủng A/PR/8/34 (H1N1) dùng kỹ thuật di truyền ngược, được nuôi cấy trên phôi gà và vô hoạt bằng Formalin Vaccine rất an toàn, tạo miễn dịch nhanh, mạnh và kéo dài

* Cách sử dụng: Tiêm dưới da cổ (1/3 phần dưới, sau cổ)

* Quy cách: Vắc xin được đóng chai 20ml, 50ml, 100ml

* Bảo quản: Ở nhiệt độ từ 2-8oC, không để vaccine vào ngăn đông, tránh ánh sáng mặt trời

* Hạn sử dụng: 12 tháng kể từ ngày sản xuất khi bảo quản ở nhiệt độ 2-8oC

b) Vắc xin nhập khẩu: Gồm 2 loại là vaccine cúm gia cầm H5N2 của Hà Lan

và vaccine cúm gia cầm H5N1 của Trung Quốc, được nhập khẩu bởi công ty Thuốc

thú y Trung ương (NAVETCO)

Vaccine cúm gia cầm H5N2 (Hà Lan)

* Dạng bào chế ản phẩm: Vaccine nhũ dầu

* Thành phần:

- Thành phần hoạt chất: Kháng nguyên virus Avian Influenza type A, type phụ H5N2 Mỗi liều tạo ra hiệu giá HI ít nhất 7,0 log2 cho cả hai qui cách, tùy thuộc vào hiệu lực của test sử dụng

- Chất bổ trợ: Paraffin lỏng, thành phẩm không chứa chất bảo quản nào, thành phần formandehyde có thể còn lại với hàm lượng dưới 0,05% sau quá trình vô hoạt

* Chỉ định:

- Vaccine Nobilis Influenza H5N2 dùng để tạo miễn dịch chủ động cho gà khỏe mạnh chống lại virus Avian Influenza type A, type phụ H5

Trang 35

* Cách dùng: Tiêm dưới da vào phần dưới của cổ

Vaccine cúm gia cầm H5N1 (Trung Quốc)

* Đóng gói: Chai 500ml

* Bảo quản: Ở nhiệt độ từ 2oC đến 8oC , không được làm đông lạnh

* Thành phần: Vaccine chứa virus cúm gia cầm A/Harbin/Re-1/2003 (H5N1),

vô hoạt với chất bổ trợ nhũ dầu

* Công dụng: Dùng phòng bệnh cúm cho gà, vịt, ngỗng gây ra do virus cúm gia cầm suptype H5

* Cách dùng: Tiêm bắp (ngực) hoặc dưới da (1/3 dưới sau cổ):

* Quy cách: Chai 20ml, 50ml, 100ml

* Bảo quản: Bảo quản 2o-8oC, tránh ánh sáng

1.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới

Từ cuối năm 2003 - 2005 đã có 11 nước và vùng lãnh thổ xuất hiện dịch cúm gia cầm H5N1 gồm Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia, Trung Quốc, Malaysia, Hồng Kông và Việt Nam Ngoài ra, có 7 nước và vùng lãnh thổ khác có dịch cúm gia cầm các chủng khác là Pakistan, Hoa Kỳ, Canada, Nam Phi,

Ai Cập, Triều Tiên và Đài Loan Tính đến nay, đã có tổng cộng 55 nuớc và vùng lãnh thổ bùng phát dịch cúm làm 250 triệu con gia cầm bị chết hoặc tiêu hủy bắt buộc Bệnh cúm cũng lây sang người với 258 trường hợp nhiễm bệnh và 154 người đã chết (Lê Văn Năm, 2004) [27]

Sau gần 40 năm không phát hiện, cúm A/H5N1 xuất hiện tại Quảng Đông (1996), Hồng Kông (1997) với những biến đổi sâu sắc, không những gây chết gia cầm

mà còn thích ứng và gây chết người bệnh Có thể coi dòng virus cúm A/H5N1 từ 1996 đến nay là cúm A/H5N1 hiện đại mới xuất hiện (De Jong và Hien, 2006)[48] Chủng virus cúm A/H5N1 được phát hiện lần đầu tiên gây bệnh dịch trên gà tại Scotland vào năm 1959 và có thể gọi chủng virus này là virus cúm A/H5N1 cổ điển Từ đó đến nay, cấu trúc thành phần gen và kháng nguyên miễn dịch của H5 và NI đã có nhiều thay đổi (Horimoto và Kawaoka, 2006)[61]

Từ cuối 2005, cúm A/H5N1 sau khi lây nhiễm cho chim hoang dã ở vùng hồ Thanh Hải (Qinghai Lake), Trung Quốc bắt đầu lan truyền sang phía Tây, lan sang một sổ nước vùng Trung Á, trong ' đó có Nga, rồi tràn ngập Đông Ầu và xâm nhập vào các nước vùng Tiểu Á, bao gồm Thổ Nhĩ Kỳ, các nước Bắc- Trung Phi, đặc biệt Ai Cập và Nigeria là các nước chịu thiệt hại nhiều nhất (Salzberg và cs, 2007)[87] Đặc biệt từ năm 2003 đến nay, virus cúm A/H5N1 gây ra dịch cúm gia cầm tại Hồng Kông, Trung Quốc và lây lan sang hàng chục quốc gia trên thế giới ở châu Á, châu Âu và

Trang 36

châu Phi (Lê Thanh Hòa và cs, 2004)[20], (Duan và CS, 2008)[51] Virus cúm A/H5N1 giai đoạn 2003-2008, cơ bản về cấu trúc vẫn như trước đó, nhưng tính gây bệnh, loài vật chủ nhiễm bệnh, tính kháng nguyên-miễn dịch và mức độ truyền lây có nhiều nét đặc trưng hơn và khác với nhiều biến chủng H5N1 trước đây (Subbarao và Luke, 2007[90], Zhao và cs, 2008[101]) Từ đầu năm 1997 đến cuối năm 2005, virus cúm A/H5N1 chỉ giới hạn ở vùng Đông Nam Á (Chen và cs., 2008)[43]

Tính đến năm 2008, tổng số có trên 60 nước và vùng lãnh thổ bùng phát dịch cúm gia cầm, hàng trăm triệu gia cầm bị chết và tiêu hủy, gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi và kinh tế (Duan và cs, 2008)[51] Virus cúm A là loại có độc lực cao

và gây bệnh trên người trong các đợt dịch cúm gia cầm những năm 1996-2008, đặc biệt là do virus cúm A/H5N1 thể độc lực cao (HPAI, highly pathogenic avian influenza) gây ra kể từ năm 2003 cho đến nay Số người nhiễm và tử vong do virus cúm A/H5N1 mỗi năm một cao hơn, theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO)

số người nhiễm cúm gia cầm H5N1 giai đoạn 2003-7/2012 là 607 trường hợp, trong đó

358 đã tử vong chiếm tới 58,97% Indonesia, Ai Cập và Việt Nam là ba quốc gia có số người nhiễm và tử vong do virus cúm A/H5N1 cao nhất thế giới Trong số 15 nước có người nhiễm cúm gia cầm, Indonesia và Việt Nam được WHO xác định là quốc gia có các điều kiện thuận lợi để virus cúm A/H5N1 tiến hoá thích nghi lây nhiễm và trở thành virus của người (Lê Thanh Hòa và cs, 2004)[20]

Theo thông báo của Tổ chức Thú y Thế giới và cơ quan thú y các nước: Năm

2013, dịch cúm gia cầm A/H5N1 đã xuất hiện tại 13 nước, đặc biệt ngày 21/12/2013 virus cúm A/H5N2 chủng độc lực cao đã lây nhiễm cho đàn gia cầm tại tỉnh Hà Bắc, Trung

Quốc, (WHO, Influenza: FAOs, 14/5/2013) [106], (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2014) [3]

Trong năm 2014, nhiều chủng virus cúm gia cầm nguy hiểm đã xuất hiện, gây bệnh tại nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ và số gia cầm phải tiêu hủy hàng triệu con các loại, cụ thể:

- Virus cúm A/H5N1 gây dịch tại Bungari, Campuchia, Lào, Trung Quốc, Triều Tiên, Ấn Độ, Isaren, Nepan, Nigieria, Ai Cập, Lybi, Nga, Việt Nam

- Virus cúm A/H5N6 đã được phát hiện tại Trung Quốc, Lào, Việt Nam

- Virus cúm A/H5N8 được phát hiện tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc,

mỹ, Đức, Ý, Hà Lan, Anh

- Virus cúm A/H5N2 và A/H5N3 được phát hiện hiện tại Trung Quốc, Đài Loan, Hoa Kỳ, Canada

- Virus cúm A/H7N2 tại Úc, virus cúm A/H7N3 xuất hiện tại Mexico, (Bộ

Nông nghiệp & PTNT, 2015) [4]

Trang 37

Tháng 3/2013 lần đầu tiên phát hiện virus cúm A/H7N9 ở Thượng Hải, Trung Quốc, đến 02/2014 đã ghi nhận 339 ca bệnh, trong đó 66 ca tử vong (tại các tỉnh An Huy, Giang Tây, Hà Nam, Hồ Nam, Phúc Kiến, Giang Tô, Chiết Giang, Quảng Đông, Sơn

Đông, Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Tây thuộc Trung Quốc; Hồng Kông và Đài Loan)

Theo thông tin từ Tổ chức WHO: Malaysia đã xác nhận ca bệnh cúm A/H7N9 trên người đầu tiên Bệnh nhân là cụ bà 67 tuổi đi du lịch từ Trung Quốc sang Malaysia từ ngày 03/02/2014 và được phát hiện nhiễm virus cúm (WHO Influenza,

A/H7N9) [104]

Virus cúm A/H7N9 đã được phát hiện trên cả gia cầm và người tại tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) nơi có đường biên giới với nước ta nhưng chưa phát hiện lưu hành trên gia cầm hay người ở Việt Nam (Cục Thú y - Báo cáo tổng kết công tác thú y năm

2014, 2015)[13], [14]

Virus cúm A/H7N9 được xác định có nguồn gốc từ gia cầm nhưng chưa gây bệnh lâm sàng cho gia cầm; virus lây truyền từ gia cầm sang người, gây bệnh cho người và tỷ lệ tử vong rất cao (Gao R và cs, 2013) [57], (Gao HN, 23/4/2013), [55]

Virus cúm A/H7N9 được tái tổ hợp theo kiểu lấy 06 gien nội (internal genes) của virus cúm H9N2 lưu hành gần đây trong gia cầm ở Trung Quốc; riêng nguồn gốc

02 gien ngoài H7 và N9 vẫn chưa được xác định rõ nhưng có mối liên hệ gần với gien H7 trên vịt và gien N9 trên các loài chim hoang dã Virus cúm H10N9 phân lập được trong gia cầm ở tỉnh Giang Tô - Trung Quốc có gien N tương tự như gien N tìm thấy trong virus cúm A/H7N9 (Bao CJ và cs, 2013) [38]

Virus cúm A/H7N9 có phương thức tồn tại và lây truyền giống virus cúm A/H9N2 là: Đường bài thải virus chính là thông qua vùng hầu họng; virus có bộ gen nội của virus cúm A/H9N2; có điểm thụ cảm liên kết đặc trưng như virus cúm A/H9N2 ở gia cầm tại Trung Quốc, Điều này cho thấy nó có thể có nhiều đặc tính tương tự như loại virus cúm A/H9N2, nguy cơ nó có thể lan rộng trong gia cầm ở Trung Quốc trong tương lai (WHO Influenza, 4/2013) [107]

Tại chợ gia cầm ở Trung Quốc, tỷ lệ mẫu gà phát hiện dương tính với virus cúm A/H7N9 nhiều hơn các subtype khác, đồng thời nhiều mẫu môi trường cũng phát hiện thấy virus cúm A/H7N9 Ngoài ra một lượng nhỏ mẫu vịt, chim bồ câu bán tại chợ gia cầm Trung Quốc cũng cho kết quả dương tính Chưa phát hiện trang trại gia cầm dương tính với cúm A/H7N9 (Bộ NN&PTNT, 2014) [4]

Năm 2014, dịch cúm gia cầm H5N1 đã xảy ra tại Căm-pu-chia, Lào, Trung Quốc, Triều Tiên, Ấn Độ, Nepal, Ai Cập, Lybia, Nga, Việt Nam; chủng virus H5N6 đã được phát hiện tại Trung Quốc, Lào; virus H5N8 được phát hiện tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung

Trang 38

Quốc, Mỹ, Đức, Ý, Hà Lan, Anh; virus H5N2 và H5N3 có tại Trung Quốc, Hoa Kỳ, Canada; virus H7N2 có tại Úc; virus H7N3 xuất hiện tại Mexico (Cục Thú y, 2014) [12]

Năm 2015, dịch cúm gia cầm H5N1 đã xảy ra tại 23 quốc gia và vùng lãnh thổ gồm: Bhutan, Bungaria, Burkina Faso, Căm-pu-chia, Canada, Trung Quốc, Bờ Biển Ngà, Pháp, Ghana, Ấn Độ, Iran, Isreal, Kazakhstan, Libya, Miến Điện, Niger, Nigeria, Palestine, Romania, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ và Việt Nam; dịch cúm H5N6 đã xảy ra tại Trung Quốc, Hồng Công (Trung Quốc), Lào và Việt Nam

Các chủng virus cúm gia cầm độc lực cao gồm H5N2 gây ra các ổ dịch tại Canada, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Pháp, Mỹ; chủng H5N3 có tại Đài Loan (Trung Quốc); chủng H5N8 có tại Canada, Đài Loan (Trung Quốc), Đức, Hungary, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Nga, Thụy Điển, Anh và Mỹ; chủng H5N9 có tại Pháp; chủng H7N3 có tại Mexico; chủng H7N7 có tại Đức và Anh (Cục Thú y, 2015) [14]

1.3 Tình hình dịch cúm gia cầm tại Việt Nam

1.3.1 Dịch cúm A/H5N1

Theo Lê Thanh Hòa và cs, (2004)[20] dịch cúm gia cầm A/H5N1 lần đầu tiên

bùng phát tại Việt Nam vào cuối tháng 12/2003 ở các tỉnh phía Bắc, chỉ trong một thời gian ngắn dịch đã nhanh chóng lây lan tới hầu hết các tỉnh trong cả nước, hàng chục triệu gia cầm bị tiêu huỷ, gây thiệt hại kinh tế nặng nề

- Năm 2004: Dịch cúm xảy ra ở tỉnh Hà Tây, Long An và Tiền Giang Dịch lây lan rất nhanh, trong vòng hai tháng đã xuất hiện ở 57/64 tỉnh, thành trong cả nước Tổng số gà và thuỷ cầm mắc bệnh, chết và thiêu huỷ hơn 43,9 triệu con, chiếm 17,0% tổng đàn gia cầm Đặc biệt, trong đợt dịch này có 3 người được xác định là nhiễm và

tử vong do virus cúm A/H5N1

- Năm 2005: dịch cúm gia xảy ra trên 36 tỉnh thành trong cả nước, số gia cầm bị tiêu hủy là 1,846 triệu con Vào cuối năm 2005, dịch cúm gia cầm xảy ra trong tháng 10/2005 lan nhanh trong gần 40 tỉnh thành và giảm dần trong tháng 12/2005

- Đầu năm 2006, do áp dụng chương trình tiêm chủng mở rộng cho các đàn gia cầm trong cả nước, cùng với các biện pháp phòng chống dịch quyết liệt, dịch cúm A/H5N1 không xảy ra ở Việt Nam Tuy vậy, đến tháng 12/2006 dịch cúm gia cầm A/H5N1 đã tái bùng phát ở Cà Mau, sau đó lan sang các tỉnh Bạc Liêu, Hậu Giang, Vĩnh Long và cần Thơ

- Trong năm 2007, dịch cúm gia cầm lại bệnh tái phát tại Hải Dương vào tháng 2/2007 và được khống chế sau 1 tháng Tuy nhiên, đến tháng 5/2007 dịch bệnh tiếp tục tái phát tại Nghệ An, sau đó lan sang nhiều tỉnh, thành trong cả nước Theo Báo cáo

Trang 39

của Cục Thú y đến tháng 6/2007 dịch đã xuất hiện trên 16 tỉnh, thành và được khống chế vào tháng 8/2007

- Trong năm 2008, dịch bệnh lại tiếp tục tái bùng phát ở một số tỉnh phía Bắc vào tháng 3/2008, sau đó lan sang 21 tỉnh thành trong cả nước Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là hơn 60.000 con, trong đó có 23.498 gà và 36.592 con thủy cầm (Văn Đăng Kỳ, 2008)[22] Các ổ dịch thường xuất hiện ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam và trên cả

3 vùng: Vùng núi, trung du và đồng bằng, chủ yếu xảy ra trên đàn gia cầm không tiêm phòng vắc xin và ở loại hình trang trại gia đình hoặc hộ chăn nuôi nhỏ lẻ Ở loại hình chăn nuôi hỗn hợp, các ổ dịch thường phát ra trên đàn thủy cầm trước, sau đó lây nhiễm cho gà

- Từ năm 2009 đến 2011, dịch bệnh cúm gia cầm H5N1 vẫn thường xuyên tái phát tại nước ta Năm 2011, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở các tình: Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Hà Nam, Nam Định, Hải Phòng, Bắc Ninh, Phú Thọ, Nghệ An, Quảng Trị, Đắk Lắk, Quảng Ngãi, Bình Định, Tiền Giang, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Long An, Cà Mau và một số địa phương khác Kết quả phân tích mẫu virus từ các ổ dịch cúm gia cầm và số liệu giám sát virus cúm cho thấy clade virus mới (clade 2.3.2) lưu hành ở hầu khắp các tỉnh miền Bắc, duyên hải miền Trung

và Tây Nguyên Riêng clade virus cũ (clade 1) vẫn lưu hành ở một số tình phía Nam (từ thành phố Hồ Chí Minh đến Cà Mau) (Nguyễn Ngọc Tiến và cs, 2011)[31]

- Năm 2012, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 59 xã/ phường của 42 huyện /quận thuộc 14 tỉnh/ thành Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 66.373 con, trong

đó gồm 8.711 gà , 56.550 vịt, 1.112 ngan (Văn Đăng Kỳ, 2012)[23]

- Năm 2013, dịch xảy ra ở 50 xã, phường của 23 huyện, thị thuộc 7 tỉnh trên cả nước Tổng số gia cầm phải tiêu hủy là 79.522 con, trong đó có 14.406 con gà, 64.921 con vịt, 197 con ngan (Cục Thú y, 2014)[13]

Trong năm 2014, các ổ dịch cúm gia cầm H5N1 đã xuất hiện tại 158 xã,

phường của 93 huyện, thị xã thuộc 33 tỉnh, thành phố Số gia cầm mắc bệnh là

212.600 con (gà hơn 76.000 con, chiếm 36% tổng số mắc bệnh và vịt hơn 136.000

con, chiếm 64%); trong đó số chết là hơn 101.900 con (gà chiếm 31,6% trong tổng số chết, vịt chiếm 68,4%)

Trang 40

So với cùng kỳ năm 2013, số ổ dịch do virus H5N1 và số gia cầm bị chết, phải tiêu hủy tăng gấp 3 lần Tuy nhiên, số gia cầm mắc bệnh, chết là rất nhỏ, chỉ chiếm khoảng 0,017% so với tổng đàn gia cầm trong năm của cả nước

Về lưu hành của virus:

- Nhánh 1.1:

Virus cúm A/H5N1 lưu hành tại 02 tỉnh: Lâm Đồng, Cần Thơ (Cục Thú y, 2014)[12]

Bản đồ phân bố các ổ dịch cúm gia cầm H5N1 tại Việt Nam (Chi tiết tại Phụ lục 1)

Trong năm 2015, các ổ dịch cúm gia cầm H5N1 đã xuất hiện tại 18 xã, phường

của 17 huyện, thị xã thuộc 11 tỉnh, thành phố (Cà Mau, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng, thành phố Cần Thơ, Đắk Lắk, Hà Tĩnh, Kon Tum, Nghệ An, Ninh Thuận,

Thanh Hóa) Số gia cầm mắc bệnh là 14.138 con (gà 9.166 con, chiếm 64.83% tổng số

mắc bệnh, vịt 4.922 con, chiếm 34.81% và ngan 50 con, chiếm <1%); trong đó số tiêu hủy là hơn 16.128 con (gà chiếm 66.34% trong tổng số chết, vịt chiếm 33.35% và ngan chiếm <1%)

So với năm 2014, diện dịch và mức độ dịch gây ra do cúm A/H5N1 giảm nhiều

(số xã có dịch giảm gần 9 lần, số huyện có dịch giảm 5.5 lần, số tỉnh giảm 3 lần và số gia cầm chết và buộc phải tiêu hủy giảm gần hơn 13 lần) (Cục Thú y, 2015)[14]

Số gia cầm phải tiêu hủy (con) 212.600 16.128

- 6 tháng đầu năm 2016: Các ổ dịch Cúm gia cầm xuất hiện chủ yếu trên gà,

tiếp đến là vịt, rải rác trong các tháng, mỗi tỉnh chỉ xuất hiện 1-2 hộ có dịch, chủ yếu ở

Ngày đăng: 13/04/2018, 09:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quang Anh, Văn Đăng Kỳ (2004), “Bệnh cúm gia cầm: lưu hành bệnh, chẩn đoán và kiểm soát dịch bệnh”, Khoa học kỹ thuật thú y, (3), tr. 69 - 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cúm gia cầm: lưu hành bệnh, chẩn đoán và kiểm soát dịch bệnh”", Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Bùi Quang Anh, Văn Đăng Kỳ
Năm: 2004
2. Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm (2007), “Cẩm nang Phòng chống bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao (H5N1)”, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang Phòng chống bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao (H5N1)”
Tác giả: Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2007
3. Bộ NN &amp; PTNT (2014), “Kế hoạch hành động ứng phó khẩn cấp với các chủng virus cúm gia cầm nguy hiểm có khả năng lây sang người”, Quyết định số 210 /QĐ-BNN-TY ngày 14/02/2014 tr. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch hành động ứng phó khẩn cấp với các chủng virus cúm gia cầm nguy hiểm có khả năng lây sang người”, "Quyết định số 210 /QĐ-BNN-TY ngày 14/02/2014
Tác giả: Bộ NN &amp; PTNT
Năm: 2014
4. Bộ Nông nghiệp &amp; PTNT (2015), “Chỉ Thị v/v tập trung phòng chống dịch cúm gia cầm và các chủng virus cúm gia cầm lây sang người”, Chỉ thị số 1257/CT- BNN-TY ngày 02/02/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ Thị v/v tập trung phòng chống dịch cúm gia cầm và các chủng virus cúm gia cầm lây sang người”
Tác giả: Bộ Nông nghiệp &amp; PTNT
Năm: 2015
5. Chi cục Quản lý thị trường Lạng Sơn (2015) “Báo cáo kết quả công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo kết quả công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015
6. Chi cục Thú y Lạng Sơn (2012), “Báo cáo kết quả công tác thú y năm 2011, phương hướng, nhiệm vụ năm 2012” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo kết quả công tác thú y năm 2011, phương hướng, nhiệm vụ năm 2012
Tác giả: Chi cục Thú y Lạng Sơn
Năm: 2012
8. Chi cục Thú y Lạng Sơn (2014), “Báo cáo kết quả công tác thú y năm 2013, phương hướng, nhiệm vụ năm 2014” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo kết quả công tác thú y năm 2013, phương hướng, nhiệm vụ năm 2014
Tác giả: Chi cục Thú y Lạng Sơn
Năm: 2014
9. Chi cục Thú y Lạng Sơn (2015), “Báo cáo kết quả công tác thú y năm 2014, phương hướng, nhiệm vụ năm 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác thú y năm 2014, phương hướng, nhiệm vụ năm 2015
Tác giả: Chi cục Thú y Lạng Sơn
Năm: 2015
10. Cục Thú y ( 2004), “Bệnh cúm gia cầm và biện pháp phòng chống”, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Bệnh cúm gia cầm và biện pháp phòng chống”
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
11. Cục Thú y (2005), “Sổ tay hướng dẫn phòng chống bệnh cúm gia cầm và bệnh cúm trên người, Hà Nội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn phòng chống bệnh cúm gia cầm và bệnh cúm trên người, Hà Nội
Tác giả: Cục Thú y
Năm: 2005
12. Cục Thú y (2014), “Hội nghị phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, thủy sản năm 2013 và kế hoạch năm 2014”, tr 3-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hội nghị phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, thủy sản năm 2013 và kế hoạch năm 2014”
Tác giả: Cục Thú y
Năm: 2014
13. Cục Thú y (2014), “Thông báo kết quả giải trình tự gien virus cúm gia cầm và hiệu lực vắc xincúm gia cầm”, Công văn số 1466/TY-DT ngày 28/8/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo kết quả giải trình tự gien virus cúm gia cầm và hiệu lực vắc xincúm gia cầm”
Tác giả: Cục Thú y
Năm: 2014
14. Cục Thú y (2015), “Hội nghị phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, thủy sản năm 2014 và kế hoạch năm 2015”, tr. 6 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, thủy sản năm 2014 và kế hoạch năm 2015”
Tác giả: Cục Thú y
Năm: 2015
15. Cục Thú y (2015), “Hướng dẫn tạm thời tiêm phòng vắc xinphòng cúm gia cầm H5N6 trên vịt”, Công văn số 1883/TY-DT ngày 29/9/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tạm thời tiêm phòng vắc xinphòng cúm gia cầm H5N6 trên vịt”
Tác giả: Cục Thú y
Năm: 2015
16. Cục Thú y (2015), “Thông báo kết quả giải trình tự gien và kết quả giám sát virus cúm gia cầm, lưu hành virus LMLM năm 2014”, Công văn số 371/TY-DT, ngày 06/3/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo kết quả giải trình tự gien và kết quả giám sát virus cúm gia cầm, lưu hành virus LMLM năm 2014”
Tác giả: Cục Thú y
Năm: 2015
18. Nguyễn Tiến Dũng (2004), Bệnh cúm gà, Hội thảo một số biện pháp khôi phục đàn gia cầm sau dập dịch, Hà Nội, tr. 5 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cúm gà
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2004
103. OIE - World organisation for animal health (2005), Avian influenza, Manual of diagnostic test and vaccines for terrestrial animals, (http://www.oie.int/Eng/info ev/en AI avianinfluenza.htm). Accessed 25 May 2005 Link
104. WHO. Influenza: avian influenza A(H7N9) virus. Geneva: WHO. Available from:http://www.who.int/influenza/human_animal_interface/influenza_h7n9/en/index.html (cited 2013 Apr 23) Link
106. WHO. Influenza: FAQs: H5N1 influenza Geneva: WHO; Available from:http://www.who.int/influenza/human_animal_interface/avian_influenza/h5n1_research/faqs/en/ (cited 2013 May 14) Link
107. WHO. Influenza: Influenza Update N° 185 [internet]. Geneva: WHO. Availabl,from:http://www.who.int/influenza/surveillance_monitoring/updates/2013_05_10_surveillance_update_185.pdf(cited 2013 May 10) Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w