Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa bê nghé và sự tồn tại của trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh .... Sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé trong phân thành trứng có sức gây
Trang 1––––––––––––––––
NÔNG NGỌC THẮNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN ĐŨA Ở BÊ, NGHÉ NUÔI TẠI HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2––––––––––––––––
NÔNG NGỌC THẮNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN ĐŨA Ở BÊ, NGHÉ NUÔI TẠI HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều
đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Nông Ngọc Thắng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè; sự động viên khích lệ của gia đình để tôi hoàn thành luận văn này Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Tập thể khoa sau Đại học - Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn Thạc sỹ Thú y
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới TS Đỗ Quốc Tuấn đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn các anh, chị em, các bạn bè đồng nghiệp Lãnh đạo Trạm Thú y Bình Gia, Ban lãnh đạo Chi cục Thú y tỉnh Lạng Sơn đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn Đồng thời tôi xin cảm ơn UBND các xã: Tô Hiệu, Hoàng Văn Thụ, Tân Văn, Thiện Thuật, Thiện Hòa, Hòa Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng xin được dành lời cảm ơn tới gia đình, những người thân đã động viên, chia sẻ với tôi trong suốt khoá học và thực hiện luận văn này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nông Ngọc Thắng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 18
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 21
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 21
2.3 Nội dung nghiên cứu 21
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa ở bê, nghé nuôi tại huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn 21
2.3.2 Nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa 22
2.3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa ở bê, nghé 22
2.4 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu 22
2.4.1 Bố trí điều tra và phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa ở bê, nghé nuôi tại huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn 22
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa 28
Trang 62.4.3 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng trị
bệnh giun đũa ở bê, nghé 29
2.5 Phương pháp sử lý số liệu 30
2.5.1 Đối với các tính trạng định tính như: tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm giun đũa được tính theo công thức 30
2.5.2 Đối với các tính trạng định lượng như số lượng trứng và số lượng trứng có sức gây bệnh giun đũa bê nghé được tính theo công thức 30
2.5.3 So sánh mức độ sai khác giữa các số trung bình 31
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa ở bê, nghé nuôi tại huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn 33
3.1.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun đũa ở bê, nghé 33
3.1.2 Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa bê nghé và sự tồn tại của trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh 49
3.2 Biểu hiện lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé 55
3.2.1 Ảnh hưởng của giun đũa trong hội chứng tiêu chảy của bê, nghé 55
3.2.2 Tỷ lệ bê nghé có biểu hiện lâm sàng khi bị bệnh giun đũa 59
3.2.3 Bệnh lý và lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa 60
3.3 Nghiên cứu và đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun đũa bê nghé 60
3.3.1 Khả năng diệt trứng và trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh của thuốc sát trùng 60
3.3.2 Hiệu lực thuốc tẩy giun đũa bê, nghé 62
3.3.3 Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun đũa cho bê, nghé 63
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA 60
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê tại huyện Bình Gia tỉnh
Lạng Sơn 33
Bảng 3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở nghé tại huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn 34
Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê theo mùa vụ 37
Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở nghé theo mùa vụ 38
Bảng 3.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê theo tuổi 40
Bảng 3.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở nghé theo tuổi 41
Bảng 3.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê theo tính biệt 44
Bảng 3.8 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở nghé theo tính biệt 45
Bảng 3.9 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê theo tình trạng vệ sinh trong chăn nuôi 46
Bảng 3.10 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở nghé theo tình trạng vệ sinh trong chăn nuôi 47
Bảng 3.11 Tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng trâu, bò 49
Bảng 3.12 Sự phát tán trứng giun đũa bê, nghé ở khu vực bãi chăn thả trâu, bò 50
Bảng 3.13 Sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé trong phân thành trứng có sức gây bệnh 52
Bảng 3.14 Khả năng tồn tại của trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh trong phân 54
Bảng 3.15 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê bình thường và tiêu chảy 56
Bảng 3.16 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở nghé bình thường và tiêu chảy 57
Bảng 3.17 Tỷ lệ bê nghé có biểu hiện lâm sàng của bệnh giun đũa 59 Bảng 3.18 Khả năng diệt trứng mới theo phân ra ngoàivà trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh của thuốc sát trùng 61
Bảng 3.19 Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun đũa bê, nghé 62
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ vòng đời của Neoascaris vitulorum 8
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê nghé theo mùa vụ trong năm 40
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé theo lứa tuổi 43
Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé theo tính biệt 46
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé theo tình trạng vệ sinh thú y 48
Hình 3.5 thể hiện rõ hơn về tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê bình thường và bê tiêu chảy 57
Hình 3.6 Thể hiện rõ hơn về tỷ lệ nhiễm giun đũa ở nghé bình thường và tiêu chảy 58
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây việc phát triển đàn trâu, bò về cả số lượng lẫn chất lượng là một vấn đề quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người tiêu dùng, ổn định nền kinh tế, góp phần nâng cao đời sống xã hội Tuy nhiên, các bệnh xảy ra ở lứa tuổi bê, nghé đã gây ảnh hưởng rất lớn đến công tác phát triển chăn nuôi trâu bò, trong đó phải kể đến bệnh giun đũa ở bê, nghé
Bệnh giun đũa ở bê, nghé nói riêng và bệnh ký sinh trùng nói chung không gây thành ổ dịch lớn như các bệnh do vi khuẩn và virus, Nhưng nó thường kéo dài âm ỉ, làm giảm năng suất chăn nuôi, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của bê, nghé
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2015) [12], Phan Địch Lân và cs
(2005) [14], bệnh do giun Neoascaris vitulorum gây ra, chúng ký sinh trong
ruột non của bê, nghé và gây ra các tác hại như: gây tổn thương ruột non, một số cơ quan (gan, phổi,…) do ấu trùng di hành, giun lấy chất dinh dưỡng làm cho bê, nghé gầy còm, chậm lớn Ngoài ra giun đũa còn tiết độc
tố làm cho bê, nghé bị trúng độc, sốt cao, ỉa chảy, gầy sút và dễ chết nếu không được điều trị kịp thời
Lạng Sơn là một tỉnh nông lâm nghiệp thuộc miền núi phía bắc của Việt Nam có các cửa khẩu thông thương với thị trường lớn Trung Quốc, đặc điểm địa hình thấp với 68% tổng diện tích đất tự nhiên là đồi núi đất Yếu tố khí hậu thổ nhưỡng trong vùng tạo cho Lạng Sơn có thảm thực vật phong phú, bao gồm những đồi cỏ rộng lớn, những bụi cây và thảm cỏ xen kẽ trong cánh rừng trong đó có huyện Bình Gia Những đặc điểm trên tạo cho Lạng Sơn có tiềm năng lớn và vị thế thuận lợi để phát triển chăn nuôi trâu bò, bê, nghé Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về bệnh giun đũa bê nghé và biện pháp phòng trị vẫn chưa được chú ý Vì vậy, bê nghé ở các địa
Trang 10phương của tỉnh Lạng Sơn còn bị bệnh phân trắng, tiêu chảy do giun đũa nhiều, gây thiệt hại kinh tế đáng kể Trong mấy năm gần đây, điều kiện tự nhiên và thời tiết khí hậu ở nước ta nói chung và ở các tỉnh miền bắc nói riêng trong đó có Lạng Sơn có nhiều biến đổi Điều đó có thể ảnh hưởng và làm thay đổi quy luật sinh tồn của ký sinh trùng, từ đó ảnh hưởng đến đặc điểm dịch tễ của bệnh
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế chăn nuôi ở tỉnh Lạng Sơn và
những vấn đề đề cập ở trên, chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu một số
đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa ở bê, nghé nuôi tại huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị"
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu để bổ sung những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa ở bê, nghé trong điều kiện sinh thái hiện nay
- Xây dựng biện pháp phòng chống bệnh giun đũa ở bê, nghé để hạn chế
tỷ lệ nhiễm giun đũa, giảm thiệt hại do bệnh giun đũa gây ra, góp phần phát triển chăn nuôi trâu bò tại tỉnh Lạng Sơn
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Dựa vào kết quả của đề tài là cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi trâu
bò áp dụng biện pháp phòng trị bệnh giun đũa cho bê, nghé, nhằm hạn chế tỷ
lệ nhiễm giun đũa, hạn chế thiệt hại do giun đũa gây ra, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của huyện Bình Gia nói riêng và cho toàn tỉnh Lạng Sơn
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé
Bệnh giun đũa bê nghé do Neoascaris vitulorum gây ra, thường xảy ra
hầu khắp các nơi trên thế giới
Theo Panday V.S và cs (1990) [51], kiểm tra phân của 20 bê nghé trong giai đoạn 15 - 20 ngày tuổi ở đồng cỏ Zimbabwe, thấy trứng giun có trong phân, số trứng đếm được từ 257 - 19821 trứng /gam phân
Akyol C.V (1993) [42] cho biết, bê ở khu vực Barsa (Thổ Nhĩ Kỳ) bị
nhiễm Neoascaris vitulorum phổ biến qua việc kiểm tra trứng trong phân Ấu
trùng cũng được tìm thấy trong mẫu sữa Đồng cỏ là nơi có nhiều trứng giun nên làm bê nghé bị nhiễm bệnh nhanh Tỷ lệ nhiễm bệnh giữa các vùng sinh thái khác nhau là khác nhau
Starke W.A., Machado R.Z., Becchara G.H và Zocoller M.C (1996) [54] đã kiểm tra 75 mẫu phân bê nghé từ 9 - 115 ngày tuổi, thấy có 86,7% bê nghé nhiễm giun đũa Số lượng trứng cao nhất khi 45 ngày tuổi
Theo Roberts J.A (1990) [53], tỷ lệ chết của nghé trong 6 tháng đầu sau
khi sinh ở vùng Đông Nam Á tới 30% do giun Neoascaris vitulorum và S papillosus
Gupta và cs (1985) [47] cho biết, trong 1626 bê ở bang Haryana (Ấn Độ)
có 55,8% bị nhiễm ký sinh trùng, bao gồm: giun móc 44,2%; giun đũa 15,2%; giun đầu gai 6,2% Tỷ lệ nhiễm trong mùa thu (62,8%) cao hơn trong mùa xuân (54,2%), mùa hè (52,4%) và mùa đông (52,2%) Trong 2411 nghé ở Bang Haryana có 62,9% nhiễm ký sinh trùng, trong đó giun đũa là 29,1%; giun móc 20,7%; giun đầu gai 9,2% và cầu trùng 5,2% Tỷ lệ nhiễm trong mùa thu (69,8%) và mùa hè (67,8%), cao hơn mùa xuân (51,9%) và mùa đông (56,3%)
Ở Việt Nam, bệnh giun đũa bê, nghé là một bệnh rất phổ biến Nghé có triệu chứng đặc trưng là phân có màu trắng, nên nhân dân thường gọi là bệnh
Trang 12"Nghé ỉa phân trắng" Năm 1923, Phạm Văn Long đã thông báo về một ca bệnh trên nghé Nhưng đến đầu năm 50, bệnh này mới thực sự được chú ý vì
nó gây thiệt hại lớn cho đàn trâu sinh sản ở miền núi
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [11] cho biết bệnh giun đũa bê, nghé thấy ở tất cacr các nước trên thế giới Ở các nước nhiệt đới tỷ lệ nhiễm giun đũa ở
bê, nghé cao, gây nhiều thiệt hại Ở Việt Nam bệnh thấy nhiều ở bê, nghé nội:
bê, nghé của các giống trâu, bò nhập nội hướng thịt và sữa Ở các cơ sở nuôi
bò sữa ở Hà Tây, Hà Nội, Vĩnh Phúc, bê bị nhiễm giun đũa từ 10 - 18% Bệnh thấy ở bê, nghé tại tất cả các vùng miền núi, trung du và đồng bằng, nhưng phổ biến nhất là nghé ở miền núi Ở miền núi nước ta, trâu, bò thường đẻ vào tháng 11, 12 và tháng 1, do vậy bệnh thường phát vào tháng
12, 1 và tháng 2
Trứng giun đũa có sức gây bệnh đề kháng mạnh với điều kiện ngoại cảnh trứng chỉ bị diệt ở nhiệt độ 450C trở lên và dưới ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp
Mùa đông thiếu cỏ, trâu, bò mẹ không đủ sữa cho con bú nên bê, nghé dễ mắc bệnh
Tỷ lệ nhiễm: Theo số liệu thống kê có 39,1% nghé đẻ ra bị nhiễm bệnh,
số chết chiếm 3,8% so với số nghé mắc bệnh Lê Thị Thanh Nhàn (2008) [26], bê, nghé ở Tuyên Quang nhiễm giun đũa với tỷ lệ 32, 89% trong đó bê, nghé bình thường nhiễm 27,87%, bê, nghé tiêu chảy chiếm 51,56%
Phùng Quốc Quảng và cs (2006) [28] cho biết, bệnh giun đũa ở bê phổ biến ở lứa tuổi 20 - 25 ngày sau khi đẻ Bệnh phân bố khắp nơi trên thế giới
Ở nước ta, bệnh thường phát vào mùa rét, tại các vùng nuôi bò thuộc đồng bằng trung du, miền núi Bệnh phổ biến hơn ở miền núi vì bê thường thả rông đi theo mẹ đi ăn
Tô Du (2005) [4] cho biết, bệnh giun đũa ở bê nghé hay mắc từ 15 - 60 ngày tuổi vì trong đất nền chuồng, hoặc ngoài bãi cỏ có dính trứng giun đũa,
Trang 13bê nghé khi gặm cỏ liếm phải rồi mắc bệnh Bệnh thường gặp nhiều ở nghé
đẻ vào vụ Đông - Xuân
Bệnh giun đũa bê nghé thường thấy ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi ở các vùng chăn nuôi trâu bò thuộc miền núi, trung du, đồng bằng và ở các cơ sở chăn nuôi trâu bò sữa (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 1999 [18])
Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [22] cho biết bê nghé nuôi ở vùng núi bị bệnh giun đũa nhiều hơn so với vùng trung du và đồng bằng Ở nước ta
bê, nghé thường bị bệnh vào tháng 12, 1, 2 hàng năm (vụ Đông - Xuân), do trâu bò thường đẻ vào các tháng 11, 12, 1 Bê, nghé mắc bệnh giun đũa sớm nhất là 14 ngày tuổi, nhiều nhất ở lứa tuổi 30 - 45 ngày tuổi và muộn nhất ở
65 ngày tuổi, trâu bò không mắc bệnh
1.1.2 Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé
1.1.2.1 Vị trí của giun đũa bê, nghé trong hệ thống phân loại động vật
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [39], giun đũa bê nghé có vị trí trong
hệ thống phân loại động vật học như sau:
Nghành Nemathelminthes Schneider, 1873
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân Lớp Rhabditia Pearse, 1942
Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940 Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915
Họ Anisakidae Skrjabin et Karokhin, 1945 Giống Neoascaris Travassos, 1927 Loài Neoascaris vitulorum Goeze, 1782 1.1.2.2 Đặc điểm hình thái của Neoascaris vitulorum
Theo Lê Hữu Khương (2012)[10]; Nguyễn Thị Kim Lan (2015) [12];
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [11] cho biết giun tròn Neoascaris vitulorum có
thân màu vàng nhạt, đầu có ba lá môi, rìa của những môi này có răng cưu , thực quản dài 3 - 4,5 mm, chỗ nối tiếp với ruột phình thành dạ dày nhỏ, vòng
Trang 14thần kinh và lỗ bài tiết ở ngang nhau phần đầu Giun đực không có cánh đuôi, dài 13 - 15 cm, rộng nhất 0,35 cm, đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon tròn, trước
và sau hậu môn ở phía bụng có 20 - 27 gai, có một đôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20 mm Giun cái dài 19 - 23 cm, chỗ rộng nhất là 0,5 cm, âm hộ ở khoảng 1/8 trước thân, đuôi hình nón dài 0,37 - 0,42 mm, đuôi có nhiều gai bao phủ Trứng giun hơi tròn, có vỏ với nhiều chỗ lõm nhỏ, dài 0,080 - 0,090 mm, rộng 0,070 - 0,075 mm
Phan Lục (2005) [23] cho biết , giun đũa có kích thước to, vàng nhạt, dài
13 - 22 cm,, trên đầu có 3 môi Thực quản hình ống dài, phần cuối có chỗ phình to ra gọi là dạ dày giả Xung quanh lỗ hậu môn của giun đực có nhiều gai chồi, có hai gai giao hợp to bằng nhau Trứng có 4 lớp vỏ màu nhạt, lớp ngoài cùng lỗ chỗ như tổ ong, trứng dài 0,08 - 0,09 mm, rộng 0,07 - 0,75 mm Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [21] đã mô tả cấu tạo của giun đũa: Giun đực dài 110 - 189 mm, rộng nhất 3,52 - 4,81 mm; đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon dần về cuối mút; thực quản dài 4,49 mm; gai sinh dục dài 0,57 - 1,19
mm, có màng mỏng bao bọc; ở phía trước hậu môn có 20 - 27 nhú xếp thành
2 hàng, sau hậu môn có 5 đôi nhú, đôi nhú thứ nhất kép Giun cái dài 151 -
200 mm, rộng 4,0 - 5,7 mm; đuôi hình nón, phủ nhiều gai, dài 0,37 - 0,42 mm; gần mút đuôi có 2 nhú bên; lỗ sinh dục nằm ở phần trước cơ thể, cách mút đầu khoảng 1/10 - 2/10 chiều dài cơ thể; trứng hình cầu kích thước 0,076
- 0,095 x 0,065 - 0,080 mm
Theo mô tả của Urquhart G.M và cs (1996) [56] thì giun đũa T viturlorum là ký sinh trùng đường ruột lớn nhất của ở bê nghé, giun cái dài có thể đến 30,00 cm Giun đũa có thân dày, màu hơi hồng khi còn sống, và lớp biểu bì khá trong suốt nên có thể nhìn thấy được các cơ quan nội tạng, trứng giun đũa có một lớp vỏ dày và trong suốt
1.1.2.3 Đặc điểm vòng đời của Neoascaris vitulorum
Vòng đời của giun đũa bê nghé không cần ký chủ trung gian Nếu cho bò
mẹ trước khi đẻ 124 - 192 ngày nuốt trứng giun có súc gây bệnh thì bê đẻ ra
Trang 1520 - 31 ngày trong phân đã có trứng giun đũa Điều đó chứng tỏ giun đũa bê, nghé có thể qua máu truyền vào bào thai Ở trâu mẹ thời kỳ chửa đầu nuốt trứng giun cảm nhiễm thì tất cả nghé đẻ ra đều bị nhiễm giun qua nhau thai Giun đũa bê, nghé nhiễm vào cơ thể bằng 2 con đường nhiễm trực tiếp và nhiễm qua bào thai (Nguyễn Hùng Nguyệt và cs, 2008 [24])
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [11] cho biết giun cái đẻ trứng ở ruột non, trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, phát triển thành trứng có sức gây bệnh (ở t0 15 - 170C cần 38 ngày, 19 - 220C cần 20 ngày,
250C cần 10 - 12 ngày, 28 - 300C cần 7 ngày, 31 - 320C cần 6 ngày Nhưng ở nhiệt độ 34 - 350C thì trứng không phát triển) Bê, nghé mắc bệnh giun đũa
do 2 cách nhiễm;
- Nhiễm trực tiếp: Bê, nghé nuốt trứng giun đũa, trứng nở thành ấu trùng
ở ruột non, chui vào mạch máu, niêm mạc, theo máu về gan Một số ít chui vào ống lâm ba màng treo ruột, vào tĩnh mạch màng treo ruột rồi vào gan, sau khi nhiễm 4 - 5 ngày hầu hết ấu trùng di hành tới phổi sớm nhất là sau 18 giờ, muộn nhất là sau 12 ngày vẫn có ấu trùng ở phổi, khi đi tới phổi ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ 3, ấu trùng này từ mạch máu phổi chui vào phế bào, qua khí quản rồi cùng với niêm dịch ấu trùng lên hầu, được nuốt xuống ruột non, lột xác lần nữa và phát triển thành trứng trưởng thành
- Nhiễm qua bào thai: Nếu cho bê nuốt trứng giun đũa có sức gây bệnh thì sau 43 ngày có thể thầy giun đua trưởng thành ở cơ thể bê Ngoài ra nếu cho bò mẹ trước khi đẻ 124 - 129 ngày nuốt trứng giun có sức gây bệnh thì bê
đẻ ra 20 -31 ngày trong phân đã có trứng giun đũa Điều đó chứng tỏ, giun
đũa bê, nghé có thể từ cơ thể mẹ truyền vào bào thai
Phạm Sỹ Lăng (2005) [15] cũng cho biết, bệnh giun đũa bê, nghé lây nhiễm qua 2 con đường:
Trang 16- Qua đường tiêu hóa do bê, nghé ăn phải trứng giun đũa cảm nhiễm
- Ấu trùng từ máu trâu bò mang thai xâm nhập vào bào thai
Nghé đẻ ra sau 14 ngày đã có trứng giun trong phân (tức là có giun trưởng thành trong ruột) chứng tỏ nghé bị nhiễm bệnh từ trong bào thai
Giun đũa có chu kỳ phát triển trực tiếp, không qua ký chủ trung gian Giun trưởng thành sống trong ruột non của bê nghé đẻ trứng, trứng theo phân
ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi thì phát triển thành phôi thai trong trứng Trứng có phôi thai là trứng đã có sức gây bệnh Sau đó trứng này lại vào
cơ thể con vật theo thức ăn, nước uống Khi mới theo phân ra ngoài trứng không phân chia Tuỳ theo điều kiện nhiệt độ và độ ẩm bên ngoài, thời gian trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm có khác nhau
Hình 1.1 Sơ đồ vòng đời của Neoascaris vitulorum
Galila A.B và cs (1990) [46] cho biết, ở 250C trứng giun đũa phát triển thành trứng chứa ấu trùng sau 7 ngày
Phạm Chức (1980) [3] cũng cho biết, Lysol 5% diệt trứng giun đũa trong
1 giờ; Axit phêníc 5% diệt trứng trong thời gian 45 phút đến một giờ
Trang 17Theo Vy Đức Nhật Quang (2014) [27], trứng giun đũa phát dục thành phôi thai trong khoảng 20 ngày ở nhiệt độ 19 - 220C, Nhưng phải cần 38 ngày
ở nhiệt độ 15 - 170C
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1999) [18] cho biết, con cái đẻ trứng
ở ruột non, theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp trứng phát triển thành trứng có khả năng gây bệnh (nhiệt độ 15 - 170C cần 38 ngày, 19 - 220C cần
20 ngày, 250C cần 10 - 12 ngày, 28 - 300C cần 65 ngày, nhưng khi nhiệt độ đến 34 - 350C thì trứng không phát triển)
Theo Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [22], trứng giun đũa bê, nghé
có sức đề kháng với điều kiện ngoại cảnh, chỉ bị diệt ở nhiệt độ 450C trở lên
và ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp
Sau khi trứng giun cảm nhiễm vào cơ thể trâu bò mẹ, dưới tác dụng của dịch vị và dịch ruột non, ấu trùng nở ra và từ ruột non theo mạch máu vào gan, qua tim lên phổi, ấu trùng đến tim trái và từ đó vào đại tuần hoàn Phần lớn ấu trùng đều theo mạch máu đến các mô và phủ tạng, ở đó nó đóng kén và
có thể sống từ 5 đến 6 tháng hay hơn Trường hợp trâu bò cái nhiễm phải trứng giun trong thời gian chửa thì ấu trùng có thể qua hệ tuần hoàn của nhau thai đến bào thai, hoặc có thể trâu bò cái nhiễm trong thời gian không chửa,
ấu trùng đóng kén ở mô và phủ tạng, khi trâu bò chửa ấu trùng thoát ra khỏi kén theo mạch máu đến nhau thai và vào bào thai
Kén của ấu trùng có thể thấy ở nhiều mô và phủ tạng của trâu bò mẹ như: cơ, thận, não, gan, phổi Ấu trùng có thể sống ở đó 6 tháng Ở con vật không chửa, quá thời gian 6 tháng ấu trùng chết Ở con vật chửa trong vòng 6 tháng, ấu trùng chui ra khỏi kén đi vào nhau thai
Ở bào thai ấu trùng sống trong gan, ấu trùng sống không biến đổi trong suốt thời kỳ bào thai còn ở trong tử cung, thời kỳ cuối trước khi đẻ ấu trùng
có thể từ gan lên phổi biến thái một lần Nhưng nói chung, ở mọi trường hợp, chỉ sau khi bê nghé được đẻ ra, ấu trùng mới tiếp tục biến thái sau khi hoàn
Trang 18thành một đợt di hành qua phổi, khí quản, ruột giống Như sự di hành của giun đũa lợn, xuống ruột, giun lớn lên nhanh chóng và phát triển thành giun trưởng thành đẻ trứng
Trong điều kiện tự nhiên, ở bê nghé từ 17 ngày tuổi trở lên đã có thể tìm thấy trứng giun đũa trong phân Thường tuổi bê, nghé mắc bệnh là 15 - 42 ngày (Boulenger C.L., 1922 [43], đối với một số giun đũa khác như Ascaris của lợn, người, Parascaris của ngựa, thời gian từ khi con vật bắt đầu cảm nhiễm trứng giun đũa cho đến khi thành giun trưởng thành có khả năng đẻ trứng phải tối thiểu trên một tháng Tuổi mắc bệnh quá sớm của bê nghé làm người ta nghĩ đến bê nghé có thể mắc bệnh từ khi còn trong bào thai Mặt khác, nhiều thí nghiệm: gây bệnh cho bê, nghé một ngày tuổi trở lên nuốt trứng giun đũa có phôi đều không thành công
1.1.3 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé
1.1.3.1 Cơ chế sinh bệnh
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [11], Tác động cơ giới: Ấu trùng di hành làm tổn thương phổi, gan Giun trưởng thành làm tắc ruột non, có khi làm thủng ruột, chui vào ống dẫn mật, gan
Tác động do độc tố: Giun tiết chất độc làm bê, nghé trúng độc Bê, nghé
Giun còn tiết chất độc làm cho bê nghé bị trúng độc, gây ỉa chảy, gầy sút nhanh Giun lấy chất dinh dưỡng làm bê nghé gầy yếu (Lê Hữu Khương
Trang 19(2012) [10]) Giun đũa Neoascaris vitulorum cũng Như các loài giun sán khác,
ngoài tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, còn gây tổn thương
niêm mạc ruột, tạo điều kiện cho các vi khuẩn có trong đường tiêu hoá (E.coli, Salmonella, Proteus ) xâm nhập gây rối loạn quá trình phân tiết, viêm ruột và tiêu chảy cấp tính hoặc mãn tính
Ngoài ra, giun đũa còn gây viêm ruột cata, một số ít bị biến đổi hoại tử ở gan Giun ở trong ống dẫn mật gây viêm có mủ, viêm do tổn thương ở phổi cũng được phát hiện Gia súc non mắc bệnh giun đũa bị viêm ruột thứ phát có thể chết đến 80%
Đặc điểm chủ yếu của bệnh là gây tiêu chảy song không liên tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, bê nghé
có biểu hiện nôn từng cơn, kém ăn, thể trạng sa sút Nếu không phát hiện sớm
và điều trị kịp thời bê nghé chết rất nhanh
Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [36], ấu trùng sau khi xâm nhập vào
cơ thể bê nghé, ấu trùng di hành gây tổn thương nhiều cơ quan Chúng đem theo nhiều vi khuẩn, virus gây các truyền nhiễm kế phát Giun chiếm đoạt nhiều chất dinh dưỡng, tiết độc tố đầu độc vật chủ làm bê nghé gầy yếu, ỉa chảy, ỉa phân trắng Do giun có kích thước lớn, khi ký sinh với số lượng lớn thường gây tắc ruột, thủng ruột, tắc ống mật
Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [22] cho biết giun đũa ký sinh trong ruột non bê nghé sẽ gây ra các tác động:
- Tác động cơ giới: Ấu trùng di hành làm tổn thương gan, phổi Giun trưởng thành dùng các lá môi vào niêm mạc ruột và gây tổn thương niêm mạc ruột, viêm cata, ảnh hưởng đến tiêu hóa, sữa không tiêu hóa bị vón lại
Sữa này bị vi khuẩn lên men phân hủy, sinh ra nhiều sản phẩm của quá trình phân hủy protit Vì vậy, khi phân ra ngoài có màu trắng sữa, lỏng và có mùi thối khắm Số lượng giun đũa nhiều sẽ gây tắc, thủng ruột, gây viêm phúc mạc
Trang 20- Tác động do độc tố: giun đũa ký sinh ở bê, nghé sẽ tiết độc tố làm cho con vật trúng độc
- Tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng: giun đũa lấy dinh dưỡng làm cho bê nghé gầy còm
1.1.3.2 Biểu hiện lâm sàng và bệnh tích
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [11], bệnh tiến triển ngắn nhất là 5 - 8 ngày, phổ biến nhất là 11 - 30 ngày Bê, nghé thường chết trong khoảng 7 - 16 ngày kể từ khi phát bệnh Thời gian tiến triển của bệnh dài, ngắn tủy theo tuổi, sức khỏe con vật, cách nuôi dưỡng Bê,nghé bị bệnh giun đũa dáng đi lù
đù, chậm chạp, đầu cúi, lưng cong, đuôi cụp Lúc đầu còn chậm chạp theo
mẹ, khi nặng bê, nghé bỏ bú, nằm một chỗ, thở yếu, bụng đau, nằm ngửa dãy giụa, chân đạp lên phía bụng, có thể thấy sôi bụng Bê, nghé gầy sút nhanh, lông xù, mắt lờ đờ, niêm mạc nhợt nhạt, mũi khô, hơi thở thối, một số con thân nhiệt tăng tới 40 - 410C Khi bê, nghé sắp chết thân nhiệt hạ xuống dưới mức bình thường
Một triệu chứng điển hình là phân bê, nghé lỏng, màu trắng, rất thối Có thể xem phân để chẩn đoán bệnh Khi mới đẻ phân bê, nghé màu xanh đen, dẻo, hơi tanh; ngày sau phân màu vàng, mùi chua; 3 - 4 ngày sau phân cứng dần lại, màu đen hơn Nếu bê, nghé mắc bệnh giun đũa thì phân lổn nhổn hơi táo, màu đen chuyển sang màu vàng sẫm, sau đó phân ngả sang màu trắng và lỏng dần, khi bệnh nặng thì phân trắng hẳn và lỏng, mùi thối khắm, con vật ỉa vọt cần câu, phân dính bết ở xung quanh hậu môn, đuôi và khuỷu chân; con vật gầy sút nhanh Xác chết gầy, bệnh tích thấy rõ ở đường tiêu hóa Niêm mạc ruột có tụ máu lấm tấm đỏ Sữa đặc lại thành cục, màu trắng, không tiêu
ở dạ múi khế Thấy nhiều giun đũa ở ruột non Có thể 200 - 300 giun hoặc nhiều hơn trong ruột non, xếp thành 5 - 6 hàng ở đoạn tá tràng, vít chặt ruột
và hàng nọ nối tiếp hàng kia Có thể thấy giun ở các bộ phận khác như dạ cỏ,
dạ múi khế, ống dẫn mật Ở gan có những điểm hoại tử màu trắng đục
Trang 21Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [31], bê nghé bị bệnh giun đũa có dáng đi lù đù, đầu cúi, lưng cong đuôi cụp, bụng ỏng, có khi con vật nằm một chỗ không theo mẹ Bệnh nặng bê nghé gầy rạc, xù lông, mắt lờ đờ, chảy nước mắt có nhử, mũi khô, thân nhiệt khoảng 40 - 410C Con vật mệt mỏi, đứng lên nằm xuống, ỉa phân lúc đầu táo hoặc lổn nhổn, màu đen, dần dần chuyển thành màu trắng, lỏng
Theo Vy Đức Nhật Quang (2014) [27], con vật ăn kém, ỉa chảy, đôi khi táo bón, chướng hơi, đi lại không yên, đau bụng, ho, co giật Trường hợp tự thải giun hay được điều trị thì các triệu chứng sẽ mất đi, ở thể mãn tính bệnh kéo dài 2 - 3 tháng
Chu Thị Thơm và cs (2006) [31] cho biết về lâm sàng của bệnh giun đũa
bê nghé: bệnh xảy ra phổ biến ở bê nghé từ 11 - 30 ngày tuổi Bê nghé ủ rũ, lù
xù, chậm chạp đầu cúi, lưng cong, đuôi cụp, thường chết vào ngày thứ 7 - 16 Lúc đầu còn theo mẹ, khi bệnh nặng nghé bỏ bú, không theo mẹ, nằm một chỗ, thở yếu, đau bụng, nằm ngửa dãy dụa, đạp chân lên phía trước bụng Có khi nghe rõ tiếng sôi bụng Bê, nghé gấy sút nhanh chóng, da khô, lông dựng, mắt lờ đờ, niêm mạc nhợt nhạt, mũi khô, hơi thở thối
Phân màu trắng, mùi rất thối, con vật ỉa chảy nặng, ỉa vọt cần câu, phân dính ở khuỷu chân và xung quanh hậu môn Có thể xem đây là một triệu chứng điển hình giúp cho việc chẩn đoán xác định bệnh giun đũa bê nghé
Vy Đức Nhật Quang (2014) [24], theo số lượng nhiễm, bê nghé thường đau bụng, chướng hơi (biểu hiện đạp chân lên bụng, lưng hơi cong lên) tiêu chảy đôi khi táo bón, nếu nặng bê nằm một chỗ, bỏ ăn
1.1.4 Chẩn đoán bệnh giun đũa bê, nghé
Chẩn đoán bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum ở bê nghé dựa vào triệu
chứnglâm sàng, các thông tin về dịch tễ học, xét nghiệm mẫu phân bê nghé bằng phương pháp Fulleborn để tìm trứng giun đũa, kết hợp mổ khám kiểm tra bệnh tích ở ruột non cho phép chẩn đoán chính xác bệnh
Trang 22* Đối với bê nghé sống:
Đặng Xuân Bình [1], việc chẩn đoán bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum ở bê nghé có thể căn cứ vào những đặc điểm dịch tễ học: vùng và mùa phát bệnh, tỷ lệ nhiễm bệnh, tuổi mắc bệnh
Lê Hữu Khương (2012) [10], Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [11] cho biết, bệnh giun đũa bê nghé thường mắc nhiều nhất ở miền núi, bệnh thường phát nhiều vào tháng 12, 1, 2 Tuổi mắc bệnh sớm nhất là 14 ngày, tuổi càng cao thì
tỷ lệ nhiễm càng giảm, tới 3 - 4 tháng tuổi thì không bị nhiễm Trâu bò không mắc bệnh này Đây chính là những điều tra cơ bản để sơ bộ chẩn đoán bệnh Triệu chứng lâm sàng đáng chú ý như: phân màu trắng rất thối, nếu bệnh nặng
bê nghé ỉa vọt cần câu, phân dính ở xung quang hậu môn và khuỷu chân là những dấu hiệu hết sức quan trọng để chẩn đoán bệnh giun đũa bê nghé
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng, đặc điểm dịch tễ học của bệnh thì chưa chẩn đoán chính xác được bệnh gì, vì có rất nhiều bệnh ký sinh trùng có biểu hiện giống nhau Chính vì vậy, xét nghiệm phân tìm trứng
giun đũa Neoascaris vitulorum là căn cứ quyết định kết quả chẩn đoán bệnh
Các phương pháp thường dùng là phương pháp Fullerborn, Darling, có thể dùng phương pháp đếm trứng giun trong 1 gam phân bằng buồng đếm Mc Master để xác định mức độ nhiễm giun đũa nặng hay nhẹ
* Đối với bê nghé chết:
Mổ khám, quan sát những biến đổi bệnh tích trong đường tiêu hoá của
bê, nghé, tìm giun đũa trưởng thành ở ruột non
Theo Lê Hữu Khương (2012) [10], áp dụng phương pháp mổ khám toàn diện có thể phát hiện tất cả các loài giun sán ký sinh trong cơ thể bê nghé Phương pháp này được đánh giá là phương pháp chẩn đoán bệnh chính xác nhất, không những xác định được tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm, mà còn quan sát được những tổn thương ở đường tiêu hoá do giun sán gây ra
Trang 23- Cho bò mẹ ăn uống tốt để có đủ sữa cho con bú, kết hợp vệ sinh chuồng trại, môi trường Cho uống nước sạch Giữ chuồng nuôi ấm và khô ráo Tập trung phân ủ để diệt trứng giun
Theo Phạm Sỹ Lăng và Lê Thị Tài (1997) [17], Piperazin, Mebendazol, Tetramisol, Thiabendazol có tác dụng rất tốt khi sử dụng để tẩy giun đũa cho
bê nghé
Theo Robert J.A (1989) [53], hiệu quả tẩy giun đũa bê nghé của Pyrantel là 100%; Febentel là 100%; Levamisol (7,5 mg/kg TT cho uống) là 83%, Levamisol tiêm (0,1 ml/kg TT) là 73%, Piperazine là 57%
Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [31] đã dùng 8 hạt cau tươi giã nhỏ, trộn với 20 gam bột diêm sinh, hoà với 1/3 lít nước hơi ấm, cho uống vào buổi sáng trong 3 ngày liền; hoặc một nắm vỏ xoan (50 gam) giã nhỏ, trộn với 2 gam muối, hoà với 1/3 lít nước ấm, để lắng, gạn lấy nước cho uống vào buổi sáng, 3 ngày liền; hoặc 2 đến 3 lá đu đủ non giã nhỏ, hoà với 1/3 lít nước, cho uống vào buổi sáng ba ngày liền Có thể cho uống 3 ml tinh dầu giun trộn với
60 ml dầu đu đủ, cho uống một lần vào buổi sáng Cũng có thể cho uống Phenothiazine 1,5 - 2,0 gam/ngày trong ba ngày, hoặc Piperazin 0,2 - 0,3 gam/kg TT
Bùi Quý Huy (2011) [9] cho biết , để chủ động phòng trị bệnh giun đũa bê nghé ngay sau khi sinh, chúng ta dùng một số thuốc đặc trị bệnh giun đũa cho
bê nghé, có thể dùng:
Piperazin liều 0,3 - 0,5g/kg thể trọng trộn với thức ăn nước uống
Trang 24Siliconuorat natri: cho uống 0,035g/kg thể trọng chia 2 lần mỗi ngày, uống trong 2 ngày
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [34]: Piperazin 0,3 - 0,5 gam/kg TT, Silicofluorat natri liều 0,035 g/kg TT chia hai lần trong ngày, tinh dầu giun 30
- 60 ml, cho uống Kết hợp giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, ủ phân, chăm sóc chu đáo cho trâu bò mẹ Lê Hữu Khương (2012) [10] cũng sử dụng những hoá dược như trên tẩy giun đũa bê nghé cho kết quả tốt
Theo CaoThị Tuyết Lan (1996) [11], dùng Mebenvet liều 120 mg/kg TT tẩy cho nghé nhiễm giun đũa thị xã Lai Châu có hiệu quả tốt
Vương Đức Chất (1995) [2] đã tẩy giun đũa cho bê nghé bằng thuốc Piperazin 0,25 g/kg TT lúc 15 - 20 ngày tuổi, Mebendazole 10 mg/kg TT đạt kết quả tốt
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1996) [16] cho biết, dùng các loại hoá dược Như Piperazin 0,3 - 0,5g/kg TT, Tetramizole 10 mg/kg TT, Mebenvet
0,5 g/kg TT và một số hoá dược khác để tẩy trừ Neoascaris vitulorum cho kết
quả rất tốt, bê nghé khỏi bệnh phân trắng
Chu Thị Thơm và cs (2006) [35] đã đưa ra các phác đồ sau: Dùng Piperazin 0,5 g/kg TT trộn lẫn với thức ăn hay hoà vào nước cho uống, tẩy vào buổi sáng; Phenolthiazin 0,5 g/kg TT uống 2 lần trong ngày, uống 2 ngày liền; Tetramisol
10 - 15 mg/kg TT, cho uống sau khi bê nghé đã bú hoặc ăn Ngoài ra tác giả còn đưa ra một số loại thuốc nam có tác dụng tẩy giun đũa như:
- Vỏ xoan: cạo bỏ lớp vỏ nâu, sao vàng tán nhỏ thành bột Cho gia súc uống 3 - 5 g liên tục 3 buổi sáng Hoặc có thể săc lấy nước, cô đặc, cho uống vào lúc sáng sớm trước khi cho ăn với liều lượng 30 - 50 ml
- Hạt cau: nghiền nhỏ 4 g hạt cau, sắc lấy nước cho gia súc uống Hoặc nghiền nhỏ, rang khô đem trộn thức ăn, cho ăn vào buổi sáng
Trang 251.1.6 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nguyễn Văn Diên (2014) [7] cho biết, nghé nhiễm bệnh từ trong bào thai, đến tuổi ngoài hai tháng rưỡi không phát bệnh nữa, có trường hợp khi đến tuổi ấy nghé tự tống giun ra ngoài
Theo Trịnh Văn Thịnh (1962) [32], qua điều tra trên 32 xã thuộc nhiều tỉnh miền núi và trung du miền bắc nước ta, nghé ốm do bệnh giun đũa chiếm 39,1%, nghé chết chiếm 38,7% so với số nghé ốm Đặc biệt bệnh chỉ phổ biến trên đàn trâu sinh sản ở miền núi và trung du, ở vùng đồng bằng bệnh giảm rõ rệt
Theo Trịnh Văn Thịnh (1966) [33], ở Sơn Tây, Phia Đén (Cao Bằng) Ngọc Thanh (Vĩnh Phú), đàn bê mắc bệnh giun đũa chiếm 20% so với số bê
đẻ ra và bê chết do giun đũa chiếm 5% so với số bê ốm
Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [31], bê nghé từ 15 - 60 ngày tuổi hay mắc bệnh ỉa cứt trắng, bệnh thường hay gặp nhất ở miền núi
Vương Đức Chất (1995) [2] cũng thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa trên đàn bê
ở Hà Nội qua mổ khám là 15,6%
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1996) [16] cho biết, bệnh giun đũa bê ghé có tỷ lệ nhiễm từ 23% - 64% ở nghé trong độ tuổi 1- 3 tháng, bê trong độ tuổi 17 ngày đến 3 tháng tuổi cũng bị nhiễm bệnh
Theo Phạm Sỹ Lăng (2002) và cs [19], có thể sử dụng một trong các loại hóa dược sau để điều trị bệnh giun đũa bê nghé: Piperazin dùng liều 0,3 - 0,5gam/kg TT, thuốc cho uống trực tiếp hoặc trộn với thức ăn; Levamisol dùng với liều 15 - 20 mg/kg TT, cho uống hoặc 10 - 15 mg/kg TT dùng tiêm; Mebenvet(10% Mebendazol) dùng liều 0,5 gam/kg TT; Ivermectin dùng liều 0,2 mg/kg TT tiêm cho bê nghé
Lê Thị Thanh Nhàn (2008) [26] đã điều trị tiêu chảy cho bê nghé do giun đũa bằng cách: sử dụng một trong các thuốc kháng sinh Như Norfacoli hoặc Colistin để điều trị tiêu chảy, sau vài ngày dùng thuốc tẩy giun đũa cho
Trang 26bê nghé dưới 3 tháng tuổi với mục đích điều trị cho những nghé bị bệnh và tẩy phòng cho những nghé mang giun đũa Trong quá trình điều trị bổ sung chất điện giải và vitamin C để tăng cường sức đề kháng cho con vật
1.1.7 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Gupta và cs (1985) [47], Hussein M.O và Barriga O (1991) [48] đều
cho biết: giun đũa Neoascaris vituorum có thể lây nhiễm sang nhiều loài động
vật khác, nhưng ký sinh chính là trên bê , nghé ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Bằng thực nghiệm, người ta thấy giun đũa có thể lây nhiễm sang thỏ và chuột
Iskander A.R., Tawjeek Afarid A.F (1987) đã điều tra 87 nghé ở 60 ngày tuổi bị ỉa chảy từ các tỉnh Sharkia, Dakahlia, Kaliobia và Assiut (Ai Cập), có 18 con (21%) bị nhiễm giun đũa và cầu trùng, có 4 con đã bị chết Noãn nang Eimeria và trứng giun đũa theo tỷ lệ 5:1
Roberts J.A (1989) [52], Devi và cs (2001) cho rằng giun đũa
Neoascaris vitulorum muốn phát triển thành ấu trùng lây nhiễm đòi hỏi phải
có đầy đủ độ ẩm và nhiệt độ trong khoảng 200C đến 300C Trong mùa hè nóng, hầu hết các ấu trùng bị chết Tuy nhiên, ở nhiều khu vực ẩm ướt, có lượng mưa lớn, sự phát triển của ấu trùng rất thuận lợi
Theo Roberts J.A (1990) [53], giun đũa Toxocara vitulorum chỉ ký sinh
ở trong ruột của bê, nghé dưới 3 tháng tuổi Bệnh được truyền cho bê, nghé qua bào thai và qua sữa non của trâu, bò mẹ Bê nghé bắt đầu có giun đũa trưởng thành ký sinh sau 22 ngày tuổi Trứng giun đũa được thải ra trong phân có chứa ấu trùng giai đoạn 1, sau đó chúng phát triển thành ấu trùng giai đoạn 2 và giai đoạn 3 trong 2 - 4 tuần Trứng có chứa ấu trùng giai đoạn 3 không nở cho đến khi chúng được nuốt vào đường tiêu hóa của bê, nghé Trâu, bò mang thai bị nhiễm trứng giun đũa do ăn phải trứng chứa phôi
từ môi trường Ấu trùng Neoascaris vitulorum di chuyển qua gan, phổi, cơ
bắp, não, thận, hạch bạch huyết, tuyến vú và các cơ quan khác, tuy nhiên giun trưởng thành không tìm thấy trong ruột non của trâu, bò mẹ
Trang 27Theo Balabakyan thì Neoascariosis là một bệnh phổ biến ở Azecbaijan
Tác giả cho biết, tỷ lệ cảm nhiễm trung bình là 14,5%, đa số là ở những bê nghé 1 - 2 tháng tuổi, ít hơn ở 3 - 4 tháng tuổi, bê nghé lớn hơn không có giun Độ cảm nhiễm phụ thuộc vào yếu tố địa lý: miền núi 24,9%; trung du 17,5%; đồng bằng 0,09%
Theo Lora R.B (2001) [49], trứng Neoascaris vitulorum phát triển đến
giai đoạn lây nhiễm từ 7 đến 12 ngày ở 28 - 300C, là nhiệt độ tối ưu để phát triển Dưới 120C trúng không phát triển , nhưng trứng tồn tại và sẽ tiếp tục
phát triển khi nhiệt độ tăng lên Trứng Neoascaris vitulorum có thể tồn tại ở
môi trường không thuận lợi trong vài tháng và có thể lên đến hai năm
Hussein M.O., Barriga O (1991) [48] đã làm thí nghiệm: gây nhiễm cho 10 thỏ cái New Zealand trứng giun đũa bê nghé có sức gây nhiễm Kết quả kiểm tra máu thấy tế bào hồng cầu giảm, nhưng bạch cầu ái toan
và ái kiềm tăng
Starke W.A và cs (2001) [55] đã tìm hiểu phản ứngmiễn dịch, mức độ kháng thể, kháng nguyên chiết xuất hòa tan (Ex) từ nghé bị nhiễm ấu trùng giun đũa bằng phương pháp ELISA gián tiếp với huyết thanh của 15 nghé con, mẫu được lấy ở 15 và 180 ngày tuổi Từ tất cả các mẫu huyết thanh kiểm tra trong thời gian 180 ngày đầu tiên, mức độ kháng thể thấp nhất và cao nhất trong bê ở 1 ngày tuổi trước và sau khi bú sữa đầu cho thấy rằng nguồn gốc của kháng thể là sữa non Ngay sau khi sinh, nồng độ kháng thể trong bê được bú sữa vẫn ở mức cao cho đến 15 ngày tuổi, sau đó bắt đầu giảm xuống mức thấp hơn từ 15 đến 30 ngày tuổi và tương đối ổn định cho đến 120 ngày tuổi
Maria F.N., Wilma A.S.B., Alessandra M.M.G (2003) [50] đã tìm hiểu
sự phát triển phản ứng viêm của ruột và mô của bê bị nhiễm giun đũa trong trong các giai đoạn tuổi Các mẫu máu được thu thập hai tuần một lần từ khi sinh ra đến 174 ngày sau sinh và thấy trong mô cơ ở chân của bê bị nhiễm
Trang 28giun đũa, số lượng tế bào mast tăng đáng kể, số lượng bạch cầu ái toan tăng ở niêm mạc của tá tràng (gấp 2 - 5 lần so với bình thường)
Abdulalim Aydin và cs (2006) [40] đã xác định tỷ lệ nhiễm giun đũa theo tuổi bê nghé ở Hakkari thuộc khu vực phía Đông của Thổ Nhĩ Kỳ bằng cách sử dụng phương pháp phù nổi Fulleborne và buồng đếm Mc Master để
đếm trứng giun đũa có trong 1 gam Trứng giun đũa Neoascaris vitulorum đã
được tìm thấy trong 208 mẫu phân trên trong 718 mẫu phân bê nghé được xét nghiệm (28,96%) Bê nghé từ 1- 6 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 34,4%, từ 6-12 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 6,6%, trên 12 tháng tuổi là 3,3%
Theo nghiên cứu của Acacio Cardoso Amaral (2005) [41], ở Đông Timor bê nghé nhiễm giun đũa với số lượng trứng cao nhất là 1.830 trứng /gam phân Con số này thấp hơn so với ở các nước khác
Fabio R.B., Sebastiao R.F., Jackson V.A., Juliana M.A và Andre R.S.(2010) [44] đã nghiên cứu khả năng diệt của nấm Nematophagous và nấm Pochonia chlamydosporia đối với trứng giun đũa bê nghé trong môi trường thạch có 2% nước Trứng giun đũa trong môi trường có nấm bị tiêu diệt sau 10 và 15 ngày còn ở môi trường không có nấm thì không thấy có sự biến đổi của trứng giun đũa Những kết quả này cho thấy rằng Nematophagous và P chlamydosporia có khả năng diệt trứng giun đũa
Gabriel Davila, Max Irsik và Ellis C G (2010) [45] đã đánh giá tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê tại Bắc Trung Bộ Florida - Mỹ Phân tích 433 mẫu phân
bê dưới 9 tháng tuổi thấy có trứng giun đũa trong phân Tỷ lệ nhiễm theo các lứa tuổi là: bê dưới 3 tháng tuổi là 17,6%, 3 - 4 tháng tuổi là 0,4% và bê 5 - 6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm 0,9% và không thấy trứng trong bê lớn hơn 6 tháng tuổi 20 bê bị nhiễm giun đũa được tẩy bằng Fenbendazole (10% Fenbendazole) với liều 5 mg/kg TT Sau 2 tuần dùng thuốc, phân tích lại tỷ lệ
và cường độ nhiễm để đánh giá hiệu quả của Fenbendazole, thì thấy có 17 bê không có trứng giun đũa trong phân, chiếm tỷ lệ 85%
Trang 29Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng
- Bê, nghé dưới 3 tháng tuổi
- Bệnh giun đũa bê, nghé
2.2 Phạm vi
- Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đối với bê nghé nuôi trong nông hộ tại huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn
- Địa điểm xét nghiệm mẫu: Phòng thí nghiệm Chi cục Thú y Lạng Sơn
* Thời gian nghiên cứu: tháng 8/2015 đến tháng 8/2016
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa ở bê, nghé nuôi tại huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn
2.3.1.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun đũa ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé tại huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo mùa vụ
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo tuổi bê, nghé
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo tính biệt
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo tình trạng vệ sinh
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo loại gia súc (bê, nghé)
2.3.1.2 Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé và khả năng tồn tại của trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh
- Xác định tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở chuồng trại, khu vực xung quanh chuồng trại
Trang 30- Xác định sự ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở bãi chăn thả (ở đất bề mặt, ở vũng nước trên bãi chăn)
- Sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé và khả năng sống của trứng
có sức gây bệnh trong phân
2.3.2 Nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa
2.3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa ở bê, nghé
2.3.3.1 Xác định tác dụng của một số chất sát trùng đối với trứng giun đũa
và trứng có sức gây bệnh
2.3.3.2 Xác định hiệu lực của một số thuốc tẩy giun đũa bê, nghé
2.3.3.3 Đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa cho bê, nghé
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dịch tễ học theo Nguyễn Như Thanh (2011) [30], Nguyễn Văn Long (2013) [22]
Dịch tễ học mô tả: Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp
nghiên cứu hồi cứu và cắt ngang
2.4.1 Bố trí điều tra và phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa ở bê, nghé nuôi tại huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn
* Bố trí điều tra:
Nguyễn Hùng Nguyệt (2015) [25], Mẫu chùm nhiều bậc: Số bậc trong mẫu chùm, phụ thuộc vào số bậc đơn vị mẫu trung gian, ta có thể tạo ra mẫu chùm theo bậc:
Trang 31Trương Hà Thái (2011) [29] Ưu điểm: Mẫu chùm được sử dụng nhiều trong nghiên cứu điều tra dịch tễ học trên một phạm vi địa dư rộng, là mẫu đạt được tính kinh tế nhất so với các mẫu ngẫu nhiên đơn, hệ thống và phân tầng,
dễ dàng thực hiện trên thực địa, là loại mẫu có tính thuận lợi cao nhất trong triển khai nghiên cứu, trong bước thiết kế mẫu đã có thể kết hợp phân bổ cán
bộ điều tra và giám sát tới từng cụm, từng chùm điều tra, do đó có điều kiện giảm được các sai số chọn ở mức tối thiểu
Hạn chế: Hạn chế chính của thiết kế mẫu chùm là đưa lại ước lượng có sai số cao hơn so với các thiết kế mẫu khác trên cùng một vấn đề nghiên cứu Như vậy tại nghiên cứu này chúng tôi áp dụng theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc
Chúng tôi đã thu thập và xét nghiệm phân của 797 bê, nghé từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi tại 6 xã của huyện Bình Gia
2.4.1.1 Bố trí điều tra và phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm giun đũa
ở bê, nghé từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi
+ Bố trí điều tra tình hình nhiễm giun đũa ở bê, nghé theo mùa vụ
Mùa vụ trong năm được theo dõi gồm:
- Vụ Đông - Xuân: Từ tháng 10 - tháng 3 năm sau
- Vụ Hè - Thu: Từ tháng 4 - tháng 9
Chúng tôi tiến hành theo dõi ở hai mùa vụ, bê nghé tương đối đồng đều
về tuổi, tính biệt, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
Mùa vụ
Địa phương
Tô Hiệu
Tân Văn
Văn Thụ
Thiện Thuật
Thiện Hòa
Hòa Bình
Trang 32+ Bố trí điều tra tình hình nhiễm giun đũa ở bê, nghé theo tình trạng vệ sinh chuồng nuôi
Tình trạng vệ sinh đánh giá theo 3 mức độ:
+ Tình trạng vệ sinh tốt: là chuồng trại, khu vực xung quanh chuồng trại luôn khô ráo, sạch sẽ, thoáng mát đảm bảo cho bê, nghé sinh trưởng và phát triển tốt
+ Tình trạng vệ sinh trung bình: là chuồng trại còn bẩn, được dọn dẹp vệ sinh nhưng chưa thường xuyên
+ Tình trạng vệ sinh kém: là chuồng trại ẩm thấp, lầy lội, không vệ sinh dọn dẹp chuồng trại dẫn đến tình trạng chuồng trại và khu vực xung quang chuồng bị ô nhiễm dễ gây bệnh cho bê, nghé
Số mẫu được thu thập như sau:
Tình trạng
vệ sinh
Địa phương
Tô Hiệu Văn Tân Văn Thụ Thiện Thuật Thiện Hòa Bình Hòa
+ Bố trí điều tra tình hình nhiễm giun đũa ở bê, nghé theo lứa tuổi
Chúng tôi đã theo dõi bê, nghé ở 5 lứa tuổi và lặp lại 2 lần tại 6 xã, cùng mùa vụ, được bố trí theo sơ đồ sau:
Hiệu Văn Tân Văn Thụ Thiện Thuật Thiện Hòa Bình Hòa
Trang 33+ Bố trí điều tra tình hình nhiễm giun đũa ở bê, nghé theo tính biệt
Tính biệt
Địa phương
Tô Hiệu
Tân Văn
Văn Thụ
Thiện Thuật
Thiện Hòa
Hòa Bình
Tân Văn
Văn Thụ
Thiện Thuật
Thiện Hòa
Hòa Bình
* Phương pháp xét nghiệm mẫu
Xét nghiệm mẫu bằng phương pháp Fulleborn
Cách thực hiện: Lấy 5 - 10g phân cho vào cốc thủy tinh, dùng ñũa thủy tinh khuấy nát phân trong 40 – 50ml nước muối Nacl bão hòa Sau đó lọc qua lưới lọc để loại trừ cặn bã Dung dịch lọc được để yên tĩnh trong lọ tiêu bản (miệng hẹp, đáy rộng) Sau khoảng 15 – 30 phút trứng sẽ nổi lên Dùng vòng vớt thép đường kính 5mm, vớt lớp váng ở phía trên, để lên phiến kính, đậy lá kính, kiểm tra dưới kính hiển vi tìm trứng giun
* Phương pháp đếm trứng giun đũa bằng buồng đếm McMaster:
Cường độ nhiễm giun đũa Neoascaris vitulorum được đánh giá bằng số
lượng trứng /gam phân:
< 500 trứng /gam phân: nhiễm nhẹ (+)
500 - 800 trứng /gam phân: nhiễm trung bình (++)
800 - 1200 trứng /gam phân: nhiễm nặng (+++)
> 1200 trứng /gam phân: nhiễm rất nặng (++++)
Số trứng /gam phân được đếm bằng phương pháp Mc Master:
Trang 34Cân 4 gam phân cho vào cốc thuỷ tinh, thêm 56 ml dung dịch nước muối bão hoà, khuấy đều cho tan phân Lọc qua lưới thép vào một cốc khác và khuấy đều Trong khi đang khuấy dừng lại đột ngột và lấy công tơ gút hút dung dịch phân nhỏ đầy cả hai buồng đếm Mc Master (mỗi buồng đếm có dung tích 0,5 ml), để yên 5 phút rồi kiểm tra dưới kính hiển vi quang học (độ phóng đại 100 lần) Đếm toàn bộ số trứng trong những ô của 2 buồng đếm
Số trứng /1 gam phân =
(Tổng số trứng ở hai buồng đếm là số trứng có trong 1,0 ml dung dịch phân)
2.4.1.2 Bố trí điều tra và phương pháp nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa ở bê, nghé và khả năng sống của trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh
+ Bố trí điều tra và phương pháp nghiên cứu tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa ở bê, nghé tại chuồng nuôi, khu vực xung quanh chuồng nuôi
- Mẫu đất hoặc cặn nền chuồng nuôi bê, nghé: tại mỗi ô chuồng, lấy mẫu đất (cặn) ở 4 góc chuồng và ở giữa chuồng, trộn đều được một mẫu xét nghiệm (khoảng 80 - 100 gam/mẫu) Mỗi mẫu được để riêng trong túi nilon
có nhãn ghi: loại mẫu, địa điểm và thời gian lấy mẫu
- Mẫu đất bề mặt khu vực xung quanh chuồng: lấy mẫu đất bề mặt tương
tự như cách lấy mẫu cặn nền chuồng
Nền chuồng Xung quanh nền chuồng
Trang 35+ Bố trí điều tra và phương pháp nghiên cứu sự tồn tại trứng giun đũa
bê, nghé ở khu vực bãi chăn thả
- Mẫu đất bề mặt ở khu vực bãi chăn thả bê, nghé: tại mỗi khu vực chăn thả, cứ khoảng 20-30 m2 lấy ngẫu nhiên ở vị trí 4 góc và giữa trộn đều được một mẫu xét nghiệm (khối lượng khoảng 80 - 100 g/mẫu) Mỗi mẫu được để riêng trong túi nilon có nhãn ghi: loại mẫu, địa điểm và thời gian lấy mẫu
- Mẫu nước ở những vũng nước trên khu vực bãi chăn thả: dùng que khuấy đều vũng nước, lấy cốc thuỷ tinh múc khoảng 150 - 200 ml/vũng, cho vào túi nilon nhỏ, có nhãn ghi loại mẫu, địa điểm và thời gian lấy mẫu
* Phương pháp thu thập mẫu:
Thu thập mẫu phân của những bê, nghé nhiễm giun đũa cường độ nhiễm nặng (mỗi mẫu 300 - 400 gam)
* Phương pháp bố trí thí nghiệm:
Phân lô TN:
- Lô 1: Cho phân bê nghé nhiễm giun đũa nặng vào 5 chậu nhựa đường kính 20 cm, cao 10 cm (mỗi chậu 300 - 400 gam, có dán nhãn ghi ngày tháng theo dõi ) để tự nhiên ở điều kiện nhiệt độ và ẩm độ không khí bình thường
- Lô 2: cũng bố trí như lô 1, Nhưng khác là: hàng ngày bổ sung nước để duy trì mẫu phân luôn trong trạng thái ướt nhão
Trang 36* Phương pháp theo dõi sự phát triển của trứng giun đũa bê ghé:
Hàng ngày theo dõi nhiệt độ và ẩm độ không khí Mỗi ngày lấy 3 - 5gam phân, xét nghiệm bằng phương pháp Fulleborn để kiểm tra sự phát triển trứng giun đũa bê nghé Đếm số trứng /vi trường/mẫu, đếm số trứng có sức gây bệnh/vi trường/mẫu Từ đó xác định được thời gian phát triển của trứng và xác định được thời gian sống của trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh Mô tả
sự phát triển của trứng trong quá trình theo dõi
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa
2.4.2.1 Bố trí xác định vai trò của giun đũa trong hội chứng tiêu chảy ở
bê, nghé
* Phương pháp bố trí
Chúng tôi đã thu thập mẫu phân bê, nghé khỏe và bê, nghé tiêu chảy tương đương nhau về lứa tuổi, cùng mùa vụ, ở các địa phương có địa hình tương tự nhau
2.4.2.2 Bố trí theo dõi triệu chứng lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa
Trang 37* Phương pháp theo dõi
Sử dụng phương pháp chẩn đoán lâm sàng như: Đo thân nhiệt, quan sát thể trạng, lông, da; quan sát màu sắc các niêm mạc; theo dõi màu sắc, trạng thái và mùi phân, số lần đi ỉa trong ngày; tình trạng ăn uống
2.4.3 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun đũa ở bê, nghé
2.4.3.1 Phương pháp xác định khả năng diệt trứng và trứng có sức gây bệnh của chất sát trùng Benkocid và Han-Iodine 10%
* Bố trí thí nghiệm:
Những mẫu phân nhiễm giun đũa bê, nghé nặng được dàn mỏng trong 5 khay men thành lớp dày 0,3 - 0,5cm Phun thuốc sát trùng theo liều khuyến cáo lên lớp phân trong khay men
* Phương pháp theo dõi:
Mỗi ngày lấy khoảng 3-5 gam phân trong khay men, xét nghiệm tìm trứng để xác định khả năng diệt trứng của chất sát trùng
Cũng làm như vậy với mẫu phân đã nuôi để trứng phát triển thành trứng
Thời gian xét nghiệm phân
bê nghé sau tẩy (Ngày)
Trang 38* Phương pháp theo dõi:
Trước khi dùng thuốc, xác định cường độ nhiễm bằng cách đếm số trứng giun/gam phân Sau khi dùng thuốc 15 ngày, xác định hiệu lực thuốc bằng phương pháp xét nghiệm lại phân bê, nghé tìm trứng giun và đếm số trứng giun/gam phân
n: tổng số bê nghé lấy mẫu
trong đó: mp và mq: sai số của p và q
p và q: tỷ lệ % các bê nghé nhiễm và không nhiễm giun đũa
n: là dung lượng mẫu
2.5.2 Đối với các tính trạng định lượng như số lượng trứng và số lượng trứng có sức gây bệnh giun đũa bê nghé được tính theo công thức
- Số trung bình cộng: X X
n
trong đó: ∑x: tổng các giá trị của x
n: dung lượng mẫu
- Độ lệch chuẩn
Trang 39( )2 2
1
x
X X
n S
S m
S m
n
= ±
Trong đó: mx : sai số của số trung bình
Sx: độ lệch tiêu chuẩn n: dung lượng mẫu
2.5.3 So sánh mức độ sai khác giữa các số trung bình
- Đối với các tính trạng định lượng các bước tiến hành như sau:
Trong đó: x1 và x2 : số trung bình của nhóm 1 và nhóm 2
n1 và n2: dung lượng mẫu của nhóm 1 và nhóm 2
S1 và S2: đọ lệch chuẩn của nhóm 1 và nhóm 2
+ Trường hợp mẫu nhỏ và n1=n2
Trang 40- Bước 4: Xác định mức độ sai khác nhau giữa hai số trung bình
* Đối với tính trạng định tính như tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm giun đũa công thức tính tTN là:
p
p
p q m
n
p q m
n
=
=
Trong đó: n1 và n2 là dung lượng mẫu của nhóm 1 và 2
Các bước tiếp theo cũng tiến hành như đối với tính trạng định lượng