1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích rào cản tiếp cận tín dụng trong phát triển nông lâm nghiệp quy mô hộ tại huyện phù ninh, tỉnh phú thọ

119 159 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 3,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Ý nghĩa khoa học Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề về giải pháp tín dụng ngân hàng đối với kinh tế hộ sản xuất hàng hóa theo mô

Trang 1

ĐỖ THỊ VÂN HƯỜNG

PHÂN TÍCH RÀO CẢN TIẾP CẬN TÍN DỤNG

TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP QUY MÔ HỘ

TẠI HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐỖ THỊ VÂN HƯỜNG

PHÂN TÍCH RÀO CẢN TIẾP CẬN TÍN DỤNG

TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP QUY MÔ HỘ

TẠI HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 8.62.01.15 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Đỗ Xuân Luận

2 PGS.TS Đào Thanh Vân

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ

rõ nguồn gốc, bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân tôi

Phù Ninh, ngày 16 tháng 01 năm 2018

Tác giả

Đỗ Thị Vân Hường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được thực hiện và hoàn thành tại Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Trước hết, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đỗ Xuân Luận đã trực

tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Lãnh đạo và tập thể giáo viên Khoa Kinh tế & PTNT đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự tận tình giúp đỡ của lãnh đạo UBND huyện Phù Ninh, phòng Nông nghiệp và PTNT, chi cục Thống kê huyện Phù Ninh, các sinh viên: Vũ Thị Kim Hoa, Lò Văn Thức và Phùng Quang Chiều, Lớp

Cử nhân Kinh tế Nông nghiệp KTNN45 N04, Khoa Kinh tế & PTNT, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã hỗ trợ tôi thu thập số liệu sơ cấp Tôi xin chân thành cảm ơn UBND các xã Tiên Phú, Phú Lộc và Tiên Du, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, cùng các nông hộ đã cung cấp số liệu phục vụ cho nghiên cứu này

Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã quan tâm, động viên, đóng góp ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình hoàn thiện đề tài Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn./

Phù Ninh, ngày 16 tháng 01 năm 2018

Tác giả

Đỗ Thị Vân Hường

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢN ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.1 Một số khái niệm 4

1.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông lâm nghiệp trong phát triển kinh tế 9

1.1.3 Vai trò sản xuất nông lâm nghiệp trong phát triển kinh tế 11

1.1.4 Nội dung tín dụng ngân hàng đối với hộ phát triển nông lâm nghiệp 12

1.2 Cơ sở thực tiễn về giải pháp tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất nông lâm nghiệp 25

1.2.1 Đánh giá về tín dụng đối với hộ sản xuất nông lâm nghiệp của một số nước trên thế giới 25

1.2.2 Bài học kinh nghiệm về giải pháp tín dụng đối với hộ sản xuất NLN ở Việt Nam 26

1.2.3 Một số mô hình NLN tiêu biểu tại các địa phương 30

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 32

Trang 6

2.2 Nội dung nghiên cứu 32

2.3 Phương pháp nghiên cứu 33

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 33

2.3.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 35

2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 36

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 39

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 40

3.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 42

3.2 Phân tích hiện trạng và nhu cầu sử dụng vốn tín dụng phục vụ sản xuất NLN quy mô hộ tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 47

3.2.1 Đặc điểm các hộ sản xuất NLN huyện Phù Ninh được phỏng vấn 47

3.2.2 Nguồn vốn huy động của các hộ sản xuất NLN 49

3.2.3 Lượng vốn huy động của các hộ sản xuất NLN từ các nguồn vay 50

3.2.4 Tình hình sử dụng vốn tín dụng phát triển NLN tại huyện Phù Ninh 52

3.3 Phân tích những rào cản trong tiếp cận TD của hộ sản xuất NLN tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 58

3.3.1 Quy trình vay vốn của các hộ sản xuất NLN đối với các TCTD trên địa bàn huyện Phù Ninh 58

3.3.2 Điều kiện cho vay của các TCTD 59

3.3.3 Hình thức tiếp cận vốn của các hộ sản xuất NLN đối với các TCTD 61

3.3.4 Phương thức giải ngân vốn từ các TCTD 63

3.3.5 Một số chính sách khác được các TCTD áp dụng đối với hộ vay vốn trên địa bàn huyện Phù Ninh 63

3.3.6 Phân tích rào cản tiếp cận TD của các hộ sản xuất NLN tại huyện Phù Ninh 66

3.4 Kiến nghị một số giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn giúp các hộ tiếp cận TD phát triển NLN tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 73

Trang 7

3.4.1 Với nhà nước và chính quyền địa phương 73

3.4.2 Các tổ chức tín dụng 74

3.4.3 Các nông hộ 75

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76

1 Kết luận 76

2 Kiến nghị 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 1 KẾT QUẢ XỬ LÝ SỐ LIỆU

PHỤ LỤC 2 MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI

PHỤ LỤC 3 PHIẾU PHỎNG VẤN

PHỤ LỤC 4 MỘT SỐ CÂU HỎI CHO TỔ CHỨC TÍN DỤNG

PHỤLỤC5.MỘTSỐCÂUHỎICHOCƠQUANQUẢNLÝNHÀNƯỚCỞ ĐỊAPHƯƠNG

PHỤ LỤC 6 BÀI BÁO GỬI TẠP CHÍ KINH TẾ

PHỤ LỤC 7 PHIẾU PHẢN BIỆN BÀI BÁO

Trang 8

NHN0&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn

NHTM Ngân hàng thương mại

TCTD Tổ chức tín dụng

VACR Vườn ao chuồng rừng

VACRg Vườn ao chuồng ruộng

VietGAP Vietnamese Good Agricutural Practice: Sản xuất nông

nghiệp thực hành tốt

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Cỡ mẫu và phân bổ cỡ mẫu cho địa bàn nghiên cứu 35 Bảng 3.1: Đặc điểm các hộ sản xuất NLN được phỏng vấn 48 Bảng 3.2: Thực trạng nông hộ tham gia vốn tín dụng đầu tư phát triển

sản xuất NLN 50 Bảng 3.3: Thực trạng lượng vốn được huy động của các nông hộ tham

gia vốn tín dụng đầu tư phát triển sản xuất NLN 51 Bảng 3.4: Mục đích đầu tư khi vay vốn tín dụng tại địa bàn huyện Phù Ninh 52 Bảng 3.5: Tỷ lệ vốn vay và vốn đầu tư của các hộ sản xuất NLN 54 Bảng 3.6: Hiệu quả sử dụng vốn vay của các hộ sản xuất NLN trên địa

bàn huyện Phù Ninh 55 Bảng 3.7: Hiệu quả sử dụng vốn theo yêu cầu 56 Bảng 3.8: Qui trình vay vốn của các hộ dân đối với các TCTD 58 Bảng 3.9: Hình thức thế chấp với nguồn vốn vay từ các TCTD của các

nông hộ sản xuất NLN 60 Bảng 3.10: Hình thức tiếp cận vốn tín dụng của nhóm hộ sản xuất NLN

được điều tra đối với tổ chức tín dụng 61 Bảng 3.11: Phương thức giải ngân vốn tín dụng của nhóm hộ điều tra 63 Bảng 3.12: Thời hạn cho vay từ các tổ chức tín dụng 64 Bảng 3.13: Ý kiến về khả năng tham gia tín dụng, hạch toán và quản lý

vốn tín dụng của chủ hộ sản xuất NLN 67 Bảng 3.14: Kết quả ước lượng mô hình Logit các yếu tố ảnh hưởng đến

tiếp cận tín dụng của hộ tham gia sản xuất nông lâm nghiệp

tại huyện Phù Ninh 69

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢN ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Biểu diễn quan hệ tín dụng 5

Sơ đồ 1.2 Biểu diễn dư nợ của phương thức cho vay từng lần 22

Bản đồ 3.1 Bản đồ hành chính huyện Phù Ninh 39

Biểu đồ 3.2 Diện tích đất chia theo mục đích sử dụng 41

Biểu đồ 3.3 Tỷ trọng các tuyến đường giao thông theo km 43

Biểu đồ 3.4 Cơ cấu dân số huyện Phù Ninh năm 2016 45

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ lao động làm việc đã qua đào tạo chia theo địa phương tại tỉnh Phú Thọ 46

Biểu đồ 3.6: Lượng vốn tín dụng người dân huyện Phù Ninh vay từ các cơ sở 51

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài

Mô hình sản xuất nông lâm nghiệp là một tổ hợp các hoạt động kết hợp hài hòa trồng trọt với chăn nuôi tạo thành hệ thống nhất, đa dạng và ổn định cho hộ gia đình, trang trại hay cả cộng đồng Lợi ích lớn nhất của hệ thống nông lâm nghiệp là tạo ra tương tác sinh học giữa các loại cây trồng phục vụ sản xuất với nhau hoặc với chăn nuôi, tạo ra những lợi ích bền vững về kinh

tế, xã hội và môi trường (Phạm Văn Côn và CTV 2002) [1]

Ở nước ta, các mô hình kinh tế nông lâm nghiệp là một thành phần chính của sản xuất nông nghiệp và là một bộ phận quan trọng của thu nhập hộ gia đình nông dân Việt Nam, trong đó cả các vùng Đồng Bằng Sông Hồng và miền núi Phát triển nông lâm nghiệp (NLN) ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội liên quan tới đói nghèo, giúp tăng thu nhập và cải thiện các tiêu chuẩn của đời sống và thúc đẩy các ngành công nghiệp chế biến liên quan (Phạm Văn Trang 2001; Trần Thị Hậu, 2015)[27,5]

Tại nhiều nước trên thế giới, một trong những giải pháp thúc đẩy phát triển các mô hình nông lâm nghiệp kết hợp là cung cấp tín dụng, giúp các hộ

mở rộng đầu tư, nâng cao chất lượng nông sản hàng hóa (Okeke, 2012)[43] Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã kết luận nguồn vốn vay đã giúp các hộ nông dân gia tăng tiềm lực tài chính để đầu từ cho sản xuất, kinh doanh, tăng cường hạch toán, từng bước chuyển dịch sản xuất nhỏ sang sản xuất tập trung (Nguyễn Ngọc Tuấn, 2013; Nguyễn Thị Hải Yến, 2016) [24,29] Tuy nhiên, thực tế hiện nay nông nghiệp nông thôn nói chung và các mô hình nông lâm nghiệp nói riêng còn gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận các khoản vốn vay, đặc biệt là các khoản vốn ngân hàng (Đỗ Xuân Luận & Siegfried Bauer , 2016) [41]

Huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ là khu vực trung du thuộc miền núi phía bắc Việt Nam, các mô hình nông lâm nghiệp đã và đang được phát triển góp

Trang 12

phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi đã đem lại hiệu quả nhiều mặt về kinh tế, xã hội và môi trường Tuy nhiên, phát triển mô hình NLN đòi hỏi cần

có nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực vốn để đáp ứng yêu cầu phát triển hàng hóa quy mô trang trại Trong khi đó, khả năng tiếp cận nguồn vốn của các mô hình NLN gặp rất nhiều khó khăn (UBND huyện Phù Ninh, 2015) [28]

Hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ về thực trạng tiếp cận vốn vay của các hộ NLN, đánh giá về rào cản trong tiếp cận tín dụng của các mô hình NLN quy mô hộ trên địa bàn huyện làm cơ sở đề xuất các giải pháp cải thiện trong tiếp cận tín dụng của các mô hình NLN quy mô

hộ tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Từ những vấn đề thực tiễn trên chúng

tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân tích rào cản tiếp cận tín dụng trong phát triển nông lâm nghiệp quy mô hộ tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích hiện trạng sử dụng vốn tín dụng phục vụ sản xuất NLN quy mô

hộ tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

Phân tích những rào cản trong tiếp cận tín dụng của nông hộ NLN tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

Kiến nghị giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn về tiếp cận tín dụng nhằm phát triển sản xuất NLN quy mô hộ tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề về giải pháp tín dụng ngân hàng đối với kinh tế hộ sản xuất hàng hóa theo mô hình NLN của các ngân hành thương mại, nhằm cung cấp vốn, góp phần nâng cao thu nhập đời sống cho hộ thuộc khu vực nông thôn thúc đẩy xây dựng nông thôn mới, đồng thời khẳng định tín dụng ngân hành là kênh phân phối tiền tệ quan trọng đối với phát triển kinh tế hộ thúc đẩy mô hình sản xuất nông lâm nghiệp

Trang 13

Nghiên cứu luận văn làm sáng tỏ về nội dung, phương thức cho vay và hạn mức tín dụng cho đối tượng vay trong sản xuất nông lâm nghiệp đối với vùng Trung du miền núi

Ý nghĩa thực tế

Xác định được trực trạng, giải pháp tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế hộ thúc đẩy sản xuất hành hóa nâng cao thu nhập trên địa bàn huyện Phù Ninh bao gồm các vấn đề

Nghiên cứu về vai trò, cách tiếp cận và sử dụng vốn tín dụng đối với kinh tế hộ sản xuất NLN, đồng thời chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng

NH đối với hộ đó là nhân tố đặc điểm hộ sản xuất, đặc điểm các Tổ chức tín dụng (TCTD), nhân tố chính phủ và các nhân tố khác

Đề tài phân tích thực trạng vay vốn tín dụng phát triển kinh tế hộ, trong

đó nêu rõ vấn đề tiếp cận vốn là cần thiết, cũng như cách tiếp cận vốn còn nhiều vấn đề, cũng như việc sử dụng vốn cho hiệu quả mang lại

Từ việc nghiên cứu mối quan hệ tiếp cận sử dụng vốn tín dụng và xây dựng định hướng, giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận, sử dụng vốn tín dụng cho thức đẩy phát triển kinh tế hộ

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu, nguyên liệu lao động chủ yếu tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất lớn bao gồm nhiều chuyên ngành: Trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản: Theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản [38]

Mô hình, mô hình sản xuất nông lâm nghiệp

Mô hình: Là sự đơn giản hóa thực tế để có thể phân tích các quá trình phức tạp

Mô hình sản xuất nông - lâm nghiệp (Agroforestry): Là một tổ hợp các hoạt động kết hợp hài hòa trồng trọt các loại cây,cây lâm nghiệp với cây nông nghiệp hoặc với chăn nuôi tạo thành hệ thống nhất, đa dạng và ổn định cho hộ gia đình, trang trại hay cả cộng đồng Lợi ích lớn nhất của hệ thống nông lâm nghiệp là tạo ra tương tác sinh học giữa các loại cây trồng phục vụ sản xuất với nhau hoặc với chăn nuôi (BruceC.Wight, 1988) [39]

1.1.1.2 Khái niệm về tín dụng

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về tín dụng Theo nguồn gốc từ

La tinh cổ xưa thì tín dụng là "credese", có nghĩa là "tín nhiệm" hoặc "tin tưởng" (Jonathan Golin, 2001) [42] Qua nhiều thế kỷ, ý nghĩa của thuật ngữ này vẫn còn gần với bản gốc đó là “cho vay” hoặc "tín dụng" trong mối quan

hệ vay mượn bắt nguồn từ sự vận động đơn phương của giá trị Sự tách rời

của (1) quá trình vay và (2) quá trình trả trên cơ sởtin tưởng, tín nhiệm nên mối quan hệ vay mượn trở thành quan hệ tín dụng; trongmối quan hệ đó,

Trang 15

người đi vay phải trả cho người cho vay một khoản phí vì đã sử dụng vốn vay (3) theo nguyên tắc hạch toán kinh tế của thị trường (Sơ đồ 1.1)

Sơ đồ 1.1 Biểu diễn quan hệ tín dụng

Nói cách khác, quá trình “vay” là quá trình đi thuê vốn; quá trình “trả” là quá trình hoàn trả vốn đã đi thuê Do đó, sau một thời gian sử dụng vốn đi thuê, ngoài việc hoàn trả vốn gốc đã thuê, bên đi thuê vốn phải trả lãi cho bên

cho thuê Bản chất của hoạt động tín dụng chính là phần lãi thu được, là giá trị tăng thêm mà bên đi thuê vốn phải trả cho bên cho thuê

Tiền đề đầu tiên thường dựa vào các chủ nợ, cụ thể là kiến thức của người vay (hoặc danh tiếng của người vay), thứ hai thường được dựa trên sự hiểu biết của các chủ nợ về tình trạng tài chính của người vay, hoặc một bên đáng tin cậy

Theo Jonothan Golin (2001) [42]: “Tín dụng là niềm tin hoặc kỳ vọng thực tế, khi đó người cho vay sẵn sàng cho vay và sẽ được hoàn trả đầy đủ theo quy định của thỏa thuận giữa bên cho vay và bên vay vốn và rủi ro tín dụng là khả năng có thể xảy ra”

Theo từ điển Wikipedia [48] định nghĩa tín dụng là sự tin tưởng ở đó một tổ chức (người cho vay) cho tổ chức khác (người đi vay) vay tiền hoặc các nguồn vật dụng khác, trong đó người đi vay không nhất thiết phải hoàn trả ngay, thay thế bằng đó là khoản nợ, nhưng hứa phải hoàn trả lại vốn, hoặc các nguồn lợi khác trong thời gian nhất định Nói một cách khác, tín dụng được hình thành, được thừ nhận và phát triển rộng dãi Nguồn cung cấp tín dụng bao gồm tài chính, vật dụng, trang thiết bị hoặc cả dịch vụ Nguồn trả tín dụng

Trang 16

cũng có nhiều hình thức, cung cấp tín dụng được hiểu là người cho vay, cho thuê và người cho mượn Hiện nay hoạt động tín dụng ngân hành là nguồn lớn nhất trong các tổ chức tín dụng, theo đánh giá các ngân hàng tại Anh Quốc cho đến tháng 12 năm 2013 có tới 97% vốn tín dụng được cung cấp từ các ngân hàng Hiểu hoạt động tín dụng gồm 2 phần: phần vốn và phần nợ khi hoàn trả cho người vay bằng tỷ lệ lãi suất tương ứng

Từ những quan điểm trên, chúng ta thấy: Tín dụng chính là sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác, giá trị cho vay có thể dưới hình thức tiền tệ hay hình thái vật chất, sự chuyển giao được xác định có thời hạn nhất định và khi lượng giá trị được hoàn trả cho người chủ sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm, gọi là lợi tức tín dụng

1.1.1.3 Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng được cung ứng bởi các chủ thể cho vay khác nhau, với các tổ chức tín dụng được được cung cấp bởi các NHTM nhà nước, NHTM cổ phần, quỹ tín dụng, công ty tài chính được hiểu là tín dụng chính thức hay tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu tác giả chỉ đề cập đến tín dụng được cung ứng bởi các ngân hàng thương mại Nguồn vốn tín dụng ngân hàng bị ảnh hưởng bởi các nhân tố: Diện tích đất, trình độ học vấn của chủ

hộ, giá trị sản lượng, số lao động và số người còn phụ thuộc độ tuổi, giới tính, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đối với tín dụng phi chính thức hay còn gọi là các hình thức tín dụng khác được dùng ở đây với nghĩa tương đối, phản ảnh một thực trạng tài chính ở nông thôn nước ta hiện nay Thuật ngữ tín dụng khác được dùng để chỉ những quan hệ tín dụng ngầm hoặc nửa công khai (nhiều trường hợp là công khai), ở đó có một hoặc một số hoặc tất cả các yếu tố vượt ra ngoài khuôn khổ của thể chế pháp lý hiện hành (mà yếu tố cơ bản nhất là lãi suất), như: vay nặng lãi, huê, hụi Tuy nhiên, trong thực tế, nó cũng có thể bao gồm cả những quan hệ tín dụng trực tiếp giữa các cư dân nông thôn mà yếu tố lãi suất hoàn toàn bình thường, thậm chí thấp hơn so với

Trang 17

lãi suất thị trường chính thức Những quan hệ này phát sinh trên cơ sở những quan hệ tình cảm (họ tộc, bạn bè) hoặc nhiều thứ quan hệ đa dạng khác

Với các hình thức tín dụng trên, thì tín dụng ngân hàng cũng khẳng định được vai trò của mình trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển và một nền kinh

tế muốn phát triển lâu dài và bền vững thì hệ thống tín dụng ngân hàng phải hoạt động mạnh mẽ Tín dụng ngân hàng là chủ thể cung cung vốn đặc biệt quan trọng, bởi các lý do sau:

Ngân hàng là định chế tài chính trung gian lớn nhất trong nền kinh tế, mạng lưới rộng khắp Ngân hàng đóng 2 vai trò trong nền kinh tế, vừa là người đi vay và vừa là người cho vay, do đó ngân hàng có thể tận dụng nguồn vốn huy động được để cho vay và sinh lời từ nguồn tiền này

Ngân hàng có các hình thức cho vay đa dạng và phong phú, không hạn chế về mặt thời gian và quy mô tín dụng, có thể thoả mãn nhu cầu của tất cả các chủ thể có nhu cầu về vốn

Hoạt động ngân hàng ngày càng đa dạng về các loại hình dịch vụ, ngoài hoạt động cấp tín dụng cho vay thì ngân hàng còn có các hoạt động dịch vụ khác như là bảo lãnh, chiết khấu, thanh toán, do đó đáp ứng tốt nhu cầu của các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế

Qua phân tích trên, có thể hiểu tín dụng ngân hàng là sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ phía người cho vay là các NHTM sang các chủ thể sử dụng vốn có thời hạn và mục đích nhất định

Như vậy, với bản chất của tín dụng ngân hàng nói chung, bản chất của giải pháp tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất nông lâm nghiệp trong nền kinh tế thị trường thể hiện như sau: (1) Ngân hàng thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, đi vay để cho vay, nguồn vốn cho vay hộ sản xuất nông lâm nghiệp là vốn do ngân hàng huy động trong nền kinh tế; (2) Hộ sản xuất nông nghiệp vay vốn ngân hàng, ngoài việc hoàn trả gốc, còn phải lãi vay, đủ để ngân hàng chi trả vốn huy động và chi phí cho vay hộ sản xuất nông lâm nghiệp

Trang 18

Vai trò của tín dụng đến phát triển nông nghiệp:

Khi đánh giá vai trò của tín dụng thúc đẩy phát triển nông thôn mới tại Lâm Đồng tác giả Vũ Văn Thực (2015) [25] cho biết thông qua nguồn vốn vay các hộ nông dân đã gia tăng tiềm lực tài chính để đầu từ cho sản xuất, kinh doanh, tăng cường hạch toán, từng bước chuyển dịch sản xuất nhỏ sang sản xuất tập chung Nguồn vốn đã từng bước đẩy lùi tệ nạn cho vay nặng lãi, bán non hàng hóa nông sản ở nông thôn góp phần tích cực xó đói giảm nghèo Công nghệ kỹ thuật tiến tiến đã được áp dụng trong sản xuất, tăng giá sản xuất trên đơn vị sản xuất

1.1.1.4 Rào cản trong tiếp cận tín dụng của nông hộ NLN

Xét về mặt lý thuyết thường có các rào cản sau:

- Về môi trường pháp lý, thể chế chính sách: Chính sách là những nhân

tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay: Về cơ chế cho vay, về đảm bảo tiền vay,

về hành lang quản lý, về tiêu thụ, bao tiêu sản phẩm, trợ giá trong sản xuất nông nghiệp, đối tượng cho vay…

- Việc chỉ đạo thực hiện, thực thi của Ngân hàng nhà nước đối với các NHTM như thực hiện cơ chế cho vay mở rộng cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng của hộ sản xuất Hơn nữa chủ quan của bản thân NHTM cũng là những nhân tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả cho vay của NHTM: Nguồn vốn của NHTM, uy tín - tín nhiệm - tinh thần phục vụ của NHTM, trình độ của cán bộ NHTM trong thẩm định cho vay, trong tiếp thị, trong marketing và sự am hiểu về khoa học kỹ thuật cũng như am hiểu về pháp luật, nhất là luật kinh tế; về tổ chức phân công công tác phù hợp với năng lực của cán bộ NHTM…

- Chủ quan của khách hàng vay vốn: Yếu tố chủ quan của khách hàng vay vốn, đó là chủ hộ sản xuất, cũng là những yếu tố cơ bản tác động đến hiệu quả cho vay: Trình độ, năng lực sản xuất kinh doanh, sự am hiểu về khoa học

kỹ thuật và áp dụng khoa học công nghệ, sự am hiểu và nhạy bén với kinh tế

Trang 19

thị trường và thị hiếu tiêu dùng; trình độ quản trị sản xuất kinh doanh và am hiểu và chấp hành pháp luật của chủ hộ sản xuất

- Thị trường: Thị trường cũng là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của nông hộ Yếu tố thị trường tác động đến đầu vào, đầu ra của sản phẩm, của hàng hóa trong sản xuất nông lâm nghiệp Đôi lúc thị trường tác động xấu đến đầu ra của sản phẩm, gây khó khăn cho người sản xuất, từ đó ảnh hưởng đến tâm lý không muốn đầu tư của người sản xuất, không muốn cho vay của ngân hàng

- Thiên tai: Trong quá trình sản xuất kinh doanh của các hộ NLN gặp phải những rủi ro về thời tiết: Nắng hạn kéo dài, mưa lũ, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi,… gây thất thu, không có tiền trả vốn vay, ảnh hưởng đến hiệu quả vay vốn

1.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông lâm nghiệp trong phát triển kinh tế

Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm nông - lâm - ngư Sản xuất nông nghiệp không những cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, đảm bảo nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất tiêu dùng và công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, mà còn sản xuất ra các mặt hàng có giá trị xuất khẩu tăng thêm ngoại tệ Hiện nay, cũng như tương lai ngành nông nghiệp vẫn đóng vai trò phát triển xã hội loài người, không ngành nào có thể thay thế được Trên thế giới có hơn 40% lao động tham gia vào ngành nông nghiệp Đảm bảo an ninh lương thực là mục tiêu phấn đấu mỗi quốc gia góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế

Việt Nam hiện nay vẫn còn là một nước sản xuất chủ yếu về nông nghiệp với trên 75% dân số cả nước sống tập trung ở các vùng nông thôn Lao động nông nghiệp chiếm trên 80% lao động nông thôn và trên 70% lao động trong toàn xã hội Trong nhiều năm qua, sản xuất nông nghiệp ở nông thôn chiếm từ 25 - 40% tổng sản phẩm trong nước và đạt trên 40% tổng giá trị giá trị xuất khẩu cho cả nước Vì vậy phát triển nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay luôn là một yêu cầu cấp thiết của nước ta

Trang 20

Từ những đặc điểm vai trò quan trong của ngành nông nghiệp đối với đời sống kinh tế xã hội tại nước ta Đảng và Nhà nước có nhiều có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển thông qua:

Các văn bản luật liên quan đến đất Nông lâm nghiệp: Luật Đất đai (năm

2013) [19], Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004), Luật Bảo vệ Môi trường (2005) [18] là ba đạo luật cao nhất và quan trọng nhất liên quan đến sử dụng đất nông nghiệp và lâm nghiệp nói chung và sản xuất nông lâm kết hợp nói riêng Trong Luật Đất đai nêu rõ phải “Thực hiện các biện pháp bảo vệ đất” Luật Bảo vệ và Phát triển rừng cũng quy định: Được sản xuất lâm nghiệp-nông nghiệp-ngư nghiệp kết hợp theo quy chế quản lý rừng, trừ rừng đặc dụng Luật Bảo vệ môi trường quy định trách nhiệm bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (Điều 35)

Chính sách về đất đai:

Các chính sách về đất đai để hỗ trợ phát triển của Chính phủ được phản ánh trong các Nghị định, Quyết định và Thông tư dưới đây:

Nghị định 163/1999/NĐ-CP, ngày 16/11/1999 của Chính phủ [14] về Giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng

ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ [20] về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp

- Nghị định số 01-CP ngày 4/1/1995 của Chính Phủ [13] về Giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước Nghị định này quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của bên nhận khoán (hộ gia đình và cá nhân): Được chủ động sản xuất trên diện tích đất nhận khoán theo hợp đồng

Thông tư liên tịch số 28/1999/TTg-LT, ngày 3/2/1999 của Bộ PTNT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính [26] về Hướng dẫn việc thực hiện Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tưởng Chính phủ

Trang 21

NN-Chính sách về khoa học công nghệ

Chính sách về khoa học công nghệ trong nông lâm kết hợp, tại Điều 9 của Quyết định 661/QĐ-TTG đã nêu rõ: Bộ NN-PTNT phối hợp với Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, tập trung chỉ đạo việc nghiên cứu tuyển chọn, lai tạo, nhập nội các giống cây rừng có khả năng thích nghi tốt, đạt hiệu quả cao và kỹ thuật trồng rừng thâm canh, các biện pháp bảo vệ và phòng chống cháy rừng… để phổ biến nhanh ra diện rộng

Chính sách về Khuyến nông

Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ về Khuyến nông; Thông tư số 15/2013/TT-BNNPTNTngày 26/02/2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định thực hiện một số điều của Nghị định

số 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010 của Chính phủ về khuyến nông

1.1.3 Vai trò sản xuất nông lâm nghiệp trong phát triển kinh tế

Cung cấp lương thực và thực phẩm: Nhiều mô hình nông lâm kết hợp

được hình thành và phát triển nhằm mục đích sản xuất nhiều loại lương thực thực phẩm, có giá trị dinh dưỡng cao đáp ứng nhu cầu của thị trường Điển hình là hệ thống vườn - ao - chuồng (VAC) được phát triển rộng rãi ở nhiều vùng nông thôn nước ta Ưu điểm của các hệ thống nông lâm kết hợp là có khả năng tạo ra sản phẩm lương thực và thực phẩm đa dạng trên một diện tích đất mà không yêu cầu đầu vào lớn (Nguyễn Duy Khoát, 2003) [4]

Tạo việc làm: Nông lâm kết hợp gồm nhiều thành phần canh tác đa dạng

có tác dụng thu hút lao động, tạo thêm ngành nghề phụ cho nông dân

Tăng thu nhập cho nông hộ: Với sự phong phú về sản phẩm đầu ra và ít

đòi hỏi về đầu vào, các hệ thống nông lâm kết hợp dễ có khả năng đem lại thu nhập cao cho hộ gia đình nông dân

Đa dạng hóa sản phẩm: Việc kết hợp cây thân gỗ trên nông trại có thể

tạo ra các sản phẩm từ cây thân gỗ như: gỗ, củi, tinh dầu,… để đáp ứng nhu cầu về nguyên vật liệu cho hộ gia đình Mặt khác, việc kết hợp trồng các loài

Trang 22

cây nông nghiệp, không chỉ tạo lương thực thực phẩm cho người mà còn tạo nguồn thức ăn cho gia súc Thức ăn của gia súc (dê, trâu, bò ) được cắt từ cỏ

và cây họ đậu trên đường đồng mức Sau đó phân của gia súc lại dùng để bón cho đất canh tác, tạo cho đất được tốt hơn Ngoài nông lâm sản, còn thu được sữa, thịt nên sẽ làm tăng và đa dạng hóa thu nhập của phương thức nông lâm kết hợp, đặc biệt là trong các trang trại

Giảm rủi do trong sản xuất và tăng mức an toàn lương thực: Nhờ có cấu

trúc phúc tạp, đa dạng được thiết kế nhằm làm tăng các quan hệ tương hỗ (có lợi) giữa các thành phần trong hệ thống, các hệ thống nông lâm kết hợp thường có tính ổn định cao trước các biến động bất lợi về điều kiện tự nhiên (như sâu bệnh, hạn hán…) Sự đa dạng về loại sản phẩm đầu ra cũng góp phần giảm rủi ro về thị trường và giá cho nông hộ

Hỗ trợ cây trồng chính: Cung cấp phân hữu cơ cho canh tác, giúp rừng

trồng sinh trưởng tốt nhờ vào chăm sóc vệ sinh lô rừng; quay vòng vốn đầu tư nhanh và tạo điều kiện phù hợp để thu hạt giống cây rừng Hỗ trợ cho các cây lâm nghiệp, nông dân chăm sóc hoa màu có ảnh hưởng tốt đối với sinh trưởng

và phát triển của rừng non mới trồng

1.1.4 Nội dung tín dụng ngân hàng đối với hộ phát triển nông lâm nghiệp

1.1.4.1 Vai trò của tín dụng đối với hộ sản xuất nông lâm nghiệp

Tín dụng ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ của NHTM, có quy chế hoạt động theo luật định, công khai, minh bạch; do đó, đối với hộ sản xuất nông lâm nghiệp, cả ngành nông nghiệp đối với nền kinh tế, giải pháp tín dụng ngân hàng đối với hộ sảnxuất có vai trò quan trọng nhưsau:

Thứ nhất, cung ứng vốn cho sản xuất nông lâm nghiệp, giúp hộ sản xuất nângcao trình độ sản xuất, tăng cường hạch toán kinh tế, nâng cao thu nhập cho hộ sản xuất trong kinh tế thị trường

Sản xuất nông lâm nghiệp bao hàm cả trồng trọt, lâm nghiệp và cả chăn nuôi đòi hỏi cao và phức tạp về kỹ thuật canh tác, thu hoạch, bảo quản và kỹ

Trang 23

thuật chăn nuôi cho rất nhiều đối tượng cây trồng và vật nuôi (như cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây thuốc, cây lâm nghiệp… đối với vật nuôi bao gồm chăn nuôi gia súc, gia cầm, ong, cá, ) thời gian hoạt động sản xuất kéo dài tùy theo đối tượng (ngắn 4 tháng, dài có khi đến 1-5 năm), dođó phải có nguồn vốn lớn và sẵn sàng đápứngkịp thời Trên thực tế ởnông thôn, quan hệvay mượn ngoài thị trường tồn tại dưới nhiều hình thức; tuy

nhiên cùng với mức lãi suất“cắt cổ” hay “tín dụng đen”, khả năng đáp ứng

vốn với số lượng lớn và ổn định của tín dụng không chính thống này là không thể thực hiện được, nên hộ sản xuất nông lâm nghiệp thiếu vốn phải tìm đến ngân hàng Với chức năng và quy mô hoạt động của hệ thống NHTM, tín dụng ngân hàng có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu vốn để hộ sản xuất thực hiện tất cả các hoạt động sản xuất với lượng vốn tối đa và bất kỳ thời điểm nào trong kế hoạch sản xuất mùa của mình

Bên cạnh đó, với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi, tín dụng ngân hàng buộc hộ sản xuất phải tính toán thật kỹ, trước khi ra quyết định sửdụng vốn vay với mục đích đem lại lợi nhuận và đảm bảo nghĩa vụ hoàn trả vốn vay ngân hàng Muốn vậy, ngoài việc nâng cao trình độ kỹ thuật canh tác, chăn nuôi, bảo quản hộ sản xuất phải tăng cường hạch toán kinh tế việc sử dụng vốn, nhất là vốn vay ngân hàng trong cả quá trình sản xuất của mình

Mặt khác, hộ nông dân vay vốn ngân hàng để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, với chu kỳ sản xuất, trong thời gian chưa đầu tư trực tiếp vào các giai

đoạn sản xuất sẽ xảy ra tình trạng vốn vay ngân hàng “tạm thời nhàn rỗi” Hộ sản xuất có thể dùng vốn “tạm thời nhàn rỗi” đó để giải quyết lao động “tạm thời dư thừa” giữa các giai đoạn sản xuất bằng việc tham gia sản xuất, kinh

doanh ngắn hạn khác như trồng hoa màu, làm dịch vụ, buôn bán nhỏ, hoặc tham gia các ngành nghề khác để tạo nên nguồn thu nhập tổng hợp

Trang 24

Thứ hai, đảm bảo tính liên tục chuỗi giá trị và đóng góp vào sự gia tăng giá trị mới của ngành nông nghiệp

Mục đích sản xuất của hộ sản xuất nông lâm nghiệp là tạo ra các sản phẩm từ cây trồng, từ vật nuôi để cung cấp cho thị trường nội tiêu, chế biến

và khuất khẩu Chuỗi giá trị ngành hàng thể hiện sự liên tục khi mua bán, luân chuyển từ sản xuất đến sơ, chế biến và kinh doanh; trong đó, hoạt động tạo sản phẩm từ nông hộ là khởi đầu và có ý nghĩa quan trọng nhất

Với hoạt động cho vay, giải pháp tín dụng ngân hàng hỗ trợ về vốn trong quá trình sản xuất để hộ sản xuất tạo ra sản phẩm đạt sản lượng cao và chất lượng tốt, đủ sức cạnh tranh trên thị trường Giá trị mới mang lại cho ngành thể hiện ở chỗ nhờ có vốn tín dụng ngân hàng, hộ sản xuất có điều kiện áp dụng công nghệ sản xuất mới, giảm hao phí sức lao động, thu được sản phẩm tốt

Thứ ba, làm “cầu nối” nhằm thực hiện chính sách quốc gia về nông nghiệp, nông thôn, tác động tích cực đến kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái

Mục tiêu của chính sách phát triển kinh tế - xã hội là nhắm đến sự phát triểncân đối, hài hòa giữa các vùng, các khu vực kinh tế Ngoài việc hỗ trợ khu vực nông nghiệp, nông thôn thông qua cácchính sách tài trợ, chính sách nông nghiệp, nông thôn còn được thực hiện thông qua giải pháp tín dụng ngân hàng Với nguyên tắc cung ứng và hoàn trả, giải pháp tín dụng ngân hàng đã trực tiếp kích thích sản xuất và khai thác tốt các nguồn lực ở khu vực nông nghiệp, nông thôn Vốn tín dụng tham gia phát triển sản xuất nông lâm nghiệp kéo theo sự phát triển của các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác như phân bón, nhiên liệu, chế biến, kinh doanh, dịch vụ, xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm, không những ở khuvựcnông thôn mà còn ở khu vực thành thị

Mặt khác, khi sản xuất nông nghiệp theo các mô hình VAC, RVAC, RVC còn có ý nghĩa bảo vệ sinh thái bảo vệ môi trường khu vực (bảo vệ đất, rừng, hạn chế xói mòn hạn chế lũ lụt….) thức đẩy phát triển nông nghiệp bền vững ứng biến với biến đổi khí hậu

Trang 25

1.1.4.2 Đặc điểm của giải pháp tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất nông lâm nghiệp

Giải pháp tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất nông lâm nghiệp có những đặc điểm sau đây:

Một là, phụ thuộc vào đối tượng mà nông hộ tham gia sản xuất

Đặc điểm đối tượng hộ tham gia sản xuất nông nghiệp là rất đa dạng nhu gia cầm (gà, vịt, ngan…), cá có thời gian nuối 4-8 tháng từ khi bắt đầu nuôi đến khi xuất chuồng; gia súc lớn như dê, trâu, bò…chu kỳ nuôi để có sản phẩn từ 1-3 năm; các đối tượng là cây trồng có chu ngắn và mang tính thời vụ như lúa, ngô, đậu tượng… thời gian canh tác 3-6 tháng; các loại cây trồng có chu kỳ canh tác dài như cây ăn quả (bưởi, nhẵn, vải ), cây công nghiệp (chè…), cây lâm nghiệp (bạch đàn, keo, mỡ…) có chu kỳ sản xuất dài gần từ 3-5 năm bắt đầu cho sản phẩm…

Sự tách rời của (1) quá trình vay và (2) quá trình trả (Sơ đồ 1.1) trong hoạt động tín dụng đối với hộ sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm

“đối tượng” của sản xuất của hộ Do đó, để đảm bảo “chữ tín” trong quan hệ

tín dụngvới hộ sản xuất nông lâm nghiệp, ngân hàng ràng buộc chặt chẽ điều kiện đảm bảo nợ vay của hộ sản xuất khi cho vay, để phòng chống rủi ro cho vốn tín dụng

Hai là, có thời gian cho vay tương đối dài

Với đặc điểm đối tượng đầu tư sản xuất của các hộ rất đa dạng tất cả dạng trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp nhu cầu vốn đầu tư chuồng trại, thức

ăn chăn nuôi, thuốc phòng trừ bệnh (đối với chăn nuôi), hay phải đầu tư thời

kỳ kiến thiết cơ bản, cho chăm sóc đối với các loại cây dài ngày Do đó, vấn

đề đặt ra là nguồn vốn bố trí cho vay hộ sản xuất nông lâm nghiệp phải được

ổn định và dài hạn

Ba là, chịu nhiều rủi ro từ thiên tai trong quá trình sản xuất và tác động của thị trường nông sản trong nước và thế giới

Trang 26

Ngành nông nghiệp trong quá trình sản xuất ghi nhận có rất nhiều rủi ro phát sinh do các yếu tố bên ngoài như thiên tai, sự khắc nhiệt từ thời tiết đặc biệt trong giai đoạn biến đổi khí hậu (mưa, lụt lội, khô hạn…) và dịch bệnh phát sinh đối với cây trồng, vật nuôi… làm giảm sản lượng có khi thất thu nông sản Ngoài ra thị trường tiêu thụ trong nước biến động thường xuyên và

khó lường, do ngành Nông nghiệp Việt Nam có vị thế cạnh tranh yếu trên thị

trường trên thế giới, đã tác động trực tiếp và ảnh hưởng rất mạnh đến thị trường nông sảntrongnước,gây ra những tác động tiêu cực đến kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp Để tránh thiệt hại vốn tín dụng do rủi ro nói chung, ngân hàng áp dụng chặt chẽ điều kiện bảo đảm tiền vay đối với hộ sản xuất nông nghiệp khi vay vốn ngân hàng

Bốn là, có mục đích sản xuất nông nghiệp, nhưng dễ chuyển hóa thành tín dụng tiêu dùng

Đặc điểm này xuất phát từ chính sách quản lý vốn, quản lý chi tiêu cá nhân của kinh tế hộ gia đình Nguồn vốn và sử dụng vốn trong kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp với thời gian kéo dài bao gồm nhiều khoản thu nhập và nhiều khoản chi tiêu; cùng với cách quản lý vốn dễ dãi, dẫn đến rất khó kiềm chế việc sử dụng vốn vay với mục đích sản xuất sang sử dụng vốn vay cho tiêu dùng nâng cao chất lượng đời sống

Năm là, hoạt động tín dụng Nông nghiệp chủ yếu ở địa bàn nông thôn,

xa xôi và khó khăn

Sản xuất nông nghiệp bao chùm nhiều vùng sinh thái, ở các địa hình khác nhau nhưng tập chung chủ yếu địa bàn nông thôn, vùng đồi núi, vùng xa xôi hiểu lánh và cơ bản có điều kiện kinh tế xã hội thấp hơn vùng thành thị Đây là một trở ngại đối với ngân hàng, vì việc tiếp cận hộ sản xuất để cho vay trên địa bàn tương đối rộng, địa hình chia cắt bởi đồi núi, sông suối; số lượng món cho vay nhiều nhưng lại nhỏ lẻ; trong khi đó, trình độ dân trí còn thấp, thiếu thông tin

Trang 27

1.1.4.3 Nội dung nghiên cứu giải pháp tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất nông lâm nghiệp

Để đảm bảo mục tiêu nghiên cứu, thể hiện rõ nội hàm giải pháp và rào cản tín dụng, nội dung nghiên cứu giải pháp tín dụng ngân hàng đối với hộ

sản xuất nông lâm bao gồm những nội dung như sau:

Xác định nhu cầu vay vốn ngân hàng của hộ sản xuất

Xác định nhu cầu vay vốn của khách hàng là nội dung quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh của NHTM, bởi đó là căn cứ để ngân hàng xây dựng các kế hoạch về nguồn vốn, tài chính, mạng lưới, nhân lực

mô của chính sách nhà nước

Chính sách cho vay là hệ thống các biện pháp liên quan đến việc mở rộng hay hạn chế cho vay đối với một đối tượng cụ thể của ngân hàng Chính sách cho vay bao gồm hai nội dung: (1) Mục tiêu chính sách cho vay và (2) Nội dung chính sách cho vay

a Mục tiêu chính sách cho vay

Chủ yếu đánh giá chính sách cho vay bằng quy mô tín dụng đầu tư vào đối tượng nào đó Quy mô tín dụng (vốn cho vay) được thể hiện cụ thể qua tỉ

phần tín dụng trong tài sản có của NHTM Tỉ phần cao hoặc thấp trong toàn

bộ tài sản có của NHTM, thể hiện chính sách cho vay của ngân hàng đó (Lê Văn Tề, 2010) [22]

b Nội dung chính sách cho vay

Nội dung chính sách cho vay bao gồm: Đối tượng cho vay, điều kiện vay vốn, bảo đảm tiền vay, xác định mức tiền vay, lãi suất cho vay, thời hạn cho vay và các phương thức cho vay

Trang 28

Tương tự như các chủ thể vay vốn khác, muốn vay vốn ngân hàng, hộ sản xuất phải trình bày rõ và gửi đến ngân hàng nhu cầu vay vốn bằng văn bản, thể hiện dưới hình thức một dự án đầu tư, một phương án sản xuất Dự

án đầu tư, phương án sản xuất này làm căn cứ vay vốn ngân hàng (sau đây gọi

là phương án vay vốn) là một tập hợp những đề xuất của hộ sản xuất, trong đó thể hiện rõ tổng chi phí sản xuất, vốn tự có, vốn cần vay, cách thức sử dụng vốn vay và cách thức trả nợ vay trong một khoảng thời gian xác định

* Đối tượng cho vay

Đối tượng cho vay là hộ sản xuất nông lâm nghiệp của ngân hàng là chi phí phục vụ cho sản xuất của hộ sản xuất, bao gồm:

(1) Chi phí mua giống, chăm sóc, bảo quản nông sản: Cây trồng, vật nuôi đều phải đầu tư mua giống, chế độ chăm sóc đó là thức ăn, thuốc phòng, trị bệnh…(đối với vật nuôi), đối với cây trồng đó là chi phí tưới nước, bón phân,

thuốc BVTV thu hoạch, nhân công, (sau đây gọi chung là chăm sóc);

(2) Chi phí đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị nông cụ canh tác, thiết bị

bảo nông (sau đây gọi chung là mua sắm máy móc, thiết bị);

(3) Chi phí xây dựng cơ bản, xây dựng cơ sở vật chất: Xây dựng chuồng

trại, khu phơi, nhà kho (sau đây gọi chung là xây dựng cơ bản);

Trong hoạt động cho vay hộ sản xuất của ngân hàng, đối tượng cho vay

chủ yếu là chi phí cho vay chăm sóc vì đối tượng này chiếm tỷ trọng cao

* Điều kiện cho vay

Bắt đầu quá trình cho vay, ngân hàng thực hiện thẩm định điều kiện vayvốncủa hộ sản xuất Ngoài điều kiện bảo đảm về năng lực pháp luật, ngân

hàng chú trọng nhất và thực hiện thẩm định chặt chẽ điều kiện về mặt tài chính và bảo đảm nợ vay

- Về mặt pháp luật: Ngân hàng thẩm định năng lực pháp luật dân sự,

năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự, mục đích vay vốn và sử dụng vốn vay phải phù hợp

Trang 29

- Về mặt tài chính: Ngân hàng thẩm định đồng thời trên cả hai phương diện:

(a) Vốn tự có của hộ và (b) Khả năng hoàn trả nợ vay ngân hàng (NHNo&PTNT Việt Nam, 2006) [9]

+ Vốn tự có của hộ sản xuất nông nghiệp chủ yếu là công lao động, trong

đó, lao động gia đình chiếm tỷ trọng lớn; và Vốn tự có của hộ sản xuất nông nghiệp còn là vốn tích lũy bằng tiền hoặc các tài sản có giá trị khác Vốn tự có càng cao thì khả năng hoàn trả nợ vay ngân hàng càng đảm bảo

+ Khả năng hoàn trả nợ vay bao gồm khả năng hoàn trả cả nợ gốc và lãi vay phát sinh Muốn vậy thì kết quả thực hiện phương án vay vốn phải đủ bù đắp tất cả các chi phí, có lợi nhuận Do đó, phương án vay vốn của hộ sản

xuất phải hiệu quả về mặt tài chính

- Về mặt bảo đảm nợ vay: Cho vay có đảm bảo là nội dung được pháp

luật quy định chặt chẽ, ngân hàng sẽ chịu hình phạt nặng nếu cố tình vi phạm (Quốc hội, 1999) [17] Do đó, các ngân hàng thường quy định ràng buộc chặt chẽ và chấp hành nghiêm túc về tài sản bảo đảm nợ vay Bảo đảm nợ vay là biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được vốn đã cho vay hộ sản xuất nông nghiệp (NHNo&PTNT Việt Nam, 2007) [10] Có các hình thức bảo đảm nợ vay đối với hộ sản xuất vay vốn

ngân hàng: (1) Bảo đảm trực tiếp, hộ sản xuất dùng tài sản của mình để thế

chấp, cầm cố khi vay vốn ngân hàng và (2) Bảo đảm gián tiếp, là áp dụngcác

h ình thức bảo lãnh của bên thứ ba Bảo đảm gián tiếp có hai loại: (a) Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba và (b) Bảo lãnh bằng uy tín của các tổ chức

chính trị - xã hội, còn gọi là tín chấp (Hồ Diệu, 2001) [2]

* Mức cho vay:

Mức cho vay là mức vốn tín dụng của ngân hàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của người vay Có hai giới hạn trong việc xác định mức cho vay đối với

hộ sản xuất:

Trang 30

(1)Căn cứ vào vốn tự có của hộ sản xuất nông nghiệp so với tổng chi phí phương án vay vốn: (a) Đối với các khoản vay ngắn hạn: Mức cho vay tối đa

bằng 90%, hộ sản xuất nông nghiệp phải có 10% vốn tự có (NHNo&PTNT Việt Nam, 2002 a) [7]; (b) Đối với các khoản vay trung, dài hạn: Mức cho vay tối đa bằng 80%, hộ sản xuất nông nghiệp phải có 20% vốn tự có (NHNo&PTNT Việt Nam, 2010 b) [11]

(2) Đối với khoản vay có tài sản đảm bảo, căn cứ vào giá trị tài sản đảm bảo nợ vay: Mức cho hộ sản xuất nông nghiệp vay tối đa bằng 75% giá trị tài

sản đảm bảo

* Lãi suất cho vay

Lãi suất cho vay là tỷ lệ phần trăm giữa phần lãi sử dụng vốn vay và vốn

gốc đã cho vay tính trên một đơn vị thời gian Về nguyên tắc thương mại, lãi

suất cho vay nông nghiệp là loại lãi suất cao, bởi những lý do chủ yếu sau đây: (1) Cho vay hộ nông dân có tính chất nhỏ lẻ, ngân hàng phải đến từng hộ gia đình để thực hiện cho vay trong địa bàn nông thôn rộng lớn, dẫn đến chi phí cho vay hộ nông dân cao; (2) Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, chịu nhiều rủi ro từ điều kiện tự nhiên, ngoài các rủi ro khác từ thị trường, dẫn đến ngân hàng phải chi phí dự phòng rủi ro nhiều hơn cho vay các ngành khác và (3) Tình hình huy động nguồn vốn tự lực tại vùng nông nghiệp, nông thôn thường không đủ so với nhu cầu vay vốn, phải tăng cường đi vay ở khu vực đô thị, lãi suất đi vay lại luôn là lãi suất cao

* Thời hạn cho vay

(1) Thời hạn cho vay gắn với thể loại cho vay ngắn hạn đến 12 tháng (2)Thời hạn của hạn mức tín dụng gắn với vòng quay vốn lưu động của

đối tượng vay vốn Thời gian thực hiện trọn vẹn vòng quay vốn lưu động của đối tượng vay vốn trong nhiều trường hợp không trùng khớp với thời hạn cho vay theo thể loại cho vay ngắn hạn, ví dụ như vòng quay vốn chăn nuôi heo thịt có thể đến 5 - 5,5 tháng, như vậy nếu thực hiện trọn vẹn 3 vòng quay vốn,

Trang 31

thì thời hạn của hạn mức tín dụng phải kéo dài đến 15 - 16,5 tháng Kết quả là người vay được vay vốn lưu động vượt thời hạn cho vay 12 tháng, nhưng ngân hàng không thu nợ khi người vay chưa thực hiện trọn vẹn vòng quay vốn lưu động (NHNo&PTNT Việt Nam, 2002 b) [8]

Khi hộ sản xuất không hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi, ngân hàng sẽ chuyển dư nợ trong hạn sang nợ quá hạn, nợ xấu Nếu điều đó xảy ra sẽ kéo theo các tác động tiêu cực, ảnh hưởng đến hộ sản xuất và ngân hàng: (1) Hộ sản xuất nông nghiệp phải chịu lãi suất nợ quá hạn (thường quy định bằng 150% lãi suất nợ trong hạn); chỉ số tín nhiệm của hộ sản xuất hạ thấp; do đó,

sẽ không thuận lợi khi vay vốn ngân hàng lần sau; (2) Ngân hàng phải chi phí

dự phòng rủi ro lớn hơn theo quy định; thanh khoản của ngân hàng không đảm bảo vì không rút được tiền đã cho vay để hoàn trả lại vốn đã huy động

Để đảm bảo tín dụng ngân hàng thực hiện đúng vai trò trong nền kinh tế, phản ánh đúng thực chất chất lượng tín dụng, phòng ngừa rủi ro, ngân hàng

không được phép “đảo nợ”, cho vay món mới để trả nợ món vay cũ nhằm che

giấu nợ quá hạn, nợ xấu (NHNN, 2012) [6]

Tuy nhiên, xác định thời hạn cho vay tác giả Paul N Rllinger et al chia

ra: (1) Thời gian cho vay ngắn hạn (short-term) phụ thuộc vào chu kỳ của sản

xuất nông nghiệp cụ thể thời gian cho vay từ 3-18 tháng mục đích sản xuất một loại cụ thể như sản xuất đậu tương, ngô, hay chăn nuôi lợn, gà thịt

(2)Thời gian cho vay trung bình- Trung hạn (Intermediate-term) mục đích

trang bị thêm thiết bị máy móc, cải thiện giống vật nôi…thời gian đề nghị cho

vay từ 18 tháng đến 10 năm; (3) Thời gian cho vay dài hạn (Long-term) phục

vụ cải tạo, phục hóa đất đa, cho xây dựng các công trình… thường thời gian kéo dài hơn 10 năm [44]

Thời hạn cho vay tùy thuộc vào đối tượng, cũng như tùy thuộc vào ngân hàng ví dụ như Agricultural Credit Corporation (ACC hoạt động tạo Canada

Trang 32

cung cấp tín dụng 14 tháng đối với hoạt động sản xuất ngô, đậu tương, lúa mì, khoai tay, củ cải đường….[47]

* Quy trình cho vay

Quy trình cho vay là trình tự các bước thực hiện quá trình cho vay của ngân hàng, kể từ khi nhận được nhu cầu vay vốn đến khi giải ngân, thu hồi vốn vay Hoạt động cho vay hộ sản xuất nông lâm nghiệp của ngân hàng tuân thủ theoquytrình cho vay chung như tất cả các đối tượng vay vốn khác, đó là các thủ tục hồ sơ giấy tờ vay vốn; do đó, cải tiến quy trình cho vay, vừa đảm bảo chặt chẽ về mặt pháp lý, vừa thuận lợi cho ngân hàng lẫn hộ sản xuất nông nghiệp, là một trong những việc làm cần thiết ở môi trường nông thôn hiện nay

* Phương thức cho vay

Phương thức cho vay của ngân hàng đối với hộ sản xuất nông lâm nghiệp là cách thức ngân hàng giải ngân và thu nợ tiền vay trong quan hệ tín dụng vớihộ sản xuất Có nhiều phương thức cho vay, nhưng liên quan đến cho vay hộ sản xuất nông lâm nghiệp có các phương thức cho vay thường được áp

dụng là: Phương thức cho vay từng lần, phương thức cho vay theo dự án đầu tư

Số dư nợ

Sơ đồ 1.2 Biểu diễn dư nợ của phương thức cho vay từng lần

Như vậy, dư nợ của phương thức cho vay từng lần có tính ngắt quãng,

có lúc bằng 0 ở thời gian (x2, x3) và (x4, x5), khi khách hàng không vay vốn

(Sơ đồ 1.2) Đặc trưng của phương thức chovay từng lần là có dòng tiền đơn chiều, áp dụng cho người vay có nhu cầu vay vốn không thường xuyên như từ

Trang 33

các đối tượng chủ thể chính (nông hộ) ảnh hưởng trực tiếp đến vay vốn tín dụng từ các ngân hàng (Nguyễn Tuấn Sơn, Nguyễn Ngọc Tuấn, 2008)[21]

* Phí và dịch vụ cho vay

Về nguyên tắc chung, phí hoặc qui ra điểm “points” được xác định ở thời điểm vay Nhìn chung một điểm tương đương 1% tổng số được vay Phí ở dây được chi phí kiểm tra, đánh giá, thẩm định, với các nội dung:

(1) Năng lực từ chủ hộ

Trình độ quản lý vốn của hộ sản xuất ảnh hưởng đến chất lượng vốn tín dụng ngân hàng Ranh giới sử dụng vốn vay cho mục đích sản xuất và mục đích tiêu dùng của kinh tế hộ gia đình ở nông thôn khó phân định nếu hộ sản xuất yếu kém về trình độ quản lý vốn vay ngân hàng Nhiều trường hợp hộ sản xuất nông lâm sử dụng vốn vay với mục đích sản xuất kinh doanh sang mục đích tiêu dùng để chất lượng nâng cao đời sống, dẫn đến kết quả sản xuất không đạt được như dự tính, gây khó khăn về tài chính khi hoàn trả nợ vay ngân hàng, gây ra rủi ro cho vốn tín dụng ngân hàng

(2) Tài sản và khả năng thế chấp

Vấn đề tài sản đảm bảo cho khoản vay ngân hàng của hộ sản xuất nông lâm nghiệp là một nhân tố quan trọng trong quyết định cho vay của NHTM, hầu hết tài sản của hộ sản xuất nông lâm nghiệp là đất thổ cư, nhà ở …; do đó, ngân hàng thường định giá chặt chẽ các tài sản đảm bảo, yêu cầu cao về đảm bảo tính pháp lý hồ sơ thủ tục vì khi xảy ra rủi ro cho vốn tín dụng, khả năng thanh lý tài sản đảm bảo sẽ rất khó khăn

(3) Sự tham gia của hộ đối với các tổ chức liên kết

Khởi đầu của quá trình liên kết sản xuất chính là việc tổ chức liên kết hộ sản xuất với nhau thành Tổ hợp tác, Hợp tác xã, tiến tới liên kết và cung cấp sản phẩm với các doanh nghiệp tham gia chế biến, xuất khẩu Nếu thực hiện liên kết chặt chẽ sẽ hạn chế được nhiều rủi ro cho ngành sản xuất nông lâm nghiệp trong nền kinh tế thị trường và nâng cao chất lượng tín dụng do ngân hàng triển khai được quy trình khép kín khi cho vay, thu nợ vốn tín dụng

Trang 34

(4) Nhân tố ảnh hưởng từ chính sách nhà nước

Chính sách của nhà nước luôn tác động mạnh mẽ đến hoạt động ngân hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và cho vay hộ sản xuất Liên quan trực tiếp đến giải pháp tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất nông nghiệp, nhân tố ảnh hưởng từ chính sách nhà nước bao gồm: Chính sách về điều hành lãi suất, chính sách phát triển nông nghiệp và chính sách hỗ trợ nông thôn và nông dân

Chính sách về điều hành lãi suất

Lãi suất là một trong những công cụ điều hành kinh tế vĩ mô hiệu quả Chính sách điều hành lãi suất của nhà nước tác động mạnh đến tình hình ổn định kinh tế vĩ mô, làm thay đổi cơ cấu đầu tư trong nền kinh tế Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước thì chính sách về điều hành lãi suất tác động rất mạnh và trực tiếp đến các khu vực và ngành kinh tế

Với mục tiêu phát triển “tam nông” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2008)[3], chính sách về điều hành lãi suất nền kinh tế đã chuyển hướng hạ thấp lãi suất cho vay nông nghiệp, nông thôn Tuy việc hạ thấp lãi suất không đảm bảo nguyên tắc thương mại ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, nhưng

thông qua sự thay đổi về lãi suất, nền kinh tế vĩ mô ổn định, sẽ kéo theo sự ổn định và đảm bảo thanh khoản của hệ thống ngân hàng; đồng thời, tăng khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Chính sách hỗ trợ nông thôn và nông dân

Có rất nhiều lĩnh vực ở khu vực nông nghiệp, nông thôn cần có sự hỗ trợ thông qua chính sách của nhà nước Ngoài một số chính sách nhà nước về an sinh xã hội, đào tạo nghề, tăng cường đầu tư công… thì các chính sách hỗ trợ của nhà nước tác động trực tiếp đến giải pháp tín dụng đối với hộ sản xuất nông nghiệp chủ yếu là: (1) Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn nhằm khuyến khích các TCTD cho vay, đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (Nghị định số Số: 55/2015/NĐ-CP của Chính

Trang 35

Phủ “ Về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn” ngày 9.6.2015; (2) Các chính sách hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức cá nhân vay vốn ngân hàng ở nông thôn nhằm khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp; (3) Chính sách mua tạm trữ nông sản phẩm để gián tiếp hạn chế giá nông sản giảm thấp khi đến vụ thu hoạch nhằm hỗ trợ thu nhập cho nông dân [15]

1.2 Cơ sở thực tiễn về giải pháp tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất nông lâm nghiệp

1.2.1 Đánh giá về tín dụng đối với hộ sản xuất nông lâm nghiệp của một số nước trên thế giới

Tại Indonisia, chính phủ đã cung cấp tín dụng thúc đẩy phát triển nông

nghiệp từ những năm 1960, mục tiêu tăng sản phẩm và thu nhập cho người sản xuất nông nghiệp dưới chương trình phát triển nền kinh tế và tín dụng nhà nước ngày càng đóng vai trò to lớn trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Theo kết quả nghiên cứu Taslim Sjah at all (2003) [46] Trong giai đoạn 2002-2003 nông dân tại khu vực Lombok, Indonesia cho thấy: (1) Lý do nông dân chấp nhận tín dụng là do hộ không đủ vốn để tham gia sản xuất, nếu họ

có đủ tiềm lực phát triển xu thế họ tránh đi vay tín dụng (2) Khi phải tham gia tín dụng đã lựa chọn tín dụng từ chính phủ để thúc đẩy phát triển kinh tế hơn

là nguồn tín dụng tư nhân do nguồn tín dụng chính phủ có độ an toàn cao hơn, phù hợp với kế hoạch và có lãi suất thấp hơn (ở giai đoạn này tỷ lệ lãi suất từ nhà nước là 1%/tháng, tư nhân 2-3%/tháng) Tuy nhiên, cho thấy tín dụng tư nhân thường rất đơn giản về thủ tục cho vay và luôn sẵn sàng cho vay khi cần (3) Hoàn trả tín dụng sau khi vay được người nông dân có trách nhiệm là do: Đặc điểm tín dụng khi cần vay tiếp chỉ thực hiện được khi trả hết nợ cũ, và khi quá hạn phải trả lãi suất cao hơn và động cơ rất lớn của họ là rất không mong muốn là người nợ

Khi nghiên cứu tín dụng nông nghiệp và khả năng trả vốn của nông dân đối với tín dụng tại Ghana tác giả Dean Karlan et all (2003) [40] Song song

Trang 36

tín dụng đầu tư trong nông nghiệp cần có bảo hiểm nông nghiệp với giá phù hợp và thúc đẩy thị trường nông sản phát triển đây là yếu tố thành công đối với mức độ tín dụng nhỏ cho hộ kinh tế của các nước đang phát triển

Đất nước Nigeria: Ngành nông nghiệp có vai trò lớn sau ngành dầu khí

đối với nền kinh tế, phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn chính phủ cung cấp tín dụng và bảo hiểm nông nghiệp thông qua NHN0&PTNT Negiria (NACRDB) và quỹ bảo lãnh tín dụng nông nghiệp quốc gia (ACGSF) Tuy nhiên, khi tham gia tín dụng này người dân cũng gặp rất nhiều vấn đề (Okeke

et al 2012) [43] Khi phỏng vấn 373 hộ có đến 61,93% số hộ thường tham gia vay vốn tín dụng, nhưng trong đó có 76% số hộ không được vay vốn khi có yêu cầu xin vay, điều này cho thấy nhu cầu vay vốn là rất lớn Trong quá trình vay vốn có nhiều vấn đề về thủ tục vay vốn (có 75,87% ý kiến) như chi phí lớn, hình thức quản lý theo kiểu cổ chai khi thông báo số tiền cho vay và cũng

có thể bị từ chối cho vay khi đã đầy đủ thủ tục vay Các nguyên nhân chính khi người dân không tham gia được vay vốn đó là thiếu tài sản thế chấp hay bảo lãnh của bên thứ ba hợp pháp và thiếu thông tin khi cung cấp với ngân hàng

Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả tín dụng đối với các hộ nông dân tại Nam phi (P.K Chauke et all, 2013) [45] cho thấy nhu cầu vay vốn của nông hộ cao hơn 5 lần so với số hộ được thỏa mãn vay vốn, nhu cầu cung cấp dịch vụ cao hơn so với 4 lần, dịch vụ ở đây có vai trò quan trọng đối với hộ bao gồm: Kỹ thuật trong trang trại, kiến thức và kỹ năng quản lý được hiểu là kỹ năng sản xuất các loại sản phẩm, kỹ năng quản lý trang trại, marketing và mua sắm trang thiết bị

1.2.2 Bài học kinh nghiệm về giải pháp tín dụng đối với hộ sản xuất NLN ở Việt Nam

Nhìn chung, cơ chế cho vay của các NHTM đều xuất phát từ Quy chế cho vay của NHNN, tùy theo loại hình doanh nghiệp, mục đích và tôn chỉ

Trang 37

hoạt động nên sự vận dụng vào thực tiễn có khác nhau, nhưng không có sự khác biệt lớn

- Về điều kiện vay vốn: Điểm chung của các NHTM là phương án vay

vốn phải có hiệu quả, mục đích vay vốn khả thi Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) quy định rõ điều kiện cho nông dân khi vay vốn: Diện tích canh tác tối thiểu là 0,5 ha, phương án vay vốn phải có xác nhận của chính quyền địa phương, có hợp đồng bảo hiểm đối với các rủi ro phát sinh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (LienVietPost Bank, 2012) dẫn theo Nguyễn Ngọc Tuấn 2013[24]

- Về mức cho vay: Hầu hết các NHTM căn cứ vào mức vốn tự có tham

gia vào phương án vay vốn sản xuất nông nghiệp và giá trị tài sản thế chấp Theo Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Á (DongA Bank) thì mức cho vay bằng 70% - 90% nhu cầu vốn cần thiết của phương án sản xuất và 70% trị giá tài sản thế chấp (DongA Bank, 2012); Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) thì cho vay đến 85% nhu cầu vay vốn sản xuất nông nghiệp (ACB, 2012); riêng LienVietPostBank cho vay sản xuất nông nghiệp đến 80% nhu cầu vay vốn và giới hạn mức tối đa cho vay hộ sản xuất là 50 triệu đồng Đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) thì mức cho vay có thể bằng 100% giá trị tài sản đảm bảo tại ngân hàng (Sacombank, 2011) [12]

- Về tài sản đảm bảo nợ vay: Hầu hết các NHTM quy định chặt chẽ về

bảo đảm tiền vay, LienVietPostBank chấp nhận có thể cho vay không có hồ

sơ đăng ký giao dịch tài sản đảm bảo nhưng phải làm thủ tục xác nhận của chính quyền; Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam (Vietinbank) chấp nhận cho vay không có tài sản thế chấp từ 30 - 50 triệu đồng, nhưng phải cam kết chỉ có vay không có tài sản bảo đảm tại Vietinbank (Vietinbank, 2012) Bảo hiểm nông nghiệp là một trong những điều kiện vay vốn của LienVietPostBank

Trang 38

- Về lãi suất cho vay: Hầu hết các NHTM đều áp dụng lãi suất thỏa thuận

tại thời điểm cho vay Riêng Vietinbank, đối với hộ sản xuất tham gia bảo hiểm nông nghiệp có số tiền bảo hiểm bằng với mức vay thì lãi suất cho vay được giảm 0,1%/năm Đối với Sacombank, thực hiện lãi suất thỏa thuận theo cung cầu trên thị trường vốn

- Về phương thức cho vay: Hầu hết các NHTM áp dụng phương thức cho

vay đúng theo Quy chế cho vay; chỉ riêng LienVietPostBank áp dụng phương thức cho vay lưu vụ cho cả trồng lúa và cây trồng lưu gốc khác: (1) Đối với trồng lúa: Áp dụng cho vay lưu vụ 2 vụ liên tiếp; (2) Đối với các loại cây trồng khác: Cho vay lưu vụ tối đa không quá số lần lưu gốc Vietinbank cũng

áp dụng hình thức cho vay lưu vụ nhưng thời hạn tối đa không quá 12 tháng,

có nghĩa là không áp dụng cho đối tượng là sản xuất nông nghiệp Sacombank

áp dụng phương thức cho vay và trả nợ linh hoạt, cho vay từng lần hoặc cho vay theo hạn mức; nói chung, là một NHTM cổ phần, Sacombank chỉ tập trung cho vay khách hàng thương mại, hoặc hộ sản xuất nông nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh tổng hợp

- Về định kỳ hạn nợ và kỳ hạn lãi: Hầu hết các NHTM định kỳ hạn thu

gốc vào cuối kỳ, riêng việc định kỳ hạn trả lãi có sự khác biệt DongA Bank quy định định kì trả lãi là 3 - 6 tháng; ACB quy định trả lãi hàng tháng

Theo kết quả đánh giá về nhu cầu vai vốn và một số hạn chế đối với tín dụng nông nghiệp nông thôn ( Lê Thị Tuấn Nghĩa và CTV, 2015) [16] cho thấy đối với canh tác nông nghiệp yêu cầu vốn lớn, nhưng vốn tự có hộ nông dân còn thấp nền nguồn tín dụng coi nguồn vốn chủ yếu Vốn tín dụng giúp đẩy nhanh quá trình đầu tư vào qui mô sản xuất, đầu tư khoa học kỹ thuật và thúc đẩy chu chuyển vốn, thúc đẩy phát triển nông thôn Người dân tiếp cận vốn tín dụng còn nhiều hạn chế bao gồm: (1) Nguồn vốn vay còn ở mức hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển nông nghiệp nông thôn; Ngoài NHNo&PTNT có tỷ lệ cho vay đạt 70% thì đa số các ngân hàng có dư nợ cho

Trang 39

vay thấp Ngoài ra khả năng huy động vốn của các tổ chức tín dụng trên địa bàn nông thôn chỉ đáp ứng được 45-70% nhu cầu vốn (2) Các sản phẩm, dịch

vụ tại ngân hàng nông nghiệp tại nông thôn còn nghèo nàn: Sản phẩm chủ yếu

là tín dụng truyền thống còn các dịch vụ thanh toán, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tín dụng còn hạn chế (ở đây chỉ mới mức độ thử nghiệm) (3) Còn những trở ngại nông dân tiếp cận tín dụng nông nghiệp: Hiện nay việc thế chấp tài sản cố định (đất, nhà ở) là cơ sở bắt buộc duy nhất mà các ngân hàng lấy đó để xác định mức cho vay dù dự án kinh tế có hiệu quả hay không Khi nguồn vốn đến có khi người dân đã lỡ đầu tư (mùa vụ đi qua, thời điểm đã qua) dẫn đến hiểu quả sản xuất còn chưa cao

Theo đánh giá của báo đại đoàn kết điện tử [32] tại cuộc hội thảo “Bàn giải pháp về chính sách tín dụng nhằm chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp, nông thôn ở các tỉnh, thành phía Nam” do Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản phối hợp với Trường Đại học Ngân hàng TP HCM tổ chức vào ngày

6/12/2016 tại TP HCM, cho biết, “thủ tục tín dụng gây khó cho nông dân vay vốn” do thủ tục rườm rà, nhất là khâu giám định tài sản thế chấp rẻ mặt như

tại quận 9, khi thẩm định đất nông nghiệp các NH cho vay 200.000 đồng/m2trong khi giá thị trường là 2.000.000 đồng/m2; tiếp đến hoạt động ngân hàng ở khu vực nông nghiệp, nông thôn hiện nay mới chủ yếu ở các dịch vụ truyền thống như cho vay và nhận tiền gửi, trong khi các dịch vụ thanh toán ngân hàng hiện đại còn hạn chế; quy trình cung cấp tín dụng còn phức tạp, đặc biệt

là các thủ tục liên quan đến tài sản thế chấp như đất đai

Để thúc đẩy về tín dụng cho nông nghiệp tác giả Nguyễn Minh Phong [33] đề xuất 3 kiến nghị: (1) Hoàn thiện cơ sở pháp lý và xây dựng, quản lý

ổn định các quy hoạch kinh doanh vùng nông nghiệp chuyên canh theo mô hình công nghiệp (2) Tháo gỡ các khó khăn, vuớng mắc, phát triển và đa dạng hoá sản phẩm tín dụng và bảo hiểm nông nghiệp.(3) Hoàn thiện khung pháp lý về xử lý nợ xấu và tranh chấp trong hoạt động tín dụng nông nghiệp

Trang 40

1.2.3 Một số mô hình NLN tiêu biểu tại các địa phương

Năm 2009 theo trang báo nông nghiệp điện tử [36] giới thiệu một mô hình VAC rất thành công tại huyện Châu Thành tỉnh An Giang với qui mô 1,5

ha của gia đình Nguyễn Thị Thanh Nga thiết kế: Chăn nuôi gồm nuôi lợn nái

và lợn thịt, gà đỏ giống, ao cá thịt, nuôi rắn ri voi, nuôi rùa sinh sản; phần trồng trọt thực hiện trồng Xoài Đài Loan, xoài cát Hà Lộc, đu đủ

Theo trang thông tin của hội nông dân tại tỉnh Bắc Ninh [35] trong đến năm

2015 có nhiều mô hình kinh tế trang trại phát triển theo VAC rất thành công, riêng huyện Quế võ có 650 trang trại, trong đó có 14 trang trại đạt tiêu trí có diện tích trên 2ha, thu nhập 700 triệu đồng/năm trở lên Tại Thành phố Bắc Ninh có trang trại ông Nguyễn Thái Phong diện tích 2 mẫu nhưng có thu nhập cao trong

đó bố trí của gia đình theo VAC được thiết kế như sau: Diện tích ao 2000m2 còn lại diện tích vườn thực hiện trồng cây 40 cây táo lai, 50 gốc xoài Úc và xoài Nha Trang, 40 cây bưởi Diễn và 40 cây nhãn chín muộn kết hợp với chăn nuôi vịt đẻ, nuôi lợn thịt Hàng năm thu nhập lãi 170-180 triệu đồng

Trang tại tại Lâm Hà, Lâm Đồng với diện tích 2ha được bố trí như sau: gồm 550m2 chuồng trại nuôi heo, hơn 1ha nông nghiệp, ao nuôi cá rộng gần 3.000m2, còn lại trồng dâu nuôi tằm bằng giống dâu siêu cành G7)[34]

Mô hình VAC tiêu biểu tại tỉnh Hà Giang theo thông tin báo điện tử Hà Giang [31] dẫn mô hình ông Cháng Thanh Lù tại huyện Quản Bạ với 3 ha thiết kế: Chăn nuôi gồm hơn 100 tổ ong; nuôi trâu sinh sản; đào ao thả cá, kinh doanh dịch vụ câu cá, phần trồng trọt thực hiện trồng khoảng 1.000 cây hồng không hạt đặc sản; gần 200 cây trám vàng và 50 cây chanh Thu nhập năm 2014 ước đạt 300 triệu đồng

Tại thị xã Tân Uyên, Bình Dương mô hình VAC được ghi nhận mang lại hiệu quả với qui mô: Trồng trọt 4 ha cao su, 1.000m2 nuôi cá, 7.000m2 rau màu; mỗi năm gia đình còn xuất trại hơn 1.500 con gà, hơn 10 con bò, đối với trang trại cả trồng trọt và chăn nuôi theo phương pháp VietGap)[30]

Ngày đăng: 13/04/2018, 09:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm