Nâng cao hiệu quả giáo dục văn học đường trong trường đại học là điều kiện để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và đào tạo và nâng cao chất lượng, để đào tạo ra những sinh viên có đủ đức, đủ tài đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới và xu thế hội nhập quốc tế nhất là trong điều kiện cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, của thị trường lao động trong kỷ nguyên số nền sản xuất của con người đạt đỉnh cao của sự thông minh, với các ứng dụng kỹ thuật sáng tạo không ngừng, với nền tảng công nghệ số, với mạng lưới internet của vạn vật và trí tuệ nhân tạo… Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả chọn: Hiệu quả giáo dục văn học đường cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay
Trang 1“Hiệu quả giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên các trường đại học ở
Hà Nội hiện nay (qua khảo sát một số trường đại học đào tạo các ngành kỹ
thuật)” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong
cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận án
Trần Thị Tùng Lâm
Trang 2TÀI 7
1.1 Các công trình nghiên cứu về văn hóa học đường và giáo dục văn hóa học đường 7
1.2 Nghiên cứu về hiệu quả và hiệu quả giáo dục văn hoá học đường 25
1.3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu 30
Chương 2 HIỆU QUẢ GIÁO DỤC VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG CHO sinh viên ĐẠI HỌC - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 35
2.1 Văn hóa học đường và giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên đại học 35 2.2 Hiệu quả giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên các trường đại học 50
2.3 Những yếu tố chi phối đến hiệu quả giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên 69
Chương 3 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ GIÁO DỤC VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG CHO SINH VIÊN QUA KHẢO SÁT MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀO TẠO CÁC NGÀNH KỸ THUẬT Ở HÀ NỘI HIỆN NAY 79
3.1 Thực trạng giáo dục văn hóa học đường trong các trường đại học đào tạo các ngành kỹ thuật ở Hà Nội hiện nay 79
3.2 Hiệu quả giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên trong các trường đại học đào tạo các ngành kỹ thuật ở Hà Nội hiện nay 94
3.3 Đánh giá chung về hiệu quả giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên và những vấn đề đặt raNhững vấn đề đặt ra về hiệu quả giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên 116
Chương 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI HIỆN NAY 129125
4.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên 129 4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên hiện nay 134
KẾT LUẬN 155
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151159
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 161169
Trang 4Biểu đồ 2.2.3 : Hệ giá trị của trường đại họcTỷ lệ % kết quả sinh viên rèn luyện(đức dục) 10674
Biểu đồ 3.2.1: Tỷ lệ % sắp xếp các tiêu chí mà sinh viên muốn phấn đấu đạt được thể hiện HQGDVHHĐ từ tiêu chí tinh thầnBiểu đồ 2 Tỷ lệ % sắp xếp
các tiêu chí mà sinh viên muốn phấn đấu đạt được 99
Biểu đồ 3.2.2a: Tỷ lệ % kết quả sinh viên rèn luyện (đức dục) 106 Biểu đồ 3.2.2b: Kết quả học tập của sinh viên tại trường qua hàng năm (tỷ
lệ % thể hiện HQGDVHHĐ xét từ tiêu chí thực tiễn) .111
Biểu đồ 3.3.3: Kết quả học tập của, sinh viên của trường qua hàng năm (tỷ lệ %thể hiện HQGDVHHĐ xét từ tiêu chí thực tiễn) .121
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
được Đại hội Đảng XI (năm 2011) thông qua, đã định hướng phát triển văn hóa:
“Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triểntoàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dânchủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống
xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng củaphát triển…” [6; Tr.37]
Văn hóa được coi là một yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế,làm hài hòa, lành mạnh các quan hệ xã hội Từ các nền văn minh sớm nhất, văn
hóa luôn luôn gắn liền với giáo dục và giáo dục cũng song hành với văn hóa.
Ngày nay, đào luyện lực lượng sinh viên phát triển toàn diện cả đức, trí, thể mỹ
là vun bồi một nguồn lực quý báu của đất nước, là kiến tạo tiền đồ, tương lai củadân tộc Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến nhiệm vụ này, đã phải ra 2 nghịquyết chuyên đề chỉ đạo trong một nhiệm kỳ Đó là Nghị quyết hội nghị Trungương 8 khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) “Về đổi mới căn bản toàn diện giáodục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiệnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập” và Nghị quyết hộinghị Trung ương 9 khóa XI (Nghị quyết số 33-NQ/TW) “Về Xây dựng và pháttriển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững đấtnước” Hai nghị quyết này đã xác định những nội dung và giải pháp xây dựngvăn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới Đây
là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, trụ cột của công cuộc đổi mới ở nước tahiện nay Trách nhiệm đó trước hết thuộc về ngành giáo dục, nhất là giáo dụcbậc đại học Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, một trong những biện pháp quantrọng là xây dựng trường đại học thật sự trở thành môi trường văn hóa và làmnhững giá trị, chuẩn mực hành vi văn hóa đó thấm sâu và chuyển hóa thànhnhững phẩm chất và năng lực tốt đẹp trong sinh viên, định hình nên nhân cáchsinh viên phù hợp với mục tiêu giáo dục và đào tạo và đáp ứng được yêu cầu của
xã hội, thực hiện nhiệm vụ xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Namtheo Nghị quyết của Đảng
Trang 6Trên thực tế ở các trường đại học hiện nay, phần lớn sinh viên vẫn giữđược những giá trị, nét đẹp văn hóa truyền thống như: tôn sư trọng đạo, tích cực,chủ động, sáng tạo trong học tập; nêu cao ý thức trách nhiệm, rèn luyện phẩmchất đạo đức, lối sống lành mạnh, dám đấu tranh chống lại những tiêu cực; tintưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào tương lai của đất nước Bên cạnh đó, trước
sự tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, sự bùng nổ thông tin qua Internet,các mạng xã hội; sự du nhập ào ạt các trào lưu văn hóa, quan niệm sống lai căngcùng với sự chống phá, lôi kéo từ hệ tư tưởng thù địch với những sản phẩmmang danh văn hóa, một bộ phận thanh niên, trong đó có sinh viên trong các trư-ờng đại học chạy theo lối sống thực dụng, xa lạ với các giá trị văn hóa truyềnthống tốt đẹp, vô tổ chức, vô kỷ luật… không có ý chí vươn lên Tình trạng tộiphạm và tệ nạn xã hội trong sinh viên có chiều hướng gia tăng về quy mô, phứctạp về tính chất, gây nhức nhối cho gia đình, nhà trường và xã hội Nghị quyếtTrung ương 5 khóa VIII chỉ rõ: “Nhiều biểu hiện tiêu cực trong lĩnh vực giáodục, đào tạo làm cho xã hội lo lắng như sự suy thoái đạo lý trong quan hệ thàầytrò, bè bạn, môi trường sư phạm xuống cấp; lối sống thiếu lýy tưởng, hoài bão,
ăn chơi, nghiện ma túy, tệ nạn xã hội…ở một bộ phận học sinh, sinh viên; việccoi nhẹ giáo dục đạo đức, thẩm mỹ và coi nhẹ các bộ môn chính trị, khoa học xãhội và nhân văn” [24, tr.47]
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đánh giá: “Chất lượng giáo dục và đàotạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ caovẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội Chưagiải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng,giữa dạy chữ và dạy người Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạchậu, đổi mới chậm; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghềđào tạo; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Quản lý nhà nước về giáo dục còn bấtcập Xu hướng thương mại hoá và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục cònchậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội.”[28, tr 167, 168]Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đánh giá kết quả thực hiệnnhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phương hướng, nhiệm
Trang 7vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020 có đề cập đến vấn đề giáo dục:
“Phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng khoa học, công nghệ còn chậm Chấtlượng giáo dục, đào tạo, nhất là giáo dục đại học và đào tạo nghề cải thiện cònchậm; thiếu lao động chất lượng cao Hệ thống giáo dục còn thiếu tính liênthông, chưa thật hợp lý và thiếu đồng bộ Công tác phân luồng và hướng nghiệpcòn hạn chế Đổi mới giáo dục, đào tạo có mặt còn lúng túng Tình trạng mất cânđối trong cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo khắc phục còn chậm, công tácđào tạo chưa gắn chặt chẽ với nhu cầu xã hội Cơ chế, chính sách có mặt chưaphù hợp; xã hội hóa còn chậm và gặp nhiều khó khăn, chưa thu hút được nhiềunguồn lực ngoài nhà nước cho phát triển giáo dục, đào tạo Cơ sở vật chất vẫncòn thiếu và lạc hậu Chất lượng dạy và học ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộcthiểu số còn thấp Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý chưa đáp ứng yêucầu.”[32, tr.248- 249]
Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là nhiều trường chỉ tậptrung vào việc dạy tri thức, kỹ năng… mà ít chú trọng giáo dục nhân cách, đạođức, lối sống lành mạnh, tích cực cho sinh viên Kết quả là môi trường họcđường nơi văn hoá đáng được coi trọng lại đang diễn ra thực trạng thiếu văn hoá.Điều này chứng tỏ kết quả giáo dục văn học đường chưa cao, nhận thức về vănhóa học đường chưa đúng, giáo dục văn hóa học đường trong các trường đại họcchưa thực sự đạt hiệu quả Ở Việt Nam hiện nay, giáo dục văn hóa học đường làmột bộ phận của công tác tư tưởng Định hướng và chuẩn mực của nó phải phùhợp với lý tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặt dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam, tuân thủ pháp luật của nhà nước Việt Nam xã hội chủ
nghĩa
Nâng cao hiệu quả giáo dục văn học đường trong trường đại học là điềukiện để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và đào tạo và nâng cao chất lượng, đểđào tạo ra những sinh viên có đủ đức, đủ tài đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của
sự nghiệp đổi mới và xu thế hội nhập quốc tế nhất là trong điều kiện cuộc cáchmạng công nghiệp 4.0, của thị trường lao động trong kỷ nguyên số nền sản xuấtcủa con người đạt đỉnh cao của sự thông minh, với các ứng dụng kỹ thuật sángtạo không ngừng, với nền tảng công nghệ số, với mạng lưới internet của vạn vật
và trí tuệ nhân tạo… Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả chọn: Hiệu
Trang 8quả giáo dục văn học đường cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay(qua khảo sát một số trường đại học đào tạo các ngành kỹ thuật) làm đề tài luận
án tiến sĩ của mình Kết quả nghiên cứu thành công có thể ứng dụng ở nhiềutrường đại học đào tạo các khối ngành khác nhau, góp thêm một căn cứ lý luận
và thực tiễn vào hệ thống những giải pháp thực hiện đổi mới căn bản toàn diệngiáo dục và đào tạo ở Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả giáodục văn hóa học đường cho sinh viên, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả
giáo dục văn hóa học đường, luận án đánh giá thực trạng hiệu quả giáo dục văn
hóa học đường và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dụcvăn hóa học đường cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả luận án cần hoàn thành nhữngnhiệm vụ:
- Tổng quan và có đánh giá, nhận định về tình hình nghiên cứu có liên quanđến hiệu quả giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên các trường đại học
- Làm rõ khái niệm, nội dung, biểu hiện đặc trưng của văn hóa học đường
và giáo dục văn hóa học đường trong trường đại học Xây dựng tiêu chí đánh giáhiệu quả giáo dục văn học đường cho sinh viên ở các trường đại học
- Khảo sát thực tế, phân tích thực trạng văn hóa học đường, giáo dục vănhóa học đường và hiệu quả giáo dục văn học đường của sinh viên các trường đạihọc đào tạo các ngành kỹ thuật ở Hà Nội Phát hiện nguyên nhân và những vấn
đề đặt ra trong giáo dục văn hóa học đường và hiệu quả giáo dục văn học đườngcho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội
- Xây dựng hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóahọc đường cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu hiệu quả giáo dục văn học đường cho sinhviên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay (Khảo sát một số trường đào tạo các
kỹ thuật)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu hiệu quả giáo dục văn hóa học đường chosinh viên các trường đại học ở Hà Nội qua khảo sát các trường: Đại học Côngnghiệp Hà Nội, Đại học Thành Đô, Đại học Giao thông vận tải, Đại học Xâydựng, Đại học Kiến trúc Hà Nội Chủ thể giáo dục VHHĐ cho sinh viên là cáctrường đại học, các thiết chế văn hóa xã hội, gia đình, bạn bè… Luận án giới hạnphạm vi chủ thể giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên là các trường đại họcđào tạo các ngành kỹ thuật Chọn trường đại học Xây dựng Hà Nội, đại học Giaothông vận tải là các trường tốp đầu trong đào tạo các ngành kỹ thuật (cả lý thuyết
và thực hành), trường đại học Kiến trúc Hà nội là trường đại học đào tạo kỹ thuậtliên quan đến nghệ thuật, trường đại Công nghiệp Hà nội là trường đào tạo đangành, đa cấp và đào tạo các ngành kỹ thuật theo hướng ứng dụng và thực hành,trường đại học Thành đô là trường dân lập
Thời gian khảo sát thực trạng hiệu quả giáo dục văn hóa học đường từ
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng,chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoahọc nói chung; các phương pháp của những bộ môn liên quan như Văn hóahọc, Quản lý văn hóa - Tư tưởng, Tâm lý học, Giáo dục học và Xã hội học…Các phương pháp chính cụ thể là:
Trang 10- Phương pháp tiếp cận từ vị trí, vai trò, chức trách, nhiệm vụ của ngườilàm công tác quản lý, công tác chính trị trong nhà trường, công tác giảng dạy cácmôn lý luận trong trường đại học.
- Phương pháp thu thập thông tin, phân tích tài liệu từ các tác phẩm kinhđiển, nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định và các công trình khoa học… cậpnhật thông tin chuyên ngành từ các tạp chí chuyên ngành và các phương tiệntruyền thông khác
- Phương pháp điều tra bằng trưng cầu ý kiến các cán bộ quản lý, các cán
bộ Đoàn thanh niên trong nhà trường, đại diện sinh viên trong các kỳ giao ban.Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi (anket)
- Phương pháp xử lý thông tin và trình bày kết quả nghiên cứu: phân loạithông tin, hệ thống hóa thông tin, diễn giải, quy nạp, phương pháp phân tích vàtổng hợp, lôgic và lịch sử; phương pháp so sánh; chứng minh, khái quát hóa,tổng kết kinh nghiệm và phương pháp chuyên gia…
5 Đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hóa các tri thức về văn hóa học đường, chỉ ra rõ hơn vai trò vànội dung của văn hóa học đường
- Nhận diện những giá trị cốt lõi của văn hóa học đường trong trường đạihọc so sánh với thực tiễn từ đó có các kết luận làm sơ sở để xây dựng phươnghướng, giải pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa học đường cho sinhviên Rút ra những bài học có tính lý luận về giáo dục văn hóa học đường chosinh viên đại học, qua đó làm sâu sắc hơn, sinh động hơn công tác tư tưởng trongtrường đại học
- Xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa họcđường cho sinh viên trong các trường đại học đào tạo các ngành kỹ thuật ở HàNội hiện nay Những giải pháp đó có thể mở rộng sử dụng cho các trường đạihọc khác
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của văn học đường cũng như sựcần thiết phải nâng cao hiệu quả giáo dục văn hóa học đường, nhằm góp phầnnâng cao chất lượng đào tạo của các trường đại học, thực hiện mục tiêu giáo dục
- Đề xuất một số phương hướng và những giải pháp cơ bản nhằm nâng caohiệu quả giáo dục văn học đường cho sinh viên của các trường đại học
- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo và vận dụng trong nghiên cứu
và giảng dạy cho chuyên ngành Công tác tư tưởng nói riêng, ngành Chính trị học
Trang 11nói chung và các ngành có liên quan như Triết học, CNXH khoa học, Văn hóahọc, Quản lý văn hóa, Quản lý giáo dục… ở hệ thống các học viện, các trườngđại học và cao đẳng của Việt Nam.
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nộidung của luận án được kết cấu thành 4 chương 11 tiết
Trang 12Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Xuất phát từ vai trò của văn hóa học đường và thực trạng xây dựng văn hóahọc đường ở Việt Nam, trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu
có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài Nâng cao hiệu quả giáo dụcVHHĐ đã thực sự trở thành vấn đề cấp thiết cả trên phương diện lý luận và thựctiễn, nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản lý, các nhà khoa học.Trong phạm vi bao quát của chúng tôi, có thể khái quát một số công trình tiếpcận đề tài theo các hướng:
1.1 Các công trình nghiên cứu về văn hóa học đường và giáodục văn hóa học đường
1.1.1 Những nghiên cứu về văn hoá và văn hóa học đường
Thuật ngữ “văn hóa” xuất hiện rất sớm trong ngôn ngữ loài người Cùngvới sự phát triển của lịch sử nhân loại, nhận thức của con người về văn hóa, kháiniệm văn hóa cũng không ngừng thay đổi và luôn được bổ sung những nội dungmới, những cách nhìn mới
Chưa bao giờ vấn đề văn hóa lại giành được sự quan tâm như hiện nay cả
về phương diện lý luận và thực tiễn Điều này càng chứng tỏ vai trò quan trọngcủa văn hóa đối với sự phát triển của xã hội Khái niệm “văn hóa” (Cultura) cónguồn gốc từ phương Tây, theo tiếng Latinh có nghĩa là: cày, cấy, vun trồng, làmruộng, chăm bón, cải thiện, gìn giữ trong sản xuất nông nghiệp Xét theo nguồngốc thuật ngữ, văn hóa là khái niệm gắn với lao động sản xuất, một hoạt độngsáng tạo mang bản chất người nhất Về sau thuật ngữ văn hóa được bổ sung thêmnhững nghĩa mới trừu tượng hơn, nói về tính có học vấn, tính có giáo dục, sự mởmang trí tuệ của con người
Chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng đã đi tìm nội dung tích cực và bổ sungnhững nhận thức mới mẻ về văn hóa Thời kỳ này được xem như thời kỳ pháthiện lại con người Bởi vậy, “văn hóa” được nhìn nhận như lĩnh vực tồn tại chân
Trang 13chính của con người, lĩnh vực “tính người” thật sự đối lập với lĩnh vực “tính tựnhiên”, “tính động vật” Văn hóa được xem như sự phát triển của con người phùhợp với bản chất của nó.
Từ nguyên nghĩa của văn là xăm thân, và nghĩa gốc của văn hóa là nét xăm
mình mà qua đó người khác nhìn vào để nhận ra mình Theo cách triết tự Hán
Việt (bộ Từ Hải năm 1989), văn có nghĩa là “vẻ đẹp” (= có giá trị), hóa là “trởthành”, là “giáo dục” Như vậy, văn hóa có nghĩa là trở thành đẹp, giáo dục đẹp,thành có giá trị Sau này, văn hóa thường được dùng với nghĩa: cái chứa cái đẹp,chứa các giá trị, là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người
Theo quan điểm của C Mác, văn hóa gắn liền với sức sáng tạo và năng lựcbản chất của con người Sự sáng tạo đó bao giờ cũng bắt đầu từ lao động Laođộng sáng tạo ra con người và xã hội loài người, làm cho con người ngày càngtrở thành thật sự người Vì vậy, văn hóa là năng lực tạo nên sáng tạo, là sự pháttriển những năng lực bản chất của con người V.I Lênin khi bàn về văn hóa chorằng, nó là tổng thể các dạng hoạt động sáng tạo của con người và tất cả giá trịvật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử của chínhmình Theo đó, có thể hiểu văn hóa là “thiên nhiên thứ hai” được “nhân hóa” quathực tiễn của con người [36, tr.27, 90]
Văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trìnhlịch sử bằng lao động của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất
tinh thần Theo nghĩa này, tại “Mục đọc sách” viết xen tập “Nhật ký trong tù” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng sự biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [82, tr 431]
F.Gonzles quan niệm văn hóa bao gồm các giá trị, quan niệm, thái độ, hành
vi và các mối quan hệ tạo nên ý nghĩa, niềm tin và sự thống nhất của một nhómngười [138]
Trang 14Tiếp cận văn hóa dưới góc độ tổ chức, Ehlers (2009) tổng hợp các tác giả
và cách tiếp cận văn hóa
Tác giả Cách tiếp cận Các yếu tố văn hóa
Biểu hiện, hình mẫu,
Giá trị, sự việc hữuhình, quy ước
Giá trị, kiến thức, niềmtin, chuẩn mực, lễ nghi
Bảng 1 Cách tiếp cận khác nhau về văn hóa [137, 363]
tr.343-Bảng 1.Cách tiếp cận khác nhau về văn hóa [137, tr.343-363]
Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Ngọc Thêm xuất phát từ lý thuyết hệ thống,trình bày mô hình văn hóa gồm ba thành tố cơ bản:
Văn hóa nhận thức: Mỗi nền văn hóa đều là tài sản của một cộng đồngngười nhất định - một chủ thể văn hóa Trong quá trình tồn tại và phát triển, cộngđồng người - chủ thể văn hóa đó luôn có nhu cầu tìm hiểu, tích lũy được mộtlượng kinh nghiệm và tri thức phong phú về vũ trụ và bản thân con người - đóchính là văn hóa nhận thức
Văn hóa tổ chức: Là những giá trị văn hóa tổ chức của cộng đồng như vănhóa tổ chức đời sống tập thể (những vấn đề liên quan đến tổ chức sản xuất trong
Trang 15một quy mô rộng lớn như tổ chức nông thôn, đô thị, quốc gia) và văn hóa tổchức đời sống cá nhân (những vấn đề liên quan đến đời sống của mỗi con ngườinhư tín ngưỡng, phong tục, tập quán, đạo đức, văn hóa giao tiếp, nghệ thuật )Văn hóa ứng xử (đối với tự nhiên và đối với xã hội): Cộng đồng người -chủ thể văn hóa - tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường - môi trường tựnhiên (thiên nhiên, khí hậu v.v) và môi trường xã hội (hiểu ở đây là các xã hội,dân tộc, quốc gia) Do đó có văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóaứng xử với môi trường xã hội [107, tr.28-29]
Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor khái quát khái niệm văn hóa, cho
rằng: “Văn hóa là tổng số sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiệntại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị,truyền thống và thị hiếu những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” (Tạpchí Nngười đưa tin UNESCO, Tháng 11-1989, tr 5)
Tổng hợp các định nghĩa trên, cho thấy văn hóa bao gồm các nội dung sau:
- Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra
- Văn hóa là hoạt động của con người, yếu tố quyết định sự hình thành vàphát triển của văn hóa
- Văn hóa là sự thể hiện trình độ phát triển và đặc tính riêng của mỗi cộngđồng người, mỗi dân tộc
Văn hóa là sản phẩm của hoạt động người, là kết quả sáng tạo ra của nhiềuthế hệ nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần không ngừng tăng lêncủa con người Văn hóa bao gồm các giá trị văn hóa và hoạt động sáng tạo ranhững giá trị đó Khi tạo ra thế giới văn hóa, con người không chỉ làm biến đổinhững điều kiện khách quan, mà còn làm biến đổi chính bản thân con người,phát triển những năng lực tiềm tàng trong bản thân mình Không chỉ có vậy, conngười còn có khả năng tự đánh giá trình độ phát triển của bản thân mình thôngqua các sản phẩm do chính mình tạo ra Bởi vì trong quá trình hoạt động conngười đã đối tượng hóa bản thân mình vào các giá trị ấy Mỗi giá trị văn hóa đềuhàm chứa trong bản thân nó năng lực trí tuệ, tinh thần, cảm xúc, những lực lượngvật chất nhất định
Văn hóa là khái niệm phức tạp, cách nhìn nhận về cấu trúc của văn hóacũng phong phú và đa dạng Từ hướng tiếp cận của triết học, xem văn hóa như
Trang 16cái được sinh ra từ sự tồn tại của con người trong hoạt động thực tiễn, con người
là chủ thể hoạt động và điểm khởi đầu của văn hóa, nhà triết học M.S Kagan[63, tr 188-208] đã mô tả cấu trúc của văn hóa như “vòng xoắn chập ba” (3thành tố) gồm có: hoạt động mang tính vật thể của con người là cơ sở của vănhóa; sự giao tiếp của con người diễn ra ở bình diện không gian văn hóa và thờigian văn hóa xã hội và sự sáng tạo nghệ thuật, một phương thức để nhân đôi đờisống hiện thực của con người, tạo nên một đời sống ảo và qua “ảo” để hiểu hiệnthực sâu sắc hơn
Cũng có thể xem xét văn hóa với cấu trúc gồm văn hóa sinh hoạt vật chất,văn hóa sinh hoạt tinh thần Hoặc xem xét dưới góc độ văn hóa sản xuất, văn hóatiêu dùng Văn hóa nếu tiếp cận từ những lĩnh vực cụ thể, sẽ có văn hóa doanhnghiệp, văn hóa đạo đức, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa nghệ thuật, văn hóa công sở,văn hóa trang phục, văn hóa học đường, văn hóa giao thông,… Dù được diễn đạttheo cách nào nó cũng có nội dung chung: văn hóa là sự phát triển những nănglực bản chất của con người hướng tới các giá trị nhân văn Mỗi một hình thứccộng đồng người, cộng đồng xã hội có một mô thức văn hóa riêng Trường đạihọc là một thiết chế xã hội, vì vậy việc hình thành văn hóa riêng để góp phầnthực hiện mục tiêu đào tạo, sứ mệnh của mình là một tất yếu khách quan
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn quan tâm đến vấn đề văn hóa Điều nàythể hiện trong mỗi kỳ đại hội đều có phần xác định đường hướng phát triển vănhóa Thậm chí Đảng còn ra cả một Nghị quyết Trung ương về xây dựng nền vănhoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bàn sắc dân tộc Ở đó nhấn mạnh: “Văn hóa lànền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự pháttriển kinh tế - xã hội” [24, tr 55] Nghị quyết tập trung vào những lĩnh vực lớn:
tư tưởng, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, giáo dục, khoa học, văn họcnghệ thuật, thông tin đại chúng, giao lưu văn hóa với thế giới, các thể chế và
thiết chế văn hóa… và khái quát: “Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn
năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộngđồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiềunền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam đãhun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vangcủa dân tộc”.[24, tr 40]
Trang 17Sau hơn 15 năm, từ năm 1998 đến năm 2014, nhận thức về văn hóa và vaitrò của văn hóa trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã pháttriển thêm một bước dài Trong Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI, Đảng Cộngsản Việt Nam đã đưa ra 5 quan điểm chỉ đạo, trong đó có 2 quan điểm phát triển,
bổ sung rất sâu sắc Đây là bước phát triển mới trong tư duy lý luận về văn hóa: Một là, Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xâydựng con người để phát triển văn hóa Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm làchăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơbản: Yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết cần cù, sáng tạo và quanđiểm: xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của giađình, cộng đồng
Hai là, Phát triển hài hòa kinh tế và văn hóa, cần chú ý đầy đủ đến yếu tốvăn hóa và con người trong phát triển kinh tế
Khi nghiên cứu văn hóa, giới chuyên môn đã sử dụng phạm trù “môitrường văn hóa” để thể hiện mối quan hệ giữa con người và văn hóa
Trong cuốn “Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin” (1981, Nxb Văn hóa,tr.75) các tác giả quan niệm: “Môi trường văn hóa là một tổng thể ổn định nhữngyếu tố vật thể và nhân cách, nhờ đó các cá thể tác động lẫn nhau Chúng ảnhhưởng tới hoạt động khai thác và sáng tạo giá trị văn hóa, tới nhu cầu tinh thần,hứng thú và định hướng giá trị của họ Môi trường văn hóa không chỉ là tổnghợp những yếu tố văn hóa vật thể mà còn có những con người hiện diện vănhóa”
Huỳnh Khái Vinh trong tác phẩm “Những vấn đề văn hoá Việt Nam đươngđại” nhấn mạnh: “Với tính chất là tổng thể (các hoạt động và sinh hoạt của conngười và các giá trị vật chất tinh thần cũng như điều kiện và cơ chế vận hành cáchoạt động và giá trị vật chất ấy), môi trường văn hóa luôn luôn can thiệp và quyđịnh các hoạt động sống, cách thức sống và cả lẽ sống của con người Cái cốt lõitạo nên khuôn mẫu và chiều hướng vận động của môi trường văn hóa là chuẩnmực giá trị xã hội” [128, tr 382]
Từ góc nhìn giá trị học, tác giả Đỗ Huy trong “Xây dựng môi trường vănhóa ở nước ta hiện nay - Từ góc nhìn giá trị học” nhấn mạnh vai trò của con
Trang 18người khi đưa ra định nghĩa: “Môi trường văn hóa chính là sự vận động của cácquan hệ của con người trong các quá trình sáng tạo, tái tạo, đánh giá, lưu giữ vàhưởng thụ các sản phẩm vật chất và tinh thần của mình” [59, tr 35]
Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định 129 ngày 2/8/2007 về Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan nhà nước Quyết định này có thể được xem như
căn cứ xây dựng và thực hiện VHHĐ như một loại hình văn hoá cộng đồng cầnđược đặc biệt quan tâm
Thuật ngữ VHHĐ hay văn hóa trường học bắt đầu xuất hiện tại các nướcnói tiếng Anh vào những năm 1990 Một số nước như Mỹ, Úc đã có trung tâmnghiên cứu, khảo sát thực tiễn và đánh giá vấn đề này Từ điển Tiếng Anh địnhnghĩa văn hóa trường học : school culture can be defined as the guiding beliefs
and values evident in the way a school operates (Văn hóa trường học có thể được định nghĩa là niềm tin hướng dẫn do những giá trị rõ ràng trong cách một trường hoạt động) hay “school culture” can be used to encompass all the
attitudes, expected behavior and values that impact how the school operates
(Văn hóa trường học có thể được sử dụng bao gồm tất cả những thái độ, hành vi mong đợi và những giá trị tác động đến cách hoạt động của trường) Dù có
nhiều ý kiến khác nhau nhưng đều thống nhất mỗi trường học ngoài là tấmgương phản chiếu những giá trị văn hóa, sự phát triển chung của cộng đồng đều
có những nét văn hóa riêng độc đáo tác động đến hoạt động của nhà trường Nghiên cứu của GS Peter Smith Đại học Sunderlans cho thấy VHHĐ ảnhhưởng vô cùng to lớn đối với chất lượng và hiệu quả hoạt động của một nhàtrường Các lý do cần phải nuôi dưỡng vun trồng VHHĐ tích cực, lành mạnh cóthể tóm tắt như sau:
Sự phát triển của học sinh chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường văn hóa
-xã hội mà họ lớn lên
- Văn hóa học đường lành mạnh giảm bớt sự không hài lòng của giáo viên
và giúp giảm thiểu hành vi cử chỉ không lịch sự của học sinh
- Văn hóa học đường tạo ra môi trường thuận lợi hỗ trợ việc dạy và học,khuyến khích GV và học sinh nỗ lực trong rèn luyện, học tập đạt thành tíchmong đợi
Trang 19Tổng hợp các quan niệm về VHHĐ của các học giả nước ngoài đã làm nổibật vị trí, vai trò của VHHĐ đối với sự duy trì và phát triển của trường học Họđều khẳng định văn hóa là tài sản của tổ chức trường học, nó luôn chi phối trựctiếp đến sự phát triển và tiến bộ của nhà trường cũng như nét đặc sắc riêng củatừng trường.
Ở Việt nam thuật ngữ VHHĐ được sử dụng chưa lâu nhưng nội dung củaVHHĐ trong các nhà trường ở Việt Nam từ xa xưa đã có và trở thành các truyềnthống quý báu của dân tộc ta như: tôn sư trọng đạo, kính thầy yêu bạn, nhất tự vi
sư bán tự vi sư, kính trên nhường dưới, Nhiều thập kỷ qua, các nhà trường ở tất
cả các cấp học đều liên tục cố gắng phấn đấu để “thầy ra thầy, trò ra trò, trường
ra trường” với mục tiêu giáo dục nhân cách cho học sinh, sinh viên, xây dựngtrường học lành mạnh Văn hóa học đường trở thành mối quan tâm đặc biệt củacác nhà lý luận, và tùy góc độ tiếp cận, VHHĐ được thể hiện với những nộidung khác nhau:
Phạm Thị Kim Anh trong bài viết Văn hóa học đường – một góc nhìn từthực tiễn đăng trên tạp chí Dạy và học ngày nay số 10-2007 có một cách nhìn
và cách tiếp cận độc đáo về VHHĐ Theo tác giả, VHHĐ bao gồm 4 yếu tố
cụ thể là văn hóa ứng xử, văn hóa dạy, văn hóa học, văn hóa thi cử
Trên tạp chí Tâm lý học số 10 (10 - 2008) tác giả Đào Thị Oanh cho rằng:VHHĐ là giá trị cần có của một nhà trường Văn hóa học đường là một cấu trúcgồm 3 thành tố có sự tác động ảnh hưởng lẫn nhau là:
- Hệ thống thái độ và niềm tin của những cá nhân trong nhà trường
- Hệ thống các chuẩn mực văn hoá của nhà trường
- Hệ thống các mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, thành viên bên trongtrường với nhau, giữa các cá nhân của trường với cộng đồng
Trên mục “Bàn tròn văn hóa”, báo Lao động số 117 ra ngày 26 tháng 5 năm
2008, các tác giả khẳng định “Xây dựng văn hóa học đường có ý nghĩa quyếtđịnh chất lượng đào tạo của các trường đại học”, VHHĐ được nhìn nhận trên 2khía cạnh là khung cảnh sư phạm bao gồm vị trí xây dựng trường học, cơ sở vậtchất… và môi trường sư phạm với nội hàm phong cách giao tiếp trong nhàtrường giữa thầy với trò, thầy với thầy, trò với trò
Trang 20Trên tạp chí Tuyên giáo tháng 11-2009, nhà nghiên cứu Phạm Minh Hạccho rằng VHHĐ Việt Nam cần đảm bảo 3 yếu tố: cơ sở vật chất đảm bảo, môitrường giáo dục tốt và văn hóa ứng xử, giao tiếp chuẩn mực (TC Tuyên giáo,tháng 11 năm 2009, tr.41) Tác giả Phạm Ngọc Trung sau khi khảo cứu các quanniệm đã được xã hội hóa và đúc rút qua thực tiễn giảng dạy, định nghĩa: “Văn
hoá học đường là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành và
tích luỹ trong lịch sử bao gồm những suy nghĩ, quan niệm thói quen, tập quán, tưtưởng, luật pháp nhằm thiết lập mối quan hệ giữa thầy, trò và các thành viên cóliên quan để việc dạy và học đạt kết quả cao” [116, tr 51]
Phạm Văn Khanh quan niệm trường học là một tổ chức, vì vậy xem vănhóa học đường là văn hóa tổ chức - một tổ chức sau khi được hình thành, tồn tại
và phát triển thì tự khắc nó sẽ dần dần hình thành nên những nề nếp, chuẩn mực,
lễ nghi, niềm tin và giá trị Đó là sợi dây vô hình gắn kết các thành viên trong tổchức lại với nhau cùng phấn đấu cho những giá trị chung của tổ chức Đó là nghi
lễ, đồng phục, không khí học tập trật tự, sinh hoạt nề nếp, đi học đúng giờ, tôntrọng luật giao thông…Có thể nói, văn hóa tổ chức là yếu tố cơ bản trong vănhóa học đường, nó hiện diện trong khắp các hoạt động của nhà trường [Bài phátbiểu tại hội thảo khoa học toàn quốc “Tâm lý học và vấn đề cải thiện môi trườnggiáo dục hiện nay” tại Cần Thơ ngày 13-7-2013]
Cùng xuất phát từ góc độ tổ chức, Phạm Thị Hường đưa ra khái niệm vănhóa nhà trường (VHHĐ): “Văn hoá nhà trường là hệ thống niềm tin, giá trị,chuẩn mực, thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triển củanhà trường, được các thành viên trong nhà trường thừa nhận, làm theo và đượcthể hiện trong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó tạo nên bản sắc riêng chomỗi tổ chức sư phạm”
Trịnh Ngọc Toàn quan niệm văn hóa nhà trường (VHHĐ) là một tập hợpcác giá trị, niềm tin, hiểu biết, chuẩn mực cơ bản được các thành viên trong nhàtrường cùng chia sẻ và tạo nên bản sắc của nhà trường đó Căn cứ theo hình thứcbiểu hiện thì văn hóa nhà trường gồm phần nổi có thể nhìn thấy như: không giancảnh quan nhà trường, lôgô, khẩu hiệu, hành vi giao tiếp và phần chìm khôngquan sát trực tiếp được như: niềm tin, cảm xúc, thái độ
Trang 21Về góc độ tổ chức, văn hóa nhà trường được coi như một mẫu thức cơ bản,tạo ra một môi trường quản lý ổn định, giúp cho nhà trường thích nghi với môitrường bên ngoài, tạo ra sự hoà hợp môi trường bên trong Một tổ chức có nềnvăn hóa mạnh sẽ hội tụ được cái tốt, cái đẹp cho xã hội văn hóa nhà trường sẽgiúp cho nhà trường thực sự trở thành một trung tâm văn hóa giáo dục, là nơi hội
tụ sức mạnh của trí tuệ và lòng nhân ái trong xã hội, góp phần quan trọng tạo nênsản phẩm giáo dục toàn diện
Nhìn chung các tác giả, các nhà khoa học dù cách, góc độ tiếp cận khác
nhau nhưng đều thống nhất với nhau: thứ nhất, VHHĐ liên quan đến toàn bộ hoạt động vật chất, tinh thần của một nhà trường; thứ hai, VHHĐ biểu hiện trước
hết trong tầm nhìn, sứ mạng, triết lý giáo dục, mục tiêu, các giá trị, phong cáchlãnh đạo, quản lý bầu không khí tâm lý; thứ ba, nó thể hiện thành hệ thống cácchuẩn mực, các giá trị, niềm tin, quy tắc ứng xử được xem là tốt đẹp và đượcmỗi người trong nhà trường chấp nhận; thứ tư, VHHĐ có vai trò quan trọng gópphần nâng câo chất lượng đào tạo của nhà trường, góp phần tích cực trong quátrình hoàn thiện, phát triển nhân cách con người theo hướng Chân, Thiện, MỹNghiên cứu khái niệm VHHĐ còn có các quan niệm môi trường văn hóahọc đường, môi trường sư phạm
Hồ Sĩ Lộc trong “Xây dựng văn hóa học đường trong một số trường đạihọc ở Hà Nội hiện nay” (Đề tài cấp bộ 2011, mã số B.11-20) quan niệm: Môitrường văn hóa học đường đại học là tổng hòa các mối quan hệ (mang tính vănhóa) giữa các cá nhân (giảng viên, sinh viên, cán bộ, công nhân viên) và các tổchức thành viên (khoa, phòng, ban, viện, trung tâm, lớp học) trong nhà trườngtrên cả hai phương diện vật chất và tinh thần trong một thời gian xác định thuộcphạm vi không gian trường đại học đó nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo đượcnhững cá nhân có trình độ chuyên môn vững vàng, có đạo đức nghề nghiệp,khỏe mạnh về thể chất và phong phú về đời sống tinh thần đáp ứng nhu cầu ngàycàng cao của thị trường lao động và tham gia đóng góp vào sự nghiệp đổi mớiđất nước
Liên quan đến việc xây dựng văn hóa học đường, Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và đào tạo đã ra chỉ thị số 40/CT-BGD&ĐT về việc phát động phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực” trong các trường phổ thông
Trang 22giai đoạn 2008-2013 Bộ Giáo dục và Đào tạo có Kế hoạch số BGD&ĐT ngày 22/07/2008 nhằm triển khai chỉ thị nói trên Đây là nội dung vănhóa học đường trong các trường phổ thông, song nó là cơ sở quan trọng để tiếpcận nội dung VHHĐ trong hệ thống giáo dục nói chung và các trường đại họcnói riêng Nội dung cụ thể của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thânthiện - học sinh tích cực” gồm:
307/KH Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn
- Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh giúpcác em tự tin trong học tập
- Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh
- Tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh
- Học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch
sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương: Nhận chăm sóc và phát huy giá trị các ditích lịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương Thực hiện lồng ghép với các mônhọc để giáo dục truyền thống văn hoá dân tộc, tinh thần cách mạng một cách cóhiệu quả nhất cho tất cả học sinh
Như vậy, dù còn nhiều ý kiến khác nhau, dù bàn về các cấp độ và phạm vikhác nhau nhưng các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục đều thống nhất:mỗi trường học cần có VHHĐ của mình Văn hóa học đường là các hệ thốngchuẩn mực, giá trị giúp cán bộ quản lý nhà trường, thầy cô giáo, phụ huynh, họcsinh, sinh viên có cách thức suy nghĩ, tình cảm, hành động tốt đẹp
Các nhà khoa học không chỉ nghiên cứu về văn hóa học đường mà cònnghiên cứu về vai trò, thực trạng của văn hóa học đường, nhận thức rõ vai tròquan trọng của VHHĐ đối với sự phát triển của các trường đại học nói riêng,giáo dục đào tạo nói chung Có nhiều hội thảo khoa học, không ít các công trình
đề cập đến vai trò của VHHĐ dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng nhìn chungđều khẳng định vai trò của VHHĐ là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượnggiáo dục, thậm chí được coi là yếu tố quyết định chất lượng trong mục tiêu giáodục của nhà trường
Viện Nghiên cứu sư phạm trong đề tài cơ sở “Văn hóa học đường- yếu tốquan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục” [125] xem VHHĐ là yếu tố quantrọng để nâng cao chất lượng giáo dục
Trang 23Tác giả Trương Lưu trong tác phẩm “Văn hóa đạo đức và tiến bộ xã hội”,
[79] cho rằng: thông qua VHHĐ, sinh viên và thầy giáo nhận ra điểm mạnh vàđiểm yếu của chính mình từ đó định hướng và hoàn thiện nhân cách, kỹ năngcho phù hợp với yêu cầu của xã hội Phạm Minh Hạc và Hồ Sĩ Quý trong bài
viết “Nghiên cứu con người, đối tượng và những hướng chủ yếu”, Niên giám nghiên cứu số 1 (Nxb Khoa học xã hội, 2002) cũng cho rằng: xây dựng VHHĐ
tạo điều kiện để đưa tiêu chí chân, thiện, mỹ vào trong trường đại học
Kinh nghiệm Singapore là một nước có nền giáo dục được xem là toàndiện và phát triển nhất Đông Nam Á VHHĐ (văn hóa trường học) ởSingapore được chú trọng xây dựng Mỗi trường đều có logo, biểu tượng vàkhẩu hiệu hành động rõ ràng Các vấn đề về nghi thức, trang phục cũng đượcquan tâm Vấn đề hợp tác, xây dựng nhà trường thành tổ chức học tập là mộttrong những điểm cốt lõi trong định hình VHHĐ ở quốc gia này Bên cạnhtrang bị cho học sinh các kiến thức và kỹ năng cần thiết trong chương trìnhchính khoá, các trường học của Singapore cũng có rất nhiều hình thức tổ chứchoạt động ngoại khoá lành mạnh và bổ ích, qua đó xây dựng tinh thần đoàn kết,hợp tác, thân thiện giữa các học sinh
Sự thành công của hệ thống giáo dục Phần Lan được xây dựng trên ý tưởnghọc ít hiểu nhiều Các học sinh được học trong một không khí thoải mái và thân
mật Các trường học ở đây cởi mở, không chịu sự gò ép về chính trị Với sự kết hợp này, người Phần Lan tin rằng không có trẻ em nào bị bỏ lại phía sau
Từ những công trình khoa học đã phân tích dễ dàng nhận thấy có nhiều
cách tiếp cận VHHĐ nên có nhiều định nghĩa khác nhau Tùy theo mục đích, cácnhà nghiên cứu có thể nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác Có ý kiếnkhẳng định VHHĐ là tập hợp các chuẩn mực, giá trị và niềm tin, các lễ nghi vànghi thức, các biểu tượng và truyền thống tạo ra “vẻ bề ngoài” của trường học Ýkiến khác cho rằng: VHHĐ là một cấu trúc, một quá trình, là các giá trị và chuẩnmực dẫn dắt giảng viên và sinh viên đến việc giảng dạy và học tập có hiệu quả.Khuynh hướng thứ 3 tiếp cận VHHĐ đưa ra quan điểm về sự vận động, khẳngđịnh văn hóa nhà trường không phải là một thực thể tĩnh Nó luôn được hìnhthành và định hình thông qua các tương tác với người khác và thông qua nhữnghành động đáp lại trong cuộc sống nói chung Văn hoá học đường phát triển
Trang 24ngay khi các thành viên tương tác với nhau, thầy với thầy, trò với trò, nhà trườngvới xã hội, cá nhân với cộng đồng Nó trở thành chỉ dẫn cho hành vi giữa cácthành viên của nhà trường Theo đó, VHHĐ có các chức năng biểu tượng, chứcnăng xây dựng, chức năng hướng dẫn và chức năng gây cảm xúc Nếu các chứcnăng ấy của VHHĐ được làm tốt, mỗi thành viên trong các trường học sẽ vừathấm nhuần, gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống và những phẩm giá quý báucủa dân tộc: như tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tự lực, tự cường,đoàn kết vì đại nghĩa; tính trung thực, cần cù sáng tạo trong mọi hoạt động; sựhiếu học và tôn sư trọng đạo…vừa đầy đặn lòng nhân ái, tình cảm vị tha vàkhoan dung; tính trung thực, cần cù sáng tạo trong mọi hoạt động; có hành động
và thái độ rõ ràng đối với những hiện tượng phản văn hóa
Trong môi trường học đường, văn hóa được chia làm 2 nội dung là văn hóavật chất biểu hiện qua cơ sở vật chất nhà trường, khuôn viên trường và văn hóatinh thần như, tinh thần dân chủ, giao tiếp, ứng xử Như vậy, có thể hiểu VHHĐ
là toàn bộ yếu tố vật chất (giảng đường, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành,không gian, cảnh quan) đảm bảo tính thẩm mỹ, giáo dục, góp phần tạo nên môitrường và phương tiện giáo dục tốt nhất; nội quy, quy chế của nhà trường phùhợp với chuẩn mực văn hóa chung của xã hội, phù hợp với nội quy, quy định củamôi trường học đường đảm bảo cho các hoạt động trong trường học diễn ra lànhmạnh, đạt mục tiêu giáo dục là đào tạo những con người toàn diện, có đủ đức,trí, mỹ, thể, có tri thức và có hoài bão khát vọng vươn lên
Xây dựng VHHĐ và giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên là một công việc
vô cùng quan trọng góp phần tạo nên những thành công lớn trong sự nghiệp giáo
dục cho các trường đại học Một số nhà khoa học tuy có đề cập đến xây dựng
môi trường VHHĐ ở nhiều góc độ khác nhau nhưng nhìn chung đó là những vấn
đề mang tính tổng hợp và lý luận, chưa có nhiều công trình thực sự đi sâu vàonghiên cứu VHHĐ trong trường đại học Theo đó tiêu chí xây dựng VHHĐtrong trường đại học tuy có được gợi mở nhưng lại chưa được xem xét một cáchtoàn diện với tư cách là một đối tượng nghiên cứu của công trình khoa học
Trang 251.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục và giáo dục văn hóa học đường
Giáo dục với tư cách là một ngành khoa học không thể tách rời nhữngtruyền thống giáo dục từng tồn tại trước đó Trong xã hội, người đi trước, người
có kiến thức, kỹ năng giáo dục thế hệ tiếp theo, người chưa biết những kiến thức
và kỹ năng cần thiết Mức độ sâu sắc và quảng bác của hiểu biết con người được
bảo tồn và trao truyền ngày càng gia tăng Sự phát triển văn hóa và sự tiến hóacủa loài người, phụ thuộc vào lề lối trao truyền hiểu biết và kinh nghiệm… Khicác nền văn hóa lan tỏa rộng ra, việc trao truyền kỹ năng giao tiếp, đổi chác,kiếm ăn, thực hành tôn giáo,… theo phương thức kinh nghiệm giảm đi và việcgiáo dục có tổ chức, theo chương trình, có mục đích trở lên phổ biến Giáo dục làmột quá trình dạy và học nhằm chuẩn bị những kiến thức và kỹ năng cần thiếthoặc làm thay đổi hành vi có hại bằng hành vi có lợi Giáo dục cũng là quá trìnhgiao tiếp hai chiều qua đó người dạy và người học cùng chia sẻ hiểu biết, kinhnghiệm và cùng học tập lẫn nhau
Về môi trường giáo dục, theo “Từ điển giáo dục học” (Bùi Hiển, NguyễnVăn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo (2001), Nxb Từ điển bách khoa,
HN, tr 264) là “Tập hợp những không gian, những hoạt động xã hội và cá nhân,những phương tiện về giao lưu, những quá trình, phối hợp lại với nhau và tạođiều kiện thuận lợi để đạt những kết quả giáo dục có hiệu quả nhất” Liên quanđến khái niệm môi trường giáo dục còn có khái niệm môi trường nhà trường:
“Môi trường nhà trường, là tập hợp những con người, những cơ sở vật chất, kỹthuật và những phương tiện, thiết chế tổ chức quản lý, tương tác lẫn nhau mộtcách thường xuyên, nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho sự thành côngcủa việc học ở nhà trường” Môi trường nhà trường là nơi hoạt động giáo dục cóchủ đích, có kế hoạch của quốc gia, ảnh hưởng trực tiếp đến người học
Trong giáo trình Giáo dục học, tập 1 [91], các tác giả đã đưa ra những vấn
đề chung về giáo dục như: làm rõ các quan niệm vai trò của giáo dục trong việchình thành nhân cách con người theo lứa tuổi cũng như vai trò của giáo dục đốivới sự phát triền xã hội Kết quả của quá trình giáo dục gắn với quá trình hìnhthành, phát triển và hoàn thiện nhân cách của đối tượng theo mục đích của chủthể giáo dục và được xã hội chấp nhận
Trang 26Nhân cách là nội dung quan trọng của quá trình giáo dục đã được nhiều nhàkhoa học quan tâm như: Chủ nghĩa xã hội và nhân cách, của tập thể các nhà khoahọc Liên Xô (Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, 1983) Các tác giả đã nghiêncứu những vấn đề có liên quan đến sự hình thành và phát triển nhân cách trongđiều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản
Trong cuốn sách Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cách sinhviên, tác giả Hoàng Anh [2] đã làm rõ tầm quan trọng của hoạt động giáo dụcđối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách của sinh viên
Các giá trị văn hóa tinh thần là một trong những nhân tố tác động đến quátrình hình thành và phát triển nhân cách, đạo đức trong điều kiện kinh tế thịtrường hiện nay ở Việt Nam Vấn đề này được nhiều tác giả nghiên cứu:
- Hoàng Đức Nhuận, “Kết quả điều tra về vai trò của nhà trường trong việc hìnhthành và phát triển con người Việt Nam” (Đề tài KX-08, Hà Nội, 1995)
- Nguyễn Thế Kiệt, “Quan hệ giữa kinh tế và đạo đức trong việc địnhhướng các giá trị đạo đức hiện nay" (Tạp chí Triết học, số 6/1996);
- Hoàng Chí Bảo: "Văn hóa và sự phát triển nhân cách của thanh niên" (Tạpchí Nghiên cứu lý luận số 1/1997);
- Lê Thị Thủy, "Vai trò của đạo đức đối với sự hình thành nhân cách của conngười Việt Nam trong điều kiện đổi mới hiện nay" (Luận án tiến sĩ Triết học, Họcviện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000) với thông điệp giáo dục nghềnghiệp phải gắn liền với giáo dục văn hóa, đạo đức lối sống và phải được thể hiệnngay trong cấu trúc, chương trình đào tạo, trong từng môn học
- Trần Sĩ Phán, “Giáo dục đạo đức đối với việc hình thành và phát triểnnhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (Luận án tiến sĩ Triếthọc, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1999), v.v…
Các công trình kể trên đã đề cập nhiều đến việc giáo dục văn hóa nóichung, văn hóa dân tộc với các khía cạnh: quá trình hình thành và phát triển; vaitrò, tác dụng của nó trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trong côngcuộc xây dựng đất nước; những nội dung, khía cạnh cơ bản của văn hóa nóichung và văn hóa dân tộc; những biểu hiện văn hóa trong các lĩnh vực khác nhaucủa đời sống xã hội
Trang 27Nghiên cứu về văn hóa học đường và giáo dục VHHĐ là hướng đi của một
số công trình khoa học
Ở nước ngoài, từ lâu các học giả cũng tỏ ra quan tâm đến việc xây dựngchiến lược nhằm thúc đẩy công cuộc GDVHHĐ Trong cuốn sách Văn hoá họcđường là gì? (Deal, T & Peterson, K.(2009)) các tác giả đã bàn đến chiến lượcxây dựng văn hoá học đường (Mạng Google, 10-1-2009) Ở Mỹ, Úc, các trungtâm nghiên cứu đã tổ chức khảo sát thực tiễn, đã tiến hành đánh giá vai trò củaVHHĐ (văn hóa trường học) đối với sự phát triển của giáo dục Mặc dù tư liệukhông nhiều nhưng tất cả các tác giả đều nhất trí rằng mỗi trường cần có văn hoá học đường của mình; thực tiễn đã chứng minh tác dụng tích cực củavăn hoá học đường, chống lại văn hoá độc hại, tiêu cực; mục tiêu chung nhất củavăn hoá học đường là xây dựng trường học lành mạnh tạo điều kiện thuận lợicho đảm bảo chất lượng đào tạo cũng như danh tiếng của các trường
Xác định tầm quan trọng của GDVHHĐ và sự cần thiết phải xây dựngVHHĐ, các nhà khoa học đã nghiên cứu nội dung cơ bản của VHHĐ và thựctrạng giáo dục VHHĐ trong các trường đại học Việt Nam
- Trong chuyên khảo Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, do Nguyễn Viết Chức chủ biên [16], các tác giả cho rằng ở các trường đại
học, nội dung cơ bản của xây dựng VHHĐ là: giáo dục nếp sống văn hóa lànhmạnh cho sinh viên và xử lý đúng đắn các mối quan hệ giữa thầy với thầy, thầyvới trò, trò với trò, giữa thầy, trò với cán bộ công nhân viên
- Viện nghiên cứu Thanh niên, Trung tâm phát triển khoa học công nghệ tài
năng trẻ trong tập chuyên luận Thế hệ trẻ Việt Nam - Nghiên cứu lý luận và thực tiễn, [124] đã nhấn mạnh sự cần thiết phải nâng cấp, cải tạo cơ sở vật chất trong
trường đại học là để đáp ứng nhiệm vụ giáo dục và đào tạo đạt chất lượng cao
-Phạm Minh Hạc trong tác phẩm Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế
kỷ XXI [42] nhấn mạnh giáo dục nếp sống văn hóa cho sinh viên trong học tập,
sinh hoạt, văn hóa, tiêu dùng và trong ứng xử giữ vai trò quan trọng
“Văn hóa học đường đang bị xuống cấp” là nhận xét của đông đảo nhândân và các nhà khoa học Điều này được thể hiện trong các bài viết:
- “Báo động văn hoá học đường xuống cấp”, Báo Lao động, ngày13/12/2009;
Trang 28- Hồng Đức, “Thực trạng văn hoá học đường”, Bản tin ĐHQG Hà Nội – số
- Phạm Hồng Quang (2006), Môi trường giáo dục, Nxb Giáo dục;
- Viện Nghiên cứu sư phạm Trường Đại học sư phạm Hà Nội tổ chức Hộithảo khoa học (9-2007) chuyên đề: Xây dựng văn hoá học đường - Giải phápnâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường
Khía cạnh ứng xử trong VHHĐ là nội dung nhận được nhiều sự quan tâmcủa các nhà khoa học :
- Nguyễn Thanh Tuấn trong sách Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay (Nxb.
Từ điển bách khoa và Viện Văn hóa HN, 2008) [113] cho rằng khái niệm lốisống hay văn hóa lối sống tương đương với văn hóa ứng xử Lối sống là cáchứng xử của con người với môi trường sống, gồm môi trường tự nhiên và môitrường xã hội
- Nguyễn Tiến Thông trong chuyên luận Một số vấn đề giao tiếp [110] cho
rằng văn hóa ứng xử là tổng hòa những dạng hoạt động sống ổn định của conngười được vận hành theo một bảng giá trị xã hội nào đó trong sự thống nhất vớicác điều kiện một hình thái xã hội nhất định
- Mạc Văn Trang trong đề tài Nghiên cứu đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên - đề tài
nghiên cứu cấp Bộ, B94-38-32, Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, HN, 1995
đã nghiên cứu đặc điểm lối sống sinh viên Tác giả cho rằng, con đường để nắmbắt nội dung và phạm vi của văn hóa ứng xử là tìm hiểu các hành động xã hội vàcác khuôn mẫu ứng xử
- Quốc Việt trong bài viết “Văn hóa giao tiếp học đường: Thầy và trò chưa
là bạn của nhau” (Báo Thanh Niên ngày 15/08/2009) đã phân tích kỹ vị trí, vai
trò của văn hóa giao tiếp trong trường học Tác giả cho rằng trong quan hệ giaotiếp giữa thầy và trò cần phải bảo đảm chuẩn mực thầy ra thầy, trò ra trò, khôngnên xóa bỏ ranh giới giữa thầy và trò
Trang 29- Nguyễn Đức Minh trong Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng Hà Nội [85] cho rằng: Để nâng cao
chất lượng công tác sinh viên cần tập trung vào giáo dục thể chất, ý thức tronghọc tập, rèn luyện, quan hệ ứng xử với giảng viên, sinh viên, cán bộ công nhânviên phải đúng mực theo đúng giá trị đạo đức
- Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang trong Giá trị định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị (Chương trình khoa học, công nghệ
cấp Nhà nước KX-07-04, HN 1995) [122] đã đưa ra hàng loạt giá trị chuẩn mựcđạo đức trong nhà trường, coi đó là khuôn mẫu để áp dụng cho các trường đạihọc khi triển khai GDVHHĐ
- Phùng Hữu Phú trong Vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng môi trường văn hóa ở các trường đại học- cao đẳng Hà Nội [96] đề cao vai trò của
các tổ chức Đảng, đoàn trong trường đại học đối với việc xây dựng VHHĐ
- Nguyễn Phương Hồng trong chuyên khảo Thanh niên, sinh viên với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa , [65] đã đề cao trách nhiệm của sinh viên
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mục đích của việc xây dựngVHHĐ là để đào tạo ra những sinh viên có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độchuyên môn sâu rộng
Trong những năm qua, nhiều nổi cộm về VHHĐ l: liên tục diễn ra: không
có ý thức góp phần xây dựng, bảo vệ cơ sở vật chất, khuôn viên trường, phá hoạitài sản chung, lãng phí điện nước, thiếu tự tin, tự lập, ngại giao tiếp, thô lỗ, mấtlịch sự trong xưng hô, giao tiếp, ăn mặc phản cảm, sống đua đòi, ích kỉ, vô tâm,thiếu trách nhiệm với bản thân và gia đình Từ thực trạng đáng báo động này,các nhà khoa học đã nhận thức sâu sắc được vấn đề cần phải GDVHHĐ cho sinhviên bởi “Văn hóa học đường là văn hóa diễn ra trong trường học, thể hiện cácchuẩn mực đạo đức của xã hội, trong đó, quan hệ giữa thầy với thầy, giữa thầyvới trò, giữa trò với trò là quan hệ chủ đạo Xây dựng VHHĐ có ý nghĩa quyếtđịnh tới chất lượng giáo dục đào tạo và có ảnh hưởng rất lớn tới cộng đồng xãhội’’ Đây là khẳng định của các tác giả Nguyễn Minh Chung [15], NguyễnHồng Hà [40], trong công trình nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Sư phạm.[125]
Trang 30Nói chung, văn hóa học đường chưa được nhìn nhận đúng mức đáng có
trong các trường đại học, chưa có tiêu chí khảo sát, đánh giá và chưa được
nghiên cứu xứng tầm với vai trò của nó, công tác giáo dục văn hóa học đườngchưa thực sự được chú trọng
Hầu như chưa có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu và xâydựng, đánh giá kết quả giáo dục VHHĐ trong hệ thống các trường đại học ở
Hà Nội Có chăng chỉ là những bài báo mang tính tổng kết, đánh giá chung vềchính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống hoặc nêu ra những tệ nạn xã hội trongcác trường đại học với những giải pháp xử lý mang tính tổng quát chungchung Có thể bắt gặp nhiều bài viết đề tài này của các nhà quản lý giáo dục,các nhà sư phạm, nhà nghiên cứu, những người làm công tác đoàn thanh niên,
Hội sinh viên trên các báo, tạp chí dành cho thế hệ trẻ như Thanh niên, Tuổi trẻ, Tuổi trẻ Thủ đô, Tiền phong, Sinh viên Việt Nam, trong một số hội thảo chuyên đề của một trường đại học, các đề tài về nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới giáo dục đào tạo… và các báo tạp chí của ngành giáo dục như Giáo dục và Thời đại, Khuyến học và Dân trí, Tạp chí Giáo dục… cùng một số tập
san, nội san của các trường đại học trên địa bàn Hà Nội Có thể nói rằng, chođến nay ở nước ta chưa có nhà quản lý, nhà nghiên cứu văn hóa, giáo dục nào
đi sâu nghiên cứu, đánh thực trạng, kết quả GDVHHĐ cho sinh viên trong cáctrường đại học nói chung và các trường đại học ở Hà Nội nói riêng
1.2 Nghiên cứu về hiệu quả và hiệu quả giáo dục văn hoá họcđường
1.2.1 Nghiên cứu về hiệu quả và hiệu quả giáo dục
Theo các nhà ngôn ngữ học, khái niệm hiệu quả được hiểu là : kết quả nhưyêu cầu của việc làm mang lại Trong từ điển Le Petit Lasousse: “Hiệu quả là kếtquả đạt được trong việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định” [144, tr 57] Trongngôn ngữ Anh, effective (hiệu quả) được giải ngữ là saccessful in peodueing adesired ar intended xesult (thành công trong việc tạo ra một kết quả được mongđợi hoặc đạt mục đích) Trong khi đó các nhà quản lý hành chính lại cho rằng:Hiệu quả là mục tiêu chính của khoa học hành chính, là sự so sánh giữa các chiphí đầu tư với các giá trị đầu ra, sự tăng tối đa lợi nhuận và tối thiểu chi phí, là
Trang 31mối tương quan giữa sử dụng nguồn lực và tỷ lệ đầu ra đầu vào Như vậy, hiệuquả là một phạm trù so sánh giữa chi phí (các nguồn lực) và kết quả thu được.Vấn đề hiệu quả được quan tâm cả trong lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuấttinh thần Trong kinh tế học, hiệu quả là một khái niệm cơ bản và được phânđịnh khá rạch ròi với khái niệm kết quả và chất lượng Kết quả là toàn bộ sảnphẩm mà quá trình sản xuất tạo ra, bao gồm cả số lượng và chất lượng, trong đóchất lượng là những tính chất của sản phẩm mà có thể đem đến sự thoả mãn nhucầu của người sử dụng.
Các nhà khoa học Liên Xô dựa vào luận đề của V.I.Lênin về hiệu quả côngtác nói chung là “…có khả năng thu được kết quả nhiều nhất, vững chắc nhất
mà lại ít tốn sức nhất”[80, tr.79] để xây dựng khái niệm hiệu quả giáo dục “… là
sự tương quan giữa kết quả tác động tư tưởng đã đạt được so với những mục tiêuxây dựng giác ngộ cộng sản chủ nghĩa và phẩm hạnh cộng sản chủ nghĩa của conngười” [132, tr 299]
Nhiều nhà nghiên cứu phương Tây cũng quan tâm đến tiêu chí và phươngpháp đánh giá hiệu quả giáo dục Trong đó, tiêu chí đánh giá chủ yếu dựa vào sựhiểu biết, thái độ và hành vi của đối tượng Trong một công trình nghiên cứu về
lý thuyết tuyên truyền “Propaganda”, tác giả đã chỉ ra 4 phương pháp (measurethe effects of the propaganda) để đo hiệu quả tuyên truyền, bao gồm: nghiên cứuthực nghiệm có kiểm soát (controlled experiment), phân tích dữ liệu thống kê(content analysis), quan sát thực tiễn (practicipant observers) và phỏng vấn nhómnhắc lại (panel interview – repeated interview) [139]
Trong cuốn giáo trình Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp, tác giả Ngô Đình Giao cho rằng: Hiệu quả là một phạm trù phản ánh
chất lượng hoạt động sản xuất, kinh doanh và được xác định bởi tỷ số giữa kếtquả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó Hiệu quả kinh tế được biểu hiệnqua phạm trù hiệu quả kinh doanh [37, tr 408] Tác giả Nguyễn Văn Tạo, trong
bài viết “Nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường” đăng trên Tạp chí Thương mại [104, tr 25-27] cho rằng hiệu quả kinh
doanh không chỉ là sự so sánh giữa chi phí đầu vào và kết quả nhận được ở đầu
ra, mà là việc hoàn thành mục tiêu, nếu không đạt được mục tiêu, không thể có
Trang 32hiệu quả và để hoàn thành mục tiêu cần phải sử dụng nguồn lực một cách hợp lýnhất, không nhất thiết phải giảm nguồn lực nếu quy trình sản xuất đã hoàn thiện Nhiều nhà khoa học trong nước đã quan tâm nghiên cứu về tiêu chí đánhgiá hiệu quả công tác tư tưởng, công tác giáo dục theo các góc độ khác nhaunhưng đều đề cập đến sự thay đổi nhận thức và hành động ở đối tượng sau khi cótác động của giáo dục Trong tuyển tập “Một số vấn đề về công tác tư tưởng”,tác giả Đào Duy Tùng cho rằng: tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng
là ở nhận thức và hành động nhưng không phải mọi hành động tích cực của conngười đều là kết quả của giáo dục Ở bình diện xã hội đó là kết quả hình thànhđường lối chính trị, kinh tế và văn hóa tinh thần của xã hội ; mức độ quán triệt,truyền bá đường lối; mức độ chi phối của hệ tư tưởng, bầu không khí tâm lý xãhội lành mạnh; kết quả xây dựng con người mới XHCN Trong mỗi nhiệm vụchính trị cụ thể, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả là: nhận thức chính trị; nhiệt tìnhcách mạng, ý thức trách nhiệm; tri thức chuyên môn; hành động cụ thể và mức
độ chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi người Ngoài ra, còn có thể đánh giátiêu chuẩn cho từng bộ phận trong công tác tư tưởng [120, tr 133-153]
Trong cuốn Nghiệp vụ công tác tuyên giáo do Ban Tuyên giáo Trung ươngxuất bản năm 2008, các tác giả cho rằng: hiệu quả công tác tư tưởng được đánhgiá thông qua những chuyển biến về nhận thức, tư tưởng, thái độ của các giaicấp, tầng lớp và toàn xã hội, thể hiện ở kết quả kinh tế, chính trị, xã hội, phongtrào theo các mức độ: lâu dài, trước mắt, trực tiếp [5, tTr.15 ]
Bàn về hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tác giả Vũ Ngọc Amtrong cuốn “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ đảng viên
cơ sở” khẳng định đánh giá hiệu quả giáo dục chính trị tư tưởng là một vấn đềrất khó, phải cân nhắc, xem xét toàn diện Cần phân biệt kết quả và hiệu quả,mặc dù hiệu quả của công tác giáo dục chính trị tư tưởng trước hết là kết quả,phải lấy kết quả để tính hiệu quả, nhưng hiệu quả lại không đồng nhất với kếtquả Hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng biểu hiện ở trình độ nhậnthức, tính tự giác cách mạng, tinh thần hăng say, tận tụy trong hành động cáchmạng của cán bộ, đảng viên và quần chúng Trong đó, hành động và hành vi củamỗi người trong thực tế là thước đo, là tiêu chuẩn quyết định tính hiệu quả củacông tác giáo dục chính trị tư tưởng Khi đánh giá hiệu quả phải xem xét, căn cứ
Trang 33việc áp dụng đổi mới hình thức và phương pháp thực hiện sao cho có hiệu quả
mà lại giảm chi phí, phải tính toán đến tất cả những chi phí vật chất một cách tiếtkiệm nhất Hiệu quả tỷ lệ nghịch với các chi phí vật chất của hoạt động giáo dụcchính trị tư tưởng Nếu kết quả đạt được mà chi phí quá lớn, không thể nói làhiệu quả cao [ 1, tr.131-140] Theo Trần Thị Anh Đào, cơ sở đánh giá hiệu quả
là sự thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng sau khi được tác động
tư tưởng [33, tr.39] Tác giả Hà Học Hợi cho rằng, hiệu quả công tác tư tưởngđược đánh giá bằng cả sự cố gắng của chủ thể và những chuyển biến về nhậnthức, tư tưởng của đối tượng, thể hiện trong kết quả kinh tế, chính trị, xã hội vàcác phong trào hành động cách mạng của quần chúng nhân dân Tác giả đưa ra
ba tiêu chí đánh giá hiệu quả: mức độ tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận; mức
độ nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và quần chúng; sự chuyển biến củanhận thức thành phong trào quần chúng qua mức độ tích cực, tự giác, số lượngngười tham gia, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ [54, tr 27]
Có thể nói, công trình nghiên cứu tiêu biểu nhất về hiệu quả công tác tưtưởng, công tác giáo dục hiện nay là cuốn “Nguyên lý công tác tư tưởng”, tập 2
do Lương Khắc Hiếu chủ biên Đây là công trình nghiên cứu hệ thống và sâu sắc
về hiệu quả công tác tư tưởng và công tác giáo dục Tác giả đã đưa ra khái niệmhiệu quả công tác tư tưởng là: sự tương quan giữa kết quả đạt được do tác động
tư tưởng mang lại với mục đích của công tác tư tưởng được đặt ra và với chi phí
để đạt được kết quả đó trong một điều kiện xã hội nhất định Về phân loại, côngtác tư tưởng có hiệu quả chung (toàn xã hội) và hiệu quả cụ thể; hiệu quả lâu dài
và hiệu quả trước mắt; hiệu quả tinh thần và hiệu quả thực tiễn [47, tr 280-281].Ngoài đưa ra khái niệm hiệu quả tác giả Lương Khắc Hiếu còn đưa ra cáctiêu chí đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng bao gồm hai nhóm: tiêu chí tinhthần và tiêu chí thực tiễn Hai nhóm tiêu chí này được đánh giá ở bình diện toàn
xã hội và ở bình diện cụ thể (một nội dung, một nhiệm vụ, một hình thức, mộtphương tiện, một nhóm đối tượng) Ở bình diện xã hội, tiêu chí tinh thần là tínhkhoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quanđiểm của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; khả năng vận dụng sáng tạoChủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách vào thựctiễn cách mạng; mức độ truyền bá, thâm nhập, chiếm lĩnh của Chủ nghĩa Mác-
Trang 34Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật trong đời sốngtinh thần cá nhân và xã hội; trình độ, năng lực, phương pháp tư duy lý luận củacác nhóm đối tượng và của toàn xã hội Tiêu chí thực tiễn bao gồm: tính tích cựclao động - sản xuất, tính tích cực hoạt động chính trị - xã hội, tham gia vào sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc; quy mô tính chất các phong trào hành độngcách mạng của quần chúng Ở bình diện cá nhân, tiêu chí tinh thần là nhận thức
và niềm tin, tiêu chí thực tiễn là tính tích cực hành động của con người Cũngđồng tình với quan điểm nêu trên, trong cuốn “Công tác tư tưởng trong sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, tác giả Trần Thị Anh Đào cho rằng: hiệuquả công tác tư tưởng là sự tương quan giữa kết quả mà công tác tư tưởng đạtđược so với mục đích của công tác tư tưởng được xác định từ trước trong mộtđiều kiện xã hội nhất định và với một chi phí nhất định [33, tr.38] Hiệu quả tỷ
lệ nghịch với mục đích và chi phí nhưng nếu không chi phí gì hoặc xác định mụcđích quá thấp cũng không đạt được hiệu quả như mong muốn
Lương Ngọc Vĩnh trong luận án Tiến sĩ chuyên ngành công tác tư tưởngđưa ra định nghĩa về hiệu quả công tác giáo dục Chính trị tư tưởng : Là sự tươngquan giữa kết quả lĩnh hội tri thức chính trị, hình thành niềm tin chính trị và tínhtích cực chính trị - xã hội ở đối tượng sau tác động giáo dục của chủ thể với mụcđích đã xác định và sử dụng hợp lý các nguồn lực để đạt kết quả đó trong nhữngđiều kiện cụ thể [129, tr 52]
Qua một số khái niệm về hiệu quả, nhất là khái niệm được xây dựng dướigóc độ chuyên ngành công tác tư tưởng, đều xem hiệu quả vừa là mục tiêu, vừa
là thước đo đánh giá trình độ, năng lực của chủ thể, mức độ chuyển biến về nhậnthức, thái độ, hành vi của đối tượng và những chi phí cần thiết để đạt mục đích
đề ra Vì vậy, khi xem xét đánh giá một hoạt động (công tác, chương trình, lĩnhvực ) trong một thời kỳ, một giai đoạn đã qua hay xây dựng kế hoach, mục tiêu,nhiệm vụ cho một thời kỳ, một giai đoạn mới bao giờ người ta cũng phải căn cứvào hiệu quả của quá trình trước đó
Ngoài ra, các nhà khoa học còn chỉ ra 6 đặc điểm của việc đánh giá hiệuquả công tác tư tưởng và khẳng định hiệu quả công tác tư tưởng luôn nằm ở đốitượng và chỉ có thể đánh giá ở đối tượng Khi đánh giá hiệu quả công tác tưtưởng cần phải quán triệt quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể Để
Trang 35đánh giá hiệu quả cần xác định kết quả của quá trình tác động tư tưởng Muốnđánh giá kết quả có thể sử dụng các phương pháp định lượng như: phỏng vấn(câu hỏi đóng), bảng hỏi (câu hỏi đóng), điều tra, thống kê và các phương phápđịnh tính như: phỏng vấn (câu hỏi mở), bảng hỏi (câu hỏi mở), thảo luận nhóm,quan sát, phân tích nội dung
1.2.2 Nghiên cứu về hiệu quả giáo dục văn hóa học đường
Hiệu quả GDVHHĐ là nội dung chưa được nghiên cứu nhiều, cần đượcnghiên cứu một cách hệ thống, nghiêm túc Trong quá trình triển khai nội dungluận án, tác giả có thể không bao quát được toàn bộ tài liệu, nhưng có thể nóinhững tài liệu nghiên cứu về hiệu quả giáo dục văn hóa học đường rất ít Có thể
kể đến một vài hội thảo bàn về VHHĐ và ít nhiều đề cập đến HQGDVHHĐ nhưtrong tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên nghiên cứu Khoa học lần thứ 8 Đạihọc Đà Nẵng năm 2012 Trong số các tham luận khoa học, HQGDVHHĐ đượcnhắc đến nhưng chưa được nghiên cứu kỹ, nghiên cứu một cách hệ thống Ví dụtham luận Thực trạng và giải pháp nâng cao văn hóa học đường cho sinh viêntrường đại học Ngoại ngữ - đại học Đà Nẵng của nhóm tác giả Tăng Thị Hà Vân,Đinh Thúy Vy, Lớp 10CNA 04, Khoa tiếng Anh, Trường Đại học Ngoại ngữ -ĐHĐN Trên tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông của Học viện Báo chí vàTuyên truyền số tháng 3/2015 có bài viết: “Giải pháp nâng cao hiệu quả giáodục văn hóa học đường cho sinh viên hiện nay” của Trần Thị Tùng Lâm, trong
đó HQGDVHHĐ bước đầu được phân tích và nhận diện và đưa ra một số giảipháp mang tính định hướng cũng như cụ thể nhằm nâng cao HQGDVHHĐ chosinh viên
Trong trường đại học hiện nay, xây dựng và GDVHHĐ là mục tiêu phấnđấu lâu dài, là nền tảng để xây dựng và phát triển thương hiệu của mỗi trường.Mặt trái của kinh tế thị trường, tâm lý tiêu cực trong xã hội hiện nay… đang tácđộng mạnh mẽ đến môi trường giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng.Thực tế đó cũng đang là lực cản đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồnnhân lực và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở nước ta Chính vìthế, việc nghiên cứu thực trạng và đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả GDVHHĐ
Trang 36là việc làm cấp bách; đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp GDVHHĐ làmột vấn đề khá phức tạp, đòi hỏi nhiều tâm huyết, trí tuệ, thời gian và công sức.1.3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu
1.3.1 Những vấn đề đã được nghiên cứu
Xây dựng VHHĐ và GDVHHĐ và là một vấn đề phức tạp, khó vì liên quanđến quan niệm, tâm lý, thói quen của con người Vấn đề này được các nhà khoahọc, các nhà quản lý giáo dục, những người trực tiếp tiến hành giáo dục, xã hội
và gia đình trong và ngoài nước ít nhiều quan tâm Nhìn chung, các công trìnhchủ yếu trực tiếp hoặc gián tiếp nghiên cứu về hiệu quả giáo dục nói chung vàhiệu quả trong giáo dục các vấn đề cụ thể trong đó có GDVHHĐ đã thống nhấtđược một số vấn đề cơ bản, một số khía cạnh của vấn đề được nghiên cứu kỹ,
một số nội dung khác mới chỉ được đề cập mà chưa được giải quyết triệt để như:
- Các công trình nghiên cứu về văn hóa nói chung và văn hóa ngoại hiệntrong các lĩnh vực cụ thể về cơ bản đã làm rõ vị trí, vai trò, chức năng và nộidung của văn hóa đối với sự phát triển bền vững Đồng thời các công trình trêncũng đã chứng minh tầm quan trọng của việc kế thừa, phát huy những giá trị vănhóa truyền thống quý báu của dân tộc trong quá trình phát triển và hội nhập hiệnnay, với mục đích nâng cao nhận thức, hình thành niềm tin và cổ vũ hành động
xã hội tích cực phù hợp với yêu cầu của cộng đồng, sự tự giác của đối tượng
- Dù tiếp cận với tư cách là một hoạt động hay một mặt công tác của các tổchức, các nhà quản lý giáo dục, quản lý xã hội, VHHĐ cũng đã bước đầu đượcnhận diện và nghiên cứu Hoạt động GDVHHĐ có mục đích là hình thành phẩmchất, năng lực, thái độ, hành vi đúng đắn, có văn hóa phù hợp với cộng đồng xãhội, phù hợp với xu thế phát triển chung cho đối tượng
- Tuy cách diễn đạt có khác nhau nhưng đa số các tác giả đều thừa nhậnhiệu quả hoạt động giáo dục nói chung hay giáo dục từng lĩnh vực cụ thể nhưchính trị, văn hóa, đạo đức, lối sống cổ vũ hướng dẫn hành động phù hợp củađối tượng là sự tương quan giữa kết quả với mục đích và chi phí Đặc biệtHQGDVHHĐ đã được đề cập và gợi mở hướng nghiên cứu cho tác giả trongluận án
- Trong các công trình nghiên cứu, các nhà khoa học bước đầu đã đề racách phân loại, quan điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả công tác giáo dục
Trang 37tư tưởng nói chung và giáo dục từng vấn đề, nhiệm vụ nói riêng nhằm hay đổinhận thức, thái độ, hành vi ở đối tượng, đưa ra một số tiêu chí hoặc tiêu chuẩnđánh giá hiệu quả công tác giáo dục ở nhận thức thái độ, hành vi cho đối tượng.Đây không phải là nội dung nghiên cứu chính của luận án, nhưng kết quả nghiêncứu của các nhà khoa học cũng giúp tác giả luận án có được hướng đi đúng,khoa học khi triển khai nội dung đề tài nghiên cứu về HQGDVHHĐ cho sinhviên trong các trường đại học ở Hà Nội hiện nay.
Mặc dù chưa bàn trực tiếp đến hiệu quả GDVHHĐ nhưng kết quả nghiêncứu của các công trình nêu trên là cơ sở lý luận vững chắc để tác giả luận án tiếptục đi sâu nghiên cứu bản chất, giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm nâng caoHQGDVHHĐ cho sinh viên các trường đại học đào tạo các ngành kỹ thuật ở HàNội hiện nay Nhưng do tiếp cận ở các góc độ khác nhau và nghiên cứu về cácnội dung khác nhau nên kết quả nghiên cứu của các công trình, tài liệu nói trêncòn một số vấn đề chưa được làm rõ hoặc chưa thống nhất như sau:
Thứ nhất, do góc độ tiếp cận, mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứukhác nhau nên khái niệm VHHĐ với nội dung, cấu trúc ở mỗi tác giả, mỗi côngtrình lại có quan niệm khác nhau Nội dung, hình thức truyền bá, giáo dục chủyếu về văn hóa nói chung và xây dựng VHHĐ ở nhiều cấp học nói chung đãđược nghiên cứu, nhưng chưa đầy đủ, các nhà nghiên cứu chưa đưa ra được bộtiêu chí cho từng cấp học dẫn đến chưa gắn kết GDVHHĐ với các hoạt độngkhác của giáo dục, giáo dục tư tưởng - chính trị trong nhà trường Chưa có côngtrình nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về hiệu quả GDVHHĐ Tuythống nhất quan niệm hiệu quả là sự tương quan giữa kết quả với mục đích vàchi phí nhưng chưa đi sâu làm rõ các yếu tố cấu thành hiệu quả cũng như vị trí,vai trò, mối liên hệ giữa chúng Một số công trình đánh giá hiệu quả ở chủ thể
và đối tượng, có công trình chỉ đánh giá ở đối tượng, có công trình đánh giá cả ởnội dung, hình thức, phương pháp giáo dục tư tưởng, thái độ, kỹ năng
Thứ hai, hầu hết các công trình chưa khảo sát khía cạnh kinh tế của hoạtđộng giáo dục VHHĐ một cách đầy đủ, có hệ thống Đặc biệt, chưa bám sát kháiniệm hiệu quả là sự “so sánh”, “tương quan” giữa kết quả với mục đích và chiphí nên không chỉ ra được sự khác biệt giữa thực trạng hiệu quả, thực trạng chấtlượng hay kết quả của hoạt động giáo dục
Trang 38Thứ ba, các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục nói chung vàgiáo dục văn hóa học đường nói riêng chưa được xác định rõ, hoặc nếu có thìchưa thực sự là giải pháp riêng cho từng đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Thứ tư, các công trình nghiên cứu về giáo dục trong các trường đại họcthường tách thành hai mảng riêng biệt là giáo dục chuyên môn, kỹ năng và giáodục tư tưởng - chính trị trong đó GDVHHĐ chỉ được xem là một chuyên đề Đếnnay, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về GDVHHĐ cho sinh viêncác trường đại học nói chung và hiệu quả GDVHHĐ cho sinh viên các trườngđào tạo khối kỹ thuật ở Hà Nội hiện nay nói riêng
1.3.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa các kết quả đã nghiên cứu, với mục đích đã xác định,luận án tiếp tục nghiên cứu làm rõ các vấn đề sau:
- Hệ thống hoá, hoàn thiện khái niệm VHHĐ, GDVHHĐ, xác định rõ vaitrò của GDVHHĐ trong trường đại học, làm cơ sở để xây dựng khái niệm,tiêu chí đánh giá hiệu quả GDVHHĐ cho sinh viên trong các trường đại học ởViệt Nam
- Cụ thể hoá lý luận chung về HQGDVHHĐ vào một đối tượng cụ thể làsinh viên các trường đại học đào tạo các ngành kỹ thuật ở Hà Nội hiện nay Bổsung, phát triển lý luận về hiệu quả hoạt động giáo dục tư tưởng, giáo dục cáclĩnh vực khác của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, pháp luật, giao thông,giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc …; phân loại, các yếu tố tácđộng, tiêu chí và những vấn đề có tính nguyên tắc trong đánh giá hiệu quả giáodục ở từng lĩnh vực để làm rõ thêm nội hàm khái niệm HQGDVHHĐ
- Khảo sát, tổng kết thực tiễn GDVHHĐ và HQGDVHHĐ để khẳng định,làm sáng tỏ những vấn đề lý luận đã nghiên cứu Đề xuất khuyến nghị và giảipháp có tính cần thiết và tính khả thi để nâng cao HQGDVHHĐ cho sinh viên.Trong các vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giảipháp để nâng cao hiệu quả GDVHHĐ cho sinh viên các trường đại học đào tạocác ngành kỹ thuật ở Hà Nội hiện nay có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình thực
hiện mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đặc biệt là giáo dục đại học
Trang 39Tiểu kết chương 1Trong chương 1, luận án tập trung vào tổng lược và đánh giá nội dung cáccông trình khoa học có liên quan đến đề tài Quá trình thu thập tổng hợp, nghiêncứu, phân tích các tài liệu đã tham khảo cho thấy hầu như các công trình, tài liệuđều tập trung vào nghiên cứu những vấn đề văn hóa, VHHĐ, nội dung, cấu trúcvai trò của VHHĐ đối với sự phát triển của nhà trường, sự cần thiết phải xâydựng và thực hiện VHHĐ, quan niệm về hiệu quả và các tiêu chí đánh giá hiệuquả trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Nội dung, cấu trúc và vai trò củaVHHĐ trong trường đại học được đề cập và phân tích dưới nhiều góc độ khácnhau cho thấy mối quan tâm của các nhà khoa học về những nội dung này Đây
là cơ sở quan trọng để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về VHHĐ và giáo dụcVHHĐ cho sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội
Quá trình thu thập tổng hợp, nghiên cứu, phân tích các tài liệu đã thamkhảo cho thấy hầu như các công trình, tài liệu đều tập trung vào nghiên cứunhững vấn đề văn hóa, VHHĐ, vai trò của VHHĐ đối với sự phát triển của nhàtrường VHHĐ có vai trò quan trọng trong việc củng cố và xây dựng nhữngphẩm chất tốt đẹp cho sinh viên, qua đó góp phần xây dựng một môi trường giáodục lành mạnh và đạt hiệu quả cao Có rất ít công trình nghiên cứu bàn về vấn đềgiáo dục văn hóa học đường cho sinh viên trong trường đại học, thực trạng vàgiải pháp Song chưa có công trình nào tổng kết đánh giá về hiệu quả giáo dụcVHHĐ cho sinh viên Vì vậy, đánh giá HQGDVHHĐ cho sinh viên các trườngđại học ở Hà Nội hiện nay là một đề tài mới, có ý nghĩa khoa học cả về lý luận
và thực tiễn
Với việc chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, có thể khẳng định, đềtài luận án đã xác định được một hướng đi riêng, không trùng lặp với các côngtrình khoa học đã nghiên cứu trước đây Luận án sẽ phải xây dựng khung lýthuyết với các nội dung: khái niệm hiệu quả và hiệu quả GDVHHĐ, tiêu chíđánh giá hiệu quả GDVHHĐ, thực trạng hiệu quả GDVHHĐ trong các trườngđại học đào các ngành kỹ thuật ở Hà Nội Kết quả của thực trạng sẽ giúp luận ánxác định những vấn đề cần giải quyết và là cơ sở khoa học để luận giải, đề xuấtcác giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục văn hoá học đường trong các trườngđại học ở Hà Nội hiện nay
Trang 40Chương 2
HIỆU QUẢ GIÁO DỤC VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG
CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
2.1 Văn hóa học đường và giáo dục văn hóa học đường cho sinhviên
2.1.1 Văn hóa học đường và nội dung văn hoá học đường
Văn hoá học đường là một loại hình văn hoá được hiểu theo nghĩa hẹp,cũng như khi ta nói đến văn hoá đạo đức, văn hoá chính trị, văn hoá nghệ thuật,văn hoá ngoại giao, văn hoá kinh tế Văn hóa học đường là một thuật ngữ khoahọc còn mới mẻ nhưng lại đang là một vấn đề thực tiễn có tính cấp thiết, nhậnđược sự quan tâm của xã hội, của những nhà quản lý giáo dục
Văn hoá học đường có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống vănhóa xã hội, trong hoạt động giáo dục nhà trường bởi vì nó tham gia trực tiếp vàoquá trình hoàn thiện nhân cách sinh viên, là nhân tố quan trọng góp phần thựchiện sứ mạng, mục tiêu đào tạo và thương hiệu của các trường đại học Quá trìnhCNH, HĐH đất nước trong điều kiện Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vàothế giới như hiện nay đòi hỏi chất lượng nguồn lực lao động ngày càng cao hơntrước, do đó GDVHHĐ trong các trường đại học trở thành một trong những vấn
đề thời sự được xã hội quan tâm Văn hoá học đường là sản phẩm văn hóa tinhthần của xã hội, của tập thể người trong mỗi trường học và được biểu hiện thôngqua nhận thức, thái độ, hành vi ứng xử văn hóa của cá nhân, tổ chức bộ máy hoạtđộng của nhà trường Tổng hợp các quan niệm, các khái niệm của các nhà khoahọc, nhà nghiên cứu trước đó ở mục 1.1.1 có thể đưa ra khái niệm: Văn hóa họcđường là hệ thống những giá trị, những chuẩn mực vật chất và tinh thần được tíchlũy qua quá trình phát triển của nhà trường Những giá trị đó tác động trực tiếp đếnnhận thức, thái độ, hành vi của các thành viên nhằm tạo nên môi trường văn hóachuẩn mực, phù hợp với mục đích giáo dục và tạo nên bản sắc riêng cho mỗi tổchức sư phạm
Văn hoá học đường liên quan đến toàn bộ đời sống vật chất, tinh thầncủa một nhà trường Nó biểu hiện trước hết trong sứ mạng, triết lý, chiến