TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT Xác nhận của Cán bộ hướng dẫn về đề tài: “MỘT SỐ ĐẶC TÍNH HÓA HỌC VÀ CẢI TẠO ĐẤT PHÈN TRỒNG K
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Cần Thơ, 2009
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
Xác nhận của Cán bộ hướng dẫn về đề tài:
“MỘT SỐ ĐẶC TÍNH HÓA HỌC VÀ CẢI TẠO ĐẤT PHÈN TRỒNG KHÓM Ở XÃ VĨNH PHƯỚC A VÀ VĨNH THẮNG – GÒ QUAO –
KIÊN GIANG”
Do sinh viên Phạm Thị Mỹ Hạnh MSSV 3077448 lớp Khoa Học Đất 33 thuộc
Bộ Môn Khoa Học Đất - Khoa Nông Nghiệp & Sinh học Ứng Dụng-Trường Đại Học Cần Thơ
Ý kiến của Cán bộ hướng dẫn:
C ần Thơ, ngày…tháng…năm…2010
Cán bộ hướng dẫn
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
Xác nhận của Bộ môn Khoa Học Đất về đề tài:
“MỘT SỐ ĐẶC TÍNH HÓA HỌC VÀ CẢI TẠO ĐẤT PHÈN TRỒNG KHÓM Ở XÃ VĨNH PHƯỚC A VÀ VĨNH THẮNG – GÒ QUAO –
KIÊN GIANG”
Do sinh viên Phạm Thị Mỹ Hạnh lớp Khoa Học Đất 33 thuộc Bộ Môn Khoa Học Đất - Khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng Dụng-Trường Đại Học Cần Thơ
Xác nhận của Bộ môn:
Đánh giá:
C ần Thơ, ngày…tháng…năm…2010
Bộ Môn
Trang 5TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
Hội đồng báo cáo luận văn tốt nghiệp chứng nhận báo cáo tốt nghiệp với đề tài:
“MỘT SỐ ĐẶC TÍNH HÓA HỌC VÀ CẢI TẠO ĐẤT PHÈN
TRỒNG KHÓM Ở XÃ VĨNH PHƯỚC A VÀ VĨNH THẮNG – GÒ QUAO –
KIÊN GIANG”
Do sinh viên Phạm Thị Mỹ Hạnh lớp Khoa Học Đất 33 thuộc Bộ Môn
Khoa Học Đất - Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại Học
Cần Thơ
Bài báo cáo đã được hội đồng đánh giá mức
Ý kiến hội đồng:
C ần Thơ, ngày…tháng…năm…2010
Hội Đồng
Trang 6Từ 2000 – 2004: học trường PT Dân Tộc Nội Trú Trà vinh
Từ 2004 – 2007: là sinh viên trường Khoa Học Tự Nhiên
Từ 2007 – 2011: là sinh viên trường Đại Học Cần Thơ, khoa Nông Nghiệp&SHƯD, nghành Khoa Học Đất
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn
Phạm Thị Mỹ Hạnh
Trang 8LỜI CẢM TẠ
Qua thời gian 4 năm học tập, rèn luyện Luận văn tốt nghiệp của em đến
nay đã hoàn thành Để đạt được kết quả như hôm nay, tất cả là nhờ vào công ơn của quý thầy cô trường Đại Học Cần Thơ, đặc biệt là quý thầy cô Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Bộ Môn Khoa Học Đất, đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tại trường Đại Học Đây sẽ là những vốn sống vô cùng quan trọng, là hành trang tri thức giúp em vững bước trong quá trình công tác về sau
Tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:
Thầy Võ Quang Minh đã tận tình hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý giá và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành bài luận văn
Qúi thầy cô và các anh, chị trong Phòng thí nghiệm Bộ môn Khoa Học Đất
đã nhiệt tình giúp đỡ tôi rất nhiều để hoàn thành luận văn
Cô Châu Thị Anh Thy, thầy Trần Bá Linh cố vấn học tập đã quan tâm, động viên và giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian học tập
Toàn thể quý thầy cô trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình dìu dắt, truyền đạt kiến thức quý báu cho chúng tôi trong suốt thời gian theo học tại trường
Cảm ơn Cha, Mẹ luôn quan tâm, động viên, hỗ trợ rất nhiều trong suốt thời gian học tập
Các bạn lớp Khoa Học Đất 33 đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Xin chúc tất cả quý Thầy, Cô, Anh, Chị trong Bộ môn Khoa Học Đất và các bạn luôn thành công trong cuộc sống
Phạm Thị Mỹ Hạnh
Trang 9MỤC LỤC
trang
Trang phụ bìa
1.1 Các định nghĩa và phân loại độ phì nhiêu đất 2
Trang 101.3.4 Nh ững vần đề của đất phèn cần giải quyết để khai
thác và s ử dụng
11
1.3.5 Các bi ện pháp khắc phục độc chất trên đất phèn 11
3.2 So sánh các chỉ tiêu nông họcở Vĩnh Phước A 49
3.3.2 Bi ện pháp cải tạo đất phèn bằng chất hữu cơ 61
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
3 Đánh giá hàm lượng chất hữu cơ trong đất theo phương
pháp Walkley – Back
4
24 Số liệu so sánh giữa 4 lần đo trong cùng nghiệm thức
của chiều dài
Trang 125 Đồ thị và phương trình tương quang giữa KOH và pH
10 Đồ thị % chất hữu cơ của các tầng nghiên cứu ở Vĩnh Phước A 33
11 Đồ thị % chất hữu cơ của các tầng nghiên cứu ở Vĩnh Thắng 33
14 Đồ thị Al trao đồi (meq/100g đất )của các tầng nghiên cứu ở
18 Đồ Thị Fe2O3 (%) của các tầng nghiên cứu ở Vĩnh Phước A 38
19 Đồ Thị Fe2O3 (%) của các tầng nghiên cứu ở Vĩnh Thắng 39
20 Đồ thị N tổng (%) của các tầng nghiên cứu ở Vĩnh Phước A 40
21 Đồ thị N tổng (%) của các tầng nghiên cứu ở Vĩnh Thắng 40
24 Đồ thị PBray (ppm) của các tầng nghiên cứu ở Vĩnh Phước A 43
26 Đồ thị Ca (cmol/kg) của các tầng nghiên cứu ở Vĩnh Phước
A
44
27 Đồ thị Ca (cmol/kg) của các tầng nghiên cứu ở Vĩnh Thắng 45
28 Đồ thị Mg (cmol(+)/kg) của các tầng nghiên cứu ở Vĩnh Phước
29 Đồ thị Mg (cmol(+)/kg) của các tầng nghiên cứu ở Vĩnh Thắng 46
30 Đồ thị K trao đổi (cmol/kg) của các tầng nghiên cứu ở Vĩnh
Trang 13Hình Tựa hình Trang
32 Đồ thị Na (cmol(+)/kg) của các tầng nghiên cứu ở Vĩnh Phước A 48
33 Đồ thị Na (cmol(+)/kg) của các tầng nghiên cứu ở Vĩnh Thắng 48
34 Đồ thị CEC (meq/100g) của các tầng nghiên cứu ở Vĩnh Phước
35 Đồ thị CEC (meq/100g) của các tầng nghiên cứu ở Vĩnh Thắng 50
37 Đồ thị so sánh sự khác biệt giữa 4 lần đo(mức ý nghĩa 5%) 53
38 Đồ thị so sánh số lá các lần đo của các nghiệm thức (mức ý
47 Đồ thị biểu diễn sự tương quan giữa pH tươi và thể tích Ca(OH)2 60
48 Đồ thị biễu diễn sự tương quan giữa thể tích Ca(OH)2 và số hạt
55 Đồ thị biễu diễn sự tương quan số hạt nảy mầm và dung dịch
56 Đồ thị biểu diễn sự tương quan giữa pH tươi và dung dịch chất
Trang 14
TÓM LƯỢC
Hi ện nay, việc cải tạo và sử dụng đất phèn đang là một xu hướng trong việc tối ưu hoá ngu ồn tài nguyên đất đai Đề tài nghiên cứu “Đánh giá độ phì hóa học và một số biện pháp cải tạo trên đất phèn trồng khóm ở xã Vĩnh Phước A – Gò Quao – Kiên Giang” được thực hiện nhằm tìm ra nguyên nhân suy giảm độ phì vật lý đất và đưa ra một số giải pháp khuyến cáo trong việc cải tạo đất phèn việc canh tác có hiệu quả hơn
Tính ch ất hóa học rất quan trọng đối với việc đánh giá độ phì của đất Tuy nhiên đối với đất phèn và phèn nhiễm mặn như ở Gò Quao - Kiên Giang còn có ý nghĩa quang
tr ọng trong việc cải tạo và năng cao năng xuất của khóm Góp phần cải thiện cuộc sống
c ủa người dân Quá trình thí nghiệm: trồng khóm và lấy mẫu phân tích sau đó Địa điểm thí nghi ệm tại 2 xã Vĩnh Thắng và Vĩnh Phước A Thời gian thí nghiệm 01/07/2010 đến ngày 01/12/2010
K ết quả phân tích :
+ Đất ở Vĩnh Phước A, Vĩnh Thắng có pH thấp
+V ề EC: Ở Vĩnh Phước A, Vĩnh Thắng có EC cao
+ Al, Fe trao đổi, axit tổng: thì ở Vĩnh thắng đều cao hơn Vĩnh Phước A
+ Dinh D ưỡng:
- Ch ất hữu cơ cả 2 xã được đánh giá từ trung bình đến khá
- CEC: C ả 2 xã đều được đánh giá là trung bình
- N t ổng số: Vĩnh Thắng được đánh giá là thấp - trung bình Vĩnh Phước A là trung bình
- Lân t ổng số, lân bray: Vì đất ở 2 xã có pH thấp, Al, Fe nên rất thấp
+ Các cation trao đổi:
- Kali: ở mức trung bình
- Ca: Hàm L ượng Ca ở Vĩnh Thắng và Vĩnh phước A cũng đánh giá là thấp
- Mg: V ĩnh Phước A, Vĩnh Thắng có mg trung bình
- Na: V ĩnh Phước A, Vĩnh Thắng có Na trung bình
Nhìn chung thì ở Vĩnh phước A có độ phì nhiêu màu mở hơn so với Vĩnh Thắng Về sự sinh tr ưởng dựa vào bảng thích nghi sinh thái của khóm sẽ thích hợp trồng trên đất ở
V ĩnh Phước hơn so với Vĩnh thắng
Trang 15ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) nói chung và ở huyện Gò Quao nói riêng có nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp (năm 2005 sản xuất nông nghiệp chiếm 55,26% tổng giá trị sản xuất trong huyện) Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế của huyện đã có sự chuyển dịch theo chiều hướng tích cực tăng tỷ trọng các ngành tiểu thủ công nghiệp - xây dựng và dịch vụ - thương mại, giảm dần tỷ trọng của nghành trồng trọt Song tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch còn chậm, không ổn định Khả năng tích lũy nền kinh tế của huyện thấp so với các huyện khác trong tỉnh Vì vậy, để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ổn định trong những năm tới, huyện cần phải tăng cường sự chuyển dịch nền kinh tế theo hướng các nghành phi nông nghiệp, tạo ra những sản phẩm đặc trưng và có chất lượng để cạnh tranh trên thị trường
Từ lâu, cây khóm được coi là cây trồng chủ lực của vùng nhờ vào các yếu tố: dễ trồng, năng suất ổn định cao, phù hợp với thổ nhưỡng vùng đất nhiễm phèn và hiệu quả kinh
tế khá cao
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế hiện nay trên địa bàn tỉnh, công tác điều tra phát triển cho cây khóm trở nên cần thiết nhằm có các biện pháp đầu tư cải tạo và trồng mới kịp thời, nâng cao hiệu quả kinh tế vườn cây hiện có để xây dựng và hình thành vùng chuyên canh hàng hóa làm nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu, đặt nền tảng cho việc hoạch định chiến lược cho chương trình phát triển kinh tế vườn trên địa bàn tỉnh trong tương lai
Tuy nhiên nhóm đất phèn hay nhóm đất phù sa phèn, tên theo phân loại của FAO là
Thionic Fluvisols là tên gọi dùng để chỉ nhóm đất có chứa các vật liệu mà kết quả của các tiến trình sinh hoá xảy ra khi axít sulfuric được tạo thành hoặc sẽ sinh ra với một
số lượng có ảnh hưởng lâu dài đến những đặc tính chủ yếu của đất Đất phèn gây trở ngại rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp Việc cải tạo đất phèn phải đi đôi với sử dụng hợp lí Một trong những việc sử dụng hợp lí là trồng khóm trên đất phèn Một số yếu tố bất lợi về tính chất hóa học của đất phèn làm cho năng xuất của khóm không được cao đời sống của người dân chưa được ổn định khi canh tác khóm như ở huyện
Gò Quao, tỉnh Kiên Giang
Vì vậy, đề tài “Đánh giá độ phì hóa học của vùng đất phèn trồng khóm ở huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang” nhằm:
- Đánh giá các chỉ tiêu hóa học trên đất phèn trồng khóm
- Đánh giá và theo dõi sự phát triển của cây khóm trong thời gian 4 tháng
- Đưa ra những giải pháp khắc phục khó khăn trên vùng khảo sát và đưa ra một
số khuyến cáo cho người dân
Trang 16Chương 1 – LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Các định nghĩa và phân loại độ phì nhiêu đất
1.1.1 Khái ni ệm độ phì nhiêu đất
Độ phì nhiêu của đất có thể được định nghĩa như sau: Độ phì nhiêu là khả năng của đất có thể thỏa mãn các nhu cầu của cây về các nguyên tố dinh dưỡng, nước đảm bảo cho hệ thống rễ của chúng lượng đầy đủ không khí, nhiệt và môi trường lý hóa học
thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển bình thường
Độ phì nhiêu đất là khả năng của đất giúp cây trồng sinh trưởng và phát triển qua cung cấp nước và dinh dưỡng
Độ phì nhiêu đất là cơ sở của tiềm năng sản xuất, là yếu tố quyết định năng suất cây trồng (Petecbuagsky, 1957)
Theo V.R william (1990) độ phì nhiêu là một tính chất cơ bản, dấu hiệu của chất lượng đất không phụ thuộc vào biểu hiện số lượng
Theo A.V Petecbuagky (1957) cho rằng đất khác đá mẹ căn bản là ở độ phì nhiêu Độ phì nhiêu của đất hiểu một cách vắn tắt là khả năng của đất cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng
Thuật ngữ độ phì nhiêu chỉ ra khả năng vốn có của đất cung cấp dinh dưỡng đầy đủ
và tỉ lệ thích hợp
Chất hữu cơ và độ ẩm là hai yếu tố quan trọng hàng đầu giữ vai trò điều tiết độ phì nhiêu thực tế của đất (Trần Quang Khải, 1997)
Độ phì nhiêu của đất là khả năng của cây trồng về các chất dinh dưỡng với số lượng
và dạng thích hợp để cây có thể sinh trưởng, pháp triển và tạo ra sinh khối lớn nhất (Ngô Ngọc Hưng và ctv, 2004)
1.1.2 Các lo ại độ phì nhiêu đất
Theo Nguyễn Khoa Điềm (2002), thì đô phì nhiêu đất gồm các loại sau:
Độ phì tự nhiên: xuất hiện trong quá trình hình thành đất dưới tác động của đá mẹ, khí hậu, sinh vật, các chất dinh dưỡng trong đất tác dụng trực tiếp với cây trồng
Độ phì tiềm tàng: đô phì tự nhiên mà cây trồng chưa sử dụng được
Độ phì nhân tạo: tác động của con người làm thay đổi độ phì tự nhiên của đất (thường
là tính chất xấu của đất) và tạo ra độ phì mới
Độ phì kinh tế: tính bằng năng suất lao động
Độ phì hiệu lực: sử dụng khoa học kỉ thuật chuyển từ độ phì tiềm tàng sang độ phì tự nhiên tính bằng năng suất cây trồng
Trang 171.2 Các chỉ tiêu hóa học
1.2.1 pH H20 (1:2,5)
Theo Ngô Ngọc Hưng và ctv (2004), pH đất là chỉ tiêu đánh giá đất quan trọng, vì
nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vi sinh vật đất, vận tốc phản ứng hóa học và sinh hóa trong đất Độ hữu dụng của dưỡng chất trong đất, hiệu quả của phân bón cũng phụ thuộc rất nhiều vào độ chua của đất
Bảng 1: Phân chia đất theo cấp độ chua
Theo Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv (2005), nếu trong dung dịch đất tồn tại nhiều muối axit mạnh và bazơ mạnh sẽ làm đất có phản ứng trung tính (pH trong khoảng từ 6,0 -7,0) Nếu trong đất tồn tại nhiều muối axit mạnh và muối bazơ yếu thì đất phản ứng chua (pH<6,0)
Bảng 2: Thang đánh giá độ chua pH KCL
Trang 18Chất hữu cơ của đất được đinh nghĩa là dư thừa thực vật, động vật và vi sinh vật hiện diện trong đất tất cả các trạng thái phân hủy Chất hữu cơ của đất bao gồm các nguyên
tố chính là C, H, O, N, S, P và một lượng rất thấp các nguyên tố vi lượng
Vì vậy, chất hữu cơ được xem là yếu tố quan trọng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, là yếu tố làm tăng lượng và chất của CEC, tăng kết cấu đất, cải thiện tính chất vật lý và khả năng giữ ẩm của đất
Bảng 3: Đánh giá hàm lượng chất hữu cơ trong đất theo phương pháp Walkley – Back
Hàm lượng đạm trong đất còn tùy thuộc vào hàm lượng chất hữu cơ, đất giàu mùn thì nhiều đạm 80% đạm tổng số trong đất ở dạng hợp chất hữu cơ nhờ khoáng hóa và tác động của vi sinh vật chuyển thành NH4+ cây mới hút được (Broadbent, 1978)
Ở ĐBSCL đất phèn có hàm lượng đạm tổng số cao nhất, thường >0,20% Đất phù sa
có hàm lượng đạm từ trung bình đến khá Đạm là yếu tố giới hạn năng suất chủ yếu trên đa số các loại đất và cây trồng ở ĐBSCL
Trang 19Bảng 4: Thang đánh giá đất theo hàm lượng Đạm tổng số
N và Kali Trong đất lân có khuynh hướng phản ứng với các thành phần trong đất tạo
ra các hợp chất không hòa tan, chậm hữu dụng cho cây trồng Nguyên tố lân trong tự nhiên kết hợp với oxy để cho ra P2O5 kếthợp với nước để cho ra acid orthophosphoric Đơn vị tính của lân trong đất là % P2O5 hoặc % P
Bảng 5: Thang đánh giá theo hàm lượng Lân tổng số
<0,06 Nghèo 0,06-0,10 Trung bình
>0,10 Giàu
(Ngu ồn: Nguyễn Xuân Cự và ctv, 2000)
Đối với đất lân là một chỉ tiêu của độ phì nhiêu đất “ Đất giàu lân mới có độ màu mỡ cao và ngược lại đất có độ màu mỡ cao điều giàu lân” (E detrunk,1931)
Bảng 6: Đánh giá Lân theo phương pháp Bray
Trang 201.2.6 Hàm l ượng Al 3+ trao đổi
Bảng 7: Thang đánh giá Al 3+ trao đổi
Al 3+ trao đổi(meq /100g đất ) Đánh giá
Hàm Lượng Kali Trao đổi trong đất
Bảng 8 : Thang đánh giá K trao đổi
K trao đổi meq/100g Đánh giá
Trang 21Trong đất phèn Calcium không bị hạn chế hầu hết các dạng Ca tìm thấy nằm ở dạng trao đổi nghĩa là Calcium được bao bởi bề mặt sét và chất hữu cơ
Bảng 9 :Thang đánh giá Ca như sau:
<1000 <5 Thấp
1000-2000 5-10 Trung bình
>2000 >10 Cao
(Ngu ồn : E.S.Marx.J Hart & R.G Steven, 1999)
Đất ĐBSCL nhóm đất phèn có Ca2+, Mg2+ thuộc loại nghèo đến rất nghèo
1.2.9 Hàm l ượng Natri trong đất
Natri (Na) không là chất cần thiết cho cây và nó không cần thiết cho sự phát triển của cây trồng Nồng độ Natri cao thì gây hại cho đất và cây trồng
Nồng độ Natri (sodium) được đánh giá trên phần trăm bazơ trao đổi (ESP) ESP là phần trăm của Na trao đổi bị thay thế bởi Na
Trong đất ESP vượt quá 10% là vấn đề quan tâm và có thể xảy đến trong tự nhiên là kết quả của việc tưới với nồng độ Na trong nước cao, việc phục hồi đất thì phức tạp, bón Gypsum được áp dụng và rửa với nước có nồng độ Na thấp (E S Marx J.Hart &
R G Steven, 1999)
Theo E S Steban Herrare (1999), trong đất có Na trao đổi xuất hiện 20% là đất Na cao (đất sodic) và có thể được phục hồi nếu Na được thay thế bởi các nguyên tố khác thường là Ca Bón Gymsum và Acid sulfuric thì tốt cho việc phục hồi đất có nồng độ
Trang 221 2.10 Hàm l ượng Magiê trong đất
Trong đất, cây trồng hấp thu Magie (Mg) dưới dạng Mg2+
Trang 23Bảng 13 Thang đánh giá EC trong đất
EC (mS/cm) Đánh giá
1,21– 1,60 Năng suất phần lớn cây trồng bị hạn chế
(Ngu ồn : Westrn Agricultural Laboratories, 2002)
1 2.13 CEC (kh ả năng hấp phụ cation)
Dung tích hấp phụ cation hay còn gọi là khả năng trao đổi cation của đất càng cao chứng tỏ đất có khả năng giữ và trao đổi các dưỡng chất tốt Đất ĐBSCL thường chứa nhiều sét và ít hữu cơ nên dung tích hấp phụ thuộc loại trung bình đến khá (Ngô Ngọc Hưng, 2004)
CEC của đất liên quan đến khả năng chứa đựng và điều hòa dinh dưỡng và có liên quan đến phương pháp bón phân hợp lý
Trong đất CEC được đo lường bởi khả năng cầm giữ hoặc phân tích các nguyên tố như Kali, Canxi, Magie, và Natri trong đất
Bảng 14: Đánh giá CEC trong đất
Trang 24Dựa vào sự hình thành và phát triển của đất, Pons (1973) chia đất phèn ra làm hai loại: + Đất phèn tiềm tàng:
Đất phèn tiềm tàng (theo phân loại FAO: Proto-Thionic Fluvisols) là đơn vị đất thuộc nhóm đất phù sa phèn Đất phèn tiềm tàng được hình thành trong vùng chịu ảnh hưởng của nước có chứa nhiều sulfat Trong điều kiệm yếm khí cùng với hoạt động của vi sinh vật, sulfat bị khử để tạo thành lưu huỳnh và chất này sẽ kết hợp với sắt có trong trầm tích để tạo thành FeS2
Tính chất: Độ pH của đất phèn tiềm tàng nằm trong khoảng trung tính do môi trường đất ở điều kiện khử, chưa bị ôxi hóa Đối với đất phèn tiềm tàng bị ảnh hưởng mặn ở vùng duyên hải thì pH đất có thể lớn hơn 7,0 Tuy nhiên, khi bị ôxi hóa thì pH có thể
hạ xuống rất nhanh, khi đó pH có thể hạ thấp dưới 2,0 (Nordstrom, D.K (1982))
và sulfat (SO42-) Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào tất cả các hợp chất nầy đều gây độc cho thực vật và thủy sinh vật trên vùng đất phèn mà nó tùy thuộc vào môi trường đất vốn thay đổi theo mùa hoặc do bởi những yếu tố tác động khác (Driessen, P.M and
R Dudal, 1991)
1.3.2 Tính ch ất hoá học của đất phèn
Theo phân viện qui hoạch và thiết kế nông nghiệp miền Nam (2008):
Đất phèn có hàm lượng mùn và N tổng số từ cao tới rất cao (tương ứng 3 - 15%; 0,15 - 0,45%), mức độ phân hủy chất hữu cơ kém (C/N 20 - 35), nhất là ở đất phèn
Trang 25tiềm tàng, đất phèn rất nghèo lân (tổng số < 0,05%, dễ tiêu 13,0mg/100gđất), nhưng lại có kali ở mức trung bình (0,6 - 1%)
Đất phèn tiềm tàng chua đến ít chua pH (5,0 - 6,5) hoặc trở nên rất chua pH (2,5 - 3,5) khi bị oxy hóa trở thành đất phèn hoạt động
Về độc tố trong đất phèn: Hàm lượng SO42- thay đổi 0,05 - 4%, Al3+ và Fe2- biến động lớn (tương ứng 8 - 250 và 10 - 300mg/100g), thông thường Al3+ có nhiều ở đất phèn hoạt động và Fe2+ có nhiều ở đất phèn tiềm tàng
1.3.3 Độ phì của đất phèn
Theo phân viện qui hoạch và thiết kế nông nghiệp miền Nam (2008):
Trong đất phèn, hàm lượng hữu cơ thường cao C (3 - 10%) nhưng mức độ khoáng hóa thấp - đặc biệt ở đất phèn tiềm tàng và các tầng đất sâu của đất phèn hoạt động Hàm lượng đạm tổng số vì vậy cũng thấp (0,1 - 0,2%), đây là một dưỡng chất thiếu thốn nghiêm trọng trong đất phèn (0,03 - 0,05%) - đặc biệt là hàm lượng lân dễ tiêu (2,5 -
3,5 mg/100g đất) Tỷ lệ Ca/Mg luôn < 1
1.3.4 Nh ững vần đề của đất phèn cần giải quyết để khai thác và sử dụng
Theo phân viện qui hoạch và thiết kế nông nghiệp miền Nam (2008):
+ Đối với đất phèn tiềm tàng:
- Đất có cơ lý yếu, lầy thụt
- Hạn chế trong khai thác thủy lợi, do việc dễ gây tình trạng hóa chua trong đất
- Ngập nước thường xuyên
+ Đối với đất phèn hoạt động:
Trang 26Theo Tô Phúc Tường và ctv (1993) việc cày bừa và phơi khô đất trong hai tuần trước khi rửa phèn sẽ làm tăng tốc độ rửa và có thể làm giảm hàm lượng al trong dung dịch đáng kể so với lô không cày
Khi loại đất phèn sulfide tropaquept có pH ở tầng đất mặt thấp từ 3,6 – 4,2 Bón vôi
có thể giảm hoặc ngăn ngừa được ngộ độc Al3+ Lượng khuyến cáo 3-6 tấn /ha (Breemen,N.V và Pons,L.J,1978) Nhưng bón vôi đơn độc thì tỏ ra ít hiệu quả trên đất phèn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Bón vôi kết hợp với bón lân, đặc biệt các dạng đơn cho hiệu quả cao (Lê Huy Bá, 1980; Nguyễn Đăng Nghĩa, 1994)
Một biện pháp khác được sử dụng thường xuyên và có hiệu quả là thiết lập hệ thống kênh tiêu phèn phù hợp (Võ Tòng Xuân và ctv, 1982) Tuy nhiên, biện pháp này cho hiệu quả kinh tế không cao
Theo Ikehash, H và Ponnamperuma,F.N (1978), chọn giống kháng hoặc chịu phèn là một giải pháp đơn giản và kinh tế đối với độc tố trên đất phèn
Sử dụng chọn cơ cấu cây trồng hợp lí như: khóm mía, lúa (kháng phèn), cỏ ba chỉ, lục bình, chuối
1.4 Các yêu cầu về nông sinh thái của cây khóm
Theo phân viện qui hoạch và thiết kế nông nghiệp miền Nam (2008):
Yêu cầu về đất: Nói chung là cây khóm không thích đất nhiều vôi, đất mặn, đất nhiều
Mn Độ pH thích hợp thay đổi tùy giống, đối với nhóm Queen là từ 4,5 - 5,5, Smooth Cayenne là 5 - 6 (có thể trồng ở pH = 7,5 nhưng phải bón thêm Fe), Red Spanish trồng
ở pH = 5 là thích hợp
Khi chuẩn bị đất trồng nên tham khảo ý kiến các cơ quan chuyên môn (Trạm khuyến nông, Phòng nông nghiệp, Viện nghiên cứu ) để lấy mẩu phân tích và đánh giá chính xác điều kiện dinh dưỡng đất làm cơ sở cho công tác bón phân sau này Thành phần
cơ giới từ đất cát pha đến thịt nhẹ, tỷ lệ thịt từ 25 - 35% Độ pH tối thiểu đạt trên 5 Tầng canh tác dày từ 70 - 100 cm Hàm lượng mùn đạt từ 2 - 4% Ngoài ra hàm lượng dưỡng chất N-P-K đạt mức trung bình đến giàu
- Yêu cầu địa hình: trung bình đến cao, không chịu ngập nước
- Về nguồn nước: đòi hỏi nguồn nước phải ngọt, không bị nhiễm mặn
- Về khí hậu:
+ Nhiệt độ: Cây khóm sinh trưởng tốt trong phạm vi nhiệt độ 25-35oC Trong giai đoạn quả phát triển, nếu thời tiết lạnh, ẩm và cường độ ánh sáng yếu kéo dài thì quả thường nhỏ, phẩm chất kém, ngược lại nhiệt độ lớn hơn 400C thì thân, lá, quả thường
bị hiện tượng cháy nắng
Trang 27+Ánh sáng: Cây thích ánh sáng tán xạ hơn là ánh sáng trực xạ Vùng cao có nhiệt độ
và cường độ ánh sáng giảm nên chu kỳ của cây kéo dài Tuy nhiên ánh sáng trực xạ vào mùa hè dể gây ra hiện tượng cháy nắng trên quả Cây khóm có khuynh hướng ra hoa tự nhiên vào thời kỳ ngày ngắn
+ Lượng mưa: Cây khóm yêu cầu lượng mưa trung bình khoảng 1500mm/năm và phân bố đều trong các tháng, mùa nắng kéo dài cần phải có biện pháp giữ ẩm cho cây Trên đất thấp (Đồng bằng sông Cửu long) : điều chỉnh sao cho mực nước trong mương thấp hơn tối thiểu là 40cm so với mặt đất trồng để rễ cây không bị úng
Trên đất cao: Phải bố trí hệ thống nước tưới bổ sung cho cây vào mùa nắng để đảm bảo tương đương với lượng mưa 1500mm/năm và thoát thủy tốt vào mùa mưa
Bảng 15 Tóm tắt yêu cầu sinh thái tối thiểu của Khóm
Trang 281 5 Đặc điểm vùng nghiên cứu
1.5.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lí
Hình 1: Bản đồ huyện Gò Quao – Kiên Giang
Theo UBND huyện Gò Quao(2006):
Gò Quao là huyện của tỉnh Kiên Giang, tọa độ địa lý từ 9036’ - 9045’ vĩ độ bắc và từ
105014’ - 105032’ kinh độ đông, có diện tích 43.947,49 ha, dân số năm 2005 là 145.054
người, mật độ dân dân số 300 người / km2 Địa giới hành chính: Bắc giáp huyện Châu
Thành và huyện Giồng Riềng; Tây Bắc giáp sông Cái Lớn, ngăn cách với huyện An Biên; Tây Nam giáp huyện Vĩnh Thuận; Nam giáp tỉnh Bạc Liêu; Đông giáp tỉnh Hậu
Giang
Về hành chính, huyện bao gồm thị trấn Gò Quao và 10 xã là: Thới Quản, Thuỷ Liễu, Định Hoà, Định An, Vĩnh Hoà Hưng Bắc, Vĩnh Hoà Hưng Nam, Vĩnh Phước A, Vĩnh Phước B, Vĩnh Thắng, Vĩnh Tuy
Huyện có quốc lộ 61 nối liền thành phố Cần Thơ - tỉnh Hậu Giang - tỉnh Kiên Giang; tuyến đê bao Ô Môn - Xà No; đường thủy phía Nam từ thành phố Hồ Chí Minh đi tỉnh
Cà Mau; sông Cái Lớn nối liền đường thủy phía Nam ra cảng cá Tắc Cậu và đổ ra biển Tây Nam; đường Hồ Chí Minh nối liền quốc lộ 61 về Cà Mau, Năm Căn
Với vị trí địa lý như trên đã tạo ra những lợi thế nhất định cho Gò Quao trong phát triển kinh tế -Xã hội trong những năm tới
Trang 29
Khí hậu
Theo UBND huyện Gò Quao (2006):
Huyện Gò Quao thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang đặc tính chung của vùng đồng bằng sông Cửu Long, nóng ẩm quanh năm
Nhiệt độ: Nhiệt độ cao và ôn hòa, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 270c-280c, nhiệt độ cao nhất vào các tháng 4; 5; 6 khoảng từ 29 - 300C, nhiệt độ thấp nhất vào các tháng 12; 1; 2 khoảng từ 25 - 260C Tổng tích ôn hàng năm từ 9.700 - 10.0000 C Với nhiệt độ như trên rất phù hợp cho sự phát triển quanh năm của cây trồng, vật nuôi
Lượng nước bốc hơi:
+ Lượng nước bốc hơi bình quân hàng năm đạt 1.250 mm và có liên quan đến chế độ nhiệt độ, nắng, mưa
+ Lượng nước bốc hơi cao thường xảy ra trong các tháng mùa khô, đạt trung bình 110 -
130 mm/tháng
+ Lượng nước bốc hơi thấp thường xảy ra trong các tháng mùa mưa và chỉ đạt khoảng
70 mm/tháng
Độ ẩm không khí:
+ Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82,2% và phân hoá theo mùa
+ Độ ẩm trong các tháng mùa khô ở mức từ 75 - 80% Các tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 3; 4 ở mức 77%
+ Độ ẩm trong các tháng mùa mưa cao hơn ở mức 80 - 85% Các tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 7; 8 ở mức 85 - 87%
Nắng:
+ Số giờ nắng trung bình hàng năm đạt 2.400 - 2.500 giờ, trong đó tháng có giờ nắng cao nhất là tháng 4, khoảng 290 giờ/tháng; Tháng có số giờ nắng thấp nhất là tháng 8, khoảng 180 giờ/tháng
+ Vào mùa khô, số giờ nắng trong ngày cao, trung bình 7 giờ/ngày
+ Vào mùa mưa, số giờ nắng trong ngày thấp, trung bình có 6,4 giờ nắng/ngày
Lượng mưa:
+ Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.900 - 2.300 mm Lượng mưa trong năm phân
bố không đều theo thời gian (mùa)
+ Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11), lượng mưa chiếm 90% lượng mưa của cả năm Vào mùa này, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 7, có thể đạt tới 400 mm/tháng
Trang 30Trong mùa mưa cũng có thời kỳ không mưa hoặc mưa ít, kéo dài từ 7 - 15 ngày, thường xuất hiện vào tháng 6 hoặc tháng 7
+ Mùa khô (từ tháng 6 đến tháng 12), lượng mưa chỉ chiếm khoảng 10% lượng mưa của
cả năm Tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 1; 2; 3, chỉ đạt khoảng 10 - 50 mm/tháng + Tổng số ngày mưa trong năm đạt từ 135 - 160 ngày
Nhận xét chung về đặc điểm khí hậu, thời tiết:
Qua những yếu tố về điều kiện địa hình và khí hậu thời tiết trên cho thấy huyện Gò Quao có nhiều thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây trồng, vật
nuôi Tuy nhiên do có chế độ mưa phân bố theo mùa và biến động thất thường nên đã
gây trở ngại cho đời sống và sản xuất của nhân dân trong huyện
Địa hình
Theo UBND huyện Gò Quao (2006):
Địa hình huyện tương đối bằng phẳng có hướng thấp dần từ phía Ðông Bắc (độ cao trung bình từ 0,8 - 1,2 m) xuống Tây Nam (độ cao trung bình từ 0,2 - 0,4 m) Cao độ
lớn nhất 0,8 m thuộc vùng Cù Lao xã Vĩnh Phước A và thấp nhất 0,1 m thuộc Thủy Liễu
Mạng lưới sông ngòi, kênh gạch phân bố dày, rất thuận lợi phát triển cả giao thông thủy và bộ
Tuy nhiên do địa hình dốc từ Đông sang Tây nên hằng năm một số xã như Định An, Định hòa, Vĩnh Hòa Hưng Bắc và Vĩnh Hòa Hưng Nam thường bị ngập , nhưng mức
độ ngập nông và thời gian ngập ngắn khoảng 2 tháng Vùng không ngập hằng năm nằm về phía nam QL61
1 5.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Dân số
Theo UBND huyện Gò Quao(2006):
Dân số toàn huyện Gò Quao năm 2004 là 145.054 người (chiếm 8,81% dân số của toàn tỉnh - Gò Quao có dân số đứng hàng thứ 5 trong tổng số 13 huyện, thị trong toàn tỉnh) với 29.082 hộ (quy mô hộ là 4,99 người/hộ) Dân số khu vực đô thị có 8.747 người, chiếm 6,03% còn lại 136.307 người sống ở khu vực nông thôn (chiếm 93,97%) Mật độ dân số chung trong toàn huyện là 330 người/km2, cao gấp 1,25 lần so với mật độ dân số chung trong toàn tỉnh, trong đó mật độ dân số ở khu vực đô thị (thị trấn Gò Quao) là 478 người/km2, mật độ dân số ở khu vực nông thôn là 324 người/km2
Trong những năm qua do làm tốt công tác kế hoạch hoá gia đình nên tỷ lệ tăng dân số
tự nhiên của huyện đã giảm dần từ 1,85% năm 2001 xuống còn 1,45% năm 2005
Trang 31Trên địa bàn huyện hiện có 3 dân tộc chính là: Kinh, Khmer và Hoa với cơ cấu dân số
ở năm 2004 như sau:
+ Dân tộc Kinh: 97.902 người, chiếm 67,49 %
+ Dân tộc Khmer: 44.403 người, chiếm 30,61 %
+ Dân tộc Hoa: 2.749 người, chiếm 1,90 %
Theo cục thống kê năm 2007:
Gò Quao là huyện vùng sâu của tỉnh Kiên Giang, có nhiều dân tộc cùng cư trú: Kinh (67,54 %), Khơmer (30,56 %), Hoa (1,95 %) Huyện Gò Quao là một trong 3 huyện
có đông dân tộc Khơmer nhất ở tỉnh Kiên Giang, kinh Dân số thành thị chiếm 21,88% và dân số nông thôn chiếm 78,12 %
Lao động và việc làm
Trích dẫn “Lập quy hoạch sử dụng đất đai huyện Gò Quao - tỉnh Kiên Giang, thời kỳ
2005 - 2015 và định hướng sử dụng đất đến năm 2020” của UBND huyện Gò Quao: Giai đoạn 1996 - 2005 lực lượng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế Quốc dân tăng bình quân hàng năm từ 3 - 4,0% Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp - dịch vụ, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, song tốc độ chuyển dịch còn chậm Tỷ lệ lao động được qua đào tạo nghề của huyện chiếm 10% - 15% Cơ cấu lực lượng lao động của huyện năm
2005 như sau:
Tổng số lao động trong toàn huyện có 92.232 người, chiếm 63,58% dân số
Trong đó:
+ Số người trong độ tuổi lao động: 83.362 người
- Số người có khả năng lao động: 81.054 người
- Số người không có khả năng lao động: 2.308 người
+ Số người ngoài độ tuổi lao động thực tế có tham gia lao động: 8.870 người
Phân bố lực lượng lao động của huyện theo các mục đích như sau:
+ Lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân: 75.432 người
+ Số lao động trong độ tuổi đang đi học: 3.710 người
+ Số người trong độ tuổi lao động làm nội trợ và chưa tham gia lao động: 3.903 người Những năm qua huyện cũng đã xây dựng được nhiều phương án, thông qua các chương trình giải quyết việc làm (tổ chức các lớp dạy nghề) khuyến khích và tạo điều kiện (cho vay vốn) để các thành phần kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh trên mọi lĩnh vực, nhờ
Trang 32đó đã thu hút và tạo việc làm ổn định cho nhiều lao động, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, bình quân hàng năm trong toàn huyện đã giải quyết được từ 2.000 lao động trở lên
Nguồn nhân lực của huyện khá dồi dào, song tình trạng không có hoặc thiếu việc làm nhất là đối với thanh niên, học sinh mới ra trường cũng như lực lượng lao động nông nhàn vẫn là vấn đế bức xúc cần được giải quyết, đặt biệt trong khi sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại chưa phát triển
đa dạng đã tạo nên những hạn chế nhất định đến khả năng khai thác triệt để nguồn tài nguyên quý giá này Với điều kiện hiện nay, khi nông nghiệp vẫn còn là kinh tế chủ đạo thì việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng vật nuôi, đồng thời mở rộng phát triển các ngành nghề khác sẽ là vấn đề then chốt tạo ra công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người dân
Thu nhập:
Theo UBND huyện Gò Quao(2006):
Trong những năm qua, vốn đầu tư được huy động từ nhiều nguồn để đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất lượng sống của nhân dân trong huyện Nhìn chung đời sống đại bộ phận nhân dân trong huyện được cải thiện đáng
kể Năm 1998 tỷ lệ hộ nghèo là 15,9%, năm 2005 giảm hộ nghèo xuống còn dưới 7% (theo tiêu chí mới hiện nay là 19,19%); Tỷ lệ hộ khá và giàu ngày càng tăng; Thu nhập bình quân đầu người năm 2005 đạt 5,1 triệu đồng/người/năm, tăng gấp 1,76 lần
so với năm 2000
Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng lên, bộ mặt nông thôn đang từng bước đổi mới Đến nay tất cả các xã đã có điện lưới Quốc gia và 9/11
xã đã có đường ô tô đến trung tâm; tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch là 83,45%; số hộ
sử dụng điện lưới Quốc gia đạt 85,33% Các cuộc vận động đền ơn, đáp nghĩa, quỹ vì người nghèo, các hoạt động cứu trợ xã hội được tập trung chỉ đạo thực hiện góp phần cải thiện đời sống cho các hộ nghèo, các gia đình chính sách, dân tộc Huyện đã hoàn thành việc xây dựng nhà tình nghĩa cho các hộ chính sách gặp khó khăn về nhà ở với gần 1.000 căn nhà đại đoàn kết được xây dựng, số nhà kiên cố và bán kiên cố là 73,96%, loại nhà đơn sơ còn lại 26,04% Huyện đã thành lập ngân hàng chính sách, hoạt động đạt được kết quả khá tích cực, trong 5 năm qua đã cho vay được 440 tỷ đồng, góp phần tích cực trong xoá đói giảm nghèo
Tuy nhiên đời sống của một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhất là trong đồng bào dân tộc Khơme (số hộ nghèo của đồng bào dân tộc Khơme chiếm 43,92% số
hộ nghèo trong toàn huyện) Công tác xoá đói, giảm nghèo chưa thực sự vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn cao Số hộ phát sinh nghèo từ tháng 12 năm 2003 đến tháng 10 năm 2004 là 414 hộ, số hộ thoát nghèo từ tháng 12 năm 2003 đến tháng 10 năm 2004
Trang 33là 826 hộ Kết quả khảo sát số hộ nghèo năm 2005 cho thấy, trong toàn huyện còn 5.669 hộ nghèo, chiếm 19,19% số hộ trong toàn huyện (các xã có tỷ lệ số hộ nghèo còn cao là Thuỷ Liễu 25,49%, Thới Quản 22,90%, Định An 21,82%, các xã có tỷ lệ nghèo thấp là Vĩnh Phước A 16,34%, Vĩnh Hoà Hưng Nam 16,65% và thị trấn Gò Quao 12,91%)
+ Đất phù sa phát triển điển hình (FLha.dy)
Loại đất này có khoảng 10.166,53 ha, chiếm 23,13% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Định Hòa, Định An, Vĩnh Hòa Hưng Nam, Vĩnh Hòa Hưng Bắc, Vĩnh Phước B, Thới Quản, Thủy Liễu và thị trấn Gò Quao
+ Đất phù sa phát triển yếu (FLeu.ha)
Loại đất này có khoảng 527,00 ha, chiếm 1,20% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Định Hòa, Thới Quản và thị trấn Gò Quao
+ Đất phù sa phát triển điển hình, đọng mùn (FLha.um)
Loại đất này có khoảng 436,00 ha, chiếm 0,99% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc và Thới Quản
+ Đất phù sa phát triển yếu, tầng mặt đọng mùn (Fleu.mo)
Loại đất này có khoảng 1.380,48 ha, chiếm 3,14% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Định Hòa, Vĩnh Hòa Hưng Bắc và Thới Quản
+ Đất phù sa phát triển điển hình, nhiễm mặn (FLsz.ha)
Loại đất này có khoảng 112,00 ha, chiếm 0,25% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Định Hòa, Định An, Vĩnh Phước B và Thủy Liễu
+ Đất phù sa kém phát triển, có tầng sinh phèn sâu, nhiễm mặn (FLtitn.sz)
Diện tớch 667,52 ha, chiếm 1,52% diện tớch toàn huyện Phõn bố tại cỏc xó Định Hoà, Định An, Vĩnh Phước B và Thuỷ Liễu
+ Đất phù sa kém phát triển, đọng mùn, nhiễm mặn (FLsz.mo)
Trang 34Loại đất này có khoảng 1.150,00 ha, chiếm 2,62% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Vĩnh Hòa Hưng Nam, Vĩnh Phước B, Thủy Liễu, và thị trấn Gò Quao
+ Đất phù sa ngập nước trên 6 tháng, đọng mùn tầng sinh phèn sâu, nhiễm mặn (FLgl.tin)
Loại đất này có khoảng 1.439,46 ha, chiếm 3,28% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Vĩnh Hòa Hưng Nam, Vĩnh Hòa Hưng Bắc, Vĩnh Phước B, Vĩnh Tuy, Thới Quản, Thuỷ Liễu và thị trấn Gò Quao
+ Đất phù sa kém phát triển, tầng sinh phèn sâu, nhiễm mặn (FLsz.tin)
Loại đất này có khoảng 2.034 ha, chiếm 4,63% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Định Hòa, Định An, Vĩnh Hòa Hưng Nam, Vĩnh Phước B, Vĩnh Tuy, Thủy Liễu và thị trấn Gò Quao
+ Đất phù sa ngập nước trên 6 tháng, tầng sinh phèn cạn, nhiễm mặn (FLgl.tio)
Loại đất này có khoảng 848,00 ha, chiếm 1,93% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Vĩnh Hòa Hưng Nam, Vĩnh Phước B
+ Đất phù sa kém phát triển, tầng sinh phèn cạn, nhiễm mặn (Fltio.sz)
Loại đất này có khoảng 1.988,00 ha, chiếm 4,52% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Định Hòa, Vĩnh Hòa Hưng Nam, Vĩnh Phước A và Thới Quản + Đất phù sa kém phát triển, tầng sinh phèn cạn, đọng mùn (Fltio.um)
Loại đất này có khoảng 494,00 ha, chiếm 1,12% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Định An, Vĩnh Hòa Hưng Nam, Vĩnh Hòa Hưng Bắc
+ Đất phù sa có tầng sinh phèn cạn, ngập nước định kỳ trên 6 tháng, nhiễm mặn (Fltio.gl)
Loại đất này có khoảng 665,00 ha, chiếm 1,51% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Vĩnh Hòa Hưng Nam, Vĩnh Hoà Hưng Bắc, Vĩnh Tuy và Vĩnh Thắng
+ Đất phù sa phát triển trung bình, có tầng sinh phèn cạn, đọng mùn, nhiễm mặn (Fltio.sz) Loại đất này có khoảng 3.910,38 ha, chiếm 8,90% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Vĩnh Phước A, Vĩnh Thắng, Thới Quản và Thuỷ Liễu
+ Đất phèn tiềm tàng, đọng mùn, nhiễm mặn (Fltit.sz)
Loại đất này có khoảng 7 951,00 ha, chiếm 18,09% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Định Hòa, Định An, Vĩnh Hòa Hưng Nam, Vĩnh Hòa Hưng Bắc, Vĩnh Phước A, Vĩnh Phước B, Vĩnh Tuy, Vĩnh Thắng, và Thới Quản
+ Đất phù sa phát triển, có tầng sinh phèn sâu (FLcm.tin)
Trang 35Loại đất này có khoảng 1.589,00ha, chiếm 3,62% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Định Hòa, Định An, Vĩnh Hòa Hưng Nam, Vĩnh Hòa Hưng Bắc, Thới Quản, Thủy Liễu và thị trấn Gò Quao
+ Đất phù sa phát triển, có tầng phèn sâu, nhiễm mặn (FLtin.sz)
Loại đất này có khoảng 2.634,00 ha, chiếm 5,99% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Định An, Vĩnh Hòa Hưng Nam, Vĩnh Hòa Hưng Bắc, Vĩnh Phước B
và Vĩnh Thắng
+ Đất phù sa phát triển yếu, có tầng sinh phèn cạn, nhiễm mặn (Fltio.sz)
Loại đất này có khoảng 2.730,24 ha, chiếm 6,23% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã Định Hòa, Vĩnh Phước B, Vĩnh Tuy, Vĩnh Thắng và Thới Quản Nhìn chung đất đai của huyện Gò Quao có thành phần cơ giới chủ yếu là thịt và đất sét, độ pH thích hợp cho nhiều loại cây trồng (pH từ 4 - 6), tầng tích tụ mùn khá dày, hàm lượng dinh dưỡng, chất hữu cơ cao Đây là những thuận lợi để phát triển một nền sản xuất nông nghiệp toàn diện và đa dạng
Trang 36Chương 2 – PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian làm thí nghiêm , địa điểm
Từ ngày 01/07/2010 đến ngày 01/12/2010 tại 2 địa điểm Vĩnh thắng và Vĩnh Phước A – Gò Quao – Kiên Giang
2.2.Phương pháp nghiên cứu và phương tiện
2.2.1 Ph ương tiện nghiên cứu
Hóa học
Các hóa chất, thiết bị dùng để phân tích chỉ tiêu hóa hoc như máy so màu , máy đo
pH và Ec, buret chuẩn độ, máy hấp thu nguyên tử, phần mềm thống kê MTAC để xử
Trang 37Cải tạo đất phèn
Mẫu đất được lấy tại xã Vĩnh Phước A – Gò Quao – Kiên Giang
Đất được cho vào các ống nước đã cắt thành từng khúc (10 cm/mỗi ống)
Tiến hành rửa đất bằng dung dịch chất hữu cơ và vôi (CaO) từ trên xuống (thời gian 1
ngày)
Tiến hành trồng cây cải củ để thấy sự sinh trưởng của cây
Đo chi tiêu sinh học của cây: chiều cao cây và đếm số lượng cây trong mỗi ống (thời
gian 5 ngày sau khi gieo)
Sử dụng quỳ tím để đo pH tươi
2.2.2 Ph ương pháp thực hiện
Phần hóa học
Vùng đất trồng khóm được triển khai tại 2 xã Vĩnh Thắng và Vĩnh Phước A – Gò
Quao – Kiên Giang Đất phèn là đối tượng nghiên cứu, mẫu đất được lấy ở 2 vị trí
Vĩnh Thắng và Vĩnh Phước A
Các bước thực hiện đề tài:
Bước 1: Thu thập mẫu đất để chuẩn bị cho việc phân tích đất: số lượng là 10 mẫu
Lấy mẫu đất theo tầng phát sinh
Thời gian: Lấy mẫu trước khi tiến hành xử lý đất để xuống giống khóm
Các chỉ tiêu phân tích và đo lường trong phòng và trực tiếp ngoài đồng bao gồm:
Trang 38Bước 2: Khâu chuẩn bị đất, phân lô và bố trí thí nghiệm
Bảng 16: Phân lô thí nghiệm
Trang 39Thí nghiệm gồm có 6 nghiệm thức:
Nghiệm thức 1: Bón NPK theo công thức của dân (Khoảng 100N - 90P - 30K)
Nghiệm thức 2: Bón kết hợp NPK vô cơ (Công thức khuyến cáo như thí nghiệm 1) và trung vi lượng 50 kg/công (từ nguyên liệu than bùn địa phương)
Nghiệm thức 3: Bón kết hợp NPK vô cơ (theo công thức của dân, sẽ bổ sung sau khi điều tra) + trung vi lượng (từ nguyên liệu than bùn địa phương)
Nghiệm thức 4: Bón kết hợp NPK vô cơ (theo 1/2 công thức của dân) + trung vi lượng (từ nguyên liệu than bùn địa phương)
Nghiệm thức 5: Bón kết hợp NPK vô cơ có công thức 8N - 8P- 4N với liều lượng 1 tấn/ha (từ nguyên liệu than bùn địa phương)
Nghiệm thức 6: Bón phân hữu cơ + giãm ½ lượng phân khuyến cáo
Các nghiệm thức được bố trí trên cơ sở tổ hợp các nhân tố như trên Mỗi nghiệm thức được thực hiện 3 lần lặp lại, ô thí nghiệm có diện tích khoãng 50m2 Kỹ thuật canh tác
và bón phân tương tự như nghiệm thức 1
Mỗi lô 50m2 x 6 nghiệm thức x 3 lần lập lại
Trang 40Bước 3: Xuống giống khóm, theo dõi và thu thập các chỉ tiêu về sinh khối trên câp khóm:
Các chỉ tiêu nông học về cây khóm theo tháng: chiều cao của cây, chiều dài và chiều rộng của lá khóm( trong 4 tháng)
Phần cải tạo
Thí nghiệm được thực hiện để đánh giá hiệu quả của việc cải tạo đất phèn bằng chất hữu cơ và vôi trong ống nghiệm qua quan sát sự nảy mẫm của hạt cải củ và theo dõi
sự thay đổi của pH
Thí nghiệm 1: cải tạo bằng dung dịch chất hữu cơ
Nghiệm thức 1: Đối chứng (chỉ dùng 30 ml nước để thấm đều đất trong ống)
Nghiệm thức 2: Dùng 30 ml nước để thấm đều đất, rửa tiếp với 100 ml hỗn hợp (dung dịch chất hữu cơ và nước với tỉ lệ 1: 5)
Nghiệm thức 3: Dùng 30 ml nước để thấm đều đất, rửa tiếp với 100 ml hỗn hợp (dung dịch chất hữu cơ và nước với tỉ lệ 1: 10)
Nghiệm thức 4: Dùng 30 ml nước để thấm đều đất, rửa tiếp với 100 ml hỗn hợp (dung dịch chất hữu cơ và nước với tỉ lệ 1: 15)
Nghiệm thức 5: Dùng 30 ml nước để thấm đều đất, rửa tiếp với 100 ml hỗn hợp (dung dịch chất hữu cơ và nước với tỉ lệ 1: 20)
Một ngày sau khi rữa ta tiến hành gieo hạt vào ống nghiệm Ta lấy chỉ tiêu nông học
và đo pH ở ngày thứ 5 sau khi gieo
Thí nghiệm 2: cải tạo đất bằng vôi (CaO)
Trước tiên xác định sự tương quan giữa pH đất (dung dịch gồm 5g đất pha với thể tích nước và thể tích KOH tương ứng):