1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát sự đáp ỨNG của cây bắp RAU (zea mays linn) đối với CHẤT lân TRÊN đất TRỒNG RAU ở BÌNH tân VĨNH LONG và CHÂU THÀNH TRÀ VINH TRONG điều KIỆN NHÀ lưới

56 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 451,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Khảo sát sự đáp ứng của cây bắp rau Zea mays Linn đối với chất lân trên đất trồng rau ở Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh trong điều kiện nhà lưới” được thực hiện từ ng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN HỒNG PHONG

KHẢO SÁT SỰ ĐÁP ỨNG CỦA

CÂY BẮP RAU (Zea mays Linn) ĐỐI VỚI CHẤT

LÂN TRÊN ĐẤT TRỒNG RAU Ở BÌNH VĨNH LONG VÀ CHÂU THÀNH-TRÀ VINH

TÂN-TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: KHOA HỌC ĐẤT

Tên đề tài:

KHẢO SÁT SỰ ĐÁP ỨNG CỦA

CÂY BẮP RAU (Zea mays Linn) ĐỐI VỚI CHẤT

LÂN TRÊN ĐẤT TRỒNG RAU Ở BÌNH VĨNH LONG VÀ CHÂU THÀNH-TRÀ VINH

TÂN-TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI

Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện:

Cần Thơ, 2009

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác gi ả luận văn

Nguy ễn Hồng Phong

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

Chân thành biết ơn!

Ts Nguyễn Mỹ Hoa đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Quý Thầy, Cô Trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt khóa học

Ba, Mẹ và những người thân đã lo lắng và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập

Chân thành cảm ơn!

Các bạn sinh viên lớp Khoa Học Đất K31, Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ đã động viên, cung cấp tài liệu và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn

Trang 6

Nguyễn Hồng Phong 2009 “Khảo sát sự đáp ứng của cây bắp rau (Zea mays Linn) đối với chất lân trên đất trồng rau ở Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh trong điều kiện nhà lưới” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư nghành Khoa Học Đất khóa

31 Khoa Nông Nghiệp & SHƯD Trường Đại Học Cần Thơ

TÓM LƯỢC

Nhiều báo cáo trong và ngoài nước cho thấy hiện tượng phú dưỡng lân trong đất đang ngày càng gia tăng, ngay cả trên đất hấp phụ lân cao, có thể dẫn đến mất cân đối dinh dưỡng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của cây trồng Bên cạnh

đó, nông dân hiện nay có xu hướng bón quá nhiều phân lân ở đất trồng rau Điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cây trồng, đồng thời làm mất đi

hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp Đề tài “Khảo sát sự đáp ứng của cây

bắp rau (Zea mays Linn) đối với chất lân trên đất trồng rau ở Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh trong điều kiện nhà lưới” được thực hiện từ

ngày 15/01/2009 đến ngày 04/04/2009 trong nhà lưới, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng thuộc trường Đại Học Cần Thơ nhằm mục tiêu khảo sát sự đáp ứng của cây bắp rau đối với chất lân trên các loại đất trồng rau ở 2 tỉnh Vĩnh Long và

Trà Vinh Đề tài gồm 2 thí nghiệm trồng bắp rau (Zea mays Linn) giống Amazing

(râu trắng) trên 10 loại đất trồng rau ở Vĩnh Long và 10 loại đất trồng rau ở Trà Vinh Mỗi thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại Các chỉ tiêu thu thập là chiều cao, đường kính thân các giai đoạn 20, 30, 40 ngày sau khi gieo, sinh khối và năng suất bắp Kết quả thí nghiệm cho thấy bón lân không làm gia tăng rõ rệt đối với chiều cao, đường kính thân và sinh khối bắp rau trồng trên các loại đất của Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh Ở Bình Tân-Vĩnh Long bón lân có khuynh hướng làm gia tăng năng suất trên các loại đất BT3, BT5 là đất có hàm lượng lân dễ tiêu trung bình 10,55 mg P2O5/kg và 20,11 mg P2O5/kg, nhưng không có đáp ứng lân trên các loại đất có lân cao từ 33,09 mg P2O5/kg đến 76,91 mg P2O5/kg Ở Châu Thành-Trà Vinh bón lân không làm tăng năng suất trên tất cả các loại đất có hàm lượng lân từ thấp tới cao, ngoại trừ trên đất CT8 có hàm lượng lân dễ tiêu là 127,13 mg P2O5/kg Cần tiếp tục thí nghiệm nhiều vụ nữa để xác định chính xác hơn sự đáp ứng của cây trồng đối với phân lân

Trang 7

MỤC LỤC

1.1.1 Tình hình sản xuất bắp trên thế giới và ở Việt

khoáng của cây bắp rau

4

1.1.3.5 Phương pháp bón phân cho bắp 7 1.1.3.6 Những vấn đề về bón phân cân đối

1.2.3.3 Phản ứng của lân trong đất chua 19 1.2.3.4 Sự chuyển hóa lân vô cơ ở đất kiềm 20 1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến độ hữu dụng của

lân trong đất

20

Trang 8

1.2.4.3 pH 21

3.1 Ảnh hưởng của lân lên sinh trưởng của bắp rau 27

3.1.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng về chiều cao cây và

Trang 9

DANH SÁCH HÌNH

3.1 Sự phát triển chiều cao của bắp rau ở nghiệm thức có bón lân qua

các giai đoạn ở Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh

27

3.2 Sự phát triển chiều cao của bắp rau ở nghiệm thức không bón lân

qua các giai đoạn ở Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh

28

3.3 Chiều cao trung bình ở hai nghiệm thức có và không bón lân của

Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh ở các giai đoạn

29

3.4 Đường kính trung bình ở hai nghiệm thức có và không bón lân

của Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh ở các giai đoạn

30

3.5 Đường kính bắp nghiệm thức có bón lân và không bón lân ở

Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh giai đoạn 40 ngày

31

3.6 Sinh khối bắp nghiệm thức có bón và không bón lân ở Bình

Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh,

34

3.7 Năng suất bắp trồng trên các loại đất của Bình Tân-Vĩnh Long và

Châu Thành-Trà Vinh ở hai nghiệm thức có bón và không bón lân

37

Trang 10

1.3 Chẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng qua lá của cây bắp 7

1.5 Đánh giá lân trong đất vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long 14 1.6 Hàm lượng lân tổng số trên tầng mặt của các nhóm đất chính

vùng Tây Nam Sông Hậu

14

2.2 Các loại đất thí nghiệm ở Châu Thành-Trà Vinh 24 3.1 Chiều cao trung bình (cm) của 10 loại đất của 2 tỉnh Vĩnh Long

và Trà Vinh ở cả hai nghiệm thức có bón và không bón giai đoạn 40 NSKG

29

3.2 Đường kính trung bình ở cả hai nghiệm thức có bón và không

bón

30

3.3 Sinh khối bắp trồng trên các loại đất Vĩnh Long và Trà Vinh ở

hai nghiệm thức có bón lân và không bón lân

32

3.4 Sinh khối trung bình của 10 loại đất của Vĩnh Long ở cả hai

nghiệm thức có bón và không bón lân

Trang 11

MỞ ĐẦU

Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, trên đa số các loại cây trồng nhất là trên rau màu, phân lân được sử dụng với một liều lượng rất cao mà không chú ý đến đặc tính độ phì khác nhau của từng cánh đồng Điều này dẫn đến sự tích lũy lân ở một số điểm trồng rau màu chuyên canh có vòng quay sử dụng đất ngắn gây lãng phí phân bón, tăng chi phí trong sản xuất và ảnh hưởng đến đời sống của cây trồng

Có nhiều ý kiến đánh giá về chất lân đối với cây trồng Theo Đỗ Thị Thanh Ren (1999) cho rằng sau chất đạm không có chất nào ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây

trồng bằng chất lân Theo Nguyễn Xuân Trường và ctv,(2000) lân có vai trò quan trọng

với cây bắp, tuy nhiên khả năng hút lân ở giai đoạn cây con rất yếu Thời kỳ 3 – 4 lá cây bắp hút không được nhiều lân, đó là thời kỳ khủng hoảng lân của bắp, nếu thiếu lân

ở giai đoạn này sẽ làm giảm năng suất nghiêm trọng

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Mỹ Hoa và ctv, (2006) cho thấy nhiều ruộng

khảo sát trong vùng trồng rau chuyên canh của Tiền Giang, hàm lượng lân dễ tiêu đạt rất cao (129-234 mg P/kg) Kết quả điều tra cho thấy nông dân ở vùng khảo sát đã sử dụng phân lân rất cao 100-150 kg P2O5/ha/vụ để bón cho các loại cây trồng Mặt khác một số kết quả nghiên cứu gần đây ở Trà Vinh cho thấy cây bắp có đáp ứng rất cao khi bón phân đạm nhưng lại có đáp ứng rất thấp đối với phân lân (Nguyễn Mỹ Hoa, 2008)

Từ những vấn đề trên cho thấy đề tài “Khảo sát sự đáp ứng của cây bắp rau (Zea mays Linn) đối với chất lân trên đất trồng rau ở Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh trong điều kiện nhà lưới” cần thiết được thực hiện nhằm

khảo sát sự đáp ứng của cây bắp rau đối với chất lân trên một số loại đất trồng rau ở Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh

Trang 12

CHƯƠNG 1

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 VÀI NÉT CHUNG VỀ CÂY BẮP 1.1.1 Tình hình sản xuất bắp trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1.1 Tình hình trên thế giới

Ngành sản xuất bắp thế giới tăng liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay, nhất là trong hơn 40 năm gần đây, bắp là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây lương thực chủ yếu Vào năm 1961, năng suất bắp trung bình của thế giới chỉ chưa đến 20 tạ/ha, năm 2004 đã đạt 49.9 tạ/ha Năm 2007, theo USDA, diện tích bắp đã vượt qua lúa nước, với 157 triệu ha, năng suất 4.9 tấn/ha

và sản lượng đạt kỷ lục với 766.2 triệu tấn (FAOSTAT, USDA 2008)

Sản lượng bắp ở thế giới trung bình hằng năm từ 696.2 – 723.3 triệu tấn (2005 – 2007) Trong đó nước Mỹ sản xuất 40.62% tổng sản lượng bắp và 59.38% do các nước khác sản xuất

Nhu cầu tiêu thụ nội địa bắp trên thế giới rất lớn, trung bình hằng năm từ 702,5 – 768,8 triệu tấn Trong đó nước Mỹ tiêu thụ 33,52% tổng sản lượng và các nước khác chiếm 66,48%

Sản lượng bắp xuất khẩu trên thế giới trung bình hằng năm từ 82,6 – 86,7 triệu tấn Trong đó, Mỹ xuất khẩu 64,41% tổng sản lượng và các nước khác chiếm 35,59% Sản lượng bắp trên thế giới năm 2007 tăng gấp đôi so với 30 năm trước đây (sản lượng khoảng 349 triệu tấn 1977) ( Sở khoa học công nghệ An Giang)

1.1.1.2 Tình hình sản xuất bắp trong nước

Bắp là loại cây lương thực chính trồng rộng rãi trên thế giới Ở Việt Nam, từ năm 1900 - 1945, bắp là loại nông sản xuất khẩu đứng hàng thứ ba sau lúa và cao su

Từ năm 1961 – 1980 diện tích trồng bắp gia tăng từ 260.200 ha – 389.000 ha Từ năm

1980 – 1992 diện tích trồng bắp gia tăng nhanh chóng 478.000

Năng suất bắp Việt Nam những năm 1960 chỉ đạt trên 1 tấn/ha, với diện tích hơn 200 nghìn hecta đến đầu những năm 1980, năng suất cũng chỉ đạt 1,1 tấn/ha và sản lượng hơn 400.000 tấn do vẫn trồng các giống bắp địa phương với

kỹ thuật canh tác lạc hậu Từ giữa những năm 1980, nhờ hợp tác với Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT), nhiều giống bắp cải tiến đã được đưa vào trồng ở nước ta, góp phần nâng năng suất lên gần 1,5 tấn/ha vào đầu những năm 1990 Tuy nhiên, ngành sản xuất bắp nước ta thực sự có những bước tiến nhảy vọt là từ đầu những năm 1990 đến nay, gắn liền với việc không ngừng mở

Trang 13

rộng giống bắp lai ra sản xuất, đồng thời cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác theo đòi hỏi của giống mới

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục thống kê (2007), diện tích trồng bắp của cả nước là 1067.9 nghìn ha Trong đó các tỉnh Đông Bắc là 236 nghìn ha chiếm diện tích lớn nhất Các vùng khác là Đồng Bằng Sông Hồng (84.7 nghìn ha), Tây Bắc (172 nghìn ha), Bắc Trung Bộ (137.3 nghìn ha), Duyên Hải Nam Trung Bộ (42.1 nghìn ha), Tây Nguyên (233.4 nghìn ha), Đông Nam Bộ (126.1 nghìn ha), Đồng Bằng Sông Cửu Long (36.3 nghìn ha)

Bảng 1.1: Diện tích và năng suất bắp tại Đồng Bằng Sông Cửu Long những năm gần đây Vùng

Diện tích (nghìn ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (nghìn tấn)

2006 Sơ bộ 2007 2006 Sơ bộ 2007 2006 Sơ bộ 2007 Đồng bằng sông

Cửu Long 33,7 36,3 56,0 55,7 188,7 202,2 Long An 4,6 4,6 48,5 57,8 22,3 26,6 Tiền Giang 1,5 4,2 32,0 31,9 4,8 13,4 Bến Tre 0,7 0,6 27,1 35,0 1,9 2,1 Trà Vinh 5,4 5,3 44,3 44,0 23,9 23,3 Vĩnh Long 0,9 1,0 18,9 18,0 1,7 1,8 Đồng Tháp 5,0 4,5 72,2 72,7 36,1 32,7

An Giang 10,0 10,5 76,0 76,0 76,0 79,8 Cần Thơ 0,8 0,9 47,5 48,9 3,8 4,4 Hậu Giang 1,3 1,5 49,2 47,3 6,0 7,1 Sóc Trăng 2,8 2,8 33,6 34,3 9,4 9,6 Bạc Liêu 0,5 0,2 42,0 45,0 2,1 0,9

Cà Mau 0,2 0,2 35,0 25,0 0,7 0,5

Nguồn: Tổng cục thống kê

An Giang là tỉnh có diện tích trồng bắp lớn nhất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long với 10.5 nghìn ha, cũng là tỉnh dẫn đầu về năng suất (76 tạ/ha) và sản lượng (79.8 nghìn tấn)

Riêng đối với cây bắp rau thì ở An Giang, huyện Chợ Mới là huyện có diện tích trồng lớn nhất, tính đến tháng 4/2007, toàn tỉnh An Giang đã thu hoạch được hơn

Trang 14

14.850 ha màu Diện tích thu hoạch màu vụ Đông Xuân đạt hơn 830 ha, vụ Hè Thu năm nay, bà con nông dân trong tỉnh đã gieo trồng được 9.479 ha màu, trong đó chủ yếu là rau dưa với 3.550 ha, bắp lai 1.650 ha, bắp rau 1.041 ha, đậu xanh 826 ha, bắp trắng 754 ha, mè 634 ha, đậu nành 559 ha, cỏ chăn nuôi 189 ha.(Sở Nông nghiệp An Giang)

1.1.2 Đặc tính sinh trưởng của cây bắp rau

Cây bắp ưa khí hậu ấm có khả năng thích nghi với khoảng khí hậu rộng, nên có thể trồng được trong tất cả các vùng của Việt Nam Bắp có thể phát triển tốt trên bất kì loại đất nào nếu có hệ thống tưới tiêu đầy đủ để duy trì đủ oxy cho rể phát triển, và có khả năng giữ nước để tạo độ ẩm thích hợp trong suốt mùa sinh trưởng Cây bắp không kén đất nên có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng thích hợp nhất là đất trung tính có pH từ 6.0 – 7.2, đất giàu mùn và chất dinh dưỡng

Chu kỳ sinh trưởng của cây bắp nói chung bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến trái chín hoàn toàn Chu kỳ này thay đổi từ 50 – 350 ngày, nhưng đối với bắp rau thu hoạch

ở giai đoạn trái non trung bình từ 55 – 60 ngày, tùy theo giống, điều kiện canh tác và môi sinh Sự sinh trưởng của bắp được tiến hành qua nhiều thời kỳ nối tiếp nhau một cách liên tục (Dương Minh, 1999)

1.1.2 Đặc điểm sinh thái và điều kiện dinh dưỡng khoáng của cây bắp rau

1.1.3.1 Điều kiện ngoại cảnh

Bắp rau là cây trồng ngắn ngày, thuộc nhóm cây ưa nhiệt

Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của cây là 23 – 250C và nhiệt độ này cũng là nhiệt độ thích hợp cho giai đoạn tạo bắp tới thu hoạch sản phẩm

Đất trồng cần tơi xốp, giàu chất dinh dưỡng, loại đất giàu hữu cơ nhiều mùn, đất thịt pha cát, đất phù sa ven sông đảm bảo cho hệ thống tưới tiêu hoàn chỉnh

Hiện nay có rất nhiều giống bắp non được trồng sản xuất dưới dạng thử nghiệm

và đang tiếp tục theo dõi Qua nhiều vụ sản xuất, hiện nay giống Pacific 421 đang được

Công ty Dịch vụ Kỹ thuật nông nghiệp An Giang hợp đồng thu mua Đây là giống bắp lai chuyên dùng để thu họach trái non cho sản lượng cao và chất lượng rất đồng bộ Nó

có chiều cao cây thấp (khoảng 1,5m), thân cây cứng, ít bị gãy đổ Tuy nhiên nếu trồng trong vụ Hè thu cần phải có mật độ thích hợp và vun gốc để tránh giông to, gió lớn có

thể gây thiệt hại Ngoài ra, ở Chợ Mới hiện nay nông dân trồng giống Amazing có đặc

tính giống với giống Pacific

Một số đặc tính cơ bản của giống bắp non Amazing:

Trang 15

- Chiều cao cây: 150 cm

- Bắt đầu thu hoạch trái non vào khoảng 41-43 ngày sau khi gieo

- Trổ cờ khoảng : 38-40 ngày sau khi gieo

- Năng suất trái tươi: 8-12 tấn/ha

- Chiều cao đóng trái từ 90 – 120 cm

Ruộng trồng bắp non cần tránh để thụ phấn với ruộng bắp khác bằng cách cách

ly thời gian (trồng sớm hơn hoặc muộn hơn 25-30 ngày so với ruộng khác) hoặc cách

ly không gian (cách ruộng bắp khác trên 1000 m) hoặc trồng hàng bắp bảo vệ (tối thiểu

30 hàng bảo vệ khi có ruộng bắp khác cách 500 m) Tất cả cây trong ruộng bắp non đều phải rút cờ, kể cả hàng bắp bảo vệ để tránh phấn rơi vào râu bắp

Lượng giống cần cho 1 ha là 35-40 kg.Trồng hàng cách hàng 70-75 cm, cây cách cây trên hàng 20-25 cm, gieo 3 hạt/hốc Sau khi gieo 5-7 ngày nên kiểm tra và gieo dậm lại những hốc không lên hoặc ở chỗ có cây quá yếu, 10-15 ngày sau khi gieo tỉa bớt cây yếu chừa lại 2 cây/hốc

1.1.3.4 Dinh dưỡng khoáng cho bắp

Bắp là cây phàm ăn, nếu muốn đạt năng suất cao phải trồng trên các loại đất giàu chất dinh dưỡng Nếu đất trồng thiếu chất dinh dưỡng phải tiến hành bón phân bổ sung dể cây phát triển tốt, đạt năng suất cao

Theo Nguyễn Như Hà các ảnh hưởng xấu của đất có pH thấp đối với cây bắp có

lẽ chủ yếu là do Al3+ di động cao Khi đất có pH 4,5 – 4,7 bón vôi cho bắp có hiệu lực cao nếu lượng vôi đủ trung hòa ½ độ chua thủy phân của đất Ở pH>=5 không cần phải bón vôi, do ở pH trên, Al3+ di động đã bị cố định hết, không còn gây tác hại lớn cho bắp

Phân chuồng hay các loại phân hữu cơ khác là loại phân cần bón cây bắp trên mọi loại đất, nên sử dụng phân đã được ủ hoai mục Cần ưu tiên bón phân hữu cơ khi trồng bắp trên các loại đất nghèo mùn, đất 2 vụ lúa, đất xám bạc màu, đất có thành phần cơ giới nặng

Dạng phân đạm bón lót tốt nhất cho bắp là amôn nitrat hay sunphat amôn, urê cũng tốt nhưng đòi hỏi quá trình chuyển hóa thành amôn nên cần trộn lẫn vào đất để tránh quá trình bay hơi

Dạng phân lân thường bón cho cây bắp là các loại super hòa tan hay amôn photphat

Loại kali thường bón cho bắp là kaliclorua vừa phù hợp lại rẻ nhất, trừ khi đất thiếu lưu huỳnh thì có thể bón kali sunphat thì có thể đáp ứng cả K và S (Nguyễn Như

Hà, 2006)

Trang 16

Bảng 1.2: Lượng NPK bón cho bắp (Nguyễn Xuân Trường, 2000)

100 – 120 40 – 60 40 – 60

Đất xám, cát

Bắp thường 120 – 140 60 – 90 80 – 100 Bắp rau (thu

100 – 120 40 – 60 40 – 60

Lượng phân chuồng cần bón cho bắp trung bình là 8 – 10 tấn/ha, bón được 10 –

15 tấn/ha càng tốt

Lượng phân bón cho bắp tùy vào khả năng đạt năng suất (tiềm năng giống, mật

độ cây), độ phì của đất và cả trình độ thâm canh

Theo Huỳnh Thị Kim Cúc (1998) lượng phân bón tính bình quân cho 1 ha trồng bắp non như sau:

- Phân chuồng ủ hoai mục: 15-20 tấn/ha

- Đạm urê: 150kg/ha

- Super lân: 400kg/ha

- Clorua cali: 110kg/ha Tuy nhiên, cũng tùy vào loại đất tốt, xấu mà thêm hoặc bớt urê, phân chuồng Theo Trần Văn Hiến (2007) trên các loại đất, nếu có điều kiện cần bón 5 -10 tấn phân hữu cơ/ha Lượng N-P-K bón theo công thức 140 N, 60 P2O5, 40kg K2O tương đương với 330 kg Urê, 370kg Super lân, 80kg KCl/ha Có thể dùng phân hỗn hợp như

Trang 17

16-16-8 hoặc 20-20-0 với lượng 200 kg/ha để bón lót cho cây, kết hợp với 200 kg Urê

Bộ phận và thời gian lấy mẫu phân tích

Hàm lượng dinh dưỡng (% chất khô)

N

Lá đối diện

và phía dưới bắp, vào thời kỳ phun râu

Việc bón lót đạm và kali cho bắp có những ý kiến khác nhau: Vì xét về nhu cầu của cây ở giai đoạn đầu thì chưa cần nên có khuyến cáo là không cần bón lót đạm và kali Nhưng do trồng bắp trong điều kiện đất cạn (khô), lượng phân bón nhiều, cây có thể chịu được nồng độ muối tan cao nên bón lót 1/3 tổng lượng N và K2O, để sớm thỏa mãn nhu cầu đạm, kali và thúc đẩy cây con sinh trưởng (Nguyễn Như Hà, 2006)

Trang 18

Bón thúc cho bắp

Bón thúc đợt 1, khi cây có 3 – 4 lá thật nhằm giúp cây phát triển bộ rễ, chuyển dinh dưỡng từ hạt sang dinh dưỡng từ đất được tốt, thường bón 1/3 đạm + 1/3 kali Pha phân với nước tưới cho cây, nếu đất đủ ẩm có thể bón trực tiếp vào đất: rạch 2 bên cách gốc cây bắp 5 – 7cm, rải đều phân vào rạch rồi kết hợp vun đất nhẹ để lấp phân quanh gốc Để giảm công bón phân khi đã có bón lót đạm và kali có thể không bón thúc lần 1.(Nguyễn Như Hà, 2006)

Bón thúc đợt 2 khi bắp có 7-9 lá thật, nhằm thúc đẩy sự phát triển của bộ rễ đốt, nhằm giúp cho cây hút được nhiều chất dinh dưỡng, phát triển thân lá, phân hóa cơ quan sinh sản và chống đổ Thường dùng 1/3 đạm + 1/3 kali trộn đều phân bón vào rảnh sâu 5-7cm hai bên hàng và cách gốc 10-15cm, sau đó lấp đất vun vào gốc (Nguyễn Như Hà, 2006)

Bón thúc đợt 3 lúc cây xoắn nõn (10-15 ngày trước khi trổ) tác dụng tốt cho quá trình phân hóa bắp và trổ cờ, tạo điều kiện cho thân lá phát triển tối đa, giữ bộ lá xanh lâu để quang hợp nuôi trái Dùng toàn bộ lượng phân còn lại bón vào gốc như đợt 2 và kéo đất vun gốc lại (Nguyễn Như Hà, 2006)

Khi sử dụng các loại phân NPK, ngoài bón lót phần lớn lân khi trồng, lân còn có thể bón làm nhiều đợt cùng các loại phân vô cơ khác bằng các loại lân hòa tan trong nước theo yêu cầu của cây Đối với đạm cần chia ra nhiều lần bón trong đó chú trọng đợt bón trước lúc trổ cờ Kali chia ra bón nhiều lần nhưng tập trung nhiều vào giai đoạn trước phun râu (Nguyễn Như Hà, 2006)

1.1.3.6 Những vấn đề về bón phân cân đối trong trồng bắp

Ở bất kỳ giai đoạn nào, đối với cây bắp đạm cũng là nhân tố rất lớn ảnh hưởng đến năng suất, còn lân và kali bón bao nhiêu cũng chủ yếu là hàm lượng lân và kali dễ tiêu trong đất (Nguyễn Như Hà, 2006)

Rất cần thiết bón cân đối giữa phân hữu cơ – vô cơ vì phân hữu cơ ngoài tác dụng cung cấp một phần dinh dưỡng còn cải thiện tính chất vật lý đất làm cây sinh trưởng tốt hơn

Trong việc trồng bắp cũng cần quan tâm bón thường xuyên các dạng phân S như supe lân và sử dụng vi lượng Zn cho bắp để đảm bảo bắp cho năng suất cao, phẩm chất tốt, có hiệu lực chung của phân bón cao và hiệu quả sản xuất cao (Nguyễn Như

Hà, 2006)

Trồng bắp trên đất cát, đất xám, đất bạc màu cần quan tâm bón đủ cả N, P, K và các phân trung, vi lượng, phân hữu cơ, còn trên đất đỏ thì cần chú ý bón lân và kali

Trên đất nghèo dinh dưỡng như đất xám, đất cát, cần bón nhiều lân và kali hơn

so với đất phù sa, đất đỏ bazan Trên các loại đất bạc màu, đất xám, đất cát bón phân kali có tác dụng tăng năng suất rõ rệt Bắp lai cần bón nhiều phân hơn bắp thường, và bắp thường cần bón nhiều phân hơn bắp rau (Nguyễn Như Hà, 2006)

Trang 19

1.1.3 Kĩ thuật trồng và thu hoạch bắp rau

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh An Giang kĩ thuật trồng và thu hoạch bắp rau như sau

1.1.4.1 Chăm sóc Tưới nước:

Hệ thống tưới tiêu cũng có ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết định năng suất và phẩm chất bắp non cao hay thấp Do đó, mùa nắng cứ 2-3 ngày tưới 1 lần cho đến khi cây được 35 ngày tuổi và sau đó cứ 3-5 ngày tưới 1 lần cho đến khi thu hoạch Cần tưới cho đất đủ ẩm, nhất là giai đoạn sắp trổ cờ cho trái

Tuy nhiên trong mùa mưa cần phải thoát nước, tránh ngập úng sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của bắp

Làm cỏ vun gốc:

Cần làm sạch cỏ dại trong và xung quanh ruộng bắp Trong 40 ngày đầu, ruộng bắp non phải thật sạch cỏ Nên dùng thuốc diệt cỏ hiệu quả cao Đối với 1 ha bắp non thường dùng 1-1,2 lít Dual 720ND hặoc 0,5 lít Ronstar 40EC phun trong 2 ngày đầu sau gieo, tránh phun sau khi bắp mọc lên đều

Nếu làm cỏ bằng tay nên kết hợp với bón phân và vun gốc để cây bắp vững và phát triển tốt

- 30 ngày sau khi gieo: Dùng thuốc trừ sâu bệnh như trên để ngừa lần 2

Ngoài ra chúng ta có thể sử dụng bẩy đàn diệt bướm Cần chú ý trong quá trình trồng bắp non nên hạn chế tối đa việc dùng thuốc hóa học để trừ sâu hại Do bắp non được sử dụng như là một loại rau sạch, nên thông thường không nên sử dụng thuốc

BVTV trong quá trình sinh trưởng của cây

Nếu trường hợp sâu hại tấn công cũng không ảnh hưởng nhiều đến năng suất cây Mặt khác vì bắp non thu hoạch rất sớm nên đôi khi sâu bệnh chưa phá hại kịp thời

đến trái thì đã được thu hoạch

Trang 20

1.1.4.2 Thu hoạch

Sau khi rút cờ 3-5 ngày, trái bắp non sẽ nhú râu ra Một số giống thông thường khi râu dài ra khoảng 3 cm thì trái bắp đạt tiêu chuẩn thu hoạch cụ thể như trái dài khoảng 7-10cm, đường kính giữa trái khoảng 1-1,5 cm Trước khi thu hoạch cần xác định xem trái bắp non đã đủ tiêu chuẩn thu hoạch chưa, bằng cách kiểm tra độ dài râu nhú ra và chiều dài bắp non bên trong vỏ

Khi xác định trái dài đủ tiêu chuẩn thì tiến hành bẻ trái Phải thu hoạch trái mỗi ngày để tránh trường hợp trái bắp vượt tiêu chuẩn do kích cở lớn, đồng thời sản lượng thu hoạch không bị mất ký và héo

Đa số những trái thu hoạch sớm thường có kích thước, hình dạng, độ đồng đều cao Bẻ trái bằng tay và nên thu hoạch từ sáng sớm và thu hoạch còn vỏ để tránh hư giập khi vận chuyển Sau đó mang đến nơi có bóng mát mới tách bỏ vỏ Dùng dao rạch một đường dọc trên vỏ bi, rồi dùng tay tách bỏ vỏ, gỡ sạch râu bắp, cắt bỏ cuống trái

Đối với giống bắp non lai Amazing có thể thu hoạch vào khoảng 41-43 ngày sau khi

trồng và thu hoạch kéo dài chừng 7-10 ngày Thu hoạch bắt đầu khi trái thứ nhất phun râu 3-5 cm và với trái thứ hai và trái thứ ba thì chờ phun râu dài 5cm Màu râu hồng tím chưa biến thành nâu đen Mỗi cây thường thường có từ 2 trái (thỉnh thoảng cũng có cây có 5 trái) và thời gian thu hoạch rộ tập trung trong 5 ngày đầu Tránh thu hoạch ép hoặc để bắp phát triển vượt quá kích cở sẽ làm cho năng suất và giá trị sản phẩm giảm Nên thu hoạch và giao sản phẩm mỗi ngày trong suốt thời gian thu hoạch để không bị mất ký và héo

Nơi vị trí trái bắp đã cắt có thể sẽ tái mọc lên trái khác Vì vậy, nếu muốn giữ trái này cần phải bón thêm phân (nhất là các loại phân bón lá) để trái bắp có đủ dinh dưỡng và phát triển tốt nhằm giảm bớt trường hợp dị dạng, bông dừa

* Những đặc điểm nhận biết trái bắp non đạt tiêu chuẩn chất lượng

- Chiều dài trái từ 4-9 cm

- Đường kính trái (chỗ lớn nhất) đạt từ 1-1,5 cm

- Trái bắp có màu vàng sáng và hình dáng đẹp

- Sự xếp noãn trên trái đều đặn

1.2 LÂN 1.2.1 Vai trò của lân đối với cây trồng

Lân có vai trò rất quan trọng đối với cây trồng, sau chất đạm không có chất nào ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây trồng bằng chất lân Hàm lượng lân trong cây và trong đất thường thấp hơn đạm và kali Trong đất lân thường có xu hướng phản ứng với các thành phần khác trong đất tạo thành các hợp chất không hòa tan, chậm hữu dụng cho cây trồng (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)

Trang 21

Hiện nay lân là yếu tố hạn chế năng suất, chi phối độ phì thực tế của đất và đã trở thành vấn đề chiến lược đối với nông nghiệp nước ta vì hàm lượng lân ở các lọai đất đều thấp (Đỗ Ánh và Bùi Đình Dinh, 1992)

Lân cần thiết cho hầu hết các quá trình sinh lý sinh hóa xảy ra trong cây Thiếu lân năng suất cây trồng giảm nghiêm trọng, phần lớn đất Việt Nam nghèo lân nên bón

lân rất có tác dụng (Bùi Đình Dinh và ctv., 1993) Trong cây tỷ lệ lân biến động trong

phạm vi 0,08 – 1,14% so với chất khô (Vũ Hữu Yêm, 1995) Phần lớn lân được dự trữ trong hạt Trong cây lân chủ yếu nằm dưới dạng hữu cơ, chỉ có 10 – 12% là lân vô cơ Khi hạt chín thì lân vô cơ giảm dần và chuyển sang Fytin Cây có thể đồng hóa được lân vô cơ của acid orthophosphorid Một ít muối của acid metaphosphorid (H3PO4) và acid phosphorid

Cây trồng hấp thu lân ở dạng H2PO4- hoặc HPO42- Sự hiện diện của các ion phosphate trong dung dịch đất phụ thuộc rất nhiều vào pH của dung dịch Trong các loại đất chua (pH từ 4.0 - 5.5) ion hóa trị một H2PO4- chiếm ưu thế trong khi ở dung dịch có pH cao hơn là ion hóa trị hai HPO42- (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004)

Khác với đạm, lân luôn giữ ở dạng oxyt hóa bên trong cây Lân hiện diện ở dạng lân vô cơ hoặc dạng ester của acid phosphorid, nghĩa là trong acid nuclêic (DNA

và RNA), lân hiện diện mang tính không thể thay thế được cho sự tạo tính di truyền của cây trồng Bên cạnh đó lân còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo năng lượng biến dưỡng trong cây Adenosin triphosphate là một nucleic acid đơn, một hợp chất trữ năng lượng cho tiến trình hô hấp hoặc quang tổng hợp trong cây Lân là thành phần của lipid đặc biệt là phospholipids Những hợp chất này là thành phần chính của màng tế bào Các thành phần khác của lân trong cây ở dạng lân vô cơ Các dạng này là thành phần dự trữ của lân trong cây ở điều kiện lân được hấp thu cao (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)

Khi cây thiếu lân nhẹ, các thành phần lân này được sử dụng, trong khi đó nồng

độ các hợp chất chứa lân hữu cơ không thể thay thế chất khác được như nucleic acid, phospholipid được giữ nguyên không thay đổi Ngay cả khi cây thiếu lân trầm trọng, các hợp chất này vẫn không thay đổi, nhưng tốc độ tăng trưởng của cây thay đổi đột ngột

Theo Đỗ Ánh (2003) lân là thành phần của adenosin triphosphate (ATP), lân có tác dụng thúc đẩy các quá trình chín, lân là nguồn năng lượng vận chuyển và bảo tồn vật chất, lân cần thiết cho hình thành acid nucleic và phospholipid, thúc đẩy đẻ nhánh trổ bông và tăng cường chất lượng hạt Lân giúp việc phân chia tế bào dễ dàng hơn (Vũ Hữu Yêm, 1995)

Lân giúp rễ cây phát triển mạnh, ăn sâu lan rộng, giúp cây đứng vững, hút được nhiều dưỡng chất khác trong đất Thúc đẩy việc ra rễ bên đặc biệt là lông hút (Vũ Hữu Yêm, 1995)

Trang 22

Lân làm tăng cường phẩm chất nông sản Lân làm tăng cường khả năng thu hút đạm do nó có tác dụng chống chế độ độc của lượng đạm khoáng, tăng cường việc chuyển hóa đạm thành protid

Bón lân làm tăng quá trình chuyển hóa đạm nitrate, do đó làm giảm mạnh nồng

độ đạm nitrate trong cây (Trần Thị Tường Linh và ctv, 2005)

Theo Đỗ Ánh (2003) đối với đất lân là một chỉ tiêu của độ phì đất “Đất giàu lân

có độ màu mỡ cao và ngược lại đất có độ màu mỡ cao đều giàu lân” (E.Detrunk, 1931),

vì vậy giữa đất và lân có độ tương quan Do đó đất thiếu lân nghiêm trọng, năng suất

cây trồng tăng tỷ lệ thuận với liều lượng bón lân (Nguyễn Bình Nhựt và ctv., 2004)

Lân có vai trò quan trọng với cây bắp, tuy nhiên khả năng hút lân ở giai đoạn cây con rất yếu Thời kỳ 3 – 4 lá cây bắp hút không được nhiều lân, đó là thời kỳ khủng hoảng lân của bắp, nếu thiếu lân ở giai đoạn này sẽ làm giảm năng suất nghiêm trọng Cây bắp hút nhiều lân nhất (khoảng 62% tổng lượng lân yêu cầu) ở thời kỳ 6-12

lá sau đó giảm dần đi ở các thời kỳ sau (Nguyễn Xuân Trường và ctv., 2000)

Bắp khi thiếu lân lá chuyển sang màu đỏ đến tím Lá xanh đậm hơn bình thường, chuyển sang màu tím ở mặt dưới lá và sau cùng là toàn bộ cây phát triển chậm, thân nhỏ và ngắn, trì hoãn trưởng thành nên cây tăng trưởng kém Thiếu lân thường xuất hiện đầu tiên ở lá già nhất, thường xuất hiện trên đất nén dẻ, đất phèn nặng, đất kiềm hay đất có hàm lượng lân nghèo Ngoài ra đối với bắp lấy hạt thiếu lân làm cho trái cong queo, trường hợp nặng lá sẽ chuyển sang màu vàng và chết (Nguyễn Xuân

Trường và ctv., 2000)

Triệu chứng thừa lân của bắp: thời gian đầu lá bắp bị vàng úa lõm chõm phía sau chót lá và dọc theo hai rìa lá già Sau đó vàng nhạt dần từ chót lá vào cuốn lá, dần dần hoại tử và héo

1.2.2 Lân trong đất

Đá mẹ và mẫu chất là yếu tố quyết định độ phì nhiêu tiềm năng lân Phần lớn các đất này có hàm lượng lân tổng số cao, tỷ lệ lân tổng số có thể đạt tới 0,3 – 0,5%

P2O5 (Nguyễn Tử Siêm và ctv., 2000)

Lân có trong thành phần hữu cơ nên đất nào giàu mùn, nhiều chất hữu cơ thì tỷ

lệ lân cao Lân được tích lũy trên lớp đất mặt nên thông thường tầng mặt có tỷ lệ lân cao hơn ở lớp đất dưới (Vũ Hữu Yêm, 1995)

Lân trong đất thường nằm dưới dạng hữu cơ và vô cơ Lân vô cơ chứa trong các khoáng vật apatit, photphorit, sianit… còn lân hữu cơ là lân liên kết với chất hữu cơ trong cơ thể vi sinh vật, rễ cây, các chất hữu cơ trung gian đang phân giải và mùn Ở những đất nhiều mùn tỉ lệ lân hữu cơ cao hơn lân vô cơ Lân hữu cơ tan trong môi

trường kiềm còn lân vô cơ dễ tan trong môi trường axit (Nguyễn Thế Đặng và ctv.,

1999)

Tuy nhiên người ta thường phân biệt lân trong đất có hai dạng lân tổng số và lân

dễ tiêu

Trang 23

1.2.2.1 Lân tổng số

Tổng số các hợp chất lân trong đất, dù kết hợp với cation nào, ở dạng nào, hữu

cơ hoặc vô cơ gộp lại thành “lân tổng số” của đất, thể hiện bằng hàm lượng tổng số

P2O5 (Lê Văn Căn, 1985) Do đó lân tổng số chỉ cho chúng ta biết được tổng lượng lân trong đất mà không cho biết khả năng cung cấp lân cho cây trồng, vì lân trong đất được kiểm soát bởi nhiều yếu tố môi trường, có thể bị giữ lại bởi các hợp chất khó tan như phosphate sắt nhôm Mặc khác các loại cây trồng khác nhau thì khả năng sử dụng lân cũng khác nhau Các đất có hàm lượng lân tổng số khác nhau, đặc biệt ở Việt Nam hàm lượng lân tổng số rất thấp Nhưng xét về phì nhiêu thực tế thì lân tổng số không có

ý nghĩa gì nhiều, vì đại bộ phận lân tổng số ở dạng khó tiêu đối với thực vật (Nguyễn

dạng lân chủ yếu là lân vô cơ và lân hữu cơ

Trang 24

Bảng 1.5: Đánh giá lân trong đất vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (Kuyma, 1976)

Bảng 1.6: Hàm lượng lân tổng số trên tầng mặt của các nhóm đất chính vùng Tây Nam Sông

Hậu (Ngô Ngọc Hưng và ctv, 1990)

v LÂN HỮU CƠ

Lân hữu cơ được tìm thấy trong đất mùn, lá cây và các dư thừa thực vật và động vật đất vì đây là dạng liên kết với chất hữu cơ nên nó được tìm thấy chủ yếu ở lớp đất mặt Hàm lượng lân trong đất thay đổi tùy theo loại đất và gia tăng với hàm lượng chất hữu cơ theo thứ tự sau: đất cát < đất sét < đất than bùn (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004)

Các hợp chất hữu cơ chứa lân gồm có: phitin, axit nucleic, phosphatit, sacarophosphat…và các vi sinh vật đất Lân được tích lũy trong đất nhờ sự tích lũy sinh học, vì vậy trong đất mặt thường chứa nhiều lân hữu cơ hơn các tầng dưới sâu.Tỷ

lệ lân hữu cơ phụ thuộc chủ yếu vào hàm lượng mùn trong đất và dao động trong

khoảng từ 10-50% của lân tổng số (Trần Văn Chính và ctv., 2006)

Trang 25

Dạng lân hữu cơ trong đất biến động từ 10 – 15 % lân tổng số bao gồm các phytin, nucleoprotein, lectin, hợp chất mùn và các chất acid hữu cơ chứa lân, các acid mùn chứa từ 4 – 5 % lân trong điều kiện thuận lợi có thể giải phóng từ 15 – 20 kg

lân/ha/năm (Nguyễn Tử Siêm và ctv., 2000)

Trong đất phytin thường chiếm với tỷ lệ dưới 30 – 40 % tổng số lân hữu cơ và không hòa tan được trong nước (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999) Phospholipid là hợp chất béo được tìm thấy ở thực vật, cùng với nucleic acid chúng chiếm tỷ lệ 1 – 2 % lân hữu

cơ trong đất (Đỗ Thị Thanh Ren., 2004)

Theo Nguyễn Chí Thuộc và ctv., (1974), dạng lân hữu cơ trong đất phổ biến là

phytate chiếm 50% tổng số lân hữu cơ Ở đất chua lân hữu cơ chủ yếu là dạng nhôm phytate, sắt phytate, còn ở đất trung tính chủ yếu là canxiphyteta Canxiphytate hòa tan trong acid và không hòa tan trong môi trường trung tính và môi trường kiềm, trái lại phytate nhôm và sắt không hòa tan trong dung dịch acid nhưng hòa tan trong môi trường kiềm (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004)

Ngoài ra lân trong đất còn tồn tại ở cơ thể sinh vật nhưng cây không thể hút trực tiếp được, đến khi vi sinh vật chết đi và cơ thể của chúng bị khoáng hóa cây mới hút

được (Nguyễn Chí Thuộc và ctv., 1974) Theo Lê Văn Căn (1978) trong đất mùn, lân

hữu cơ dao động từ 0,81 – 2,45% phụ thuộc vào các loại đất khác nhau và điều kiện sinh học hình thành nên loại đất đó Trong các loại đất khoáng, tỷ lệ lân hữu cơ từ 25 – 65% và ở các chân đất nhẹ, đất bạc màu… có ít keo sét thì tỷ lệ lân thường thấp hơn các chân đất khác

Sau khi các chất hữu cơ trong đất được phân hủy thì chất hữu cơ mới được giải phóng ra acid orthophosphoric và những muối dễ tan của nó Nhưng những dạng này bị hấp phụ bởi đất và sinh vật cho nên lân hòa tan trong đất rất ít Nếu ta vùi chất hữu cơ nghèo lân vào trong đất, sau khi bị khoáng hóa thì lân dễ tiêu trong đất không tăng mà còn bị giảm xuống, khi chất hữu cơ vùi vào trong đất ít hơn 0,2 – 0,3% P2O5 thì khi phân giải sẽ không có thêm chút lân dễ tiêu nào vì bị vi sinh vật hút hết (Nguyễn Chí

Thuộc và ctv., 1974)

v LÂN VÔ CƠ (lân khoáng)

Hợp chất vô cơ chứa lân chủ yếu là những muối của axit octophosphoric với Ca,

Mg, Fe và Al Trong đất lân còn có trong thành phần của apatit, phôtphoric và vivianit, cũng như trong trạng thái hấp phụ của anion phôtphat Apatit là nguồn gốc đầu tiên của tất cả các hợp chất lân trong đất Nó chiếm tới 95% hợp chất lân trong vỏ trái đất Các

hợp chất lân vô cơ trong đất phần lớn có tính di động kém (Trần Văn Chính và ctv.,

2006)

Hàm lượng lân vô cơ trong đất thường cao hơn lân hữu cơ, ngoại trừ trên các loại đất hữu cơ, hàm lượng lân vô cơ gia tăng theo phẫu diện (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004) Lân vô cơ chiếm khoảng 80% lân tổng số, bao gồm phosphate K, Na, NH4, Ca,

Mg, Fe, Al… đây là những sản phẩm do phong hóa đá mẹ, do phân giải chất hữu cơ hoặc do sự chuyển biến phân lân từ ngoài vào Dạng dễ tan là phosphate của cation hóa

Trang 26

trị I (KH2PO4; NaH2PO4), hay phosphate của kim loại kiềm thổ, phosphate Ca, Mg ở dạng khó tan (CaHPO4; MgHPO4; Ca(PO4)2; Mg3(PO4)2) và còn có thể ở dạng hydroxyt apatit (Ca5(PO4)3OH) khó tan hơn (Nguyễn Vy, Trần Khải, 1978) Lân vô cơ nằm dưới dạng muối phosphate Ở đất chua giàu sắt, nhôm là các phosphate sắt nhôm

Ở đất kiềm là các phosphate canxi và phosphate magiê Ở đất mặn còn có thể xuất hiện phosphate natri (Vũ Hữu Yêm, 1995)

Theo Nguyễn Tử Siêm và ctv., (2000) các nhóm phosphate vô cơ tự do và liên

kết với các cation hóa trị I hầu như không có trong dung dịch đất, dạng liên kết với cation hóa trị II cũng rất ít Lân tồn tại chủ yếu dưới dạng các phosphate với các cation

đa hóa trị Fe-P, Al-P khó tan (chiếm tới 65 – 90%, thậm chí 95% lân tổng số) Phosphate sắt chiếm trên 50% lân khoáng trong đất, có độ hòa tan thấp hơn P-Ca nhưng trong môi trường chua chúng bền vững hơn P-Ca, về mặt cung cấp lân dễ tiêu cho cây lúa P-Fe có vai trò tương đương với P-Ca, trong đất lúa chua P-Ca và P-Mg

đóng vai trò không lớn (Nguyễn Tử Siêm và ctv., 2000) Thí nghiệm bằng đồng vị

phóng xạ P32 cũng cho thấy cây lúa hút phosphate sắt không kém gì phosphate canxi (Đỗ Ánh, 2003)

Lê Văn Căn (1978) cho rằng dạng phosphate sắt, nhôm có thể cung cấp lân đáng

kể khi nó ở dạng trung tính nghĩa là tỷ lệ phân tử giữa phosphate và kim loại là 1:1 Trên đất nhiệt đới, phosphate sắt, nhôm không ở dạng trung tính mà chỉ có có ở dạng

acid khó tan trong nước, nên đất nhiệt đới rất nghèo lân dễ tiêu (Nguyễn Chí Thuộc và

ctv, 1974) Theo Mathan, K.K and A.Amberger (1977) cho rằng nếu nồng độ Fe trên

5mg/l thì sẽ ảnh hưởng bất lợi đến sự tăng trưởng và hấp thu lân, còn lân ở mức cao làm giảm sự vận chuyển của sắt từ rễ lên chồi

1.2.2.2 Lân dễ tiêu

Lân dễ tiêu được định nghĩa là phần hợp chất vô cơ chứa lân trong đất, có khả năng hòa tan trong nước hoặc trong các dung môi yếu như acid vô cơ có nồng độ thấp, các muối kiềm như carbonate… Phần lân đó cây trồng có thể hấp thu được dễ dàng (Nguyễn Vy và Trần Khải, 1978)

Lân dễ tiêu trong đất là một chỉ tiêu dao động và không ổn định ngay cả trong một thời gian ngắn, ở ngay trong một loại đất Mặc dù vậy lân dễ tiêu cũng là một chỉ tiêu đánh giá độ phì của đất rất quan trọng không thể thiếu được Vì nếu hàm lượng lân

dễ tiêu cao thì đất có khả năng cung cấp lân nhanh và việc thu hút chất lân của bộ rễ được thuận lợi (Lê Văn Căn, 1985)

Nhưng lân dễ tiêu trong đất là một chỉ tiêu tương đối phức tạp nó chịu sự tác động mạnh mẽ của điều kiện môi trường, của vi sinh vật trong đó pH và các kim loại như: Fe, Al, Mn, Ca cũng như các tinh khoáng silicat và các hydroxyt của các kim loại trên có vai trò hết sức quan trọng đối với sự hữu dụng của lân

Chỉ tiêu lân dễ tiêu phản ánh khá trung thực nhu cầu bón lân cho lúa Theo ý kiến đa số của các nhà bác học thì lân dễ tiêu trong đất gồm các dạng chính sau đây:

- Những phân tử riêng lẽ của H3PO4 trong dung dịch đất và trong nước tưới

Trang 27

- Những phosphate dễ hòa tan trong nước của các kim loại có hóa hóa trị I (NH4,

K, Na) với các gốc H2PO4-, HPO42-, PO43-

- Những phosphate của kim loại đa hóa trị như Ca, Mg, Al, Fe với ion H2PO4

- Những ion H2PO4-, HPO42-, PO43- hấp phụ trên bề mặt keo đất

- Các phosphate Ca, Mg, Fe, Al… lúc mới thành lập

- Các phosphate Fe-P, Al-P bị khử hóa trong đất ở điều kiện yếm khí

(Chang và Jackson, 1957)Các dạng của lân dễ tiêu được sắp xếp theo thứ tự giảm dần độ hòa tan của chúng trong nước và mức độ hữu dụng của chúng đối với cây trồng Hàm lượng lân dễ tiêu trong dung dịch đất và trong cây thay đổi rất lớn tùy thuộc vào tính chất của đất, nhiệt độ môi trường, hàm lượng lân tổng số, quá trình hình thành và phát sinh của đất cũng như loại cây trồng trên đó

Theo Lê Văn Căn (1985) thì lân dễ tiêu trong đất rất dễ bị kết tủa: ở đất kiềm nó

dễ bị kế tủa ở dạng phosphate canxi, ở đất chua dễ bị kết tủa dưới dạng phosphate sắt nhôm Vì vậy lượng phosphate hòa tan khi tan bón vào đất không bao lâu sẽ chuyển thành những dạng khó hòa tan hơn, và càng ít hòa tan thì càng chậm tiêu, khó được cây hút Canxi phosphate dễ dàng biến đổi thành lân dễ tiêu hơn là sắt, nhôm phosphate

(Nguyễn Chí Thuộc và ctv., 1974)

Theo Đỗ Thị Thanh Ren (1999), nồng độ lân hòa tan rất thấp thường là 0,5mg/l Các loại đất giàu lân có thể chứa 1mg/l Cây có khả năng thu hút được lân từ những nồng độ rất loãng trong dung dịch đất Đối với cây lúa thí nghiệm của Roy và Data (1985) thấy rằng duy trì nồng độ lân trong dung dịch đất vào khoảng 0,12 ppm đã thích hợp cho sự sinh trưởng của cây lúa để đạt được số chồi, chiều cao, trọng lượng chất khô và tổng lượng lân cây hút tối đa (Đỗ Thị Thanh Ren, 1994)

0,2-Cây trồng hút lân chủ yếu dưới dạng ion H2PO4- sau đó mới đến HPO42- Dạng ion PO43- cây không hút được và thực tế ion này chỉ có mặt trong dung dịch đất ở pH =

10 trở lên, mà ở pH này thì cây không phát triển được Những loại phosphate dễ tiêu cho cây nhất là những phosphate của muối kim loại hóa trị I, những loại muối này ở trong đất với tỷ lệ nhỏ thường không quá 1mg/kg đất Trong thực tế người ta thấy có nhiều kim loại muối phosphate khó tan trong nước nhưng cây vẫn có thể sử dụng được

(Nguyễn Chí Thuộc và ctv., 1974)

Trang 28

Bảng 1.7: Đánh giá hàm lượng lân dễ tiêu (Đỗ Ánh, 2003)

1.2.3 Phản ứng của lân trong đất

1.2.3.1 Đối với lân hữu cơ

Trong đất nhiều loại vi khuẩn và nấm có thể phân hủy các chất hữu cơ phức tạp

để giải phóng lân dưới dạng vô cơ Các vi sinh vật tiết ra các enzym khử phosphoryl đồng thời giải phóng ion phosphate Phản ứng men nhanh khi nó tác động đến các chất mới vừa bón vào đất, phản ứng men chậm lại khi hợp chất lân đã cải biến và phát triển trong đất bằng cách tạo thành các phức liên kết với Al, Fe, các chất hữu cơ phân tử lượng cao như các dẫn xuất của phytin, acid nucleic, và bị giữ chặt trên các phần tử sét trong đất

Theo Vũ Hữu Yêm (1995) thì các điều kiện sinh thái thuận lợi cho việc khoáng hóa lân hữu cơ cũng giống như việc khoáng hóa các hợp chất đạm và cacbon hữu cơ Tốc độ giải phóng lân phụ thuộc vào:

Bản chất các hợp chất hữu cơ có lân, chẳng hạn acid nucleic dễ khoáng hóa hơn phytin

Ngưỡng C/P = 200 – 300 Ngưỡng càng thấp thì càng dễ khoáng hóa hơn

1.2.3.2 Đối với lân vô cơ

Sự tồn tại các loại ion phosphate trong đất phụ thuộc vào pH đất, ở pH = 7 số lượng H2PO4- và HPO42- gần bằng nhau, nhưng H2PO4- dễ đồng hóa hơn HPO42- (Vũ Hữu Yêm, 1995)

Ngày đăng: 12/04/2018, 21:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm