Cần Thơ - 2012 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD NGUYỄN NHƯ THANH KHẢO SÁT SỰ ĐÁP ỨNG CỦA CÂY BẮP NẾP Zea mays L ĐỐI VỚI PHÂN LÂN TRÊN ĐẤT
Trang 1Cần Thơ - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD
NGUYỄN NHƯ THANH
KHẢO SÁT SỰ ĐÁP ỨNG CỦA CÂY BẮP NẾP
(Zea mays L) ĐỐI VỚI PHÂN LÂN TRÊN ĐẤT TRỒNG
RAU Ở BÌNH TÂN -VĨNH LONG VÀ CHÂU THÀNH -TRÀ
VINH TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC ĐẤT
Trang 2Cần Thơ - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD
NGUYỄN NHƯ THANH KHẢO SÁT SỰ ĐÁP ỨNG CỦA CÂY BẮP NẾP
(Zea mays L) ĐỐI VỚI PHÂN LÂN TRÊN ĐẤT TRỒNG
RAU Ở BÌNH TÂN -VĨNH LONG VÀ CHÂU THÀNH -TRÀ
VINH TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC ĐẤT
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
-
Xác nhận của bộ môn Khoa Học Đất về đề tài “Khảo sát sự đáp ứng của cây bắp nếp (Zea mays L) đối với phân lân trên đất trồng rau màu chủ yếu ở Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh trong điều kiện nhà lưới” Do sinh viên Nguyễn Như Thanh lớp Khoa Học Đất K34 thuộc Bộ Môn Khoa Học Đất – khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại Học Cần Thơ Ý kiến của Cán bộ hướng dẫn:
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2012 Cán bộ hướng dẫn
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
-
Xác nhận của bộ môn Khoa Học Đất về đề tài “Khảo sát sự đáp ứng của cây bắp nếp (Zea mays L) đối với phân lân trên đất trồng rau màu chủ yếu ở Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh trong điều kiện nhà lưới” Do sinh viên Nguyễn Như Thanh lớp Khoa Học Đất K34 thuộc Bộ Môn Khoa Học Đất – khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại Học Cần Thơ Xác nhận của Bộ môn:
Đánh giá:
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2011
Bộ Môn
Trang 5TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
-
Hội đồng báo cáo luận văn tốt nghiệp chứng nhận báo cáo tốt nghiệp với đề tài: “Khảo sát sự đáp ứng của cây bắp nếp (Zea mays L) đối với phân lân trên đất trồng rau màu chủ yếu ở Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh trong điều kiện nhà lưới” Do sinh viên Nguyễn Như Thanh lớp Khoa Học Đất K34 thuộc Bộ Môn Khoa Học Đất – khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại Học Cần Thơ Bài báo cáo được đánh giá ở mức:
Ý kiến của hội đồng:
DUYỆT KHOA
Trưởng khoa Nông Nghiệp
& Sinh Học Ứng Dụng
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2011
Chủ tịch hội đồng
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bài trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Trang 7LỜI CẢM TẠ
Kính dâng !
Cha mẹ - suốt đời đã nuôi con khôn lớn nên người
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc !
PGS.TS.Nguyễn Mỹ Hoa người đã tận tình hướng dẫn, gợi ý và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong việc nghiên cứu và hoàn thành quá trình làm luận văn này
Quí thầy cô trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức quí báo cho em trong suốt các năm học
Xin chân thành cảm ơn !
Cùng tập thể lớp Khoa Học Đất K34 đã nhiệt tình động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nhất là trong thời gian làm luận văn
Xin chân thành cảm ơn !
Trang 8TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Họ và tên: Nguyễn Như Thanh
Nơi sinh: ấp 2, xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau
Họ và tên cha: Nguyễn Văn Triều
Họ và tên mẹ: Diệp Thúy Kim
Địa chỉ liên lạc: Ấp 2, xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau
Năm 2007: tốt nghiệp trung học phổ thông tại trường THPT Nguyễn Văn Nguyễn, Thới Bình – Cà Mau
Từ năm 2008 – nay: học Khoa Học Đất K34 tại Khoa Nông Nghiệp và SHƯD, Trường Đại Học Cần Thơ
Người khai kí tên
Nguyễn Như Thanh
Trang 9MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ix
DANH MỤC BẢNG x
TÓM LƯỢC xii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Vài nét chung về cây bắp 2
1.1.1 Tình hình sản xuất bắp trong nước và thế giới gần 50 năm qua 2
1.1.2 Đặc tính sinh trưởng và phát triển của cây bắp nếp 6
1.1.3 Đặc điểm sinh thái và dinh dưỡng khoáng của cây bắp nếp Error! Bookmark not defined 1.2 Chất lân 14
1.2.1 Vai trò của lân đối với cây trồng 14
1.2.2 Lân trong đất 17
1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến độ hữu dụng của chất lân trong đất 23
1.2.4 Sự lưu tồn lân trong đất 25
1.3 Hiện trạng lân dễ tiêu hiện nay………27
1.4 Sự đáp ứng của Lân trên một số loại rau màu chính tại Đồng Bằng Sông Cửu Long ở các điều kiện bón phân khác nhau 28
1.5 Sự đáp ứng của cây bắp nếp đối với phân lân trên đất trồng rau chủ yếu ở Đồng Bằng Sông Cửu Long trong nhà lưới ở vụ 1, vụ 2, vụ 3, vụ 4 30
CHƯƠNG II 32
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 32
2.1 Phương tiện thí nghiệm 32
2.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 32
2.1.2 Đối tượng của thí nghiệm 32
Trang 102.1.3 Vật liệu thí nghiệm 32
2.2 Phương pháp thí nghiệm 33
2.2.1 Bố trí thí nghiệm 33
2.2.2 Chỉ tiêu theo dõi 34
2.2.3 Phương pháp canh tác 35
2.3 Phương pháp xử lý thống kê 36
CHƯƠNG 3 37
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Ghi nhận tổng quát 37
3.2 Khảo sát sự đáp ứng của phân Lân trên sinh trưởng của bắp nếp 37
3.2.1 Tốc độ sinh trưởng của cây bắp nếp 38
3.2.2 Ảnh hưởng của phân lân trên chiều cao cây và đường kính thân 41
3.2.3 Đường kính cây ở giai đoạn 40 ngày sau khi gieo và giai đoạn thu hoạch 44
3.3 Ảnh hưởng của lân lên sinh khối và năng suất 48
3.3.1 Thí nghiệm trên đất Bình Tân – Vĩnh Long 48
3.3.2 Thí nghiệm trên đất Châu Thành – Trà Vinh 50
CHƯƠNG IV 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
4.1 Kết luận 52
4.2 Kiến nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ CHƯƠNG 56
Trang 11DANH MỤC HÌNH
1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô thế giới 1961 – 2008 3
3.2 Sự phát triển chiều cao của bắp ở nghiệm thức có bón (a) và không
bón lân (b) trên đất Bình Tân – Vĩnh Long 38
3.3 Sự phát triển chiều cao của bắp ở nghiệm thức có bón lân (a) và
không bón lân (b) trên đất Châu Thành – Trà Vinh 40
3.4
So sánh đường kính giữa nghiệm thức có bón lân và không bón lân
trên từng loại đất ở thí nghiệm đất Bình Tân – Vĩnh Long giai đoạn
40 NSKG
45
3.5
Đường kính giữa nghiệm thức có bón lân và không bón lân trên tứng
loại đất ở thí nghiệm đất Châu Thành – Trà Vinh giai đoạn 40
NSKG
45
3.6
So sánh đường kính giữa nghiệm thức có bón lân và không bón lân
trên từng loại đất ở thí nghiệm đất Bình Tân – Vĩnh Long giai đoạn
thu hoạch
47
3.7
So sánh đường kính giữa nghiệm thức có bón lân và không bón lân
trên từng loại đất ở thí nghiệm đất Châu Thành – Trà Vinh giai đoạn
thu hoạch
47
3.8
So sánh năng suất trái (a) và sinh khối (b) giữa nghiệm thức có bón
lân và không bón lân trên từng loại đất ở thí nghiệm đất Bình Tân –
Vĩnh Long
49
3.9
So sánh năng suất trái (a) và sinh khối (b) giữa nghiệm thức có bón
lân và không bón lân trên từng loại đất ở thí nghiệm đất Châu Thành
– Trà Vinh
51
Trang 12DANH MỤC BẢNG
1.1 Diện tích , năng suất, sản lượng bắp Việt Nam từ những năm 1961 – 2009 4
1.2 Diện tích , năng suất, sản lượng bắp của các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu
1.3 Lượng NPK bón cho từng giống bắp trên từng loại đất khác nhau 9 1.4 Chẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng qua lá của cây bắp 10 1.5 Đánh giá lân tổng số trong đất (Lê Văn Căn, 1979) 18 1.6 Đánh giá lân trong đất ở Đồng Bằng sông Cửu Long (Kuyma, 1976) 19 1.7 Hàm lượng lân tổng số trên tầng mặt của các nhóm đất chính 19
1.8 Đánh giá hàm lượng lân dễ tiêu theo phương pháp Bray 2 (0,1M HCl + 0,03
Sinh khối các bộ phận của cây bắp lai giữa các nghiệm thức bón thiếu N,
thiếu P, thiếu K và đầy đủ NPK giai đoạn thu hoạch (kg/ha) (Nguyễn Mỹ
3.2 So Sánh chiều cao cây bắp ở từng loại đất với nghiệm thức có bón và không
Trang 133.3 So Sánh đường kính cây bắp giữa nghiệm thức có bón và không bón lân ở
3.4 So Sánh đường kính cây bắp giữa nghiệm thức có bón và không bón lân ở
Trang 14Nguyễn Như Thanh, “Khảo sát sự đáp ứng của cây bắp nếp (Zea mays L) đối với phân lân trên đất trồng rau màu chủ yếu ở Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh trong điều kiện nhà lưới”, luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Khoa Học Đất, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ, cán bộ hướng dẫn khoa học PGS.Ts Nguyễn Mỹ Hoa
TÓM LƯỢC
Đề tài: “Khảo sát sự đáp ứng của cây bắp nếp (Zea mays L) đối với phân lân
trên đất trồng rau màu chủ yếu ở Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh
trong điều kiện nhà lưới” được thực hiện từ ngày 20/8/2011 đến ngày 15/11/2011 tại nhà lưới bộ môn Khoa Học Đất – Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại Học Cần Thơ Nhằm mục tiêu đánh giá khả năng đáp ứng của cây bắp nếp đối với chất lân trên năng suất của bắp nếp ở huyện Bình Tân – Vĩnh Long và huyện Châu Thành – Trà Vinh
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên hai nhân tố
có bón và không bón lân trên 20 đất thí nghiệm có hàm lượng lân dễ tiêu từ thấp đến cao Bắp được trồng trong chậu, mỗi chậu một cây, chậu có kích thước 28 x 18
cm, được đặt trong khoảng cách 60 x 20 cm Kết quả thí nghiệm cho thấy bón lân không làm tăng chiều cao ở hai loại đất thí nghiệm, việc bón lân cũng không làm tăng năng suất, sinh khối trên 2 loại đất thí nghiệm Do đó cần thí nghiệm nghiên cứu liều lượng bón phân hợp lý để sử dụng trên đất trồng rau màu ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Trang 15MỞ ĐẦU
Hiện nay ở nước ta diện tích trồng cây lương thực hoa màu ngày càng tăng với mức độ thăm canh tăng vụ ngày càng cao Đã có nhiều dự án được thực hiện nhằm mục tiêu gia tăng năng suất và lợi nhuận của bắp lai
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, trên đa số các loại cây trồng nhất là trên rau màu, phân lân được sử dụng với một liều lượng rất cao mà không chú ý đến đặc tính độ phì khác nhau của từng cánh đồng Điều này dẫn đến sự tích lũy lân ở một
số điểm trồng rau màu chuyên canh có vòng quay sử dụng đất ngắn gây lãng phí phân bón, tăng chi phí trong sản xuất và ảnh hưởng đến đời sống của cây trồng
Có nhiều ý kiến đánh giá về chất lân đối với cây trồng Theo Đỗ Thị Thanh Ren (1999) cho rằng sau chất đạm không có chất nào ảnh hưởng đến sự sinh
trưởng của cây trồng bằng chất lân Theo Nguyễn Xuân Trường và ctv, (2000) lân
có vai trò quan trọng với cây bắp, tuy nhiên khả năng hút lân ở giai đoạn cây con rất yếu Thời kỳ 3 – 4 lá cây bắp không hút được nhiều lân, đó là thời kỳ khủng hoảng lân của bắp, nếu thiếu lân ở giai đoạn này sẽ làm giảm năng suất nghiêm trọng
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Mỹ Hoa và ctv, (2006) cho thấy nhiều ruộng
khảo sát trông vùng trồng rau chuyên canh của Tiền Giang, hàm lượng lân dễ tiêu đạt rất cao (129-234 mg P/kg) Kết quả điều tra cho thấy nông dân ở vùng khảo sát
đã sử dụng phân lân rất cao 100-150 kg P2O5/ha/vụ để bòn cho các loại cây trồng Mặt khác một số kết quả nghiên cứu gần đây ở Trà Vinh cho thấy cây bắp có đáp ứng rất cao khi bón phân đạm nhưng lại có đáp ứng rất thấp đối với phân lân (Nguyễn Mỹ Hoa, 2008)
Theo kết quả nghiên cứu các vụ trước cho thấy việc bón lân không có hiệu quả trên hầu hết các loại đất thí nghiệm (trong điều kiện nhà lưới) Tuy nhiên vấn đề đặt ra là hiệu quả của lân lưu tồn trong đất có kéo dài đến vụ 5 không? Nếu tiếp tục không bón lân ở vụ 5 và thay đổi trồng cây bắp nếp cho cây bắp rau thì sự lưu tồn lân trong đất vẫn đáp ứng đủ cho cây trồng không?
Vì vậy đề tài “Khảo sát sự đáp ứng của cây bắp nếp (Zea mays L) đối với
phân lân trên đất trồng rau màu chủ yếu ở Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh trong điều kiện nhà lưới” cần thiết được thực hiện nhằm khảo
sát sự đáp ứng của cây bắp nếp đối với phân lân ở một số loại đất trồng rau ở Bình Tân-Vĩnh Long và Châu Thành-Trà Vinh
Trang 16CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Vài nét chung về cây bắp
1.1.1 Tình hình sản xuất bắp trong nước và thế giới gần 50 năm qua
1.1.1.1 Tình hình trên thế giới
Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu Trên thế giới cây ngô đứng hàng thứ ba về diện tích, thứ hai về sản lượng và đứng thứ nhất về năng suất Theo số liệu của CIMMYT (World Maize Facts and Trends 1993 - 1994) thì giai đoạn 1990 – 1992 toàn thế giới trồng 129.804 ngàn ha ngô với năng suất bình quân là 3,8 tấn/ha và tổng sản lượng gần 500 triệu tấn (Ngô Hữu Tình 1997)
Ngành sản xuất bắp thế giới tăng liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay, nhất là trong hơn 40 năm gần đây, bắp là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây lương thực chủ yếu Vào năm 1961, năng suất bắp trung bình của thế giới chỉ chưa đến 20 tạ/ha, năm 2004 đã đạt 49.9 tạ/ha Năm 2007, theo USDA, diện tích bắp đã vượt qua lúa nước, với 157 triệu ha, năng suất 4.9tấn/ha và sản lượng đạt kỷ lục với 766.2 triệu tấn (FAOSTAT, USDA 2008)
Sản lượng ngô xuất khẩu trên thế giới trung bình hằng năm từ 82,6 đến 86,7 triệu tấn Trong đó, Mỹ xuất khẩu 64,41 % tổng sản lượng và các nước khác chiếm 35,59 % Sản lượng ngô trên thế giới năm 2007 tăng gắp đôi so với 30 năm trước đây (sản lượng khoảng 349 triệu tấn vào năm 1977) (Sở Khoa học công nghệ An Giang, 2007)
Vào năm 1961, năng suất ngô trung bình của thế giới chỉ xấp xỉ 20 tạ/ha, thì năm 2008 tăng gấp hơn 2,5 lần (đạt 51 tạ/ha), sản lượng đã tăng từ 204 triệu tấn lên 822,712 triệu tấn (gấp 4 lần), diện tích tăng từ 104 triệu lên 161 triệu hecta (hơn 1,5 lần) (Khoa học Nông Nghiệp Việt Nam)
Trang 17Hình 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô thế giới 1961 – 2008
Nguồn: khoa học Nông Nghiệp Việt Nam)
1.1.1.2 Tình hình sản xuất bắp trong nước
Trước đây sản suất bắp ở Việt Nam còn nhỏ lẻ và phân tán, chủ yếu là tự cung tự cấp theo nhu cầu của hộ nông dân Vào thập kỷ 60 của thế kỷ trước, diện tích bắp Việt Nam chưa đến 300 nghìn hecta, năng suất chỉ đạt trên 1 tấn/ ha, sản lượng đạt khoảng hơn 400.000 tấn do vẫn trồng các giống bắp địa phương với kỉ thuật canh tác lạc hậu Từ giữa những năm 1980, nhờ hợp tác với trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT), nhiều giống bắp cải tiến đã được đưa vào trồng ở nước ta, góp phần nâng năng suất lên gấp 1,5 tấn/ha vào đầu những năm
1990 Tuy nhiên, ngành sản suất bắp nước ta thực sự có những bước tiến nhảy vọt
là từ đầu những năm 1990 đến nay, gắn liền với việc không ngừng mở rộng giống bắp lai ra sản xuất, đồng thời cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác theo đòi hỏi của giống mới
Từ năm 2006, năng suất và sản lượng ngô của Vệt nam đã có những bước tiến nhảy vọt cao nhất từ trước đến nay Tốc độ tăng trưởng diện tích, năng suất và
Trang 18sản lượng ngô của việt Nam cao hơn nhiều lần của thế giới, lợi nhuận trồng ngô lại cao hơn hẳn các loại cây trồng khác Năm 2008 diện tích trồng ngô của cả nước (trong đó 90% diện tích là ngô lai) đạt 1.126.000 ha, tổng sản lượng trên 4.531.200 tấn Năm 2009, diện tích đạt 1.170.900 ha, tổng sản lượng lên tới trên 5.031.200 tấn, cao nhất từ trước tới nay
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng Bắp Việt nam từ những năm 1961 – 2009
Năm Diện tích
(1000 ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Trang 19Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng bắp của các tỉnh Đồng Bằng Sông
Cửu Long trong những năm gần đây
Trang 201.1.2 Đặc tính sinh trưởng của cây bắp nếp
Cây bắp ưa khí hậu ấm có khả năng thích nghi với khoảng khí hậu rộng, nên
có thể trồng được trên các vùng đất của Việt Nam Bắp có thể phát triển tốt trên bất
kỳ loại đất nào nếu có hệ thống tưới tiêu đầy đủ để duy trì đủ oxy cho rễ phát triển,
và có khả năng giữ nước để tạo độ ẩm thích hợp trong suốt mùa sinh trưởng Được phát triển trong điều kiện thuận lợi, bắp có thể cho thu hoạch 60 ngày kể từ khi nẩy mầm, trong khi có giống cần đến 280 ngày
Cây bắp không kén đất nên có thể trồng, được trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng thích hợp nhất là đất trung tính có độ pH từ 6.0 – 7.2, đất giàu mùn và chất dinh dưỡng
1.1.3 Đặc điểm sinh thái và điều kiện dinh dưỡng khoáng của cây bắp nếp
1.1.3.1 Điều kiện ngoại cảnh
Cây ngô là loại cây trồng có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới
Nhiệt độ lý tưởng để ngô sinh trưởng, phát triển là 25 – 300C, thích hợp cho giai đoạn tạo bắp tới thu hoạch sản phẩm
Ngô là cây cần đất ẩm, nhưng khả năng chịu úng kém Cây ngô có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, tuy nhiên ngô thích hợp nhất là trên đất có thành phần
cơ giới nhẹ, độ màu mỡ cao, dễ thoát nước, tầng canh tác dày, độ pH: 6 – 7
Trang 211.1.3.3 Giống
Bắp nếp lai đơn F1 MX10 của Công ty Cổ phần Giống cây trồng miền Nam
là giống cây trồng mới được phép đưa vào sản xuất kinh doanh Đây là giống bắp nếp lai đơn đầu tiên do một công ty trong nước lai tạo được
Đặc tính
Sinh trưởng mạnh, lá to, có khả năng chống chịu bệnh khô vằn, đốm lá, rỉ sắt rất tốt, năng suất trái tươi còn vỏ đạt 18-19 tấn/ha, độ đồng đều trái và cây cao 190 – 210cm, thu hoạch tập trung, tỷ lệ trái loại 1 cao trên 95 %, ăn tươi ngon, mềm, dẻo, ngọt, thơm đặc trưng, dạng trái hơi nù, hạt trắng sữa
Lượng giống và khoảng cách
Giống bắp nếp lai đơn F1 MX 10 có thời gian sinh trưởng ngắn 62-65 ngày
Mỗi ha cần 9-10kg hạt giống, gieo 1 hạt/1 hốc, theo khoảng cách 70 x 25 cm, gieo thêm 10% số hạt trong bầu để trồng dặm, đảm bảo mật độ 57.000 cây/ha Gieo hạt sâu 2-3cm, lắp hạt bằng tro trấu có trộn Regent để ngừa côn trùng cắn phá
Chú ý: Cần gieo hạt mật độ không quá dày để tránh cạnh tranh ánh sáng, hạn chế sự sinh trưởng và phát triển của cây bắp và nên gieo hạt trong bầu khoảng 2-3
% số cây để trồng dặm nhằm đảm bảo số cây và độ đồng đều trên ruộng
1.1.3.4 Dinh dưỡng khoáng cho bắp
Bắp là cây phàm ăn, nếu muốn đạt năng suất cao phải trồng trên các loại đất giàu chất dinh dưỡng Nếu đất trồng thiếu chất dinh dưỡng phải tiến hành bón phân
bổ sung để cây phát triển tốt, đạt năng suất cao
Theo Dương Minh (1999), cây bắp cần rất nhiều đại dưỡng tố như N, P, K,
Mg, Ca ít nguyên tố vi lượng như Bo, Cu, Zn, Mn, Fe, Mo…
Đạm là nguyên tố ảnh hưởng quan trọng đến các quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất bắp Dạng phân đạm bón lót tốt nhất cho bắp là amon nitrat hay
Trang 22sunphat amon, urea cũng tốt nhưng đòi hỏi quá trình bay hơi Các giống bắp ở ĐBSCL thường có hàm lượng N ở lá xanh chiếm khoảng 1,8 % trọng lượng khô (Dương Minh,1999)
Cây bắp cần nhiều K trong giai đoạn tăng trưởng tích cực, mỗi cây có thể hút 0,67g/cây Phân tích lá cho thấy cây bắp thiếu K khi lá chỉ chứa 0,58-0,78% K, trung bình 0,74-5,8% (Dương Minh, 1999) Loại kali thường bón cho bắp là kaliclorua vừa phù hợp lại rẻ nhất, trừ khi đất thiếu lưu huỳnh thì có thể bón kali sunphat thì có thể đáp ứng cả K và S (Nguyễn Như Hà, 2006)
Theo Nguyễn như Hà các ảnh hưởng xấu của đất có pH thấp đối với cây bắp
có lẻ chủ yếu là do Al3+ di động cao Khi đất có pH 4,5 – 4,7 bón vôi cho đất có hiệu lực cao nếu lượng vôi đủ trung hòa ½ độ chua thủy phân của đất Ở pH ≥ 5 không cần phải bón vôi, do ở pH trên, Al3+ di động đã bị cố định hết, không còn gây tác hại lớn cho bắp
Dạng phân đạm bón lót tốt nhất cho bắp là amôn nitrat hay sunphat amôn, urê cũng tốt nhưng đòi hỏi quá trình chuyển hóa thành amôn nên cần trộn lẫn vào đất để tránh quá trình bay hơi Dạng phân lân thường bón cho cây bắp là các loại super hòa tan hay amôn photphat
Loại kali thường bón cho bắp là kaliclorua vừa phù hợp lại rẻ nhất, trừ khi đất thiếu lưu huỳnh thì có thể bón kali sunphat thì có thể đáp ứng cả K và S
(Nguyễn Như Hà, 2006)
Trang 23Bảng 1.3: Lượng NPK bón cho từng giống bắp trên từng loại đất khác nhau
Đơn vị tính: Kg/ha
Lượng bón (kg/ha) Loại đất Loại bắp
Bắp lai 160 – 200 60 – 90 60 – 80
Bắp thường 120 – 150 50 – 70 40 – 60 Đất phù sa
Bắp rau (thu non) 100 – 120 40 – 60 40 – 60
Bắp lai 140 – 180 80 – 100 90 – 120
Bắp thường 120 – 140 60 – 90 80 – 100 Đất xám,
cát
Bắp rau (thu non) 100 – 120 40 – 60 40 – 60
Bắp lai 160 – 200 80 – 100 80 – 100
Bắp thường 120 – 150 60 – 80 40 – 60 Đất đỏ
vàng
Bắp rau (thu non) 100 – 120 40 – 60 40 – 60
(Nguồn: Nguyễn Xuân Trường, 2000)
Theo Trần Văn Hiến (2007) trên các loại đất, nếu có điều kiện cần bón 5 -10 tấn phân hữu cơ/ha Lượng N-P-K bón theo công thức 140 kg N - 60 kg P2O5 - 40kg
K2O tương đương với 330 kg Urê, 370kg Super lân, 80kg KCl/ha Có thể dùng phân hỗn hợp như 16-16-8 hoặc 20-20-0 với lượng 200 kg/ha để bón lót cho cây, kết hợp với 200 kg Urê để bón thúc
Khi tính tỷ lệ các nguyên tố tỷ lệ N:P:K phù hợp cho bắp, thường dựa vào các chất dinh dưỡng có trong đất Trong thực tế có thể dựa vào việc chuẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng qua lá của cây bắp để xác định nhu cầu phân bón
Trang 24Bảng 1.4: Chẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng qua lá của cây bắp
Hàm lượng dinh dưỡng (% chất khô)
Loại dinh
dưỡng
Bộ phận và thời gian lấy mẫu phân tích
Trang 25Việc bón lót đạm và kali cho bắp có những ý kiến khác nhau: Vì xét về nhu cầu của cây ở giai đoạn đầu thì chưa cần nên có khuyến cáo là không cần bón lót đạm và kali Nhưng do trồng bắp trong điều kiện đất cạn (khô), lượng phân bón nhiều, cây có thể chịu được nồng độ muối tan cao nên bón lót 1/3 tổng lượng N và
K2O, để sớm thỏa mãn nhu cầu đạm, kali và thúc đẩy cây con sinh trưởng (Nguyễn Như Hà, 2006)
Bón thúc cho bắp
Bón thúc đợt 1, khi cây có 3 – 4 lá thật nhằm giúp cây phát triển bộ rễ, chuyển dinh dưỡng từ hạt sang dinh dưỡng từ đất được tốt, thường bón 1/3 đạm + 1/3 kali Pha phân với nước tưới cho cây, nếu đất đủ ẩm có thể bón trực tiếp vào đất: rạch 2 bên cách gốc cây bắp 5 – 7cm, rải đều phân vào rạch rồi kết hợp vun đất nhẹ
để lấp phân quanh gốc Để giảm công bón phân khi đã có bón lót đạm và kali có thể không bón thúc lần 1 (Nguyễn Như Hà, 2006)
Bón thúc đợt 2 khi bắp có 7-9 lá thật, nhằm thúc đẩy sự phát triển của bộ rễ đốt, nhằm giúp cho cây hút được nhiều chất dinh dưỡng, phát triển thân lá, phân hóa
cơ quan sinh sản và chống đổ Thường dùng 1/3 đạm + 1/3 kali trộn đều phân bón vào rảnh sâu 5 - 7cm hai bên hàng và cách gốc 10-15cm, sau đó lấp đất vun vào gốc (Nguyễn Như Hà, 2006)
Bón thúc đợt 3 lúc cây xoắn nõn (10-15 ngày trước khi trổ) tác dụng tốt cho quá trình phân hóa bắp và trổ cờ, tạo điều kiện cho thân lá phát triển tối đa, giữ bộ
lá xanh lâu để quang hợp nuôi trái Dùng toàn bộ lượng phân còn lại bón vào gốc như đợt 2 và kéo đất vun gốc lại (Nguyễn Như Hà, 2006)
Khi sử dụng các loại phân NPK, ngoài bón lót phần lớn lân khi trồng, lân còn
có thể bón làm nhiều đợt cùng các loại phân vô cơ khác bằng các loại lân hòa tan trong nước theo yêu cầu của cây Đối với đạm cần chia ra nhiều lần bón trong đó chú trọng đợt bón trước lúc trổ cờ Kali chia ra bón nhiều lần nhưng tập trung nhiều vào giai đoạn trước phun râu (Nguyễn Như Hà, 2006)
Trang 261.1.3.6 Những vấn đề về bón phân cân đối trong trồng bắp
Ở bất kỳ giai đoạn nào, đối với cây bắp đạm cũng là nhân tố rất lớn ảnh hưởng đến năng suất, còn lân và kali bón bao nhiêu cũng chủ yếu là hàm lượng lân và kali
dễ tiêu trong đất (Nguyễn Như Hà, 2006) Rất cần thiết bón cân đối giữa phân hữu
cơ – vô cơ vì phân hữu cơ ngoài tác dụng cung cấp một phần dinh dưỡng còn cải thiện tính chất vật lý đất làm cây sinh trưởng tốt hơn Trong ciệc trồng bắp cũng cần quan tâm bón thường xuyên các dạng S như super lân và sử dụng vi lượng Zn cho bắp để đảm bảo bắp cho năng suất cao, phẩm chất tốt, có hiệu lực chung của phân bón cao và hiệu quả sản xuất cao (Nguyễn Như Hà, 2006)
Trồng bắp trên đất cát, đất xám, đất bạc màu cần quan tâm bón đủ cả N, P, K
và các phần trung, vi lượng, phân hữu cơ, còn trên đất đỏ thì cần chú ý bón lân và kali Trên đất nghèo dinh dưỡng như đất xám bạc màu, đất cát, cần bón nhiều lân và kali hơn so với đất phù sa, đất đỏ bazan Trên các loại đất bạc màu, đất xám, đất cát bón phân kali có tác dụng tăng năng suất rõ rệt Bắp lai cần bón cần bón nhiều phân hơn bắp thường, và bắp thường cần bón nhiều phân hơn bắp rau (Nguyễn Như Hà, 2006)
1.1.3.7 Kỹ thuật trồng và thu hoạch bắp nếp lai đơn F1 MX10
Chăm sóc
- Tưới nước: Tùy theo điều kiện đất đai, thời tiết và các thời kỳ sinh trưởng của bắp để cung cấp nước thích hợp Không để cho cây bị khô hạn, ngập úng trong mùa mưa Nhất là không để khô, úng trong thời gian cây trổ cờ, phun râu trái ngậm sữa
Trang 27+ Đất cần được cài xới, hoặc cuốc phơi ải ít nhất 10 - 15 ngày để đất xốp, thoáng giúp rễ bắp phát triển tốt ít đổ ngã
+ Để hạn chế bệnh đốm vằn thì ở giai đoạn trước trỗ cờ nên loại bỏ các lá già có vết bệnh ở gốc, nếu mưa nhiều, ẩm độ cao thì phun tilt hay Appencab và dùng Validacin 3DD hoặc Anvil 5S để phòng trị
Trang 28+ Phòng ngừa bệnh bạch tạng (sọc trắng) cho bắp (ngô), một loại bệnh gây thất thu (không hạt, không có trái) cần phun ngừa bằng Foraxyl 3dhz5WP ở giai đoạn
10 – 15 ngày sau khi geo với liều lượng phun là 15 – 20g/1 bình 8 lít nước, phun cho 5 bình cho 1000 m2 Khuyến cáo sử dụng các biện pháp canh tác và phòng trừ sâu bệnh sinh học và an toàn
- Phân bón: Bắp nếp lai đơn F1 MX10 có nhu cầu phân bón khá cao Công thức phân do công ty Giống miền Nam đề nghị: 110 N, 100 P2O5, 60 K2O tương ứng với liều lượng cho 1 ha như sau: 5 – 10 tấn phân chuồng hoai, 250kg urea, 450 – 500kg Super Lân, 100 – 120kg KCl được bón như sau:
+ Bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân lúc làm đất
+ Bón thúc lần : 10 ngày sau khi gieo, bón 100kg Urea, 20- 25kg KCl
+ Bón thúc lần 2: 20 ngày sau gieo, bón 100kg Urea, 40 – 50kg KCl
+ Bón thúc lần 3: 30 – 40 ngày sau gieo bón toàn bộ lượng phân còn lại
Thu hoạch:
Nếu ăn tươi thu sau khi phun râu 18 – 20 ngày (khoảng 62 – 65 ngày sau khi gieo), nếu thu khô, thu hoạch 75 – 80 ngày sau gieo Gần đến thời gian thu hoạch, cần kiểm tra thu hái trái bắp đã phát triển hết độ lớn, hạt căng, hạt trên đầu trái bắp đầy đặn, không bị cứng… Năng suất trái tươi trung bình 1,500 kg/ 1000m2 (15 tấn/ha), thâm canh có thể đạt 20 tấn trái tươi/ha/vụ
1.2 CHẤT LÂN
1.2.1 Vai trò của lân đối với cây trồng
Lân có vai trò rất quan trọng đối với cây trồng, sau chất đạm không có chất nào ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây trồng bằng chất lân Hàm lượng lân trong cây và trong đất thường thấp hơn đạm và kali Trong đất lân thường có xu hướng
Trang 29Hiện nay lân là yếu tố hạn chế năng suất, chi phối độ phì thực tế của đất và
đã trở thành vấn đề chiến lược đối với nông nghiệp nước ta vì hàm lượng lân ở các loại đất đều thấp (Đỗ Ánh và Bùi Đình Dinh, 1992)
Theo Fageria, 1992 lân còn có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng và protein P là nguyên tố thành phần rất cần thiết của vật chất sống Đứng thứ 2 sau nguyên tố N, nó bị giới hạn bởi đất (Yoshida, 1972) Lân là nguyên
tố cấu thành phân tử adenosine triphosphate (ATP), nucleotides, nucleic acids, và phospholipids Chức năng chính là dự trữ năng lượng và vận chuyển vật chất qua màng tế bào Lân rất di động trong cây, kích thích chồi và rễ phát triển, gây trổ hoa sớm, và chín sớm trên cây trồng đối với những vùng lạnh Lân đặc biệt quan trọng đối với thời kỳ đầu của một giai đoạn sinh trưởng (Achim Dobermann, 2000)
Ngoài ra, Lân còn tham gia vào thành phần các enzym, các protein, tham gia vào quá trình tổng hợp các acid amin (Iqbal Ahmad và ctv., 2008) Lân cũng là thành phần của adenosine triphosphate (ATP), là nguồn năng lượng vận chuyển và bảo tồn vật chất, lân cần thiết cho quá trình hình thành axit nucleic và phospholipid (Marschner, H 1995)
Lân cần thiết cho hầu hết các quá trình sinh lý sinh hóa xảy ra trong cây Thiếu lân năng suất cây trồng giảm nghiêm trọng, phần lớn đất Việt Nam nghèo lân nên bón lân rất có tác dụng (Bùi Đình Dinh và ctv., 1993) Trong cây tỷ lệ lân biến động trong phạm vi 0,08 – 1,14% so với chất khô (Vũ Hữu Yêm, 1995) Phần lớn lân được dự trữ trong hạt Trong cây lân chủ yếu nằm dưới dạng hữu cơ, chỉ có 10 – 12% là lân vô cơ Khi hạt chín thì lân vô cơ giảm dần và chuyển sang Fytin Cây có thể đồng hóa được lân vô cơ của acid orthophosphorid Một ít muối của acid metaphosphorid (H3PO4) và acid phosphorid
Cây trồng hấp thu lân ở dạng H2PO4- hoặc HPO42- Sự hiện diện của các ion phosphate trong dung dịch đất phụ thuộc rất nhiều vào pH của dung dịch Trong các loại đất chua (pH từ 4.0 - 5.5) ion hóa trị một H2PO4- chiếm ưu thế trong khi ở dung dịch có pH cao hơn là ion hóa trị hai HPO42- (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004)
Trang 30Khác với đạm, lân luôn giữ ở dạng oxyt hóa bên trong cây Lân hiện diện ở dạng lân vô cơ hoặc dạng ester của acid phosphorid, nghĩa là trong acid nuclêic (DNA và RNA), lân hiện diện mang tính không thể thay thế được cho sự tạo tính di truyền của cây trồng Bên cạnh đó lân còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo năng lượng biến dưỡng trong cây Adenosin triphosphate là một nucleic acid đơn, một hợp chất trữ năng lượng cho tiến trình hô hấp hoặc quang tổng hợp trong cây Lân là thành phần của lipid đặc biệt là phospholipids Những hợp chất này là thành phần chính của màng tế bào Các thành phần khác của lân trong cây ở dạng lân vô
cơ Các dạng này là thành phần dự trữ của lân trong cây ở điều kiện lân được hấp thu cao (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)
Theo Phan Thị Công và ctv (1994), lân giúp bộ rễ phát triển tốt, góp phần tăng cường hiệu quả hút thu đạm của rễ cây trồng Lân kích thích quá trình đẻ nhánh, nảy chồi, thúc đẩy cây ra hoa tạo quả sớm và nhiều Lân cũng có khả năng di chuyển từ chồi non đến rễ và ngược lại (A.H Eugelink, 1998)
Lân giúp rễ cây phát triển mạnh, ăn sâu lan rộng, giúp cây đứng vững, hút được nhiều dưỡng chất khác trong đất Thúc đẩy việc ra rễ bên đặc biệt là lông hút (Vũ Hữu Yêm, 1995)
Lân làm tăng cường phẩm chất nông sản, nếu bón đầy đủ lân, sản phẩm sẽ chứa nhiều vitamin thuộc nhóm B2 (Maccoi, 1951) Lân làm tăng cường khả năng thu hút đạm do nó có tác dụng chống chế độ của lượng đạm khoáng, tăng cường việc chuyển hóa đạm thành protid
Bón lân làm tăng quá trình chuyển hóa đạm nitrate, do đó làm giảm mạnh nồng độ đạm nitrate trong cây (Trần Thị Tường Linh và ctv, 2005) Ngoài ra lân còn có tác dụng giúp cây tăng các khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi như: khả năng chịu rét, chịu hạn và khả năng chống chịu sâu bệnh hại cây trồng
Theo Đỗ Ánh (2003) đối với đất lân là một chỉ tiêu của độ phì đất “Đất giàu lân có độ màu mỡ cao và ngược lại đất có độ màu mỡ cao đều giàu lân” (E.Detrunk,
Trang 31năng suất cây trồng tăng tỷ lệ thuận với liều lượng bón lân (Nguyễn Bình Nhựt và ctv., 2004)
Lân có vai trò quan trọng với cây bắp, tuy nhiên khả năng hút lân ở giai đoạn cây con rất yếu Thời kỳ 3 – 4 lá cây bắp hút không được nhiều lân, đó là thời kỳ khủng hoảng lân của bắp, nếu thiếu lân ở giai đoạn này sẽ làm giảm năng suất nghiêm trọng Cây bắp hút nhiều lân nhất (khoảng 62% tổng lượng lân yêu cầu) ở thời kỳ 6-12 lá sau đó giảm dần đi ở các thời kỳ sau (Nguyễn Xuân Trường và ctv., 2000)
Bắp khi thiếu lân lá chuyển sang màu đỏ đến tím Lá xanh đậm hơn bình thường, chuyển sang màu tím ở mặt dưới lá và sau cùng là toàn bộ cây phát triển chậm, thân nhỏ và ngắn, trì hoãn trưởng thành nên cây tăng trưởng kém Thiếu lân thường xuất hiện đầu tiên ở lá già nhất, thường xuất hiện trên đất nén dẻ, đất phèn nặng, đất kiềm hay đất có hàm lượng lân nghèo Ngoài ra đối với bắp lấy hạt thiếu lân làm cho trái cong quẹo, trường hợp nặng lá sẽ chuyển sang màu vàng và chết (Nguyễn Xuân Trường và ctv., 2000)
Triệu chứng thừa lân của bắp: thời gian đầu lá bắp bị vàng úa lõm chõm phía sau chót lá và dọc theo hai rìa lá già Sau đó vàng nhạt dần từ chót lá vào cuốn lá, dần dần hoại tử và héo
Hàm lượng lân trong đất có thể thay đổi từ 0,02 – 0,5%, trung bình là 0,05% Chất lân trong đất ở dưới bốn dạng: (1) lân dưới dạng ion và hợp chất trong dung dịch đất, (2) lân hấp phụ trên các thành phần đất vô cơ, (3) các dạng lân khoáng
Trang 32gồm các tinh thể và vô định hình, (4) lân trong thành phần của chất hữu cơ Tổng lượng lân trên lớp đất mặt trung bình 1000 kgP/ha, không lớn lắm so với lượng cây trồng lấy đi hàng năm từ 10 – 40 kg P/ha Điều này đặc biệt đúng khi một lượng lân lớn hiện diện dưới dạng lân khoáng không hữu dụng cho sự hấp thu của cây (Barber
et al., 1995)
1.2.2.1 Lân tổng số
Tổng số các hợp chất lân trong đất, dù kết hợp với cation nào, ở dạng nào, hữu cơ hoặc vô cơ gộp lại thành “lân tổng số” của đất, thể hiện bằng hàm lượng tổng số P2O5 (Lê Văn Căn, 1985) Do đó lân tổng số chỉ cho chúng ta biết được tổng lượng lân trong đất mà không cho biết khả năng cung cấp lân cho cây trồng, vì lân trong đất được kiểm soát bởi nhiều yếu tố môi trường, có thể bị giữ lại bởi các hợp chất khó tan như phosphate sắt nhôm Mặc khác các loại cây trồng khác nhau thì khả năng sử dụng lân cũng khác nhau Các đất có hàm lượng lân tổng số khác nhau, đặc biệt ở Việt Nam hàm lượng lân tổng số rất thấp Nhưng xét về phì nhiêu thực tế thì lân tổng số không có ý nghĩa gì nhiều, vì đại bộ phận lân tổng số ở dạng khó tiêu đối với thực vật (Nguyễn Tử Siêm và ctv., 2000)
Bảng 1.5: Đánh giá lân tổng số trong đất (Lê Văn Căn, 1979)
Trang 33có hàm lượng lân tổng số khá 0,088% P2O5 Đất phù sa sông Hồng có hàm lượng lân tổng số và lân dễ tiêu nhiều hơn vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)
Bảng 1.6: Đánh giá lân trong đất vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (Kuyma.,1976)
Lân hữu cơ
Lân hữu cơ được tìm thấy trong đất mùn, lá cây và các dư thừa thực vật và động vật đất vì đây là dạng liên kết với chất hữu cơ nên nó được tìm thấy chủ yếu ở
Trang 34lớp đất mặt Hàm lượng lân trong đất thay đổi tùy theo loại đất và gia tăng với hàm lượng chất hữu cơ theo thứ tự sau: đất cát < đất sét < đất than bùn (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004)
Các hợp chất hữu cơ chứa lân gồm có: phitin, axit nucleic, phosphatit, sacarophosphat…và các vi sinh vật đất Lân được tích lũy trong đất nhờ sự tích lũy sinh học, vì vậy trong đất mặt thường chứa nhiều lân hữu cơ hơn các tầng dưới sâu
Tỷ lệ lân hữu cơ phụ thuộc chủ yếu vào hàm lượng mùn trong đất và dao động trong khoảng từ 10-50% của lân tổng số (Trần Văn Chính và ctv., 2006)
Dạng lân hữu cơ trong đất biến động từ 10 – 15 % lân tổng số bao gồm các phytin, nucleoprotein, lectin, hợp chất mùn và các chất acid hữu cơ chứa lân, các acid mùn chứa từ 4 – 5 % lân trong điều kiện thuận lợi có thể giải phóng từ 15 – 20
kg lân/ha/năm (Nguyễn Tử Siêm và ctv., 2000)
Theo Nguyễn Chí Thuộc và ctv., (1974), dạng lân hữu cơ trong đất phổ biến
là phytate chiếm 50% tổng số lân hữu cơ Ở đất chua lân hữu cơ chủ yếu là dạng nhôm phytate, sắt phytate, còn ở đất trung tính chủ yếu là canxiphytate Canxiphytate hòa tan trong acid và không hòa tan trong môi trường trung tính và môi trường kiềm, trái lại phytate nhôm và sắt không hòa tan trong dung dịch acid nhưng hòa tan trong môi trường kiềm (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004)
Ngoài ra lân trong đất còn tồn tại ở cơ thể sinh vật nhưng cây không thể hút trực tiếp được, đến khi vi sinh vật chết đi và cơ thể của chúng bị khoáng hóa cây mới hút được (Nguyễn Chí Thuộc và ctv., 1974)
Lân vô cơ (lân khoáng)
Hàm lượng lân vô cơ trong đất thường cao hơn lân hữu cơ, ngoại trừ trên các loại đất hữu cơ, hàm lượng lân vô cơ gia tăng theo phẫu diện (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004) Lân vô cơ chiếm khoảng 80% lân tổng số, bao gồm phosphate K, Na, NH4,
Ca, Mg, Fe, Al… đây là những sản phẩm do phong hóa đá mẹ, do phân giải chất
Trang 35cation hóa trị 1 (KH2PO4; NaH2PO4), hay phosphate của kim loại kiềm thổ, phosphate Ca, Mg ở dạng khó tan (CaHPO4; MgHPO4; Ca(PO4)2; Mg3(PO4)2) và còn có thể ở dạng hydroxyt apatit (Ca5(PO4)3OH) khó tan hơn (Nguyễn Vy và Trần Khải, 1978), lân vô cơ nằm dưới dạng muối phosphate Ở đất chua giàu sắt, nhôm là các phosphate sắt nhôm, đất kiềm là các phosphate canxi và phosphate magiê, đất mặn còn có thể xuất hiện phosphate nitric (Vũ Hữu Yêm, 1995)
Nhưng lân dễ tiêu trong đất là một chỉ tiêu tương đối phức tạp nó chịu sự tác động mạnh mẽ của điều kiện môi trường, của vi sinh vật trong đó pH và các kim loại như: Fe, Al, Mn, Ca cũng như các tinh khoáng silicat và các hydroxyt của các kim loại trên có vai trò hết sức quan trọng đối với sự hữu dụng của lân
Chỉ tiêu lân dễ tiêu phản ánh khá trung thực nhu cầu bón lân cho lúa Theo Chang và Jackson (1957), thì lân dễ tiêu trong đất gồm các dạng chính sau đây:
− Những phân tử riêng lẽ của H3PO4 trong dung dịch đất và trong nước tưới
− Những phosphate dễ hòa tan trong nước của các kim loại có hóa hóa trị 1 (NH4, K, Na) với các gốc H2PO4-, HPO42-, PO43-
− Những phosphate của kim loại đa hóa trị như Ca, Mg, Al, Fe với ion H2PO4
− Những ion H2PO4-, HPO42-, PO43- hấp phụ trên bề mặt keo đất
Trang 36− Các phosphate Ca, Mg, Fe, Al… lúc mới thành lập
− Các phosphate Fe-P, Al-P bị khử hóa trong đất ở điều kiện yếm khí
Các dạng của lân dễ tiêu được sắp xếp theo thứ tự giảm dần độ hòa tan của chúng trong nước và mức độ hữu dụng của chúng đối với cây trồng Hàm lượng lân
dễ tiêu trong dung dịch đất và trong cây thay đổi rất lớn tùy thuộc vào tính chất của đất, nhiệt độ môi trường, hàm lựong lân tổng số, quá trình hình thành và phát sinh của đất cũng như loại cây trồng trên đó
Theo Lê Văn Căn (1985), thì lân dễ tiêu trong đất rất dễ bị kết tủa: ở đất kiềm nó dễ bị kết tủa ở dạng phosphate canxi, ở đất chua dễ bị kết tủa dưới dạng phosphate sắt nhôm Vì vậy lượng phosphate hòa tan khi tan bón vào đất không bao lâu sẽ chuyển thành những dạng khó hòa tan hơn, và càng ít hòa tan thì càng chậm tiêu, khó được cây hút Canxiphossphate dễ dàng biến đổi thành lân dễ tiêu hơn là sắt, nhôm phosphate (Nguyễn Chí Thuộc và ctv., 1974)
Sau đây là một số thang đánh giá lân dễ tiêu trong đất theo nhiều phương pháp khác nhau:
Bảng 1.8: Đánh giá hàm lượng lân dễ tiêu theo phương pháp Bray 2 (0,1M HCl +
Trang 37Bảng 1.9: Đánh giá hàm lượng lân dễ tiêu theo phương pháp Bray 1 (0.025
Một số loại khoáng sét có khả năng cố định P rất cao Ví dụ khoáng sét
kaolinite có thể cố định 96% lượng lân bón vào đất, trong khi amorphous allophonic
cố định 88%, halloyisitric 86 – 88%, beidellirtic 84% và vermiculitric 77% (Bajwa,
1980 trong Ngô Thị Hồng Thắm và Trần Thị Mỹ Thanh, 2007)
Trang 38Theo Đỗ Thi Thanh Ren và ctv., (2004) mức độ cố định lân của các khoáng sét gia tăng theo thứ tự: Sét 2:1 << sét 1:1 <tinh thể carbonate <tinh thể oxyt Al, Fe,
Mn < oxyt Al, Fe, Mn vô định hình, allophone
1.2.3.2 Thời gian phản ứng
Thời gian phân lân tiếp xúc với đất càng lâu, lượng lân cố định càng lớn Ngay sau khi bón phân cây có khả năng thu hút tốt nhất lượng lân bón vào Trên một số loại đất có khả năng cố định lân cao thời gian có thể ngắn, ngược lại trên các loại đất khác thời gian sử dụng phân có thể dài đến một tháng đôi khi đến một năm (Đỗ Thi Thanh Ren, 1999 Trích từ Ngô Thị Hồng Thắm và Trần Thị Mỹ Thanh , 2007)
1.2.3.3 pH
Ở pH từ 4,0 - 8,0 các ion chủ yếu là H2PO4- và HPO42- Tỷ lệ giữa H2PO4- và HPO42- ở các mức khác nhau có thể tính như sau: K2/H+ = HPO42- / H2PO4- Do đó, lúc pH = 7.2 thì H2PO4- và HPO42- có tỷ lệ bằng nhau Tuy nhiên trong thực tế pH =
5 có rất nhiều, nên có nhiều H2PO4- và HPO42- hầu như không có (Mai Văn Quyền, 2001)
Đất là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến độ hữu dụng P trong đất Trong hầu hết các loại đất, độ hữu dụng của lân trong đất đạt tối đa trong khoảng
pH từ 5,5 – 7,0 Độ hữu dụng của lân giảm khi pH nhỏ hơn 5.5 và cao hơn 7.0 Ở giá trị pH thấp lân bị cầm giữ do phản ứng với Al, Fe và các hydroxyt của chúng Khi pH tăng lớn hơn 7 ion Ca, Mg sẽ hiện diện cùng với ion carbonate trong đất, sẽ làm kết tủa lượng lân bón vào, làm giảm độ hữu dụng của lân (Đỗ Thị Thanh Ren,
1999 Trích từ Ngô Thị Hồng Thắm và Trần Thị Mỹ Thanh, 2007)
Lê Văn Căn (1985 Trích từ Ngô Thị Hồng Thắm và Trần Thị Mỹ Thanh, 2007) cũng cho rằng pH từ 5.4 – 6.8 rất thích hợp cho việc bón lân vì ở pH này chất lân không bị kết tủa hoặc kết tủa rất ít