1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát hàm LƯỢNG lân TRONG lá cây bắp nếp LAI MX10 (zea mays l) TRỒNG TRÊN đất RAU màu CHỦ yếu ở ĐỒNG BẰNG SÔNG cửu LONG TRONG điều KIỆN NHÀ lưới vụ 4 và NGOÀI ĐỒNG vụ 1

57 181 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 469,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT  TRẦN THANH HUY KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG LÂN TRONG LÁ CÂY BẮP NẾP LAI MX10 Zea mays L TRỒNG TRÊN ĐẤT RAU MÀU CHỦ YẾU Ở Đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT



TRẦN THANH HUY

KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG LÂN TRONG LÁ CÂY

BẮP NẾP LAI MX10 (Zea mays L) TRỒNG TRÊN

ĐẤT RAU MÀU CHỦ YẾU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG ĐIỀU KIỆN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

TRẦN THANH HUY

KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG LÂN TRONG LÁ CÂY

BẮP NẾP LAI MX10 (Zea mays L) TRỒNG TRÊN

ĐẤT RAU MÀU CHỦ YẾU Ở ĐỒNG BẰNG

SÔNG CỬU LONG Ở ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI VỤ 4 VÀ NGOÀI

ĐỒNG VỤ 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGHÀNH KHOA HỌC ĐẤT

KHÓA 34 NGƯỜI HƯỚNG DẪN

ThS Nguyễn Đỗ Châu Giang PGS TS Nguyễn Mỹ Hoa

CẦN THƠ 2012

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

-

Xác nhận của cán bộ hướng dẫn về đề tài “Khảo sát hàm lượng lân trong lá cây bắp nếp lai MX10 (Zea mays L) trồng trên đất rau màu chủ yếu ở Đồng Bằng Sông Cửu Long trong điều kiện nhà lưới vụ 4 và ngoài đồng vụ 1 ” Do sinh viên Trần Thanh Huy lớp Khoa Học Đất Khóa 34, Bộ Môn Khoa Học Đất, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ thực hiện Ý kiến của cán bộ hướng dẫn :

Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2012

Cán bộ hướng dẫn

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

-

Xác nhận của bộ môn Khoa Học Đất về đề tài “Khảo sat hàm lượng lân trong lá cây bắp nếp lai MX10 (Zea mays L) trồng trên đất rau màu chủ yếu ở Đồng Bằng Sông Cửu Long trong điều kiện nhà lưới vụ 4 và ngoài đồng vụ 1” Do sinh viên Trần Thanh Huy lớp Khoa Học Đất Khóa 34, Bộ Môn Khoa Học Đất, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ thực hiện Xác nhận của bộ môn :

Đánh giá :

Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2012

Bộ Môn Khoa Học Đất

Trang 5

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

-

Hội đồng báo cáo luận văn tốt nghiệp chứng nhận báo cáo tốt nghiệp với đề tài : “Kháo sát hàm lượng lân trong lá cây bắp nếp lai MX10 (Zea mays L) trồng trên đất rau màu chủ yếu ở Đồng Bằng Sông Cửu Long trong điều kiện nhà lưới vụ 4 và ngoài đồng vụ 1 ” Do sinh viên Trần Thanh Huy lớp Khoa Học Đất Khóa 34, Bộ Môn Khoa Học Đất, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ thực hiện Bài báo cáo được đánh giá :

Ý kiến của hội đồng :

Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD Chủ tịch hội đồng

Trang 6

LỜI CẢM TẠ

Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

- PGS TS Nguyễn Mỹ Hoa, người đã tận tình hướng dẫn, gợi ý và cho những lời khuyên hết sức bổ ích giúp tôi hoàn thành luận văn này

- ThS Nguyễn Đỗ Châu Giang, người đã đóng góp những ý kiến xác thực, phát hiện những sai sót góp phần hoàn chỉnh luận văn này

- KS Võ Thị Thu Trân, người đã hết lòng giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi thưc hiện tốt quá trình nghiên cứu luận văn này

- PGS TS Ngô Ngọc Hưng, thầy cố vấn của lớp Khoa Học Đất Khóa 34 cũng là người đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học

và thực hiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn

- Tập thể lớp Khoa Học Đất Khóa 34, những người bạn đã sát cánh cùng tôi trong suốt khóa học và thời gian thực hiện nghiên cứu luận văn này

- Các thầy cô và cán bộ trong bộ môn Khoa Học Đất, những người đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này

Kính dâng

Cha, Mẹ đã hết lòng thương yêu, nuôi nấng con khôn lớn nên người

Trang 7

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC :

Ngày, tháng, năm sinh : 19/01/1990 Dân tộc : Kinh

Nơi sinh : Thị trấn Sông Đốc, Huyện Trần Văn Thời, Tỉnh Cà Mau

Điện Thoại : 0916027211

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

1 Tiểu học

Thời gian đào tạo từ năm 1996 đến năm 2001

Trường : Tiểu Học Sông Đốc I

Địa chỉ : Thị trấn Sông Đốc, Huyện Trần Văn Thời, Tỉnh Cà Mau

2 Trung học cơ sở

Thời gian đào tạo từ năm 2001 đến năm 2005

Trường : Trung Học Cơ Sở I Sông Đốc

Địa chỉ : Thị trấn Sông Đốc, Huyện Trần Văn Thời, Tỉnh Cà Mau

3 Trung Học Phổ Thông

Thời gian đào tạo từ năm 2005 đến năm 2008

Trường : Trung Học Phổ Thông Sông Đốc

Địa chỉ : Thị trấn Sông Đốc, Huyện Trần Văn Thời, Tỉnh Cà Mau

4 Đại Học

Thời gian đào tạo từ năm 2008 đến năm 2012

Trường Đại Học Cần Thơ

Địa chỉ : đường 3/2 Phường Xuân Khánh, Quận Ninh Kiều, Thành Phố Cần Thơ

Ngày….tháng….năm 2012

Người khai ký tên

Trần Thanh Huy

Trang 8

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Trần Thanh Huy

Trang 9

MỤC LỤC

MỤC LỤC vii

DANH SÁCH BẢNG ix

TÓM LƯỢC x

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 2

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 Cây Bắp (Zea mays L.) 2

1.1.1 Vài nét chung về cây bắp 2

1.1.2 Đặc điểm sinh thái của cây bắp 3

1.1.3 Điều kiện dinh dưỡng của cây bắp 4

1.1.4 Giống 8

1.1.5 Tình hình cây bắp trên thế giới và ở Việt Nam 8

1.2 Lân 10

1.2.1 Vai trò của lân đối với đời sống cây 10

1.2.2 Lân trong cây 11

1.2.3 Lân trong đất 12

1.2.4 Sự lưu tồn lân trong đất 18

1.3 Sự đáp ứng chất lân trên một số loại rau màu chính tại Đồng Bằng Sông Cửu Long ở các điều kiện bón phân khác nhau 19

1.4 Đăc điểm các vùng khảo sát 21

1.4.1 Cần Thơ 21

1.4.2 Vĩnh Long 21

1.4.3 An Giang 21

1.4.4 Trà Vinh 22

CHƯƠNG 2 23

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 23

2.1 KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG LÂN TRONG LÁ TRONG THÍ NGHIỆM NHÀ LƯỚI 23

2.1.1 Thông tin về thí nghiệm nhà lưới 23

2.1.2 Phương pháp khảo sát 23

2.2 KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG LÂN TRONG LÁ TRONG THÍ NGHIỆM NGOÀI ĐỒNG 25

2.2.1 Thông tin về thí nghiệm ngoài đồng 25

2.2.2 Phương pháp kháo sát 30

CHƯƠNG 3 27

KẾT QUẢ THẢO LUẬN 27

3.1 Ghi nhận tổng quát 27

3.1.1 Hàm lượng lân trong lá mang trái của cây bắp rau ở các vùng nghiên cứu các vụ trước 27

3.1.2 Kết quả thí nghiệm nhà lưới trên bắp nếp vụ 4 28

3.1.3 Kết quả thí nghiệm ngoài đồng trên bắp nếp vụ 1 28

3.2 Hàm lượng lân trong lá đối diện mang trái của bắp trồng trong điều kiện nhà lưới ở các tỉnh khảo sát vụ 4 29

3.3 Hàm lượng lân trong lá của bắp tại 3 điểm khảo sát ngoài đồng ở Chợ Mới - An Giang 33

Trang 10

3.3.1 Điểm 1, hàm lượng lân dễ tiêu trong đất thấp (6,82 mgP/kg) 33

3.3.2 Điểm 2, hàm lượng lân dễ tiêu trong đất trung bình (13,36 mgP/kg) 34

3.3.3 Điểm 3, hàm lượng lân dễ tiêu trong đất cao (21,3 mgP/kg) 35

CHƯƠNG 4 36

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 36

4.1 Kết Luận 36

4.2 Đề Nghị 36

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

PHỤ CHƯƠNG 39

Trang 11

Đánh giá lân tổng số trong đất (Lê Văn Căn, 1978)

Chuẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng qua lá của cây bắp

Sinh khối các bộ phận của cây bắp lai giữa các nghiệm

thức bón thiếu N, thiếu P, thiếu K và đầy đủ NPK giai đoạn

thu hoạch (kg/ha) (Nguyễn Mỹ Hoa và ctv., 2008)

Năng suất bắp và sinh khối thân giữa các nghiệm thức bón

phân

Hàm lượng lân trong lá đối diện mang trái (% P2O5) trên

đất ở Chợ Mới – An Giang trong điều kiện nhà lưới vụ 4

Hàm lượng lân trong lá đối diện mang trái (% P2O5) trên

đất ở Thốt Nốt - Cần Thơ trong điều kiện nhà lưới vụ 4

Hàm lượng lân trong lá đối diện mang trái (% P2O5) trên

đất ở Bình Tân – Vĩnh Long trong điều kiện nhà lưới vụ 4

Hàm lượng lân trong lá đối diện mang trái (% P2O5) trên

đất ở Châu Thành – Trà Vinh trong điều kiện nhà lưới vụ 4

Hàm lượng lân trong lá (%P2O5) tại điểm 1 trong thí

Trang 12

TRẦN THANH HUY, 2012 “Khảo sát hàm lượng lân trong lá cây bắp nếp

lai MX10 (Zea mays L) trồng trên đất rau màu chủ yếu ở Đồng Bằng Sông

Cửu Long trong điều kiện nhà lưới vụ 4 và ngoài đồng vụ 1” Luận văn Tốt

nghiệp Đại học, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ

Người hướng dẫn khoa học : Th Nguyễn Đỗ Châu Giang

PGS TS Nguyễn Mỹ Hoa

TÓM LƯỢC

Bón lân cao có thể làm gia tăng sự tích lũy lân trong đất và hàm lượng lân trong

lá Sau 3 vụ thí nghiệm trồng bắp trong điều kiện nhà lưới, vẫn chưa thấy rõ sự thiếu lân Đề tài được thực hiện nhằm tiếp tục đánh giá hàm lượng lân trong lá đồng thời đánh giá ảnh hưởng của sự lưu tồn lân trong đất đối với hàm lượng lân trong lá của cây bắp nếp Đề tài phân tích hàm lượng lân ở lá đối diện mang trái của bắp nếp trên thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên ở hai điều kiện: thí nghiệm nhà lưới với nghiệm thức có bón lân 90 kgP2O5/ha và không bón lân trên 80 mẫu; và 3 thí nghiệm ngoài đồng, mỗi thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức: không bón lân, bón 45 kgP2O5/ha và bón 90 kgP2O5/ha được lặp lại 4 lần Kết quả phân tích cho thấy, hàm lượng lân trong lá ở các điểm khảo sát trong thí nghiệm nhà lưới ở nghiệm thức có bón lân khác biệt ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức không bón lân Trong khi đó ở thí nghiệm ngoài đồng, hàm lượng lân trong lá giữa các nghiệm thức có bón và không bón lân là không khác biệt về mặt thống kê, điều này có thể lý giải là do hiệu quả của sự lưu tồn lân trong đất

và nhìn chung chưa thấy biểu hiện của sự thiếu lân trong lá Điều này cần tiếp tục nghiên cứu ở các vụ tiếp theo và nghiên cứu thêm sự đáp ứng của cây trồng đối với phân lân

Trang 13

MỞ ĐẦU

Trên đa số các loại cây trồng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, nhất là rau màu, phân lân được sử dụng với liều lượng rất cao mà chưa chú ý đến đặc tính độ phì khác nhau của từng cánh đồng Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Mỹ Hoa và

ctv., (2006) cho thấy nông dân ở vùng khảo sát đã sử dụng phân lân rất cao

(100-150 kg P2O5/ha/vụ) để bón cho các loại cây trồng Điều này cho thấy hiện tượng tích lũy lân trong đất đã và đang diễn ra trên các vùng trồng rau chuyên canh gây lãng phí lượng phân bón, tăng chi phí trong sản xuất của người dân Đã có nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy sự lưu tồn các loại phân bón có ảnh hưởng rất tốt đến sinh trưởng và năng suất cây trồng Theo Correll (1985), dưới ảnh hưởng của lưu tồn lân, lượng phân lân cần thiết cung cấp cho cây trồng giảm một cách có ý nghĩa Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thúy Quyên (2010), hàm lượng lân trong lá mang trái ở 4 tỉnh khảo sát trong thí nghiệm nhà lưới vụ 1 đạt mức trung bình, đủ đáp ứng cho cây trồng Một kết quả nghiên cứu khác của Huỳnh Ngọc Đức (2010) trong thí nghiệm ngoài đồng ở Chợ Mới – An Giang cho thấy hàm lượng lân tổng số trên lá mang trái của cây bắp rau cũng đạt ở mức trung bình (0,72-0,92%P2O5), điều này có thể do ảnh hưởng của sự lưu tồn lân và hiệu quả bón phân lân Tuy nhiên vấn đề đặt ra là hàm lượng lân trong lá có còn đạt mức cao ở vụ 4 hay không? Hàm lượng lân trong lá vẫn đủ cho nhu cầu sử dụng lân của

cây bắp hay không? Với những vấn đề trên đề tài : “Khảo sát hàm lượng lân

trong lá cây bắp nếp lai MX10 (Zea mays L) trồng trên đất rau màu chủ yếu ở

Đồng Bằng Sông Cửu Long ở điều kiện nhà lưới vụ 4 và ngoài đồng vụ 1”

được thực hiện nhằm mục tiêu khảo sát hàm luợng lân trong lá cây bắp nếp lai và đánh giá ảnh hưởng của sự lưu tồn lân trong đất đối với hàm lượng lân trong lá của cây bắp, qua đó có thể khuyến cáo người dân bón phân lân hợp lý, tránh gây lãng phí đồng thời không làm giảm năng suất

Trang 14

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Cây Bắp (Zea mays L.)

1.1.1 Vài nét chung về cây bắp

Bắp là loại cây hoa màu thường niên, bộ phận thu hoạch là hạt, dùng làm thức

ăn cho người và gia súc Ở một số vùng, sau khi bẻ bắp người ta dùng thân cây để nuôi trâu, bò Được phát triển trong điều kiện thuận lợi, bắp có thể cho thu hoạch 60 ngày kể từ khi nảy mầm, trong đó có giống cần đến 280 ngày

Bắp có thể phát triển tốt trên bất kỳ loại đất nào nếu có hệ thống tưới tiêu đầy

đủ để duy trì đủ oxy cho rễ phát triển, và có khả năng giữ nước để tạo độ ẩm thích hợp trong suốt mùa sinh trưởng Cây bắp không kén đất nên có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng thích hợp nhất là đất trung tính có độ pH 6-7; đất giàu mùn

và chất dinh dưỡng (Đỗ Thanh Ren, 2003)

Cũng theo Đỗ Thanh Ren (2003) mật độ cây thay đổi tùy nơi trồng và khí hậu

Ở những vùng đất khô cằn mật độ thường là 15.000 cây/ha đến 25.000 cây/ha Tại những vùng đất ẩm chủ động tưới tiêu, mật độ có thể hơn 75.000 cây/ha sẽ cho sản lượng tối ưu Tại Việt Nam, mật độ trồng thích hợp nhất thường trong khoảng 45.000-55.000 cây/ha, khoảng cách hàng 70-75 cm, khoảng cách cây 25-30 cm Lượng giống 12-15 kg/ha Các giống phổ biến hiện nay là LVN10, DK888, DK999, Pacific 11, G-

49, V98-1, Lá mầm xanh…

Bắp là cây phàm ăn, muốn đạt năng suất cao phải trồng bắp trên các loại đất giàu chất dinh dưỡng Nếu đất trồng thiếu chất dinh dưỡng phải tiến hành bón phân bổ sung để cây phát triển tốt, đạt năng suất cao Một vụ bắp muốn đạt năng suất 9,5 tấn hạt/ha cần lấy từ đất 191 kg N, 89 kg P2O5, 235 kg K2O

Lượng chất dinh dưỡng cây bắp thu hút gia tăng dần theo thời gian sinh trưởng Trong giai đoạn cây con (2-3 tuần sau khi gieo) cây sinh trưởng chậm, lượng dinh dưỡng cây hút ít Sau đó lượng hút chất dinh dưỡng tăng lên rất nhanh do cây tăng trưởng mạnh, kéo theo sự tích lũy chất khô gia tăng

Trang 15

Các triệu chứng thiếu dưỡng chất sẽ xuất hiện khi hàm lượng dưỡng chất trong

lá bên dưới bông cờ giảm xuống dưới các mức tương ứng như: 29% N; 0,25% P; 1,9% K; 0,15% Mg; 0,4% Ca; 0,15% S; 25ppm Fe; 15ppm Mn; 15ppm Zn; 5ppm Cu;

và 10ppm B (IFA, 1992)

Về đặc điểm sinh trưởng của cây bắp, theo Dương Minh (1999) chu kỳ sinh trưởng của cây bắp bắt đầu từ khi hột nảy mầm tới trái chín hoàn toàn Chu kỳ này thay đổi từ 50-350 ngày tùy giống, điều kiện canh tác và môi trường sinh sống Sự sinh trưởng của cây bắp được tiến hành qua nhiều thời kỳ nối tiếp nhau một cách liên tục bao gồm: thời kỳ mọc mầm, thời kỳ cây con, thời kỳ tăng trưởng chậm, thời kỳ tăng trưởng tích cực, thời kỳ trổ hoa và thời kỳ tạo hột đến chín

1.1.2 Đặc điểm sinh thái của cây bắp

a Khí hậu

Mặc dù có nguồn gốc từ nhiệt đới nhưng cây bắp vẫn có thể trồng khắp mọi nơi trên thế giới, từ nhiệt đới đến bán hàn đới, ở vĩ độ 0 đến 40-50o Bắc bán cầu và 0-30oNam bán cầu Bắp cũng có thể trồng ở vĩ độ 56-58o Bắc (như ở Nga, Ba Lan và Canada), nhưng chủ yếu chỉ để lấy thân lá chăn nuôi Ở vùng nhiệt đới, bắp có thể trồng ở độ cao 3000 m

Cây bắp cần nhiệt độ ấm áp để phát triển Để hoàn tất chu kỳ sinh trưởng, cây bắp cần tổng số nhiệt độ là 1700-2000oC ở giống bắp sớm, 2.200-2.500oC ở giống lỡ

và 2.600-3.100oC ở giống muộn Nhiệt độ càng cao thì càng rút ngắn thời gian sinh trưởng Thí nghiệm của viện Nông Lâm Hà Nội (1959) cho thấy cùng một giống bắp,

ở 19oC cần 160 ngày để hoàn tất chu kỳ sinh trưởng trong lúc ở 28oC chỉ cần 105 ngày Nhiệt độ không phải là yếu tố giới hạn cho bắp ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

Cây bắp cần tương đối ít nước nhờ hệ thống rễ phát triển mạnh Để kết thúc chu kỳ sinh trưởng, một cây bắp cần khoảng 100 lít nước Tùy giai đoạn sinh trưởng

mà nhu cầu nước của bắp cũng khác nhau Cây bắp cần ít nước nhất trong giai đoạn cây con (từ sau nảy mầm đến khi cây 5-7 lá) và lúc gần thu hoạch, lượng nước chỉ cần đạt đến 50-60% độ thủy dung là đủ, và cần nhiều nước nhất ở giai đoạn trổ và tạo hột,

từ 10 ngày trước khi trổ đến 20 ngày sau khi trổ (và không cần nước nữa khi cây bắp

Trang 16

đã qua thời kỳ chín sáp), lúc này mỗi ngày cây bắp có thể hấp thụ đến 2 lít nước Cần cung cấp nước cho cây để đất luôn đạt ẩm độ thích hợp là 75-85%

Cây bắp cần nhiều ánh sáng nhất từ lúc trổ cờ đến chín sáp Thiếu ánh sáng và

dư N sẽ làm giảm năng suất Trong quang phổ, những ánh sáng có độ dài sóng ngắn (màu lam, tím, tia cực tím) ở vùng nhiệt đới sẽ giúp cây trổ sớm và những loại ánh sáng có sóng dài (màu đỏ, cam) ở vùng ôn đới sẽ làm cây phun râu chậm, trong lúc cờ

ít bị ảnh hưởng Ánh sáng lục cũng làm giảm sự hình thành và phát triển của trái (Dương Minh, 1999)

b Đất đai

Cây bắp mọc được trên nhiều loại đất, tốt nhất là đất thịt hay thịt pha cát, xốp, giàu hữu cơ, thoáng sâu và giữ nước tốt Ở miền Nam, loại đất rừng mới khai phá, Latosol và phù sa ven sông, đất cồn là loại đất thích hợp nhất để trồng bắp

Đất trồng bắp cần phải xốp, có tỷ trọng biểu kiến d < 1,3 và phải thoáng để rễ

dễ hô hấp Những thí nghiệm cho thấy rằng khoảng 15-20% lượng CO2 mà cây dùng trong quang hợp là do rễ cung cấp Ngoài ra để hô hấp, 1g rễ khô cần khoảng 1,35-1,43 mg O2/ngày Các loại đất sét nặng, kém phì nhiêu, có mực nước ngầm cao và đất quá nhiều cát đều không thích hợp vì cây bắp dễ cho năng suất không ổn định

Bắp có thể trồng được trên đất có pH từ 5-8, nhưng tốt nhất ở pH = 5,5-7 Ở đất chua (pH < 5) cây bị lùn, lá cháy thành vệt dài giữa các gân, sau đó có màu tím đỏ và cây bị chết Trường hợp nhẹ chỉ bị ảnh hưởng ở cây con (cây < 50-60 cm) (Dương Minh, 1999)

1.1.3 Điều kiện dinh dưỡng của cây bắp

a Đạm (N)

Là nguyên tố ảnh hưởng quan trọng đến các quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất bắp Đầy đủ N, cây bắp sẽ mọc nhanh, thân lá phát triển tốt, trái nhiều hột

Thiếu N, cây tăng trưởng chậm, trái nhỏ, nhiều hột lép, nhất là ở chóp trái, lá

có tuổi thọ ngắn, diện tích lá giảm làm giảm khả năng quang hợp của cây Thiếu N trầm trọng, cây phát triển rất chậm, các lá gần ngọn có màu xanh lợt và lá già bị cháy khô

Trang 17

Ngược lại, nếu dư N, lượng carbohydrates có được do quang hợp sẽ được sử dụng để tổng hợp nguyên sinh chất hơn là thành lập vách tế bào Do đó mặc dù cây phát triển nhanh, nhưng vách tế bào mỏng sẽ làm cây yếu ớt Trong cây bắp, N hiện diện dưới nhiều dạng hợp chất: Protid, diệp lục tố, các chất sinh trưởng, các phosphatidies, các vitamins và enzymes Lượng N trên lá chiếm khoảng 1/3 tổng số N

và có nhiều nhất là ở lá ôm trái

Nhu cầu N trong cây thay đổi theo từng giai đoạn sinh trưởng Cây bắp cần N trong suốt thời gian sinh trưởng Nhưng ở trước giai đoạn chín sữa thì lượng N hấp thụ được tích lũy ở lá, thân, cờ và lõi Sau đó thì nó chuyển vị về hột để dự trữ (khoảng 2/3 tổng lượng N) Do đó bón N cho cây cũng sẽ giúp gia tăng lượng protein trong hột

b Lân

Sự hấp thụ P của bắp tăng theo sự phát triển của cây Thời kỳ tạo hột là thời kỳ cây bắp cần nhiều P nhất Tổng lượng P trong giai đoạn cây con, nhất là khi cây được 4-6 lá Khi thiếu P, cây bắp con phát triển chậm, thân lá có màu xanh thẩm, lùn và nếu thiếu trầm trọng, lá bị nhỏ lại và hiện thêm màu tím đỏ ở bìa và chóp lá Màu tím này

là do sắc tố anthocyanin, một dạng carbohydrates, vì thiếu P nên không chuyển vị được trong những phản ứng tổng hợp acid nhân đã xuất hiện ra Môi trường có pH càng thấp thì sắc tố này càng có màu tím đỏ Kết quả phân tích lá cho thấy: bắp thiếu

P khi lượng P ở mức độ 0,11% Ở 0,17% là thấp và ở mức 0,2-0,46 % là trung bình Triệu chứng thiếu P bị che khuất khi cây trưởng thành, chỉ còn thể hiện qua hiện tượng cây phun râu trễ, hàng hột không đều, xoắn lại, hột nhỏ

Trong cây bắp, P hiện diện dưới dạng acid nhân, các chất chuyển hóa năng lượng (ADP, ATP) của vùng sinh mô và nhân tế bào

Trong giai đoạn tạo hột, ngoài lượng P hấp thụ thêm (1/2 tổng P), một số lớn P

ở lá, thân cờ, lá bi và lõi đều được chuyển vị về hột làm tổng P ở hột chiếm 3/4 tổng P của cây (0,42-0,81% P2O5) Lượng P hấp thụ khi cây phát triển giúp gia tăng rễ trong đất, tăng số gié hoa cái, diện tích lá, tuổi thọ lá Ngoài ra P còn giúp rút ngắn chu kỳ sinh trưởng, làm giảm ẩm độ hột khi thu hoạch, gia tăng khả năng kháng sâu bệnh và chống chịu môi sinh của cây Dù P không bị trực di nhưng dễ bị cố định, người ta

Trang 18

thường bón P khi bón lót theo hàng ở vùng rễ cây P trong đất còn cải thiện cơ cấu trúc đất, tăng lượng viên đất làm đất xốp và thoáng giúp rễ bắp phát triển tốt

c Kalium (K)

Tuy cây bắp cần một lượng lớn và K hiện diện trong tất cả các mô, nhưng vai trò của K đối với bắp vẫn chưa được biết rõ Người ta chỉ nhận thấy K góp phần vào quá trình tổng hợp và vận chuyển glucide trong cây, giúp cây giảm thoát hơi nước và chịu lạnh giỏi hơn

Hàm lượng K trong lá chiếm khoảng 25% tổng số và có nhiều ở lá ôm trái Phân tích lá cho thấy cây bắp thiếu K khi lá chỉ chứa 0,58-0,78% K Lượng K trung bình ở lá chiếm khoảng 0,74-5,8% Thiếu K cây bắp sẽ phát triển chậm, do đặc tính chuyển vị được, lá già sẽ bị vàng, héo khô từ bìa lá vào, rễ phát triển kém, trái và hột nhỏ, dễ bị lép, cây dễ bị đổ ngã và nhiễm sâu bệnh, quá trình quang hợp và vận chuyển glucide cũng bị giảm Ngược lại, dư K trong giai đoạn 4-6 của tạo cờ sẽ làm gia tăng độ chênh lệch của quá trình tạo cờ, trái Cường độ ánh sáng yếu, nhu cầu K của bắp tăng

d Magnesium (Mg)

Là thành phần quan trọng nhất của diệp lục tố trong cây, Mg giúp chuyển hóa

C, O và H thành Carbohydrates Ngoài ra Mg còn xúc tác cho việc hoạt động của nhiều enzymes giúp tăng sự đồng hóa và vận chuyển P trong cây Do đó nó giữ nhiệm

vụ gián tiếp trong cơ nguyên hô hấp

e Calsium (Ca)

Giúp thành lập vách tế bào và trung hòa các acide hữu cơ, Ca cần cho sự hoạt động của những phản ứng biến dưỡng Trong cây bắp Ca có nhiều ở thân lá hơn là ở hột, nhất là ở các lá già (vì không chuyển vị) Kết quả phân tích thường ở lá ngọn và cho thấy cây bắp thiếu Ca khi lá chỉ chứa 0,3% Ca Lượng Ca trung bình ở lá thường

là 0,76-0,8% Triệu chứng thiếu Ca làm lá bắp bị xòe ngang hay rũ xuống, đôi khi hai

lá dính lại với nhau Chóp lá ngọn bị nứt, chảy nhựa và đôi khi khô dính lại Triệu chứng này thường gặp ở đất pH thấp (dưới 4,8) và khi bón nhiều K và Mg

Trang 19

f Bore (B)

Giữ nhiệm vụ quan trọng trong sự phân cắt và phát triển của tế bào, đồng thời ảnh hưởng trên khả năng nảy mầm của hạt phấn Thiếu B cây sẽ thụ phấn kém, cờ và trái phát triển kém, khả năng kháng hạn và kháng nóng bị giảm đi, các lóng ngọn phát triển kém làm ngọn cây bị chùn lại, lá có thể bị sọc dọc theo gân, dễ bị gãy và cháy thành từng đốm nhỏ vì sự tổng hợp protein bị ngừng trệ Cây bắp chứa nhiều B ở đỉnh sinh trưởng của phát hoa Hột bắp chứa rất ít B (4,7 ppm) so với lá (27-72 ppm) Ở lá thì B có nhiều ở bìa lá Cây có triệu chứng ngộ độc B khi trên lá chứa trên 179 ppm B Bón quá nhiều B cũng làm gia súc bị ngộ độc khi sử dụng thân lá bắp để chăn nuôi

g Đồng (Cu)

Tham gia vào các thành phần của các enzymes oxyd hóa khử, giúp tổng hợp protein và các vitamins thuộc nhóm B 70% Cu trong cây hiện diện trong enzyme Cytochrome oxydase ở diệp lục tố

h Kẽm (Zn)

Là thành phần của enzymes Carbonic anhydrase thúc đẩy quá trình hô hấp của cây và cũng là chất kích động của những hệ thống enzyme khác (dehydrogenases) Nó cũng là chất góp phần vào việc tổng hợp IAA trong cây (do đó thiếu Zn làm cây bị lùn)

i Manganese (Mn)

Mn giúp gia tăng hoạt động của các enzymes, cần thiết cho phản ứng Hill (lấy

H+ của nước) trong quá trình quang hợp

j Sắt (Fe)

Triệu chứng thiếu thường không xãy ra ở đất có pH thấp vì Fe thường ở dạng hòa tan Thiếu Fe gặp ở đất cát, pH cao, ít hữu cơ, nhiều lân Đất có pH cao, ẩm và không thoáng sẽ làm cây không hấp thụ được Fe nên không tổng hợp được protein diệp lục tố Sắt giúp điều hòa phản ứng oxy hóa khử

Trang 20

k Molybdene (Mo)

Cây cần cũng rất ít, thường < 100 g/ha Mo giữ nhiệm vụ khử oxy của nitrate Cây bắp thiếu Mo khi nồng độ Mo trong lá dưới 0,009 ppm làm bìa lá bị héo và cháy (Dương Minh, 1999)

1.1.4 Giống

Bắp nếp lai đơn F1 MX10 của Công ty Cổ phần Giống cây trồng miền Nam là giống cây trồng mới được phép đưa vào sản xuất kinh doanh Đây là giống bắp nếp lai đơn đầu tiên do một công ty trong nước lai tạo được

a Đặc tính

Sinh trưởng mạnh, lá to, có khả năng chống chịu bệnh khô vằn, đốm lá, rỉ sắt rất tốt, năng suất trái tươi còn vỏ đạt 18-19 tấn/ha, độ đồng đều trái và cây cao 190-210cm, thu hoạch tập trung, tỷ lệ trái loại 1 cao trên 95 %, ăn tươi ngon, mềm, dẻo, ngọt, thơm đặc trưng, dạng trái hơi nù, hạt trắng sữa

b Lượng giống và khoảng cách

Giống bắp nếp lai đơn F1 MX 10 có thời gian sinh trưởng ngắn 62-65 ngày Mỗi ha cần 9-10kg hạt giống, gieo 1 hạt/1 hốc, theo khoảng cách 70 x 25 cm, gieo thêm 10% số hạt trong bầu để trồng dặm, đảm bảo mật độ 57.000 cây/ha Gieo hạt sâu 2-3cm, lắp hạt bằng tro trấu có trộn Regent để ngừa côn trùng cắn phá

Chú ý: Cần gieo hạt mật độ không quá dày để tránh cạnh tranh ánh sáng, hạn chế sự sinh trưởng và phát triển của cây bắp và nên gieo hạt trong bầu khoảng 2-3%

số cây để trồng dặm nhằm đảm bảo số cây và độ đồng đều trên ruộng

1.1.5 Tình hình cây bắp trên thế giới và ở Việt Nam

Theo Dương Minh (1999), so với 1990, năm 1995 diện tích trồng bắp trên thế giới đã tăng thêm được gần 6 triệu ha (tăng 45%) và sản lượng cũng tăng thêm 34 triệu tấn (7%)

Năng suất bắp dẫn đầu thế giới hiện nay là Ý (8,97 tấn/ha), Pháp (7,72 tấn/ha)

và Tây Ban Nha (7,29 tấn/ha)

Trang 21

Ở Châu Á, so với năm 1990, diện tích trồng bắp năm 1995 chỉ tăng thêm được

1 triệu ha, và năng suất trung bình chỉ tăng thêm 360 kg/ha Trung Quốc có lẽ là nước đứng đầu châu Á về diện tích trồng bắp (đứng thứ hai trên thế giới sau Hoa Kỳ) và năng suất bắp

Ở Phi châu, bắp được trồng nhiều tại Cộng hòa Nam Phi, kế đó là Rhodesia, Angola, Kenya, Nigeria, Ghana và Congo Ngoại trừ vùng Bắc và Đông Phi cho năng suất cao nhờ hệ thống thủy nông tốt, các nơi khác đều cho năng suất kém hoặc trung bình, và chủ yếu chỉ để sử dụng trong gia đình

Ở Bắc và Tây Âu, bắp được trồng nhiều tại Tây Bắc Bồ Đào Nha, ở Tây Ban Nha và Tây Nam Pháp Vì nhiệt độ thấp, trồng bắp trong mùa hè đôi khi cũng gặp nhiều khó khăn

Các giống cải thiện chịu lạnh cũng chỉ giúp tăng diện tích một cách hạn chế ở Đức, Bỉ, Hà Lan và Bắc Pháp Độ màu mỡ của đất và nước là yếu tố giới hạn cho việc trồng bắp ở Âu Châu Vành đai bắp thực tế của châu Âu chạy dài từ vùng châu thổ của Hungary, Valachia sang đến cao nguyên Moldavia và Besarabia

Ở Úc nhờ cải thiện giống, diện tích trồng bắp năm 1990 đã giảm 1/2 so với năm 1985, nhưng sản lượng không giảm nhờ năng suất đã tăng gần gấp 2 lần

Châu Mỹ chiếm hơn 40% diện tích trồng bắp trên thế giới, trong đó chủ yếu ở Hoa Kỳ, Mexico, Brazil và Argentina Việc sử dụng giống lai giữa các dòng thuần và nâng cao các kỹ thuật canh tác đã giúp tăng năng suất và sản lượng bắp ở Mỹ lên rất nhiều (gần 50% sản lượng thế giới): 1,25 tấn/ha (1938), 2,54 tấn/ha (1952), 4,02 tấn/ha (1962), 5,2 tấn/ha (1976) và 5,72 tấn/ha (1980)

Ở Việt Nam, từ 1900-1945 bắp là loại nông sản xuất khẩu đứng hạng thứ 3 sau lúa và cao su Năm 1937, Đông Dương đã xuất khẩu sang Pháp, Nhật và Phi Châu được 550.000 tấn bắp Cũng như các nước khác tại khu vực Đông Nam Á, vùng trồng bắp của Việt Nam chủ yếu phát triển mạnh tại các nơi khó trồng lúa

Trong những năm chiến tranh (1954-1975), diện tích trồng bắp bị giảm, chỉ còn 375.000 ha (trong đó khoảng 80% diện tích tập trung ở các tỉnh phía bắc) với năng suất vẫn còn rất thấp (khoảng 1,1-1,2 tấn/ha) dù cả hai miền đã bắt đầu du nhập và

Trang 22

chọn lọc giống mới Sau năm 1975, diện tích và năng suất bắp tăng dần, đạt sản lượng khoảng 652.000 tấn (1991), nhưng năng suất vẫn còn rất thấp (0,6 tấn/ha tại Bình Định và 3,5 tấn/ha tại An Giang, năm 1991), trung bình chỉ đạt 1,5 tấn/ha

Từ năm 1992, việc thu nhập và phát động trồng các giống bắp lai (DK-888, Pacific-11, Bioseed-9670…) với năng suất cao (có khả năng đạt 7-8 tấn/ha, cá biệt có thể đạt đến 12,3 tấn/ha tại Tân Châu, An Giang) đã đem lại lợi tức cao, đồng thời kết hợp các chính sách cho vay vốn của ngân hàng, bao tiêu giá cả sản phẩm của các tỉnh

đã kích thích nông dân gia tăng diện tích trồng bắp khá nhiều

Bảng 1.1 Diện tích và năng suất bắp cả nước trong những năm gần đây

2,50 2,75 3,60 4,01

Nguồn : Tổng Cục Thống Kê

Các tỉnh trồng bắp nhiều nhất của nước ta hiện nay (2009) là: Đak lak (121.800 ha), Đồng Nai (54.400 ha) và các tỉnh vùng Trung Du và Bắc Trung Bộ (Hà Giang 46.800 ha, Sơn La 132.100 ha, Nghệ An 54.000 ha), năng suất thường dưới 5 tấn/ha Tại đồng bằng sông cửu long (ĐBSCL), An Giang là tỉnh trồng bắp nhiều nhất (9.200 ha, năm 2009), diện tích này đang gia tăng trong các năm gần đây nhờ ứng dụng nhanh các giống lai cho năng suất bắp tại Việt Nam (7,08 tấn/ha năm 2009) (Theo Tổng Cục Thống Kê)

1.2 Lân

1.2.1 Vai trò của lân đối với đời sống cây

Lân đóng vai trò quan trọng trong việc phân chia tế bào, tạo thành chất béo và protein Lân xúc tiến việc ra hoa, hình thành quả và quyết định phẩm chất hạt giống

Trang 23

Việc bón đủ lân làm chất lượng sản phẩm, đặc biệt là cỏ làm thức ăn gia súc được cải thiện Cây thiếu lân lá có màu tím đỏ hay xanh nhạt, sinh trưởng chậm, chín muộn Lúa thiếu lân đẻ nhánh kém Cây non rất mẫn cảm với việc thiếu lân nên phân lân chủ yếu dùng để bón lót (Vũ Hữu Yêm và ctv., 2001)

Theo Nguyễn Như Hà (2006) Lân là một trong những chất cần thiết nhất của quá trình trao đổi chất, do lân có trong thành phần của nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng nhất của cây (glyxerolphotphat – chất đầu tiên của quá trình quang hợp, ADP và ATP là các chất dự trữ cao năng lượng cho các quá trình sinh hóa trong cây) Đây là các hợp chất hữu cơ có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phân chia tế bào, tạo thành chất béo và protein

Lân có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của bộ rễ cây, đặc biệt thúc đẩy mạnh sự phát triển của các rễ bên và lông hút là những bộ phận trực tiếp hấp thu dinh dưỡng rất quan trọng của cây Cùng với đạm, lân là yếu tố của sự sinh trưởng và phát triển đối với cây vì cây được cung cấp đủ lân sẽ sinh trưởng và phát triển nhanh hơn, tốt hơn, chín sớm, rút ngắn thời gian sinh trưởng một cách hiệu quả Lân có tác dụng thúc đẩy việc ra hoa và hình thành quả ở cây, làm cây mau chín, tăng tỷ lệ năng suất thương phẩm (hạt) so với năng suất không thương phẩm (rơm rạ) ở cây trồng, tăng phẩm chất nông sản (Nguyễn Như Hà, 2006)

Lân là yếu tố quyết định phẩm chất hạt giống, làm cho hạt giống cây có tỷ lệ nảy mầm cao, hạt đầy đặn (mẩy), màu sắc đẹp, hấp dẫn Lân còn có tác dụng giúp cây tăng các khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận như: khả năng chịu rét, chịu hạn

và khả năng chống chịu sâu bệnh hại cây trồng Khi cây thiếu lân, có hiện tượng lân chuyển từ các lá già về các bộ phận non của cây, nên biểu hiện thiếu lân ở cây thường thể hiện ở các lá già trước, lá có màu đỏ tím hay xanh nhạt Cây thiếu lân sinh trưởng chậm, yếu, đẻ nhánh kém, chín muộn, năng suất thấp, phẩm chất hạt kém…Chưa thấy hiện tượng ức chế cây trồng do bón quá nhiều lân, trừ ảnh hưởng gián tiếp do bón nhiều lân có thể dẫn đến việc cố định Zn làm cây thiếu Zn

1.2.2 Lân trong cây

Theo Vũ Hữu Yêm (1995) Trong cây lân chủ yếu nằm dưới dạng hữu cơ, chỉ

có một phần nhỏ nằm dưới dạng vô cơ Lân hữu cơ rất đa dạng đóng vai trò quan

Trang 24

trọng trong quá trình trao đổi chất, hút chất dinh dưỡng và vận chuyển các chất đó trong cây

Lân hữu cơ bao gồm axit photphoglixeric, axit nucleic, các chất dự trữ cao năng adenozin diphotphat (ADP), adenozin triphotphat (ATP), photpholipid…đó là các chất quan trọng trong hoạt động sống của cây (Ngô Thị Đào và Vũ Hữu Yêm, 2005)

Cây trồng hút lân chủ yếu dưới dạng khoáng của photphat hóa trị I (H2PO4-) và photphat hóa trị II (HPO42-) Hai dạng lân này đều dễ tiêu với cây nhưng chúng lại có rất ít ở trong đất (Nguyễn Như Hà, 2006)

Theo Nguyễn Như Hà (2006) cây có thể hút được một số hợp chất lân hữu cơ đơn giản, nhưng ít và chậm hơn nhiều Một đặc điểm nổi bật về dinh dưỡng lân của cây là: cây non rất mẫn cảm với lân, việc thiếu lân ở thời kỳ cây non sẽ cho hậu quả rất xấu, mà về sau dù có cung cấp bù đủ lân cho cây cũng không khắc phục được Cho nên cần chú ý cung cấp đủ lân cho cây trồng ngay từ đầu Một đặc điểm khác cũng cần lưu ý là tất cả các loại cây trồng đều có khả năng thu hút được lân có ở trong đất ở nồng độ rất thấp nên đất có thể bị khai thác kiệt quệ lân nếu người trồng trọt không quan tâm bón đủ lân cho cây

1.2.3 Lân trong đất

1.2.3.1 Lân tổng số

Tổng số các hợp chất lân trong đất, dù kết hợp với cation nào, hữu cơ hoặc vô

cơ gộp lại thành “Lân tổng số” của đất, thể hiện bằng hàm lượng tổng số P2O5 (Lê Văn Căn, 1985) Do đó lân tổng số chỉ cho chúng ta biết được tổng lượng lân trong đất mà không cho biết khả năng cung cấp lân cho cây trồng, vì lân trong đất được kiểm soát bởi nhiều yếu tố môi trường, có thể bị giữ lại bởi các hợp chất khó tan như phosphate sắt nhôm Mặt khác các loại cây trồng khác nhau thì khả năng sử dụng lân cũng khác nhau Các đất có hàm lượng lân tổng số khác nhau, đặc biệt ở Việt Nam hàm lượng lân tổng số rất thấp Nhưng xét về phì nhiêu thực tế thì lân tổng số không

có ý nghĩa gì nhiều, vì đại bộ phận lân tổng số ở dạng khó tiêu đối với thực vật

(Nguyễn Tử Siêm và ctv., 2000)

Trang 25

Bảng 1.2 Đánh giá lân tổng số trong đất (Lê Văn Căn, 1978)

0,01 0,01 – 0,05

005 – 0,1 0,1 – 0,2 0,2

P2O5 Đất phù sa sông Hồng có hàm lượng lân tổng số và lân dễ tiêu nhiều hơn vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999) Phù sa sông Hồng, mặn trung

tính kiềm có tỷ lệ lân trung bình 0,1% (Nguyễn Tử Siêm và ctv., 2000) Hai dạng lân

chủ yếu là lân vô cơ và lân hữu cơ

a Lân hữu cơ

Lân hữu cơ được tìm thấy trong đất mùn, lá cây và các dư thừa thực vật và động vật đất vì đây là dạng liên kết với chất hữu cơ nên nó được tìm thấy chủ yếu ở lớp đất mặt Hàm lượng lân trong đất thay đổi tùy theo loại đất và gia tăng với hàm lượng chất hữu cơ theo thứ tự sau: đất cát < đất sét < đất than bùn (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004)

Các hợp chất hữu cơ chứa lân gồm có phitin, axit nucleic, phosphatit, sacarophosphate và các vi sinh vật đất Lân được tích lũy trong đất nhờ sự tích lũy sinh học, vì vậy trong đất mặt thường chứa nhiều lân hữu cơ hơn các tầng đất dưới sâu Tỷ lệ lân hữu cơ phụ thuộc chủ yếu vào hàm lượng mùn trong đất và dao động

trong khoảng từ 10-50% của lân tổng số (Trần Văn Chính và ctv., 2006)

Dạng lân hữu cơ trong đất biến động từ 10-15% lân tổng số bao gồm các phytin, nucleoprotein, lectin, hợp chất mùn và các chất acide hữu cơ chứa lân, các acid mùn chứa từ 4-5% lân trong điều kiện thuận lợi có thể giải phóng từ 15-20 kg

lân/ha/năm (Nguyễn Tử Siêm và ctv., 2000)

Trong đất phytin thường chiếm với tỷ lệ dưới 30-40% tổng số lân hữu cơ và không hòa tan được trong nước (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999) Phospholipd là hợp chất

Trang 26

béo được tìm thấy ở thực vật, cùng với nucleic acid chúng chiếm tỷ lệ 1-2% lân hữu

cơ trong đất (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004)

Theo Nguyễn Chí Thuộc và ctv., (1974), dạng lân hữu cơ trong đất rất phổ biến

là phytate chiếm 50% tổng số lân hữu cơ Ở đất chua lân hữu cơ chủ yếu là dạng nhôm phytate, sắt phytate, còn ở đất trung tính chủ yếu là Canxiphytate Canxiphytate hòa tan trong acid và không hòa tan trong môi trường trung tính và môi trường kiềm, trái lại phytate nhôm và sắt không hòa tan trong dung dịch acid nhưng hòa tan trong môi trường kiềm (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004)

Ngoài ra lân trong đất còn tồn tại ở cơ thể sinh vật nhưng cây không thể hút trực tiếp được, đến khi vi sinh vật chết đi và cơ thể của chúng bị khoáng hóa cây mới

hút được (Nguyễn Chí Thuộc và ctv.,1974) Theo Lê Văn Căn (1978) trong đất mùn,

lân hữu cơ dao động từ 0,81-2,45% phụ thuộc vào các loại đất khác nhau và điều kiện sinh học hình thành nên loại đất đó Trong các loại đất khoáng, tỷ lệ lân hữu cơ từ 25-65% và ở các chân đất nhẹ, đất bạc màu có ít keo sét thì tỷ lệ lân thường thấp hơn các chân đất khác

Sau khi các chất hữu cơ trong đất được phân hủy thì chất hữu cơ mới được giải phóng ra acid orthophosphoric và những muối dễ tan của nó Nhưng những dạng này

bị hấp phụ bởi đất và sinh vật cho nên lân hòa tan trong đất rất ít Nếu ta vùi chất hữu

cơ nghèo lân vào trong đất, sau khi bị khoáng hóa thì lân dễ tiêu trong đất không tăng

mà còn bị giảm xuống, khi chất hữu cơ vùi vào trong đất ít hơn 0,2-0,3% P2O5 thì khi phân giải sẽ không có thêm chút lân dễ tiêu nào vì bị vi sinh vật hút hết (Nguyễn Chí

Thuộc và ctv., 1974)

b Lân vô cơ (lân khoáng)

Hợp chất lân vô cơ chứa lân chủ yếu là những muối axit octophosphoric với

Ca, Mg, Fe và Al Trong đất lân còn có trong thành phần của apatit, photphoric và vivianit, cũng như trong trạng thái hấp phụ của anion photphat Apatit là nguồn gốc đầu tiên của tất cả các hợp chất lân trong đất Nó chiếm tới 95% hợp chất lân trong vỏ trái đất Các hợp chất lân vô cơ trong đất phần lớn có tính di động kém (Trần Văn

Chính và ctv., 2006)

Trang 27

Hàm lượng lân vô cơ trong đất thường cao hơn lân hữu cơ, ngoại trừ trên các loại đất hữu cơ, hàm lượng lân vô cơ gia tăng theo phẫu diện (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004) Lân vô cơ chiếm khoảng 80% lân tổng số, bao gồm phosphate K, Na, NH4, Ca,

Mg, Fe, Al đây là những sản phẩm do phong hóa đá mẹ, do phân giải chất hữu cơ hoặc do sự chuyển biến phân lân từ ngoài vào Dạng dễ tan là phosphate của cation hóa trị I (KH2PO4; NaH2PO4), hay phosphate của kim loại kiềm thổ, phosphate Ca,

Mg ở dạng khó tan (CaHPO4; MgHPO4; Ca(PO4)2; Mg3(PO4)2 và còn có thể ở dạng hydroxyt apatit (Ca5(PO4)3OH) khó tan hơn (Nguyễn Vy, Trần Khải, 1978) Lân vô cơ nằm dưới dạng muối phosphate Ở đất chua giàu sắt , nhôm là các phosphate sắt nhôm Ở đất kiềm là các phosphate canxi và phosphate magie Ở đất mặn còn có thể xuất hiện phosphate natri (Vũ Hữu Yêm, 1995)

Theo Nguyễn Tử Siêm và ctv., (2000) các nhóm phosphate vô cơ tự do và liên

kết với các cation hóa trị I hầu như không có trong dung dịch đất, dạng liên kết với các cation hóa trị II cũng rất ít Lân tồn tại chủ yếu dưới dạng các phosphate với các cation đa hóa trị Fe-P, Al-P khó tan (chiếm tới 65-90%, thậm chí 95% lân tổng số) Phosphate sắt chiếm trên 50% lân khoáng trong đất, có độ hòa tan thấp hơn P-Ca nhưng trong môi trường chua chúng bền vững hơn P-Ca, trong đất lúa chua P-Ca và

P-Mg đóng vai trò không lớn (Nguyễn Tử Siêm và ctv., 2000) Thí nghiệm bằng đồng

vị phóng xạ P32 cũng cho thấy cây lúa hút phosphate sắt không kém gì phosphate canxi (Đỗ Ánh, 2003)

Lê Văn Căn (1978) cho rằng dạng phosphate sắt, nhôm có thể cung cấp lân đáng kể khi nó ở dạng trung tính nghĩa là tỷ lệ phân tử giữa phosphate và kim loại 1:1 Trên đất nhiệt đới, phosphate sắt, nhôm không ở dạng trung tính mà chỉ có ở dạng

acid khó tan trong nước, nên đất nhiệt đới rất nghèo lân dễ tiêu (Nguyễn Chí Thuộc và ctv., 1974)

1.2.3.2 Lân dễ tiêu

Lân dễ tiêu được định nghĩa là phần hợp chất vô cơ chứa lân trong đất, có khả năng hòa tan trong nước hoặc các dung môi chủ yếu như acid vô cơ có nồng độ thấp, các muối kiềm như carbonate Phần lân đó cây trồng có thể hấp thu được dễ dàng (Nguyễn Vy và Trần Khải, 1978)

Trang 28

Lân dễ tiêu trong đất là một chỉ tiêu dao động và không ổn định ngay cả trong một thời gian ngắn, ở ngay trong một loại đất Mặc dù vậy lân dễ tiêu cũng là một chỉ tiêu đánh giá độ phì của đất rất quan trọng không thể thiếu được Vì nếu hàm lượng lân dễ tiêu cao thì đất có khả năng cung cấp lân nhanh và việc thu hút chất lân của bộ

rễ được thuận lợi (Lê Văn Căn, 1985)

Nhưng lân dễ tiêu trong đất là một chỉ tiêu tương đối phức tạp nó chịu sự tác động mạnh mẽ của điều kiện môi trường, của vi sinh vật trong đó pH và các kim loại như : Fe, Al, Mn, Ca cũng như các tinh khoáng silicat và các hydroxyt của các kim loại trên có vai trò hết sức quan trọng đối với sự hữu dụng của lân

Chỉ tiêu lân dễ tiêu phản ánh khá trung thực nhu cầu bón lân cho lúa Theo ý kiến đa số của các nhà bác học thì lân dễ tiêu trong đất gồm các dạng chính sau đây:

- Những phân tử riêng lẻ của H3PO4 trong dung dịch đất và trong nước tưới

- Những phosphate dễ tan hòa tan trong nước của các kim loại có hóa trị I (NH4, K, Na) với các gốc H2PO4-, HPO42-, PO43-

- Những phosphate kim loại đa hóa trị như Ca, Mg, Al, Fe với ion H2PO4-

- Những ion H2PO4-, HPO42-, PO43- hấp phụ trên bề mặt keo đất

- Các phosphate Ca, Mg, Fe, Al lúc mới thành lập

- Các phosphate Fe-P, Al-P bị khử hóa trong đất ở điều kiện yếm khí

Các dạng lân dễ tiêu được sắp xếp theo thứ tự giảm dần độ hòa tan của chúng trong nước và mức độ hữu dụng của chúng đối với cây trồng Hàm lượng lân dễ tiêu trong dung dịch đất và trong cây thay đổi rất lớn tùy thuộc vào tính chất của đất, nhiệt

độ môi trường, hàm lượng lân tổng số, quá trình hình thành và phát sinh của đất cũng như loại cây trồng trên đó

Theo Lê Văn Căn (1985) thì lân dễ tiêu trong đất rất dễ bị kết tủa dưới dạng phosphate sắt nhôm Vì vậy lượng phosphate hòa tan khi bón vào đất không bao lâu sẽ chuyển thành những dạng khó tan hơn, và càng ít hòa tan thì càng chậm tiêu, khó

Ngày đăng: 12/04/2018, 21:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm