1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát hàm LƯỢNG DƯỠNG CHẤT và ĐÁNH GIÁ TÍNH KHẢ THI CHẾ tạo PHÂN hữu cơ của bùn đáy AO NUÔI tôm sú ở DUYÊN hải và cầu NGANG TRÀ VINH

42 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG Luận văn tốt nghiệp Ngành: KHOA HỌC ĐẤT Tên đề tài: KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG DƯỠNG CHẤT VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH KHẢ THI CHẾ TẠO PHÂN HỮU

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: KHOA HỌC ĐẤT

Tên đề tài:

KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG DƯỠNG CHẤT VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH KHẢ THI CHẾ TẠO PHÂN HỮU CƠ CỦA BÙN ĐÁY AO NUÔI TÔM

SÚ Ở DUYÊN HẢI VÀ CẦU NGANG

TRÀ VINH

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

PGs Ts Ngô Ngọc Hưng Trần Thanh Phong

Lớp: Khoa Học Đất K33

Trang 2

LỜI CẢM TẠ

Trong thời gian vừa qua em được đào tạo và rèn luyện dưới mái trường Đại Học Cần Thơ, em đã được quý thầy cô trường Đại Học Cần Thơ, đặc biệt là quý thầy cô Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tại trường và những kinh nghiệm trong cuộc sống Đây sẽ là những vốn sống

vô cùng quan trọng, là hành trang tri thức giúp em vững bước trong quá trình công tác về sau

Em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

- Thầy Ngô Ngọc Hưng người đã tận tình hướng dẫn, gợi ý, giúp đỡ và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn

- Anh Trần Minh Giàu người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp

- Quý thầy cô ở Bộ Môn Khoa Học Đất, những người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian

em học tập và rèn luyện tại Bộ Môn

- Các anh chị cán bộ phòng lý, hóa và sinh học đất Bộ môn Khoa Học Đất đã tận tình giúp

đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

- Thầy Trần Bá Linh và cô cố vấn học tập Châu Thị Anh Thy đã động viên em trong suốt

quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp

- Các bạn lớp Khoa Học Đất 33 đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

- Xin chúc tất cả quý Thầy Cô, Anh Chị trong Bộ môn Khoa Học Đất và các bạn luôn thành công trong cuộc sống

Xin trân trọng ghi nhớ những chân tình của những nông dân đã tạo điều kiện và cung cấp thông tin cho tôi thực hiện luận văn mà tôi không thể liệt kê trong trang cảm tạ này

Kính dâng

Cha, mẹ đã hết lòng nuôi con khôn lớn nên người, là nguồn động viên quan trọng giúp con học tập

và vươn lên trong cuộc sống

Trang 3

QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

I LÝ LỊCH

 Họ và tên: Trần Thanh Phong Giới tính: Nam

 Ngày, tháng, năm sinh: 1989 Dân tộc: Kinh

 Nơi sinh: Ấp Bào, xã Hiệp Thạnh, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh

 Địa chỉ liên lạc: Ấp 12, xã Long Hữu, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh

Điện thoại: 01648669688

 Thời gian học từ năm 1995 đến năm 2000

 Trường Tiểu học Long Hữu A

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

 1 Tiểu học

 Địa chỉ: xã Long Hữu – huyện Duyên Hải – Trà Vinh

2 Trung học cơ sở

 Thời gian học từ năm 2000 đến năm 2004

 Trường Trung học cơ sở Long Hữu

 Địa chỉ: xã Long Hữu – huyện Duyên Hải – Trà Vinh

3 Trung học phổ thông

 Thời gian học từ năm 2004 đến năm 2007

 Trường Trung học phổ thông Duyên Hải

 Địa chỉ: huyện Duyên Hải – Trà Vinh

4 Đại học

 Thời gian học từ năm 2007 đến năm 2011

 Tốt nghiệp đại học năm 2011 tại trường Đại học Cần Thơ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu và kết quả được trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả Luận văn

Trần Thanh Phong

Trang 5

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Luận văn tốt nghiệp Kỹ Sư ngành Khoa Học Đất với đề tài:

“KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG DƯỠNG CHẤT VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH KHẢ THI CHẾ TẠO PHÂN HỮU CƠ CỦA BÙN ĐÁY AO NUÔI TÔM SÚ Ở DUYÊN HẢI VÀ CẦU NGANG – TRÀ VINH”

Do sinh viên Trần Thanh Phong thực hiện từ 02/2010 – 11/2010

Cần thơ, ngày tháng năm 2011

Cán Bộ Hướng Dẫn

PGS TS Ngô Ngọc Hưng

Trang 6

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

Luận văn tốt nghiệp kèm theo đây, với đề tài là:

“KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG DƯỠNG CHẤT VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH KHẢ THI CHẾ TẠO PHÂN HỮU CƠ CỦA BÙN ĐÁY AO NUÔI TÔM SÚ Ở DUYÊN HẢI VÀ CẦU NGANG – TRÀ VINH”

do Trần Thanh Phong thực hiện và báo cáo, và đã được Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp Bộ môn Khoa học Đất thông qua

Cần Thơ, ngày tháng năm 2011

Chủ Tịch Hội Đồng

Trang 7

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp Kỹ Sư ngành Khoa Học Đất với đề tài:

“KHẢO SÁT HÀM LƯỢNG DƯỠNG CHẤT VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH KHẢ THI CHẾ TẠO PHÂN HỮU CƠ CỦA BÙN ĐÁY AO NUÔI TÔM SÚ Ở DUYÊN HẢI VÀ CẦU NGANG – TRÀ VINH”

Do sinh viên Trần Thanh Phong thực hiện từ 02/2010 – 11/2010 và bảo vệ trước hội đồng

Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:

Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:

Cần thơ, ngày tháng năm 2011

Chủ tịch Hội đồng

Trang 8

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa Cảm tạ Trang lý lịch Lời cam đoan Trang xác nhận Mục lục Danh sách hình

Danh sách bảng

Tóm lược

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 Giới thiệu 1.1.1 Vị trí địa lý

1.1.2 Diện tích

1.1.3 Địa hình

1.1.4 Khí hậu

1.1.4.1 Khí tượng

1.1.4.2 Bức xạ

1.1.4.3 Ẩm độ

1.1.4.4 Gió

1.1.4.5 Mưa

1.1.4.6 Hạn

1.1.5 Thủy văn

1.1.5.1 Mật độ sông rạch

1.1.5.2 Chế độ thủy văn

1.1.6 Tài nguyên đất

1.1.7 Tài nguyên nước

1.1.7.1 Nước mặt

1.1.7.2 Nước ngầm

1.1.8 Tài nguyên khoáng sản

1.2 Sơ lược về tình hình nuôi tôm sú

1.2.1 Tình hình nuôi tôm sú trên thế giới

1.2.2 Tình hình nuôi tôm ở Việt Nam

1.2.3 Tình hình nuôi tôm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

1.3 Ô nhiễm môi trường trong nuôi trồng thủy sản

1.3.1 Các khái niệm về ô nhiễm môi trường

1.3.2 Ô nhiễm môi trường do nước thải trong nuôi trồng thủy sản

1.4 Sơ lược về bùn đáy ao nuôi tôm sú

1.4.1 Đặc tính lớp bùn đáy ao nuôi tôm

1.4.2 Nguồn gốc phát sinh bùn ao nuôi tôm sú

1.4.3 Thành phần bùn ao nuôi tôm sú

i

ii iii

iv vii

ix

x

xi

1

2

2

2

2

2

3

3

3

3

3

4

4

4

4

5

5

6

6

6

6

6

6

7

9

10

10

11

12

12

12

17

Trang 9

1.6 Một số nghiên cứu trước đây về bùn ao nuôi tôm sú

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN - PHƯƠNG PHÁP

2.1 Phương tiện

2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.2 Trang thiết bị và phần mềm

2.2 Phương pháp

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

2.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa

2.2.3 Phương pháp lấy mẫu

2.2.4 Phương pháp phân tích

2.2.5 Phương pháp phân tích số liệu, tổng hợp và đánh giá

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ - THẢO LUẬN

3.1 Hiện trạng nuôi tôm sú ở Duyên Hải và Cầu Ngang – Trà Vinh

3.1.1 Đặc điểm địa hình của các mô hình nuôi tôm

3.1.2 Tình hình nuôi tôm sú ở Duyên Hải và Cầu Ngang

3.1.3 Tập quán xử lý bùn ao nuôi tôm sú của người dân

3.2 Tính chất bùn ao nuôi tôm sú ở Duyên Hải và Cầu Ngang

3.2.1 Chất lượng bùn ao nuôi tôm sú

3.2.2 Đánh giá tính khả thi của việc sử dụng bùn đáy ao làm phân hữu cơ

Trang 10

DANH SÁCH HÌNH

3.1 Hàm lượng carbon hữu cơ trong bùn đáy ao của các mô hình nuôi 25

3.2 Hàm lượng đạm tổng số trong bùn đáy ao của các mô hình nuôi 26

3.3 Hàm lượng lân tổng số trong bùn đáy ao của các mô hình nuôi 27

3.4 Hàm lượng kali trao đổi trong bùn đáy ao của các mô hình nuôi 28

3.5 pH đầu vụ trong bùn đáy ao ở tất cả các hộ của các mô hình nuôi 29

3.6 pH đầu vụ trong bùn đáy ao ở tất cả các hộ của các mô hình nuôi 29

3.7 pH cuối vụ trong bùn đáy ao ở tất cả các hộ của các mô hình nuôi 30

3.8 Sự thay đổi pH theo thời gian của các mô hình nuôi tôm 30

3.9 EC đầu vụ trong bùn đáy ao ở tất cả các hộ của các mô hình nuôi 31

3.10 EC giữa vụ trong bùn đáy ao ở tất cả các hộ của các mô hình nuôi 32

3.11 EC cuối vụ trong bùn đáy ao ở tất cả các hộ của các mô hình nuôi 32

3.12 Sự thay đổi pH theo thời gian của các mô hình nuôi tôm 33

3.13 Hàm lượng sắt tự do trong đất đáy bùn ao của các mô hình nuôi 34

Trang 11

DANH SÁCH BẢNG

1.1 Thời gian bắt đầu và kết thúc mưa của các huyện thuộc tỉnh Trà Vinh 4

1.2 Diện tích mặt nước nuôi tôm của cả nước từ năm 2000 đến năm 2009 8

1.3 Sản lượng tôm nuôi theo địa phương từ năm 2000 đến năm 2009 9

1.4 Sản lượng tôm nuôi các Tỉnh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long từ năm 2000

đến năm 2009

10 1.5 Các thông số tạo ô nhiễm hữu cơ trong ao nuôi tôm công nghiệp 14

2.1 Phân tích các thông số liên quan đến hàm lượng bùn trong các ao nuôi tôm

Trà Vinh năm 2009

23 3.3 Tiêu chuẩn sản xuất phân hữu cơ từ bã bùn mía và phân hữu cơ từ rác thải

sinh hoạt

36 3.4 Hàm lượng một số chỉ tiêu trong bùn đáy ao nuôi tôm 36

Trang 12

TÓM LƯỢC

Hiện nay, nuôi tôm sú mang lại một nguồn lợi lớn về kinh tế cho người dân nuôi tôm nói chung và người dân ở Duyên Hải và Cầu Ngang – Trà Vinh nói riêng Tuy nhiên, bên cạnh nguồn lợi kinh tế

do nuôi tôm sú mang lại thì việc ô nhiễm môi trường ao nuôi đã và đang xảy ra, mà một trong những

nguyên nhân chính là từ bùn đáy ao nuôi tôm Do đó, đề tài: “Khảo sát hàm lượng dưỡng chất và đánh giá tính khả thi chế tạo phân hữu cơ của bùn đáy ao nuôi tôm sú ở Duyên Hải và cầu Ngang- Trà Vinh ” nhằm mục đích khảo sát tình hình thải và xử lý bùn đáy ao nuôi tôm ra môi

trường xung quanh ở Duyên Hải và Cầu Ngang, xác định hàm lượng dưỡng chất có trong bùn đáy

ao nuôi tôm sú, đánh giá tính khả thi của việc sử dụng bùn đáy ao làm phân hữu cơ

Kết quả nghiên cứu cho thấy, bùn đáy ao nuôi tôm sú ở Duyên Hải và Cầu Ngang có hàm lượng carbon hữu cơ thấp (1,29% - 2,62%), Lân tổng số từ trung bình đến khá (0,07% - 0,11%), Đạm tổng

số từ rất nghèo đến trung bình (0,04% - 0,12%), hàm lượng Kali trao đổi khá và giàu (0,95 cmol+/kg – 1,60 cmol+/kg); hàm lượng Fe2O3 tự do cao đến rất cao (1,01% - 1,97%); pH khoảng 5,63 - 7,98;

EC cao đến rất cao nằm trong khoảng 5,28 mS/cm – 21,74 mS/cm

Trên cơ sở đánh giá hàm lượng dưỡng chất của bùn đáy ao nuôi tôm, mức độ của các dưỡng chất này rất thấp để sản xuất phân hữu cơ, đặc biêt là hàm lượng cacbon hữu cơ Vì vậy, tính khả thi của việc sử dụng bùn đáy ao nuôi tôm sú chế tạo phân bón hữu cơ ở Duyên Hải và Cầu Ngang là không cao

Trang 13

MỞ ĐẦU

Thời gian qua, diện tích nuôi tôm trên cả nước, đặc biệt là khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long không ngừng phát triển Đến nay, con tôm đã được xác định là vật nuôi chủ lực trong nuôi trồng thủy sản Trong đó, nuôi tôm sú đang là một trong những nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân ở khu vực duyên hải các tỉnh phía nam và nhất là Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung cũng như tỉnh Trà Vinh nói riêng Ngoài việc mang lại hiệu quả kinh tế, nâng cao đời sống người dân, nó cũng góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, giải quyết công ăn việc làm… Bên cạnh những nguồn lợi về kinh tế do nuôi tôm mang lại thì theo nhiều nghiên cứu trước đây cũng như thực tế đã phản ánh, việc ô nhiễm môi trường ao nuôi tôm đã xảy ra Trong nhiều nguyên nhân gây ô nhiễm thì bùn ao nuôi tôm là một trong những nguyên nhân nội tại Các tác động của nó ảnh hưởng đến môi trường ao nuôi là rất lớn và việc cải thiện xử lý bùn ao nuôi tôm là quan trọng và cần thiết

Trong nuôi tôm, ngoài các yếu tố như con giống, thức ăn, phương pháp quản lý, tác nhân gây bệnh cho tôm…thì môi trường ao nuôi vẫn là một trong những yếu tố quan trọng có tính quyết định đến năng suất nuôi Hiện nay, việc cải tạo ao và duy trì ao nuôi sạch vẫn còn nhiều bất cập, khiến cho những người nuôi tôm gặp nhiều rủi ro Tình hình trên đặt ra cho các nhà khoa học và người nuôi tôm nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó việc xử lý bùn đáy ao rất cần thiết, đặc biệt trong những ao nuôi tôm ở mật độ cao

Hiện nay cũng có một số nghiên cứu về xử lý bùn ao nuôi tôm và đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, hầu như những ứng dụng này không được rộng rãi, do đặc điểm địa hình, chất lượng nước, quy trình nuôi tôm của từng vùng là khác nhau nên mức độ ô nhiễm

và ảnh hưởng của bùn ao nuôi tôm cũng khác nhau Như vậy có thể nói rằng, việc nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của bùn ao nuôi tôm và khả năng ứng dụng chế tạo phân hữu cơ của

đề tài: “Khảo sát hàm lượng dưỡng chất và đánh giá tính khả thi chế tạo phân hữu cơ của bùn đáy ao nuôi tôm sú ở Duyên Hải và Cầu Ngang – Trà Vinh” là cần thiết, không

những tìm ra hướng giải quyết vấn đề về môi trường ao nuôi tôm ở địa phương mà còn góp phần bảo vệ môi trường và tận dụng một nguồn nguyên liệu khá lớn trên cơ sở tái sử dụng chất thải

Mục tiêu đề tài:

- Khảo sát tình hình thải bùn đáy ao ra môi trường xung quanh ao nuôi ở Duyên Hải và Cầu Ngang – Trà Vinh

- Xác định hàm lượng dưỡng chất có trong bùn đáy ao nuôi tôm sú

- Đánh giá tính khả thi của việc sử dụng bùn đáy ao để chế tạo phân bón hữu cơ

Trang 14

Chương 1- LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 GIỚI THIỆU

1.1.1 Vị trí địa lý

Trà Vinh là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu long; Nằm trong tọa độ địa lý: từ 9o31’5’’ đến 10o04’5’’ vĩ độ Bắc và 105o57’16’’ đến 106o36’04’’ kinh độ Đông Theo hồ sơ địa giới 364/CT, vị trí hành chính của tỉnh được khái quát mô tả như sau:

- Phía Đông và Đông Bắc: giáp tỉnh Bến

Tre;

- Phía Tây và Tây Nam: giáp tỉnh Sóc

Trăng;

- Phía Nam và Đông nam: giáp biển Đông

với hơn 65 km bờ biển;

- Phía Bắc: giáp tỉnh Vĩnh Long

Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Trà Vinh

Trung tâm tỉnh lỵ nằm trên Quốc lộ 53, cách thành phố Hồ Chí Minh gần 200 km và cách thành phố Cần Thơ 100 km Đến nay, tỉnh Trà Vinh có bảy huyện và một thành phố, bao gồm các huyện :Càng Long, Tiểu Cần, Cầu Kè, Châu Thành, Trà Cú, Cầu Ngang, Duyên Hải và thành phố Trà Vinh Tổng diện tích tự nhiên 2.292,82 km2 chiếm 5,81% diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long và 0,69% diện tích cả nước, tăng 67,15 ha so với năm

2002

1.1.2 Diện tích

Đến năm 2005 tổng diện tích tự nhiên là: 229.282,87 ha, tương đương 2.292,82 km²(theo kiểm kê đất đai năm 2005) gồm: Đất nông nghiệp là 187 724,44 ha; đất phi nông nghiệp là 41.742,50 ha và đất chưa sử dụng là 85,93 ha

1.1.3 Địa hình

Địa hình tỉnh Trà Vinh mang tính chất vùng đồng bằng ven biển có các giồng cát, chạy liên tục theo hình vòng cung và song song với bờ biển Càng về phía biển, các giồng cát này càng cao và rộng lớn Do sự chia cắt bởi các giồng cát và hệ thống trục lộ, kinh rạch chằng chịt, địa hình toàn vùng khá phức tạp Các vùng trũng xen kẹp với các giồng cao, xu thế độ dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng

Địa hình phức tạp của tỉnh Trà Vinh đã hình thành nên một nền sản xuất đa dạng và phong

Trang 15

Nhìn chung, địa hình thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp là từ: 0,6 - 1m Cao trình này thích hợp cho việc tưới tiêu tự chảy, ít bị hạn cũng như không bị ngập úng Riêng đối với rừng ở Duyên Hải, cao trình 0,4 - 1 m là dạng địa hình thích hợp cho sự phát triển của hầu hết các loại cây rừng ngập mặn có giá trị như: Đước, Lá, Mắm (Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Trà Vinh)

1.1.4 Khí hậu

1.1.4.1 Khí tượng

Nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Trà Vinh cũng có những thuận lợi chung như: Có điều kiện ánh sáng bức xạ dồi dào, nền nhiệt độ cao và ổn định, tuy nhiên, do đặc thù của vùng khí hậu ven biển, tỉnh Trà Vinh có một số hạn chế về mặt khí tượng như: Gió chướng mạnh, bốc hơi cao, mưa ít,

Nhiệt độ trung bình toàn tỉnh là 26,6oC, biên độ nhiệt giữa tối cao: 35,8oC, nhiệt độ tối thấp: 18,5oC, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm thấp: 6,4oC Nhìn chung nhiệt độ tương đối điều hòa

và sự phân chia bốn mùa trong năm không rõ chủ yếu hai mùa mưa, nắng

1.1.4.2 Bức xạ

Toàn tỉnh có tổng số giờ nắng cao: 7,7 giờ/ngày, bức xạ quang hợp dồi dào 82.800 cal/năm, cho phép cây trồng phát triển quanh năm Tuy nhiên, với phương thức canh tác như hiện nay, nguồn năng lượng này chưa được tận dụng bao nhiêu nhất là trong mùa khô

1.1.4.3 Ẩm độ

Tỷ lệ ẩm độ trung bình cả năm biến thiên từ 80 - 85%, biến thiên ẩm độ có xu thế biến đổi theo mùa; mùa khô đạt 79%, mùa mưa đạt 88% Riêng ẩm độ trung bình của tất cả các tháng đều đạt trên 90%, đây là điều kiện thích hợp cho sự phát triển và lây lan của một số dịch

bệnh xảy ra

1.1.4.4 Gió

Toàn tỉnh có hai hướng gió chính:

Gió mùa Tây Nam: từ tháng năm đến tháng mười dương lịch, gió thổi từ Biển Tây vào mang nhiều hơi nước gây ra mưa

Gió chướng (gió mùa Đông Bắc hoặc Đông Nam): thịnh hành nhất từ tháng mười một năm trước đến tháng ba năm sau có hướng song song với các cửa sông lớn Gió chướng là nguyên nhân gây ra nước biển dâng cao và đẩy mặn truyền sâu vào nội đồng Vận tốc gió đạt cao nhất trong tháng hai, ba dương lịch (vận tốc 5 - 8 m/s) và thường mạnh vào buồi chiều Vì vậy, sự xuất hiện các đỉnh mặn do gió chướng tác động đã làm cho việc sản xuất không ổn định trong thời gian này

Trang 16

1.1.4.5 Mưa

Tổng lượng mưa từ trung bình đến thấp (1.588 – 1.227 mm), phân bố không ổn định và phân hóa mạnh theo thời gian và không gian Lượng mưa giảm dần từ Bắc xuống Nam, cao nhất ở Càng Long, Trà Vinh; thấp nhất ở Cầu Ngang và Duyên Hải

Về thời gian mưa, có 90% lượng mưa năm tập trung vào mùa mưa bắt đầu tử tháng năm đến tháng mười một Càng về phía biển, thời gian mưa càng ngắn dần tức là mùa mưa bắt đầu muộn nhưng kết thúc sớm Đây là hạn chế lớn đối với sản xuất của vùng này vì thời gian mưa có ích cho cây trồng rất ngắn Huyện có số ngày mưa cao nhất là Càng Long (118 ngày), Trà Vinh (98 ngày); thấp nhất là Duyên Hải (77 ngày) và Cầu Ngang (79 ngày).Theo

số liệu thống kê 10 năm, với tần suất 75% thời gian mưa các huyện như sau:

Bảng 1.1 Thời gian bắt đầu và kết thúc mưa của các huyện thuộc tỉnh Trà Vinh

Càng Long, Tiểu Cần, Cầu Kè 15/5 - 16/5 26/10 - 7/11

Châu Thành, Trà Vinh 15/5 - 16/5 26/10 - 7/11

Cầu Ngang, Trà Cú, Duyên Hải 22/5 - 27/5 24/10 - 26/10

1.1.4.6 Hạn

Hạn hàng năm thường xảy ra gây khó khăn cho sản xuất với số ngày không mưa liên tục từ

10 - 18 ngày Cầu Kè, Càng Long, Trà Cú là các huyện ít bị hạn Huyện Tiểu Cần hạn đầu

vụ (tháng sáu, tháng bảy dương lịch) là quan trọng trong khi các huyện còn lại: Châu Thành, Cầu Ngang, Duyên Hải hạn giữa vụ (tháng bảy, tháng tám dương lịch) thường nghiêm trọng hơn

1.1.5 Thuỷ văn

1.1.5.1 Mật độ sông rạch

Ngoài sông Hậu và sông Cổ Chiên ra, hệ thống kênh rạch trong đồng khá phát triển, rộng và sâu ở cửa, hẹp và cạn dần khi vào trong nội đồng Các hệ thống trục chính bao gồm:

- Phía sông Cổ Chiên: rạch Láng Thé, kênh Trà Vinh, rạch Bãi Vàng rạch Thâu Râu

- Phía sông Hậu: Rạch Mỹ Văn, sông Cần Chông, rạch Trà Cú, Tống Long, Vàm Ray, kênh

Trang 17

- Đối với mật độ kinh nội đồng, nhìn chung Trà Vinh có mật độ còn thấp (< 50% so với yêu cầu sản xuất) Huyện có mật độ kênh cao nhất của toàn tỉnh là Tiểu Cần (45m/ha); thấp nhất

là Duyên Hải, Trà Cú, Cầu Ngang (18 - 28 m/ha)

1.1.5.2 Chế độ thủy văn

Toàn tỉnh chịu ảnh hưởng mạnh của chế độ triều Biển Đông thông qua hai sông lớn và mạng lưới kênh rạch chằng chịt Đây là chế độ bán nhật triều không đều, ngày có hai lần triều lên

và hai lần triều xuống Mỗi tháng có hai kỳ triều cường (vào ngày một và mười lăm âm lịch)

và hai kỳ triều kém (vào ngày bảy và hai ba âm lịch)

Do gần biển, biên độ và mực nước trên sông rạch khá cao nên tiềm năng tiêu tự chảy của tỉnh rất lớn Chỉ riêng một phần ở Càng Long và khu vực giữa tỉnh (phần giáp ranh của một huyện: Châu Thành, Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Ngang) do có sự giáp nước từ nhiều hướng và biên độ triều tắt nhanh nên bị ngập kéo dài từ ba đến bốn tháng

Nhìn chung, khoảng 1/3 diện tích đất tự nhiên của tỉnh bị ngập khá sâu vào mùa mưa (> 0,6m) phân bố tập trung ở ven sông và các trũng giữa giồng của các huyện Cầu Ngang, Duyên Hải, Trà Cú Tuy tiêu rút dễ dàng nhưng độ sâu ngập này đã hạn chế việc thâm canh lúa mùa như bón phân, sử dụng giống mùa cao sản Các vùng gò ngập ít (< 0,4m) phân bố chủ yếu ở khu vực giữa tỉnh (thuộc vùng lúa cao sản), đây là vùng có khả năng canh tác màu

và thâm canh lúa cao sản nhưng dễ bị hạn ảnh hưởng

Do bị mặn ảnh hưởng nên dù động lực triều cao nhưng chỉ một phần diện tích của tỉnh có khả năng sử dụng nước sông để tưới tự chảy và chủ yếu ở các khu vực nhiễm mặn ít (từ hai đến ba tháng)

1.1.6 Tài nguyên đất

Theo kết quả khảo sát và lập bản đồ đất vùng Nam Măng Thít (tỷ lệ 1/25.000) thuộc Chương trình Đất Cửu Long, năm 1992 thì có thể chia đất của tỉnh thành 3 nhóm chính với 13 loại đất Cụ thể gồm:

* Đất cát giồng có 01 loại: diện tích 15.169,34 ha, chiếm 6,62% diện tích tự nhiên

* Đất phù sa có 5 loại: diện tích 132.983,44 ha, chiếm 58,00% diện tích tự nhiên

* Đất phèn có 7 loại: diện tích 55.719,38 ha, chiếm 24,30% diện tích tự nhiên, được chia làm 2 phân nhóm

- Đất phèn tiềm tàng có 4 loại, diện tích là 42.984,95 ha

- Đất phèn phát triển có 3 loại, diện tích là 12.734,43 ha

Phần còn lại là hồ ao, sông, kênh, rạch với diện tích 25.410,71 ha, chiếm 11,08% diện tích

tự nhiên

Trang 18

1.1.7 Tài nguyên nước

1.1.7.1 Nước mặt

Nguồn nước trực tiếp cung cấp cho Trà Vinh là 2 sông lớn: sông Tiền, sông Hậu (mùa mưa: lưu lượng hơn 5.000 m3/s; mùa khô từ 1.860 - 2.230 m3/s) thông qua Dự án thủy lợi Nam Măng Thít, cùng các sông nhánh như: sông Cái Hóp - An rường, sông Cần Chông, rạch Tân Định, rạch Bông Bót, rạch Tổng Long và trên 600 km kênh lớn, khoảng 2.000 km kênh cấp I, II Tuy nhiên, đến nay Trà Vinh vẫn thiếu nước ngọt đặc biệt vào mùa khô, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp Các vùng đất của huyện Duyên Hải và một phần của Cầu Ngang, Trà Cú hiện vẫn còn trong tình trạng thiếu nước ngọt, canh tác chủ yếu dựa vào nước

tự nhiên, đòi hỏi cần phải có phương án khai thác nguồn nước ngọt từ sông Cổ Chiên, sông Hậu và sông Mang Thít cung cấp cho các huyện ven biển nhằm cải tạo tốt hơn đất nhiễm mặn và phát triển sản xuất

1.1.7.2 Nước ngầm

Đất Trà Vinh có 5 tầng chứa nước, ở tầng trên nguồn nước bị nhiễm mặn (do các kênh dẫn nước mặn vào), 3 tầng tiếp theo ở giữa nước ngầm phong phú và chất lượng khá hơn và cuối cùng là tầng Miocene ở sâu nhất

Chiều sâu của 3 tầng chứa nước ở giữa, thay đổi từ 60 m đến 400 m và phổ biến từ 90 m đến

120 m

Nước ngầm ở khu vực ven biển tồn tại ở 2 dạng:

- Nước ngầm tầng nông nằm dưới các giồng cát, chủ yếu là tích tụ nước mưa tại chỗ có độ sâu dưới 100 m, trữ lượng ít

- Nước ngầm tầng sâu còn gọi là nước ngầm Pleitocene, ở sâu trên 100 m, tương đối phong phú, đủ dùng cho sinh hoạt và đời sống dân cư tại chỗ Khả năng khai thác 97.000 m3/ ngày

1.1.8 Tài Nguyên khoáng sản

Về mặt địa chất, toàn bộ tỉnh là trầm tích trẻ có nguồn gốc phù sa sông biển, do đó khoáng sản của tỉnh chỉ có sét gạch ngói và một ít cát xây dựng

1.2 SƠ LƯỢC VỀ TÌNH HÌNH NUÔI TÔM SÚ

1.2.1 Tình hình nuôi tôm sú trên thế giới

Nghề nuôi tôm sú trên thế giới đã trãi qua nhiều thế kỷ nhưng cũng chỉ thực sự bùng phát những năm 80 khi tôm giống đã được sản xuất ra với một lượng lớn để cung cấp cho người

Trang 19

thị trường thế giới nên nuôi tôm là động lực cho sự gia tăng diện tích và thâm canh hóa ở nhiều địa phương Trên thế giới có hai khu vực nuôi tôm lớn nhất là Tây Bán Cầu gồm các nước Châu Mỹ La Tinh và Đông bán cầu gồm các nước Nam Á và Đông Nam Á

Theo FAO (2003a) giai đoạn 1984 – 1997 sản lượng tôm tăng bình quân 14% mỗi năm, sản lượng tôm nuôi gần 914.000 tấn năm 1997 và đạt giá trị 6,1 tỷ đô la Sự thành công của nông dân ở nhiều quốc gia trên thế giới như Châu Á và Nam Mỹ, đã khẳng định sự tiến bộ của nghề nuôi trồng thủy sản trên thế giới Tôm sú là loài tôm nuôi chủ yếu tạo ra khoảng 52% sản lượng toàn cầu, được nuôi phổ biến ở Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Việt Nam và Philipines

Nhu cầu thị trường đối với tôm vẫn không ngừng tăng cao trong thời gian qua làm cho tôm

có một giá trị hấp dẫn và ngành nuôi tôm thâm canh có đầu ra ổn định Lợi nhuận hấp dẫn và giá trị xuất khẩu cao đã tác động đến chính sách phát triển của một số nước nuôi tôm Chính điều này làm cho nghề nuôi tôm đã được mở rộng

Tuy nhiên, sản lượng giảm mạnh do dịch bệnh và thời tiết không thuận lợi ở nhiều quốc gia như Ecuador, Peru, Mexico, Bangladesh và Ấn Độ (FAO, 2003b) Sự sụp đỗ của nghề nuôi tôm công nghiệp ở Đài Loan, ô nhiễm môi trường đã bộc phát bệnh gây sản lượng giảm từ 90.000 tấn xuống 20.000 tấn trong những năm 1987 – 1989, sản lượng tôm của Ecuador giảm từ 70.000 tấn vào năm 1988 xuống 40.000 tấn vào những năm 1989 mà nguyên nhân chủ yếu là vấn đề môi trường và bộc phát của bệnh (FAO, 2003b) Sản lượng tôm ở Thái Lan giảm từ 60% vào năm 1988 Nguyên nhân gây ra sự giảm sụt này là do môi trường bị

suy thoái, nước có chất lượng kém và do nạn phá rừng (Macintosh et al., 1992)

Trong thực tế nguồn nước thải đỗ ra kênh rạch công cộng từ các trại nuôi tôm không qua xử

lý ở nhiều nơi như Việt Nam, Indoneisa và Philipines Ngoài ra, các khu vực nuôi tôm thâm canh thường tập trung dọc theo vùng và hạn chế của hệ thống thủy lợi làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi nước tạo nên sự ô nhiễm môi trường làm dịch bệnh bộc phát (FAO, 1998) Ngoài ra, thường tập trung và thường dùng chung nguồn nước cấp từ sông, kênh rạch nơi hòa trộn nguồn nước cấp với nước thải gây nên nguy hại cho môi trường và bùng phát dịch

bệnh (Boyd et al., 1994)

1.2.2 Tình hình nuôi tôm ở Việt Nam

Ở nước ta nghề nuôi tôm đã có từ lâu đời nhưng nuôi theo hình thức quảng canh nên năng suất rất thấp Trong những năm gần đây nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về con tôm đã được đưa vào sản xuất, đặc biệt là kỹ thuật sinh sản tôm giống nhân tạo cùng với những kết quả nghiên cứu về kỹ thuật nuôi tôm thương phẩm, sản xuất các loại thức ăn, các mô hình nuôi tôm…, đã thúc đẩy nghề nuôi tôm sú phát triển, đạt năng suất cao mang lại hiệu quả kinh tế

Trang 20

lớn Nghề nuôi tôm đã trở thành một ngành sản xuất hàng hoá có hiệu quả và mang lại nhiều lợi nhuận cho nước nhà

Việt Nam là một trong những nước có vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, thích hợp cho việc nuôi trồng thủy sản Với bờ biển dài 3.260km trải dài từ Quảng Ninh đến Kiên Giang là tiềm năng to lớn cho thủy sản nước mặn và lợ Diện tích nuôi tôm đã không ngừng tăng từ 50.000ha năm1985 lên 295.000ha năm 1998 với 30 tỉnh có nuôi tôm sú (Bộ Thủy Sản, 1999)

Vùng châu thổ đồng bằng Bắc Bộ kéo dài từ Quảng Ninh đến Hà Tỉnh có nhiều sông ngòi trong đó sông Hồng giữ vị trí quan trọng Hằng năm nơi đây được cung cấp lượng phù sa lớn, tốc độ bồi lắng nhanh trở thành bãi triều rộng lớn Tuy nhiên khí hậu nơi đây lại trở nên khắc nghiệt với tôm sú, nhiệt độ giữa các mùa lại có biến động khá lớn Hiện nay xuất hiện các mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến và bán thâm canh thì năng suất nuôi tôm sú cũng

đã tăng lên đáng kể với tổng diện tích là 3.942ha (Bộ Thủy Sản, 1999)

Ở ven biển miền Trung đến Bình Thuận, đây là khu vực đi đầu trong lĩnh vực phát triển công nghệ sản xuất giống tôm sú ở nuớc ta Theo thống kê năm 1999 của Bộ Thủy Sản thì tổng diện tích nuôi tôm sú ở miền Trung là 12.530ha

Ở miền Nam, từ Bà Rịa Vũng Tàu đến Kiên Giang có tổng diện tích nuôi tôm sú là 238.279

ha (Bộ Thủy Sản, 1999) Nơi đây có điều kiện thời tiết khí hậu và thổ nhưỡng rất thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi tôm sú

Nghề nuôi tôm tuy chỉ mới phát triển trong vài thập kỷ qua nhưng nó đã phát triển mạnh và trở thành ngành kinh tế quan trọng, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu người dân và tạo nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho Chính phủ và từ đó nó đã hình thành nhiều hình thức nuôi khác nhau Các hình thức chính: nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh Bên cạnh đó còn có các hình thức khác như: nuôi tôm trong ruộng lúa, nuôi tôm trong rừng ngập mặn, nuôi tôm trên cát, nuôi tôm trong ruộng muối

Bảng 1.2 Diện tích mặt nước nuôi tôm của cả nước từ năm 2000 đến năm 2009

2009 Diện tích nước

mặn , lợ (nghìn

ha)

324,1 454,9 509,6 574,9 598,0 528,3 612,1 633,4 629,3 623,3

Diện tích nước

Trang 21

Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tính đến năm 2009, sản lượng nuôi tôm cũng đã tăng lên khá mạnh đối với các khu vực trên cả nước

Bảng 1.3 Sản lượng tôm nuôi theo địa phương từ năm 2000 đến năm 2009 (Tấn)

nước

Đồng bằng sông Hồng

Trung du

và miền núi phía Bắc

Bắc Trung

Bộ và duyên hải miền Trung

Tây Nguyên

Đông Nam

Bộ

Đồng bằng sông Cửu Long

1.2.3 Tình hình nuôi tôm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

Khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long có một vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển

kinh tế thủy sản của cả nước, chiếm hơn 80% tổng sản lượng Với nhiều thuận lợi về điều kiện tư nhiên cũng như tiềm năng về diện tích, nghề nuôi tôm của Đồng Bằng Sông Cửu

Long không ngừng phát triển với nhiều hình thức nuôi như quảng canh, chuyên tôm quảng

canh cải tiến, bán thâm canh-thâm canh; mô hình nuôi kết hợp với rừng ngập mặn, Theo

thống kê, Đồng Bằng Sông Cửu Long có 46.257 ha nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh,

diện tích còn lại là nuôi tôm quảng canh và quảng canh cải tiến Các mô hình nuôi tôm này góp phần mang lại nguồn thu nhập đáng kể và cải thiện cuộc sống cho người dân vùng ven

biển của Đồng Bằng Sông Cửu Long

Ngày đăng: 12/04/2018, 21:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm