1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát ẢNH HƯỞNG của PHÂN lân đến hàm LƯỢNG lân và TỔNG THU hút lân của cây bắp RAU TRÊN các VÙNG đất TRỒNG RAU CHỦ yếu ở THỐT nốt – cần THƠ,BÌNH tân – VĨNH LONG,CHỢ mới – AN GIANG,CHÂU THÀNH – TV

62 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 792,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT ----o0o---- XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Xác nhận đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của phân lân đến hàm lư

Trang 1

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

CHÂU THÀNH – TRÀ VINH

PGs.TS NGUYỄN MỸ HOA VŨ VĂN LONG 3077464

PHẠM VĂN CƯỜNG 3073471

Lớp: Khoa Học Đất K33

Cần Thơ - 2010

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

o0o

XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Xác nhận đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của phân lân đến hàm lượng lân và tổng thu hút lân của cây bắp rau trên các vùng đất trồng rau chủ yếu ở Thốt Nốt – Cần Thơ, Bình Tân – Vĩnh Long, Chợ Mới – An Giang và Châu Thành – Trà Vinh” Do sinh viên: Vũ Văn Long – Phạm Văn Cường lớp Khoa học đất khóa 33, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ thực hiện Nhận xét của cán bộ hướng dẫn: ………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2010 Cán bộ hướng dẫn

PGs Ts Nguyễn Mỹ Hoa

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

-o0o -

XÁC NHẬN CỦA BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT Xác nhận đề tài : “Khảo sát ảnh hưởng của phân lân đến hàm lượng lân và tổng thu hút lân của cây bắp rau trên các vùng đất trồng rau chủ yếu ở Thốt Nốt – Cần Thơ, Bình Tân – Vĩnh Long, Chợ Mới – An Giang và Châu Thành – Trà Vinh” Do sinh viên: Vũ Văn Long – Phạm Văn Cường lớp khoa học đất khóa 33, Khoa Nông nghiệp và sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ thực hiện Ý kiến của bộ môn:

Cần Thơ, ngày…tháng… năm 2010

Bộ môn

Trang 5

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

-o0o -

XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG BÁO CÁO Hội đồng chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp chấp thuận đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của phân lân đến hàm lượng lân và tổng thu hút lân của cây bắp rau trên các vùng đất trồng rau chủ yếu ở Thốt Nốt – Cần Thơ, Bình Tân – Vĩnh Long, Chợ Mới – An Giang và Châu Thành – Trà Vinh” Do sinh viên Vũ Văn Long – Phạm Văn Cường thực hiện và báo cáo trước hội đồng ngày… tháng… năm 2010 Luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đáng giá ở mức:

Ý kiến của hội đồng:

Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2009 Chủ tịch hội đồng

Trang 6

LỜI CẢM TẠ

  

Đạt được kết quả như ngày hôm nay, chúng em xin chân thành cảm ơn:

Cô NGUYỄN MỸ HOA trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo chúng em trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp

Chị Lê Thị Thùy Dương, Dương Thị Bích Huyền đã nhiệt tình giúp đỡ chúng em trong thời gian thực hiện đề tài

Các bạn Lê Thị Hoàng Trúc, Bùi Hồng Tươi và các bạn Khoa học đất- 33 đã giúp đỡ chúng tôi thực hiện đề tài

Em xin kính lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô cùng các anh chị trong phòng phân tích –

Bộ môn Khoa Học Đất, Khoa Nông Nghiệp & SHƯD – ĐHCT đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Sự giúp đỡ, động viên của bạn bè và người thân

Trân trọng kính chào!

Cần Thơ, ngày …tháng… năm 2010

Vũ Văn Long Phạm Văn Cường

Trang 7

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

Họ và tên: Vũ Văn Long

Ngày sinh: 21- 04 - 1989

Nơi sinh: Yên Mỹ - Hưng Yên

Con ông: Vũ Văn Lừng

Và bà: Vũ Thị Đềm

Quê quán: Xã Hoàn Long, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên

Năm 2007: tốt nghiệp trung học phổ thông tại trường THPT Nguyễn Hùng Sơn, Rạch Sỏi, Rạch Giá, Kiên Giang

Từ năm 2007- nay: học Khoa học đất khóa 33 tại Khoa Nông Nghiệp và SHƯD, Trường Đại học Cần Thơ

Người khai kí tên

Vũ Văn Long

Trang 8

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

Họ và tên: Phạm Văn Cường

Ngày sinh: 25- 05 - 1989

Nơi sinh: Châu Thành – Tiền Giang

Con ông: Phạm Văn Em

Và bà: Dương Thị Thu Thủy

Quê quán: Xã Phước Lập, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang

Năm 2007: tốt nghiệp trung học phổ thông tại trường THPT Tân Phước, TT

Mỹ Phước, Tân Phước, Tiền Giang

Từ năm 2007- nay: học Khoa học đất khóa 33 tại Khoa Nông Nghiệp và SHƯD, Trường Đại học Cần Thơ

Người khai kí tên

Phạm Văn Cường

Trang 9

LỜI CAM ĐOAN

Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Vũ Văn Long

Phạm Văn Cường

Trang 10

MỞ ĐẦU 1

1.1.1 Tình hình sản xuất bắp rau ở Đồng bằng sông Cửu Long(ĐBSCL) 2

1.1.2 Đặc tính sinh trưởng của cây bắp rau 4 1.1.3 Đặc điểm sinh thái và điều kiện dinh dưỡng khoáng của cây bắp rau 4

1.1.4 Kĩ thuật trồng và thu hoạch bắp rau 7 1.2 LÂN 9 1.2.1 Vai trò của lân đối với cây trồng 9 1.2.2 Lân trong đất 10 1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến độ hữu dụng của chất lân trong đất 14

1.2.4 Sự lưu tồn lân trong đất 16 1.3 SỰ ĐÁP ỨNG CHẤT LÂN TRÊN MỘT SỐ LOẠI RAU MÀU CHÍNH TẠI ĐBSCL Ở CÁC ĐIỀU KIỆN BÓN PHÂN KHÁC NHAU 17 CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 18 2.1 PHƯƠNG TIỆN 18 2.1.1 Thời gian thực hiện 18 2.1.3 Dụng cụ và hóa chất 18 2.2 PHƯƠNG PHÁP 18 2.2.1 Các nghiệm thức của thí nghiệm: 18 2.2.2 Các chỉ tiêu phân tích 21 2.2.3 Phương pháp xử lí số liệu 21 2.2.4 Phương pháp phân tích 21 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22 3.1 ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BÓN LÂN ĐẾN HÀM LƯỢNG LÂN TRÊN CÂY BẮP 22 3.1.1 Ảnh hưởng của việc bón lân đến hàm lượng lân trong lá mang trái 22

3.1.1.1 Trên đất Thốt Nốt – Cần Thơ 22

3.1.1.2 Trên đất Bình Tân – Vĩnh Long 23

3.1.1.3 Trên đất Chợ Mới – An Giang 24

3.1.1.4 Trên đất Châu Thành – Trà Vinh 24

Trang 11

3.1.2.2 Trên đất Bình Tân – Vĩnh Long 26

3.1.2.3 Trên đất Chợ Mới – An Giang 26

3.1.2.4 Trên đất Châu Thành – Trà Vinh 27

3.1.3 Ảnh hưởng của việc bón lân đến hàm lượng lân trong trái 27 3.2 TƯƠNG QUAN GIỮA HÀM LƯỢNG LÂN DỄ TIÊU CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP VỚI TỔNG THU HÚT LÂN CỦA BẮP 29 3.2.1 Tương quan giữa hàm lượng lân dễ tiêu của các phương pháp 29 với tổng thu hút của bắp trong vụ 2 31

3.2.2 Tương quan giữa hàm lượng lân dễ tiêu của các phương pháp với tổng thu hút của bắp trong cả vụ 1 và vụ 2 31 CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 33

4.1 KẾT LUẬN 33

4.2 ĐỀ NGHỊ 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

PHỤ CHƯƠNG 37

Trang 12

RAU (Zea mays L) TRÊN CÁC VÙNG ĐẤT TRỒNG RAU CHỦ YẾU Ở

THỐT NỐT - CẦN THƠ, BÌNH TÂN - VĨNH LONG, CHỢ MỚI - AN GIANG

VÀ CHÂU THÀNH - TRÀ VINH’’ Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Khoa Học Đất,

Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ

Cán bộ hướng dẫn: PGs Ts Nguyễn Mỹ Hoa

TÓM LƯỢC

Trên các vùng tr ồng rau chuyên canh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), phân

lân được sử dụng với liều lượng cao mà không chú ý đến tính chất đất Ngoài ra,

được thực hiện nhằm mục tiêu Khảo sát ảnh hưởng của phân lân đến hàm lượng lân

và tổng thu hút lân của cây bắp rau trên các vùng đất trồng rau chủ yếu ở Thốt Nốt

– C ần Thơ, Bình Tân – Vĩnh Long, Chợ Mới – An Giang và Châu Thành – Trà Vinh

Đề tài thực hiện gồm 4 phần: Ảnh hưởng của việc bón lân đến hàm lượng lân trong

c ủa việc bón lân đến hàm lượng lân trong tráí, Tương quan giữa hàm lượng lân dễ

nghi ệm cho thấy tổng thu hút của cây ở thời điểm thí nghiệm cao hơn so vụ trước

ở các nghiệm thức có bón và không có bón tại các loại đất ở Thốt Nốt - Cần Thơ,

Ch ợ Mới – An Giang, Bình Tân – Vĩnh Long, và khác biệt có ý nghĩa ở loại đất

Châu Thành – Trà Vinh Hàm l ượng lân trong lá mang trái có sự khác biệt rõ ở

Th ốt Nốt – Cần Thơ và Chợ Mới – An Giang, còn ở Bình Tân – Vĩnh Long, Châu

ph ương pháp Bray1, Olsen với tổng thu hút lân trên cây trồng ở thời điểm thí

nghi ệm và ở cả hai thời điểm (tổng vụ 1 và vụ 2), mối tương quan này cần được tiếp

t ục khảo sát ở vụ 3 Kết quả nghiên cứu cho thấy cây bắp không có biểu hiện thiếu

cáo bón phân h ợp lý tránh làm tích lũy lân cao trong đất có thể dẫn đến gây ngộ độc lân làm giảm hiệu quả kinh tế

Trang 13

MỞ ĐẦU

Trên các vùng trồng rau chuyên canh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), phân lân được sử dụng với liều lượng cao mà không chú ý đến tính chất đất Ngoài ra, vòng quay của rau màu thì ngắn nên khả năng tích luỹ lân trong đất rất cao Theo Nguyễn Mỹ Hoa và ctv (2006), ở nhiều ruộng khảo sát trong vùng trồng rau chuyên canh của Tiền Giang, hàm lượng lân dễ tiêu đạt rất cao (129-234 mgP/kg) Kết quả điều tra vùng khảo sát cho thấy nông dân đã sử dụng phân lân rất cao (100-150 kg/P2O5/ha/vụ) Ngoài ra, kết quả nghiên cứu gần đây của Nguyễn Thị Thu Lang và Nguyễn Ngọc Phê (2009) khảo sát hàm lượng lân dễ tiêu ở 4 vùng trồng rau chuyên canh ở ĐBSCL theo phương pháp Bray 1 cho thấy ở Chợ Mới-An Giang số mẫu đất có hàm lượng lân dễ tiêu cao (20,51-87,22 mgP/kg) chiếm 70,97%; Bình Tân-Vĩnh Long số mẫu đất có hàm lượng lân dễ tiêu cao (20,41-76,91 mgP/kg) chiếm 53,33%; ở Châu Thành-Trà Vinh số mẫu đất có hàm lượng lân dễ tiêu cao (22,39-223,97 mg P/kg) chiếm 80,00% và Thốt Nốt-Cần Thơ số mẫu đất có hàm lượng lân dễ tiêu cao ( 26,56-192 mg P/kg) chiếm 90,63%

Đã có nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy sự lưu tồn các loại phân bón có ảnh hưởng rất tốt đến sinh trưởng và năng suất cây trồng Theo Colwell (1985), dưới ảnh hưởng của lưu tồn lân, lượng phân lân cần thiết cung cấp cho cây trồng giảm một cách

có ý nghĩa Ở ĐBSCL, hiệu quả lưu tồn có thể ảnh hưởng đến vụ lúa thứ 3 (trồng ở đất phèn Hoà An) với mức bón 90 kg P2O5/1ha kết hợp với 120 kg N/1ha ở vụ đầu và các

vụ sau không bón lân, năng suất liên tục của hai vụ lúa sau khác nhau không có ý nghĩa

so với các nghiệm thức có bón lân (Võ Thị Gương và ctv., 1994)

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thúy Quyên, 2010 hàm lượng lân trong lá mang trái đạt cao trên tất cả các loại đất ở 4 tỉnh khảo sát ở nghiệm thức không bón lân, cho thấy hàm lượng lân dễ tiêu ban đầu trong các loại đất này rất cao, dù không cung cấp lân thêm cho cây trồng , cây trồng vẫn hấp thu đủ lân Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy chưa tìm thấy mối tương quan giữa hàm lượng lân dễ tiêu trong đất và tổng thu hút lân của cây Tuy nhiên, ở vụ 2 khả năng cung cấp lân cho cây trồng có thể thấp nếu không bón lân cho cây trồng, hàm lượng lân trong lá mang trái có thể giảm thấp, tổng thu hút của cây trồng ở nghiệm thức không bón lân có thể giảm thấp do đó có thể tìm thấy mối tương quan giữa tổng thu hút lân và hàm lượng lân dễ tiêu trong đất

Vì vậy, đề tài : “Khảo sát ảnh hưởng của phân lân đến hàm lượng lân và tổng

thu hút lân của cây bắp rau trên các vùng đất trồng rau chủ yếu ở Thốt Nốt – Cần Thơ, Bình Tân – Vĩnh Long, Chợ Mới – An Giang và Châu Thành – Trà Vinh” đã được thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của việc bón lân đến hàm lượng lân trong cây, trái, lá mang trái của cây bắp rau và tiếp tục khảo sát mối tương quan giữa tổng thu hút lân và hàm lượng lân dễ tiêu trong đất được trích từ 2 phương pháp Bray 1 và Olsen

Trang 14

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 VÀI NÉT CHUNG VỀ CÂY BẮP RAU (ZEA MAYS L)

1.1.1 Tình hình sản xuất bắp rau ở Đồng bằng sông Cửu Long(ĐBSCL)

Những năm gần đây, bắp rau đóng hộp của Việt Nam đã đạt được những yêu cầu về chất lượng và cảm quan, giá thành lại rẻ hơn Sản phẩm bắp rau được sử dụng nhiều ở trong nước, đặc biệt ở các đô thị, các khu công nghiệp, và du lịch Tuy nhiên, diện tích canh tác bắp rau tại Việt Nam chưa nhiều, chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL (Nguyễn Bá Lộc và Nguyễn Thị Quỳnh Trang, 2009) Vùng ngoại thành Hà Nội, nông dân đầu tư nuôi bò sữa kết hợp với trồng bắp rau vừa cung cấp được thực phẩm cho người vừa cung cấp sản phẩm cho chăn nuôi, có thể ủ chua làm thức ăn cho gia súc trong

vụ Đông nghèo nàn cỏ xanh Ở ĐBSCL, bắp rau đã dần xen vào hệ thống độc canh cây lúa, góp phần đa dạng hoá cây trồng (Mai Thị Phương Anh, 1999)

Bắp rau được trồng rãi rác nhiều nơi ở vùng ĐBSCL, phục vụ cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Nếu trồng theo phương pháp xen canh (vụ trước gối đầu vụ sau) trên vùng đất chuyên canh màu, mỗi năm có thể trồng từ 5 đến 6 vụ (đối với vùng có đê bao chống lũ) Phần thân lá và vỏ bắp non được tận dụng để làm thức ăn cho bò Phân

bò được ủ thành phân compost để bón trả lại cho đất (Đoàn Ngọc Phả, 2008)

Bắp rau là một loại cây trồng lý tưởng cho sản phẩm nông nghiệp sạch, vì bắp rau được thu hoạch khi trái còn non vào giai đoạn cây bắp đang sinh trưởng rất mạnh, ít sâu bệnh hại nên vấn đề sử dụng thuốc bảo vệ thực vật rất hạn chế (Mai Thị Phương Anh, 1999) Bắp rau còn là một loại rau tươi cao cấp chứa nhiều chất dinh dưỡng và các loại vitamin, khoáng chất (Bảng 1)

Bảng 1.1: Giá trị dinh dưỡng của bắp rau và các loại rau màu khác

Trang 15

Tại An Giang, huyện Chợ Mới là một trong những nơi có diện tích trồng rau màu nổi tiếng, và có diện tích gieo trồng bắp rau khá lớn Trong tổng số 28.571 ha diện tích gieo trồng các loại rau màu năm 2009 ở Chợ Mới, diện tích trồng bắp rau chỉ đứng hàng thứ hai (sau các loại rau dưa), với diện tích lên đến 3.733 ha (Bảng 2) Về mặt lý thuyết, giống bắp thu hạt có thể được dùng làm giống thu trái non, nhưng do các yêu cầu về hình dáng, kích thước, màu sắc cũng như chất lượng trái non nên đòi hỏi phải có những giống bắp rau đặc chủng Nông dân huyện Chợ Mới (An Giang) thường sử dụng

giống Amazing (còn gọi là giống bắp Râu trắng), vì thân lá bắp mềm hơn so với các

giống khác, nên sử dụng làm thức ăn cho chăn nuôi bò thịt tốt hơn

Bảng 1.2: Diện tích bắp non so với một số loại cây rau màu khác ở Chợ Mới năm 2009

Nguồn: Phòng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn huyện Chợ Mới (2009)

Theo khảo sát của Huỳnh Phước Lương (2009) tại xã Mỹ An (huyện Chợ Mới -An Giang, cho thấy canh tác bắp rau mang lại thu nhập tương đối cho nông dân Tuy lợi nhuận từ thu hoạch trái non thấp hơn các loại rau màu khác, nhưng tỷ suất lợi nhuận lại cao hơn Ngoài ra, nông dân có thể tận dụng các phế phẩm còn lại sau khi thu hoạch mỗi vụ để chăn nuôi bò, vừa tiết kiệm thời gian chăm sóc và vừa tăng thu nhập cho nông dân Cây bắp rau sau khi thu hoạch có thể làm nguồn thức ăn xanh rất tốt cho trâu

bò, vì thành phần dinh dưỡng rất phù hợp với sinh lý tiêu hoá chúng (Vũ Duy Giảng và

ctv., 2008)

Trang 16

Để tình hình sản xuất được ổn định, sản phẩm bắp rau có thị trường tốt, nông dân

ở Chợ Mới trực tiếp ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Nông nghiệp An Giang - ANTESCO Công ty này cung cấp giống bắp rau, hướng dẫn

kỹ thuật cho nông dân và thu mua sản phẩm với tiêu chuẩn kích thước trái loại 1 có đường kính lớn nhất từ 10-18 cm, loại 2 từ 18-20 cm

1.1.2 Đặc tính sinh trưởng của cây bắp rau

Cây bắp ưa khí hậu ấm có khả năng thích nghi với khoảng khí hậu rộng, nên có thể trồng được trong tất cả các vùng của Việt Nam Bắp có thể phát triển tốt trên bất kì loại đất nào nếu có hệ thống tưới tiêu đầy đủ để duy trì đủ oxy cho rễ phát triển, và có khả năng giữ nước để tạo độ ẩm thích hợp trong suốt mùa sinh trưởng Cây bắp không kén đất nên có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng thích hợp nhất là đất trung tính có pH từ 6.0-7.2, đất giàu mùn và chất dinh dưỡng

Thực chất bắp rau cũng xuất phát từ bắp lấy hạt, nhưng thu hoạch sản phẩm sớm ở giai đoạn bắp còn non (Mai Thị Phương Anh, 1999) Chu kỳ sinh trưởng của cây bắp nói chung bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến trái chín hoàn toàn Chu kỳ này thay đổi từ 50-350 ngày, nhưng đối với bắp rau thu hoạch ở giai đoạn trái non trung bình từ 55- 60 ngày So với bắp thu trái, bắp rau có thời gian sinh trưởng ngắn hơn tùy theo giống, điều kiện canh tác và môi sinh Sự sinh trưởng của bắp được tiến hành qua nhiều thời

kỳ nối tiếp nhau một cách liên tục (Dương Minh, 1999)

1.1.3 Đặc điểm sinh thái và điều kiện dinh dưỡng khoáng của cây bắp rau

 Điều kiện ngoại cảnh

Bắp rau là cây trồng ngắn ngày, thuộc nhóm cây ưa nhiệt Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của cây là 23-250C và nhiệt độ này cũng là nhiệt độ thích hợp cho giai đoạn tạo bắp tới thu hoạch sản phẩm

Đất trồng cần tơi xốp, giàu chất dinh dưỡng, loại đất giàu hữu cơ nhiều mùn, đất thịt pha cát, đất phù sa ven sông đảm bảo cho hệ thống tưới tiêu hoàn chỉnh

Trang 17

có chiều cao cây thấp (khoảng 1,5m), thân cây cứng, ít bị gãy đổ Tuy nhiên nếu trồng trong vụ Hè Thu cần phải có mật độ thích hợp và vun gốc để tránh giông to, gió lớn có thể gây thiệt hại Ngoài ra, ở Chợ Mới hiện nay nông dân trồng giống Amazing có đặc tính giống với giống Pacific

Một số đặc tính cơ bản của giống bắp non Amazing

- Chiều cao cây: 150 cm

- Bắt đầu thu hoạch trái non vào khoảng 41-43 ngày sau khi gieo

- Trổ cờ khoảng: 38-40 ngày sau khi gieo

- Năng suất trái tươi: 8-12 tấn/ha

- Chiều cao đóng trái từ 90-120 cm

Ruộng trồng bắp non cần tránh để thụ phấn với ruộng bắp khác bằng cách cách ly thời gian (trồng sớm hơn hoặc muộn hơn 25-30 ngày so với ruộng khác) hoặc cách ly không gian (cách ruộng bắp khác trên 1000 m) hoặc trồng hàng bắp bảo vệ (tối thiểu 30 hàng bảo vệ khi có ruộng bắp khác cách 500 m) Tất cả cây trong ruộng bắp non đều phải rút cờ, kể cả hàng bắp bảo vệ để tránh phấn rơi vào râu bắp

Lượng giống cần cho 1 ha là 35-40 kg Trồng hàng cách hàng 70-75 cm, cây cách cây trên hàng 20-25 cm, gieo 3 hạt/hốc Sau khi gieo 5-7 ngày nên kiểm tra và gieo dậm lại những hốc không lên hoặc ở chỗ có cây quá yếu, 10-15 ngày sau khi gieo tỉa bớt cây yếu chừa lại 2 cây/hốc

 Dinh dưỡng khoáng cho bắp

Theo Dương Minh (1999), cây bắp cần rất nhiều đại dưỡng tố như N, P, K, Mg,

Ca ít nguyên tố vi lượng như Bo, Cu, Zn, Mn, Fe, Mo,…

Đạm là nguyên tố ảnh hưởng quan trọng đến các quá trình sinh trưởng, phát triển

và năng suất bắp Dạng phân đạm bón lót tốt nhất cho bắp là amôn nitrat hay sunphat amôn, urê cũng tốt nhưng đòi hỏi quá trình chuyển hóa thành amôn nên cần trộn lẫn vào đất để tránh quá trình bay hơi Các giống bắp ở ĐBSCL thường có hàm lượng N ở

lá xanh chiếm khoảng 1,8% trọng lượng khô (Dương Minh, 1999)

Lân hiện diện trong bắp dưới dạng acid nhân, các chất chuyển hóa năng lượng (ADP, ATP) của vùng mô phân sinh và nhân tế bào Kết quả phân tích lá cho thấy: bắp thiếu P ở mức độ 0,11%, ở 0,17% là thấp và ở mức 0,2-0,46% là trung bình Dạng phân lân thường bón cho cây bắp là các loại super hòa tan hay amôn photphat

Cây bắp cần nhiều K trong giai đoạn tăng trưởng tích cực, mỗi cây có thể hút 0,67g/cây Phân tích lá cho thấy cây bắp thiếu K khi lá chỉ chứa 0,58-0,78% K, trung bình 0,74-5,8% (Dương Minh, 1999) Loại kali thường bón cho bắp là kaliclorua vừa

Trang 18

phù hợp lại rẻ nhất, trừ khi đất thiếu lưu huỳnh thì có thể bón kali sunphat thì có thể đáp ứng cả K và S (Nguyễn Như Hà, 2006)

Bảng 1.3: Lượng NPK bón cho bắp (Nguyễn Xuân Trường, 2000)

Phân chuồng hay các loại phân hữu cơ khác là loại phân cần bón cây bắp trên mọi loại đất, nên sử dụng phân đã được ủ hoại mục Cần ưu tiên bón phân hữu cơ khi trồng bắp trên các loại đất nghèo mùn, đất 2 vụ lúa, đất xám bạc màu, đất có thành phần cơ giới nặng Lượng phân chuồng cần bón cho bắp trung bình là 8-10 tấn/ha, bón được 10-

15 tấn/ha càng tốt

Lượng phân bón cho bắp tùy vào khả năng đạt năng suất (tiềm năng giống, mật độ cây), độ phì của đất và cả trình độ thâm canh

Theo Võ Thị Gương và ctv., (2008) nghiên cứu trên vùng trồng bắp non huyện

Chợ Mới – An Giang thì công thức phân NPK khuyến cáo cho một vụ bắp/ha là: 90-60 Theo Nguyễn Như Hà (2006), lượng phân chuồng cần bón cho bắp trung bình là 8-10 tấn/ha, bón được 10-15 tấn/ha càng tốt, bón cho bắp tùy vào khả năng đạt năng suất (tiềm năng giống, mật độ cây), độ phì của đất và cả trình độ thâm canh Lượng phân đạm thường bón cho bắp thường 100-150 kgN/ha mức thâm canh có thể bón tới

150-200 kgN/ha, phân lân bón cho cây bắp dao động từ 40-100 kgP2O5/ha, thường bón

Trang 19

60-90 kgP2O5/ha và lượng kali bón cho cây bắp tùy thuộc vào điều kiện cụ thể dao động từ 40-120 kg K2O/ha, thường bón từ 60-100 kg K2O/ha

Khi tính tỷ lệ các nguyên tố tỷ lệ N:P:K phù hợp cho bắp, thường dựa vào các chất dinh dưỡng có trong đất Trong thực tế có thể dựa vào việc chuẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng qua lá của cây bắp để xác định nhu cầu phân bón

Bảng 1.4: Chẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng qua lá của cây bắp

Hàm lượng dinh dưỡng (% chất khô)

Loại dinh

dưỡng

Bộ phận và thời gian lấy mẫu phân tích

1.1.4 Kĩ thuật trồng và thu hoạch bắp rau

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh An Giang, kĩ thuật trồng và thu hoạch bắp rau như sau

 Chăm sóc

- Tưới nước: Hệ thống tưới tiêu cũng có ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết định năng suất và phẩm chất bắp non cao hay thấp Do đó, mùa nắng cứ 2-3 ngày tưới 1 lần cho đến khi cây được 35 ngày tuổi và sau đó cứ 3-5 ngày tưới 1 lần cho đến khi thu hoạch Cần tưới cho đất đủ ẩm, nhất là giai đoạn sắp trổ cờ cho trái Tuy nhiên trong mùa mưa cần phải thoát nước, tránh ngập úng sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của bắp

- Làm cỏ vun gốc: Cần làm sạch cỏ dại trong và xung quanh ruộng bắp Trong 40 ngày đầu, ruộng bắp non phải thật sạch cỏ Nên dùng thuốc diệt cỏ hiệu quả cao Đối với 1 ha bắp non thường dùng 1-1,2 lít Dual 720ND hoặc 0,5 lít Ronstar 40EC phun trong 2 ngày đầu sau gieo, tránh phun sau khi bắp mọc lên đều Nếu làm cỏ bằng tay nên kết hợp với bón phân và vun gốc để cây bắp vững và phát triển tốt

Trang 20

- Sâu bệnh và cách phòng trừ: Nên xử lý hạt giống để bảo vệ cây con, vì vậy vào lúc gieo hạt giống nên rải Basudin 10H lên lớp tro phủ hạt bắp để tránh kiến, dế phá mầm + 15 ngày sau khi gieo: Bỏ vài hột Basudin 10H vào đọt ngừa sâu đục thân và phun Coper B ngừa bệnh

+ 30 ngày sau khi gieo: Dùng thuốc trừ sâu bệnh như trên để ngừa lần 2

Ngoài ra chúng ta có thể sử dụng bẫy đàn diệt bướm Cần chú ý trong quá trình trồng bắp non nên hạn chế tối đa việc dùng thuốc hóa học để trừ sâu hại Do bắp non được sử dụng như là một loại rau sạch, nên thông thường không nên sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sinh trưởng của cây

Nếu trường hợp sâu hại tấn công cũng không ảnh hưởng nhiều đến năng suất cây Mặt khác vì bắp non thu hoạch rất sớm nên đôi khi sâu bệnh chưa phá hại kịp thời đến trái

thì đã được thu hoạch

- Rút cờ: Rút cờ trước khi nở hoa (sau khi trồng khoảng 38-42 ngày) Rút cờ phải đồng loạt, lúc cờ còn nằm trong lá bao, khi rút cờ tránh mất nhiều lá Cờ rút ra dùng để nuôi

bò rất tốt vì hàm lượng dinh dưỡng rất cao Việc rút cờ có tác dụng vừa khống chế chiều cao cây, hạn chế việc đổ ngã trong mùa mưa vừa tập tập trung dưỡng chất nuôi cây, nuôi trái; đồng thời hạn chế sâu đục bông cờ, giúp bắp mau ra trái

 Thu hoạch: Sau khi rút cờ 3-5 ngày, trái bắp non sẽ nhú râu ra Một số giống thông thường khi râu dài ra khoảng 3 cm thì trái bắp đạt tiêu chuẩn thu hoạch khoãng 7-10cm, đường kính giữa trái khoảng 1-1,5 cm Trước khi thu hoạch cần xác định xem trái bắp non đã đủ tiêu chuẩn thu hoạch chưa, bằng cách kiểm tra độ dài râu nhú ra và chiều dài bắp non bên trong vỏ

Khi xác định trái dài đủ tiêu chuẩn thì tiến hành thu hoạch trái Phải thu hoạch trái mỗi ngày để tránh trường hợp trái bắp vượt tiêu chuẩn do kích cỡ lớn, đồng thời sản lượng thu hoạch không bị mất ký và héo Đa số những trái thu hoạch sớm thường có kích thước, hình dạng, độ đồng đều cao Thu hoạch trái bằng tay và nên thu hoạch từ sáng sớm và còn vỏ để tránh hư giập khi vận chuyển Sau đó mang đến nơi có bóng mát mới tách bỏ vỏ Dùng dao rạch một đường dọc trên vỏ bi, rồi dùng tay tách bỏ vỏ, gỡ sạch râu bắp, cắt bỏ cuống trái

Đối với giống bắp non lai Amazing có thể thu hoạch vào khoảng 41-43 ngày sau khi trồng và thu hoạch kéo dài chừng 7-10 ngày Thu hoạch bắt đầu khi trái thứ nhất phun râu 3-5 cm và với trái thứ hai và trái thứ ba thì chờ phun râu dài 5cm Màu râu hồng tím chưa biến thành nâu đen Mỗi cây thường thường có từ 2 trái (thỉnh thoảng cũng có cây

có 3 trái) và thời gian thu hoạch rộ tập trung trong 5 ngày đầu Tránh thu hoạch ép hoặc

để bắp phát triển vượt quá kích cở sẽ làm cho năng suất và giá trị sản phẩm giảm Nên

Trang 21

thu hoạch và giao sản phẩm mỗi ngày trong suốt thời gian thu hoạch để không bị mất

ký và héo

Nơi vị trí trái bắp đã cắt có thể sẽ tái mọc lên trái khác Vì vậy, nếu muốn giữ trái này cần phải bón thêm phân (nhất là các loại phân bón lá) để trái bắp có đủ dinh dưỡng và phát triển tốt nhằm giảm bớt trường hợp dị dạng, bông dừa

1.2 LÂN

1.2.1 Vai trò của lân đối với cây trồng

Lân có vai trò rất quan trọng đối với cây trồng, sau chất đạm không có chất nào ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây trồng bằng chất lân Hàm lượng lân trong cây và trong đất thường thấp hơn đạm và kali Trong đất lân thường có xu hướng phản ứng với các thành phần khác trong đất tạo thành các hợp chất không hòa tan, chậm hữu dụng cho cây trồng (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)

Hiện nay lân là yếu tố hạn chế năng suất, chi phối độ phì thực tế của đất và đã trở thành vấn đề chiến lược đối với nông nghiệp nước ta vì hàm lượng lân ở các lọai đất đều thấp (Đỗ Ánh và Bùi Đình Dinh, 1992)

Lân cần thiết cho hầu hết các quá trình sinh lý sinh hóa xảy ra trong cây Thiếu lân năng suất cây trồng giảm nghiêm trọng, phần lớn đất Việt Nam nghèo lân nên bón lân rất có

tác dụng (Bùi Đình Dinh và ctv., 1993) Trong cây tỷ lệ lân biến động trong phạm vi

0,08-1,14% so với chất khô (Vũ Hữu Yêm, 1995) Phần lớn lân được dự trữ trong hạt Trong cây lân chủ yếu nằm dưới dạng hữu cơ, chỉ có 10-12% là lân vô cơ Khi hạt chín thì lân vô cơ giảm dần và chuyển sang Fytin Cây có thể đồng hóa được lân vô cơ của acid orthophosphorid Một ít muối của acid metaphosphorid (H3PO4) và acid phosphorid

Khác với đạm, lân luôn giữ ở dạng oxyt hóa bên trong cây Lân hiện diện ở dạng lân vô cơ hoặc dạng ester của acid phosphorid, nghĩa là trong acid nuclêic (DNA và RNA), lân hiện diện mang tính không thể thay thế được cho sự tạo tính di truyền của cây trồng Bên cạnh

đó lân còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo năng lượng biến dưỡng trong cây Adenosin triphosphate là một nucleic acid đơn, một hợp chất trữ năng lượng cho tiến trình

hô hấp hoặc quang tổng hợp trong cây Lân là thành phần của lipid đặc biệt là phospholipids Những hợp chất này là thành phần chính của màng tế bào Các thành phần khác của lân trong cây ở dạng lân vô cơ Các dạng này là thành phần dự trữ của lân trong cây ở điều kiện lân được hấp thu cao (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)

Khi cây thiếu lân nhẹ, các thành phần lân này được sử dụng, trong khi đó nồng độ các hợp chất chứa lân hữu cơ không thể thay thế chất khác được như nucleic acid, phospholipid được giữ nguyên không thay đổi Ngay cả khi cây thiếu lân trầm trọng, các hợp chất này vẫn không thay đổi, nhưng tốc độ tăng trưởng của cây thay đổi đột ngột

Trang 22

Theo Đỗ Ánh (2003) lân là thành phần của adenosin triphosphate (ATP), lân có tác dụng thúc đẩy các quá trình chín, lân là nguồn năng lượng vận chuyển và bảo tồn vật chất, lân cần thiết cho hình thành acid nucleic và phospholipid, thúc đẩy đẻ nhánh trổ bông và tăng cường chất lượng hạt Lân giúp việc phân chia tế bào dễ dàng hơn (Vũ Hữu Yêm, 1995)

Lân giúp rễ cây phát triển mạnh, ăn sâu lan rộng, giúp cây đứng vững, hút được nhiều dưỡng chất khác trong đất Thúc đẩy việc ra rễ bên đặc biệt là lông hút (Vũ Hữu Yêm, 1995)

Lân làm tăng cường phẩm chất nông sản Lân làm tăng cường khả năng thu hút đạm do

nó có tác dụng chống chế độ độc của lượng đạm khoáng, tăng cường việc chuyển hóa đạm thành protid Bón lân làm tăng quá trình chuyển hóa đạm nitrate, do đó làm giảm

mạnh nồng độ đạm nitrate trong cây (Trần Thị Tường Linh và ctv, 2005)

Theo Đỗ Ánh (2003) đối với đất lân là một chỉ tiêu của độ phì đất “Đất giàu lân có độ màu

mỡ cao và ngược lại đất có độ màu mỡ cao đều giàu lân” (E.Detrunk, 1931), vì vậy giữa đất và lân có độ tương quan Do đó đất thiếu lân nghiêm trọng, năng suất cây trồng tăng tỷ

lệ thuận với liều lượng bón lân (Nguyễn Bình Nhựt và ctv., 2004)

Lân có vai trò quan trọng với cây bắp, tuy nhiên khả năng hút lân ở giai đoạn cây con rất yếu Thời kỳ 3-4 lá cây bắp hút không được nhiều lân, đó là thời kỳ khủng hoảng lân của bắp, nếu thiếu lân ở giai đoạn này sẽ làm giảm năng suất nghiêm trọng Cây bắp hút nhiều lân nhất (khoảng 62% tổng lượng lân yêu cầu) ở thời kỳ 6-12 lá sau đó giảm dần

đi ở các thời kỳ sau (Nguyễn Xuân Trường và ctv., 2000) Bắp khi thiếu lân lá chuyển sang màu đỏ đến tím Lá xanh đậm hơn bình thường, chuyển sang màu tím ở mặt dưới

lá và sau cùng là toàn bộ cây phát triển chậm, thân nhỏ và ngắn, trì hoãn trưởng thành nên cây tăng trưởng kém Thiếu lân thường xuất hiện đầu tiên ở lá già nhất, thường xuất hiện trên đất nén dẻ, đất phèn nặng, đất kiềm hay đất có hàm lượng lân nghèo Ngoài ra đối với bắp lấy hạt thiếu lân làm cho trái cong queo, trường hợp nặng lá sẽ chuyển sang

màu vàng và chết (Nguyễn Xuân Trường và ctv., 2000)

ở lớp đất dưới (Vũ Hữu Yêm, 1995)

Lân trong đất thường nằm dưới dạng hữu cơ và vô cơ Lân vô cơ chứa trong các khoáng vật apatit, photphorit, sianit… còn lân hữu cơ là lân liên kết với chất hữu cơ trong cơ thể vi

Trang 23

sinh vật, rễ cây, các chất hữu cơ trung gian đang phân giải và mùn Ở những đất nhiều mùn, tỉ lệ lân hữu cơ cao hơn lân vô cơ Lân hữu cơ tan trong môi trường kiềm còn lân vô

cơ dễ tan trong môi trường axit (Nguyễn Thế Đặng và ctv., 1999)

Tuy nhiên người ta thường phân biệt lân trong đất có hai dạng lân tổng số và lân dễ tiêu

 Lân tổng số

Tổng số các hợp chất lân trong đất, dù kết hợp với cation nào, ở dạng nào, hữu cơ hoặc

vô cơ gộp lại thành “lân tổng số” của đất, thể hiện bằng hàm lượng tổng số P2O5 (Lê Văn Căn, 1985) Do đó lân tổng số chỉ cho chúng ta biết được tổng lượng lân trong đất

mà không cho biết khả năng cung cấp lân cho cây trồng, vì lân trong đất được kiểm soát bởi nhiều yếu tố môi trường, có thể bị giữ lại bởi các hợp chất khó tan như phosphate sắt nhôm Mặc khác các loại cây trồng khác nhau thì khả năng sử dụng lân cũng khác nhau Các đất có hàm lượng lân tổng số khác nhau, đặc biệt ở Việt Nam hàm lượng lân tổng số rất thấp Nhưng xét về phì nhiêu thực tế thì lân tổng số không có ý nghĩa gì

nhiều, vì đại bộ phận lân tổng số ở dạng khó tiêu đối với thực vật (Nguyễn Tử Siêm và

P2O5 Đất phù sa sông Hồng có hàm lượng lân tổng số và lân dễ tiêu nhiều hơn vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999) Phù sa sông Hồng, mặn trung tính kiềm có tỷ lệ lân trung bình 0,1% P2O5 (Nguyễn Tử Siêm và ctv., 2000) Hai dạng

lân chủ yếu là lân vô cơ và lân hữu cơ

Trang 24

Bảng 1.6: Đánh giá lân trong đất vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (Kuyma, 1976)

 Lân hữu cơ

Lân hữu cơ được tìm thấy trong đất mùn, lá cây và các dư thừa thực vật và động vật đất

vì đây là dạng liên kết với chất hữu cơ nên nó được tìm thấy chủ yếu ở lớp đất mặt Hàm lượng lân trong đất thay đổi tùy theo loại đất và gia tăng với hàm lượng chất hữu cơ theo thứ tự sau: đất cát < đất sét < đất than bùn (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004)

Các hợp chất hữu cơ chứa lân gồm có: phitin, axit nucleic, phosphatit, sacarophosphat…và các vi sinh vật đất Lân được tích lũy trong đất nhờ sự tích lũy sinh học, vì vậy trong đất mặt thường chứa nhiều lân hữu cơ hơn các tầng dưới sâu Tỷ lệ lân hữu cơ phụ thuộc chủ yếu vào hàm lượng mùn trong đất và dao động trong khoảng từ 10-50% của lân tổng số (Trần Văn

Chính và ctv., 2006)

Theo Nguyễn Chí Thuộc và ctv., (1974), dạng lân hữu cơ trong đất phổ biến là phytate

chiếm 50% tổng số lân hữu cơ Ở đất chua lân hữu cơ chủ yếu là dạng nhôm phytate, sắt phytate, còn ở đất trung tính chủ yếu là canxiphyteta Canxiphytate hòa tan trong acid và không hòa tan trong môi trường trung tính và môi trường kiềm, trái lại phytate nhôm và sắt không hòa tan trong dung dịch acid nhưng hòa tan trong môi trường kiềm (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004)

 Lân vô cơ (lân khoáng)

Hợp chất vô cơ chứa lân chủ yếu là những muối của axit octophosphoric với Ca, Mg,

Fe và Al Trong đất lân còn có trong thành phần của apatit, phosphoric, cũng như trong trạng thái hấp phụ của anion photphate Apatit là nguồn gốc đầu tiên của tất cả các hợp chất lân trong đất Nó chiếm tới 95% hợp chất lân trong vỏ trái đất Các hợp chất lân vô

cơ trong đất phần lớn có tính di động kém (Trần Văn Chính và ctv., 2006)

Trang 25

Hàm lượng lân vô cơ trong đất thường cao hơn lân hữu cơ, ngoại trừ trên các loại đất hữu cơ, hàm lượng lân vô cơ gia tăng theo phẫu diện (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004) Lân

vô cơ chiếm khoảng 80% lân tổng số, bao gồm phosphate K, Na, NH4, Ca, Mg, Fe, Al… đây là những sản phẩm do phong hóa đá mẹ, do phân giải chất hữu cơ hoặc do sự chuyển biến phân lân từ ngoài vào Dạng dễ tan là phosphate của cation hóa trị I (KH2PO4; NaH2PO4), hay phosphate của kim loại kiềm thổ, phosphate Ca, Mg ở dạng khó tan (CaHPO4; MgHPO4; Ca(PO4)2; Mg3(PO4)2) và còn có thể ở dạng hydroxyt apatit (Ca5(PO4)3OH) khó tan hơn (Nguyễn Vy, Trần Khải, 1978) Lân vô cơ nằm dưới dạng muối phosphate Ở đất chua giàu sắt, nhôm là các phosphate sắt nhôm Ở đất kiềm

là các phosphate canxi và phosphate magiê Ở đất mặn còn có thể xuất hiện phosphate natri (Vũ Hữu Yêm, 1995)

Lê Văn Căn (1978) cho rằng dạng phosphate sắt, nhôm có thể cung cấp lân đáng kể khi

nó ở dạng trung tính nghĩa là tỷ lệ phân tử giữa phosphate và kim loại là 1:1 Trên đất nhiệt đới, phosphate sắt, nhôm không ở dạng trung tính mà chỉ có có ở dạng acid khó

tan trong nước, nên đất nhiệt đới rất nghèo lân dễ tiêu (Nguyễn Chí Thuộc và ctv,

1974) Theo Mathan, K.K and A.Amberger (1977) cho rằng nếu nồng độ Fe trên 5mg/l thì sẽ ảnh hưởng bất lợi đến sự tăng trưởng và hấp thu lân, còn lân ở mức cao làm giảm

sự vận chuyển của sắt từ rễ lên chồi

 Lân dễ tiêu

Lân dễ tiêu được định nghĩa là phần hợp chất vô cơ chứa lân trong đất, có khả năng hòa tan trong nước hoặc trong các dung môi yếu như acid vô cơ có nồng độ thấp, các muối kiềm như carbonate… Phần lân đó cây trồng có thể hấp thu được dễ dàng (Nguyễn Vy

và Trần Khải, 1978)

Cây trồng hút lân chủ yếu dưới dạng ion H2PO4- sau đó mới đến HPO42- Dạng ion

PO43- cây không hút được và thực tế ion này chỉ có mặt trong dung dịch đất ở pH = 10 trở lên, mà ở pH này thì cây không phát triển được Những loại phosphate dễ tiêu cho cây nhất là những phosphate của muối kim loại hóa trị I, những loại muối này ở trong đất với tỷ lệ nhỏ thường không quá 1mg/kg đất Trong thực tế người ta thấy có nhiều kim loại muối phosphate khó tan trong nước nhưng cây vẫn có thể sử dụng được

(Nguyễn Chí Thuộc và ctv., 1974)

Chỉ tiêu lân dễ tiêu phản ánh khá trung thực nhu cầu bón lân cho lúa Theo ý kiến đa số của các nhà bác học thì lân dễ tiêu trong đất gồm các dạng chính sau đây:

- Những phân tử riêng lẽ của H3PO4 trong dung dịch đất và trong nước tưới

- Những phosphate dễ hòa tan trong nước của các kim loại có hóa hóa trị I (NH4, K, Na) với các gốc H2PO4-, HPO42-, PO43-

- Những phosphate của kim loại đa hóa trị như Ca, Mg, Al, Fe với ion H2PO4

Trang 26

- Những ion H2PO4-, HPO42-, PO43- hấp phụ trên bề mặt keo đất

- Các phosphate Ca, Mg, Fe, Al… lúc mới thành lập

- Các phosphate Fe-P, Al-P bị khử hóa trong đất ở điều kiện yếm khí

(Chang và Jackson, 1957)

Các dạng của lân dễ tiêu được sắp xếp theo thứ tự giảm dần độ hòa tan của chúng trong nước và mức độ hữu dụng của chúng đối với cây trồng Hàm lượng lân dễ tiêu trong dung dịch đất và trong cây thay đổi rất lớn tùy thuộc vào tính chất của đất, nhiệt độ môi trường, hàm lượng lân tổng số, quá trình hình thành và phát sinh của đất cũng như loại cây trồng trên đó Theo Đỗ Thị Thanh Ren (1999), nồng độ lân hòa tan rất thấp thường là 0,2-0,5mg/l Các loại đất giàu lân có thể chứa 1mg/l Cây có khả năng thu hút được lân từ những nồng độ rất loãng trong dung dịch đất Đối với cây lúa thí nghiệm của Roy và Data (1985) thấy rằng duy trì nồng độ lân trong dung dịch đất vào khoảng 0,12 ppm đã thích hợp cho sự sinh trưởng của cây lúa để đạt được số chồi, chiều cao, trọng lượng chất khô và tổng lượng lân cây hút tối đa (Đỗ Thị Thanh Ren, 1994)

Theo Lê Văn Căn (1985) thì lân dễ tiêu trong đất rất dễ bị kết tủa: ở đất kiềm nó dễ bị

kế tủa ở dạng phosphate canxi, ở đất chua dễ bị kết tủa dưới dạng phosphate sắt nhôm

Vì vậy lượng phosphate hòa tan khi tan bón vào đất không bao lâu sẽ chuyển thành những dạng khó hòa tan hơn, và càng ít hòa tan thì càng chậm tiêu, khó được cây hút Canxi phosphate dễ dàng biến đổi thành lân dễ tiêu hơn là sắt, nhôm phosphate

Sét 2:1 << sét 1:1 < tinh thể carbonate < tinh thể oxyt Al, Fe, Mn < oxyt Al, Fe, Mn vô định hình, allophane

 Thời gian phản ứng

Thời gian phân lân tiếp xúc với đất càng lâu, lượng lân cố định càng lớn Ngay sau khi bón phân cây có khả năng thu hút tốt nhất lượng lân bón vào Trên một số loại đất có khả năng cố định lân cao thời gian có thể ngắn, ngược lại trên các loại đất khác thời

Trang 27

gian sử dụng phân có thể dài đến một tháng hoặc đôi khi đến một năm (Đỗ Thị Thanh

5.5-7 thì các ion Ca2+, Mg2+ sẽ hiện diện cùng với ion carbonate trong đất, sẽ làm kết tủa lượng lân bón vào, làm giảm độ hữu dụng của lân (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999) Lê Văn Căn (1985) cũng cho rằng pH từ 5.4-6.8 rất thích hợp cho việc bón lân vì ở pH này chất lân không bị kết tủa hoặc kết tủa rất ít

 Chất hữu cơ

Các axit mùn chứa 4-5% P và trong điều kiện thuận lợi có thể giải phóng 15-20 kg P/ha/năm Trong hầu hết các hệ thống cây trồng cân bằng lân hữu cơ thường bằng không hoặc âm vì chỉ riêng vi sinh vật đất đã tiêu tốn 10g P2O5 để tiêu hủy 1g xenlulose

khi phân giải hữu cơ (Nguyễn Tử Siêm và ctv., 2000)

Phân hữu cơ có thể làm giảm sự cố định lân, do chúng có thể tạo thành phức với các ion

Fe2+, Al3+ làm giảm nồng độ các ion này dưới mức gây độc cho cây (Brady and Well, 1996) Chất mùn trong đất làm gia tăng độ hữu dụng của lân do tạo thành phosphohumic cây thu hút dễ dàng và sự thay thế anion phosphate bởi ion humate, chất mùn tạo lớp vỏ bọc xung quanh các phần tử sesquioxide, vì vậy làm giảm khả năng cố định lân của chúng (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999) Các ion có hiệu quả lớn nhất trong việc thay thế phosphate là citrate, oxalate, tatrate, malate, malonate

Theo Vũ Hữu Yêm (1995), các humate kiềm không cố định ion phosphate của dung dịch phosphate kiềm nhưng các humate kiềm phân tán các phosphate canxi và tạo điều kiện thuận lợi cho anion phosphate chuyển vào dung dịch đất Humate canxi chỉ giữ phosphate khi pH=7, khi đó ion phosphate kết tủa dưới dạng phosphate II canxi trên mặt các hạt humate canxi

 Nhiệt độ

Theo Nguyễn Chí Thuộc và ctv., (1974) trong điều kiện bình thường ở các nước ôn đới

sự khoáng hóa lân hữu cơ tiến hành rất chậm chạp và lượng lân cung cấp cho cây không đáng kể Trái lại ở các nước nhiệt đới, nhiệt độ tương đối cao (35–500C) nên quá trình khoáng hóa tăng lên và lân được cung cấp cho cây nhiều hơn Theo Đỗ Ánh (2003), sự

Trang 28

hấp thu lân phụ thuộc vào nhiệt độ, khi nhiệt độ giảm từ 300C xuống 150C sự hấp thu lân giảm 56%

1.2.4 Sự lưu tồn lân trong đất

Cây trồng thường không sử dụng hết lượng dinh dưỡng đã được cung cấp trong một vụ, lượng dư thừa này cho các vụ sau gọi là sự lưu tồn Sự lưu tồn phụ thuộc và rất nhiều

yếu tố, lượng phân cung cấp, khả năng hấp thu của cây trồng, đặc tính đất (Marquer et

al, 1992) Với các ảnh hưởng của lưu tồn dưỡng chất giúp giảm bớt lượng phân bón cho cây trồng trong các mùa vụ kế tiếp và do đó giảm chi phí sản xuất

Theo Rai and ete., (1984) thì các đáp ứng của cây trồng đối với phân lân được đánh giá

bằng sự gia tăng tổng lượng lân hấp thu của cây Khả năng hấp thu dưỡng chất N, P, K được dùng đễ đánh giá sự hữu dụng của N, P, K trong đất và có thể xác định sự lưu tồn của

những dưỡng chất này được bón trong mùa vụ trước (Ryding and ete., 1983)

Theo Colwell (1985), lưu tồn lân đã làm giảm sự hấp thu lân từ phân bón vào khi gia tăng mức độ cung cấp phân thì khả năng hấp thu của cây trồng đối với các chấtt lân lưu tồn vẫn không bị ảnh hưởng Do đó, dưới ảnh hưởng của lưu tồn lân, lượng phân lân cần thiết

cung cấp cho cây trồng giảm một cách có ý nghĩa (Rai và ctv, 1984) Để xác định các

mức độ lưu tồn, có thể dùng phương pháp phân tích đất hoặc bố trí thí nghiệm về phân bón Nhiều kết quả thí nghiệm cho thấy, sự lưu tồn của các loại phân bón có ảnh hưởng rất tốt đến sinh trưởng và năng suất đối với hầu hết các loại cây trồng

Theo Borzic (1985), ảnh hưởng dinh dưỡng từ vụ lúa mì sang vụ bắp của các loại phân hỗn hợp N, P, K đã ảnh hưởng tốt đến năng suất bắp Với các ảnh hưởng của tổ hợp phân bón 60kg N–60kg P2O5–40kg K2O/ha cung cấp cho vụ lúa mì sang vụ bắp trồng tiếp theo đã cho thu được từ 1,8kg hạt bắp trên kg NPK bón trong vụ trước Tương tự 2,1 kg hạt bắp thu được từ kg NPK ở tổ hợp bón 90kg N–90kg P2O5–60kg K2O/ha và 3,1 kg hạt bắp trên kg NPK từ mức bón 120kg N–120kg P2O5–80kg K2O/ha cung cấp

cho lúa mì vụ trước Theo Velayudham et al., (1987) thì hàm lượng dinh dưỡng lưu tồn

thay đổi tùy theo cơ cấu canh tác của cây trồng

Lân là chất dinh dưỡng chịu sự tác động của tính chất đất nhiều nhất, do đó sự hữu dụng

của lân lưu tồn cũng thay đổi tùy theo loại đất canh tác khác nhau Marquez et al., (1991–

1992) đã tiến hành thực nghiệm để so sánh ảnh hưởng của sự lưu tồn phân bón và hiệu quả lưu tồn của phân lân trên 3 loại đất: đất thịt, thịt pha cát và thịt pha sét, cả 3 loại đất này đều cho hiệu quả của sự lưu tồn lân rất thấp Theo Wagar (1980), gần 1/2 lượng lân lưu tồn dưới dạng hữu dụng này thay đổi tùy theo loại đất với các tỷ lệ khác nhau

Ở ĐBSCL, hiệu quả của lân lưu tồn có thể ảnh hưởng đến vụ lúa thứ 3 (trồng ở đất phèn Hòa An) với mức bón 90 kg P2O5/ha kết hợp với 120 kg N/ha ở vụ đầu và các vụ

Trang 29

sau không bón lân, năng suất liên tục của 2 vụ lúa sau khác nhau không có ý nghĩa so

với các nghiệm thức có bón lân mỗi vụ (Võ Thị Gương và ctv., 1995)

Nguồn: Nguyễn Đức Toàn (2008)

1.3 SỰ ĐÁP ỨNG CHẤT LÂN TRÊN MỘT SỐ LOẠI RAU MÀU CHÍNH TẠI

ĐBSCL Ở CÁC ĐIỀU KIỆN BÓN PHÂN KHÁC NHAU

Theo Nguyễn Mỹ Hoa và ctv., (2008) thực hiện thí nghiệm khảo sát hiệu quả phân bón

trong sử dụng phương pháp bón phân chuyên vùng cho cây bắp lai tại Trà Vinh không

có sự khác biệt về năng suất giữa lô có bón phân lân và lô không bón lân, sự đáp ứng của bắp đối với phân P và K rất thấp Năng suất lô bón thiếu P (lô NK) và lô bón thiếu

K (lô NP) đạt cao (7,64-9,77 tấn/ha), tương đương với lô bón đầy đủ NPK (7,37-9,15 tấn/ ha)

Theo Võ Thị Gương và ctv., (2008) thí nghiệm khảo sát bón kết hợp phân hữu cơ bã

bùn mía với nhiều công thức phân khác nhau Kết quả cho thấy năng suất và sinh khối của bắp giữa hai nghiệm thức bón theo nông dân: 320-240-30 và bón theo khuyến cáo: 150-90-60 tương đương nhau không có sự khác biệt lớn Theo Nguyễn Như Hà (2006), đối với cây bắp ở bất kỳ giai đoạn nào thì đạm củng là yếu tố quan trọng quyết định sự tăng trưởng của cây, nhưng còn đối với lân và kali chủ yếu là hàm lượng dễ tiêu có trong đất Và một thí nghiệm của Nguyễn Đức Toàn (2008), khảo sát sự phản ứng của NPK và mật độ trồng trên sinh trưởng và năng suất của bắp lai ở Tân Châu – An Giang cho thấy có sự giảm năng suất giữa nghiệm thức bón đầy đủ phân NPK và nghiệm thức không bón lân, năng suất giảm khoảng 10 – 15% Tuy nhiên việc khảo sát thí nghiệm trên vùng đất có hàm lượng lân dễ tiêu trong đất thấp

Bảng 1.7: Sinh khối các bộ phận của cây bắp lai giữa các nghiệm thức bón thiếu N, thiếu

P, thiếu K và đầy đủ NPK giai đoạn thu hoạch (kg/ha) (Nguyễn Mỹ Hoa và ctv., 2008)

Năng suất hạt (ẩm độ 3%)

Thân

lá Lá bi Cùi

Hạt /thân lá Hạt/cùi

Trang 30

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 PHƯƠNG TIỆN

2.1.1Thời gian thực hiện

Đề tài được thực hiện từ tháng 3/2010 đến tháng 6/2010 tại phòng phân tích Hóa – Lý – Phì nhiêu đất của bộ môn Khoa Học Đất, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ

2.1.3 Dụng cụ và hóa chất

Dụng cụ và hóa chất dùng thực hiện đề tài bao gồm:

- Máy nghiền mẫu

Các mẫu đất bao gồm:

Bảng 2.1: Hàm lượng lân dễ tiêu trên 10 mẫu đất thí nghiệm ở Thốt Nốt – Cần Thơ

Trang 31

Bảng 2.2: Hàm lượng lân dễ tiêu trên 10 mẫu đất thí nghiệm ở Chợ Mới – An Giang

Bảng 2.3: Hàm lượng lân dễ tiêu trên 10 mẫu đất thí nghiệm ở Bình Tân-Vĩnh Long

STT Kí hiệu mẫu đất Hàm lượng lân dễ tiêu theo Bray 1

(mgP2O5/kg đất)

Ngày đăng: 12/04/2018, 21:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm