Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuTRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG Lê Văn Trương ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN CẤU TRÚC VÀ XÁC ĐỊNH ẨM ĐỘ THÍ
Trang 1Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Lê Văn Trương
ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN CẤU TRÚC VÀ XÁC ĐỊNH ẨM ĐỘ THÍCH HỢP ĐỂ LÀM ĐẤT CHO MỘT SỐ NHÓM ĐẤT CHÍNH TRỒNG LÚA Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN KỸ SƯ NGÀNH KHOA HỌC ĐẤT
Trang 2Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cần Thơ 05/2009
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT & QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Luận Văn Tốt Nghiệp
ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN CẤU TRÚC VÀ XÁC ĐỊNH ẨM ĐỘ THÍCH HỢP ĐỂ LÀM ĐẤT CHO MỘT SỐ NHÓM ĐẤT CHÍNH TRỒNG LÚA Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Giáo Viên Hướng Dẫn: Sinh Viên Thực Hiện:
Trang 3Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT & QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Đề tài : “ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN CẤU TRÚC VÀ XÁC ĐỊNH ẨM ĐỘ THÍCH HỢP
ĐỂ LÀM ĐẤT CHO MỘT SỐ NHÓM ĐẤT CHÍNH TRỒNG LÚA Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG”
do sinh viên : Lê Văn Trương
Lớp Khoa Học Đất Khóa 31 Thuộc Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng - trường Đại Học Cần Thơ
Thực hiện từ ngày 01/12/2008 đến 01/05/2009
Nhận xét
Cần Thơ, ngày ………., tháng ………., năm 2007
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT & QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
XÁC NHẬN CỦA BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
& QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Đề tài : “ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN CẤU TRÚC VÀ XÁC ĐỊNH ẨM ĐỘ THÍCH HỢP ĐỂ
LÀM ĐẤT CHO MỘT SỐ NHÓM ĐẤT CHÍNH TRỒNG LÚA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG”
Do sinh viên : Lê Văn Trương
Lớp Khoa Học Đất Khóa 31 Thuộc Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng - trường Đại Học Cần Thơ
Thực hiện từ ngày 01/12/2008 đến 05/05/2009
Ý kiến bộ môn:
Cần Thơ, ngày ………., tháng ………., năm 2007
Bộ MÔN KHD & QLDD
Trang 5Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Họ tên cha: Lê Văn Lơ
Họ tên Mẹ: Trần Thị Mai Địa chỉ liên hệ: 197 Phú Đông - Phú Hữu A – Châu Thành – Hậu Giang
2 TÓT TẮT QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Từ năm 1992 – 1997 học tại trường Tiểu Học Phú Hữu Năm
Từ năm 1997 – 2001 học tại trường Trung Học Cơ Sở Nam Kỳ Khởi Nghĩa
Từ năm 2001 – 2004 học tại trường Trung Học Phổ Thông An Lạc Thôn
Từ 2005 – 2009 học ngành Khoa Học Đất thuộc bộ môn Khoa Học Đất & Quản
Lý Đất Đai trường Đại Học Cần Thơ
Cần Thơ, ngày… tháng… năm…
Ký tên
Trang 6Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI CẢM TẠ
- e & f -
Trong quá trình làm luận văn, tuy đã gặp nhiều khó khăn nhưng chúng em đã nhận được sự động viên và khích lệ của gia đình, nhất là sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô và bạn bè để chúng em hoàn thành tốt đề tài
Chúng em xin chân thành cảm ơn
• Gia đình đã động viên và hỗ trợ mọi mặt để chúng em an tâm hoàn thành tốt đề tài này
• Các thầy cô trong trường Đại Học Cần Thơ, nhất là các thầy cô trong khoa Nông Nghiệp & Sinh Học ứng Dụng đã nhiệt tình giúp đỡ, dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức quí báo để chúng em có đủ bản lĩnh, kiến thức và tự tin bước vào đời
• Thầy Trần Bá Linh đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ dạy và tận tình giúp đỡ để chúng
em từng bước đi đến thành công như hôm nay
• Các anh Phạm Nguyễn Minh Trung, anh Ngô Thiện Nhựt đã tận tình chỉ dạy các bước phân tích mẫu để chúng em có thể hoàn thành tốt số liệu của đề tài
• Các thầy cô, anh chị trong bộ môn Khoa Học Đất &Quản Lý Đất Đai đã tạo điều kiện thuận lợi để chúng em có thể hoàn thành tốt đề tài
• Cuối cùng xin cảm ơn bạn bè đã quan tâm và đóng góp những ý kiến quí báo để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!
Trang 7Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI CAM ĐOAN
- e & f -
Tôi xin cam đoan đề tài “Đánh Giá Tính Bền Cấu Trúc Và Xác Định Ẩm Độ Thích Hợp
Để Làm Đất Cho Một Số Nhóm Đất Chính Trồng Lúa Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” là
do chính tôi thực hiện và hoàn toàn chịu trách nhiệm với những số liệu trong đề tài
Người thực hiện
Lê Văn Trương
Trang 8Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT & QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
HỘI ĐỒNG CHẤM BÁO CÁO ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP
Chứng nhận chấp nhận báo cáo về đề tài ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN CẤU TRÚC
VÀ XÁC ĐỊNH ẨM ĐỘ THÍCH HỢP ĐỂ LÀM ĐẤT CHO MỘT SỐ NHÓM ĐẤT CHÍNH TRỒNG LÚA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG”
Do sinh viên : Lê Văn Trương
1.1 Lớp Khoa Học Đất K31 Thuộc Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng - trường Đại Học Cần Thơ
Bảo vệ trước hội đồng, ngày ……….,tháng………., năm 2009 1.1 BÁO CÁO ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ Ở MỨC
………
Ý kiến hội đồng:
Cần Thơ, ngày ………., tháng ………., năm 2007 Chủ tịch hội đồng
Trang 9Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Lê Văn Trương, 2007 “ Đánh Giá Tính Bền Cấu Trúc Và Xác Định Ẩm Độ Thích Hợp
Để Làm Đất Cho Một Số Nhóm Đất Chính Trồng Lúa Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” Luận văn tốt nghiệp đại học ngành khoa học đất, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ
Giáo viên hướng dẫn: ThS Trần Bá Linh
TÓM LƯỢC Đồng bằng sông Cửu Long là trung tâm lương thực lớn nhất nước, hàng năm cung cấp cho xuất khẩu hàng chục triệu tấn lúa và đảm bảo an toàn lương thực cho quốc gia, trong những năm gần đây việc thâm canh tăng vụ không ngừng gia tăng Tuy nhiên do việc canh tác quá mức đã làm cho đất ở Đồng bằng sông Cửu Long có chiều hướng suy thoái về độ phì nhiêu của đất nói chung và độ phì vật lý nói riêng
Đề tài “Đánh Giá Tính Bền Cấu Trúc Và Xác Định Ẩm Độ Thích Hợp Để Làm Đất Cho Một Số Nhóm Đất Chính Trồng Lúa Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long ”
được thực hiện nhằm xác định ẩm độ thích hợp để làm đất, giúp giảm chi phí và tạo điều kiện thuận lợi để cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp và giảm sự suy thoái về vật lý đất, giúp cây trồng phát triển tốt
Qua quá trình thu thập mẫu đất và phân tích một số chỉ tiêu vật lý đất cho thấy ẩm
độ thích hợp cho việc cày đất trên đất trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long biến động
từ 11 – 45% ẩm độ khối lượng tùy theo các nhóm đất chính khác nhau Ẩm độ khối lượng giới hạn dẻo của đất ở các vị trí nghiên cứu tương quan thuận với phần trăm cấp hạt sét và không tìm thấy mối tương quan giữa giới hạn dẻo với hàm lượng chất hữu cơ Đất ở các điểm nghiên cứu có phần trăm cấp hạt sét cao, hàm lượng chất hữu cơ khá, tính bền SQ>100 chiếm 63% trong tổng số vị trí khảo sát, độ bền đoàn lạp đất từ 60 – 100 chiếm 25% trong tổng số vị trí nghiên cứu Giá trị độ bền SQ < 60 chiếm 12% trong tổng
số các vị trí nghiên cứu Tính bền đoàn lạp đất có mối tương quan chặt với hàm lượng chất hữu cơ (R= 0,85)
\
Trang 10Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
MỤC LỤC
trang
Trang phụ bìa Nhận xét của giáo viên hướng dẫn i
Xác nhận của hội đồng chấm báo cáo vi
1.1 Khái quát về Đồng bằng sông Cửu Long 2
1.1.1 Vị trí địa lý 2 1.1.2 Thời tiết khí hậu 2 1.1.3 Các loại đất chính ở Đồng bằng sông Cửu
1.1.4 Đặc điểm sản xuất nông nghiệp ở Đồng
1.2 Sơ lược các đặc tính các nhóm đất nghiên cứu 5
Trang 11Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 13Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH SÁCH HÌNH
3.1 Hàm lượng chất hữu cơ tại các điểm nghiên cứu 23 3.2 Độ bền đoàn lạp đất tại các điểm nghiên cứu 25 3.3 Tương quan giữa chất hữu cơ và độ bền đoàn lạp đất 26 3.4 Tương quan giữa phần trăm sét và giới hạn dẻo 29
3.5 Tương quan giữa ẩm độ giới hạn dẻo và hàm lượng chất
Trang 14Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH SÁCH BẢNG
1.1 Phân loại các nhóm đất ở Đồng bằng sông Cửu Long 6 1.2 Phân loại đất theo thành phần cơ giới của liên hợp quốc 10 1.3 Các chỉ tiêu về kết cấu ở một số loại đất chính ở Việt Nam 14 1.4 Chỉ tiêu về tính dẻo của một số loại đất theo thành phần cơ
Trang 15Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
GIỚI THIỆU
Đất là một thực thể sống hình thành trong nhiều thiên niên kỹ và là một trong những nền tảng quan trọng nhất của môi trường sống Với vai trò là tạo giá đỡ cho các hoạt động sống và cung cấp chất dinh dưỡng cho thực vật trên trái đất ( Shin – Ichior Vada, 2000) Do đó việc sản xuất nông nghiệp cần chú trọng đến bảo vệ các đặc tính lý hóa học của đất để không làm giảm độ phì của đất
Độ phì của đất là khả năng cung cấp chất dinh dưỡng và các yếu tố khác cần thiết cho cây trồng trong một thời gian sinh trưởng Qua đó ta thấy được vai trò của tính chất vật lý và cơ lý đất (Nguyễn Thế Đặng, 1999)
Trong thực tiển sản xuất nông nghiệp những tính chất vật lý và cơ lý đất luôn luôn
là những yếu tố chi phối trực tiếp đến quá trình canh tác cũng như khả năng làm đất: cày, bừa, xới xáo, sức kéo của máy móc công cụ làm đất…(Trần Văn Chính, 2006) Nghiên cứu về tính chất cơ lý đất như tính dính, tính dẻo, ẩm độ…là cơ sở để xây dựng thời gian làm đất, số lần làm đất và năng lượng cần thiết khi làm đất
Đồng bằng sông Cửu Long với quy mô và chất lượng đất đã trở thành vựa lúa lớn nhất cả nước (Tôn Thất Chiểu và ctv,1991) Tuy nhiên qua nghiên cứu về độ phì đất ở Đồng bằng sông Cửu Long đã xuất hiện sự suy thoái về vật lý đất, hóa học đất và sinh học đất ở vùng canh tác 2 – 3 vụ lúa, đất chuyên màu và đất trồng cây ăn trái nhiều năm tuổi, bước đầu cho thấy có sự giảm hàm lượng chất hữu cơ, độ nén dẻ cao, hệ số thấm thấp Khi đất bị nén dẻ nghiêm trọng sẽ hạn chế sự phát triển của rễ cây trồng, làm giới hạn khả năng hút chất dinh dưỡng và nước (Võ Thị Gương, 2004)
Do đó đề tài “Đánh Giá Tính Bền Cấu Trúc Và Xác Định Ẩm Độ Thích Hợp
Để Làm Đất Cho Một Số Nhóm Đất Chính Trồng Lúa Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” được thực hiện nhằm đánh giá mức độ suy thoái cấu trúc của đất trồng lúa và tìm
ra ẩm độ thích hợp nhất để cày bừa giúp người dân tránh cho đất bị suy thoái cấu trúc ngày càng nặng hơn
Trang 16Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG I LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Khái quát về Đồng bằng sông Cửu Long
1.1.2 Thời tiết khí hậu
Đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa nhiệt đới Một năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 tháng 5 đến tháng 11, các tháng còn lại là mùa khô Các tỉnh phía tây của Đồng bằng sông Cửu Long được mưa sớm hơn và lượng mưa nhiều từ 2.000 – 2.400 mm kéo dài trên 7 tháng, còn các tỉnh phía đông chỉ được 1.000 – 1.100 mm và kéo dài chỉ trong 6 tháng
Đồng bằng sông Cửu Long nóng đều suốt năm Nhiệt độ tháng nóng nhất (tháng 4) là 280C và nhiệt độ tháng lạnh nhất (tháng 12, tháng 1) là 250C nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất là 30C Thêm vào đó là lượng ánh sáng dồi dào đây là những yếu tố rất thuận lợi cho cây trồng phát triển (Võ Tòng Xuân, 1984)
1.1.3 Các loại đất chính ở Đồng bằng sông Cửu Long
Theo Ngô Ngọc Hưng Đồng bằng sông Cửu Long được chia làm tám nhóm đất chính:
v Đất phù sa ven sông Tiền sông Hậu: chiếm diện tích nhỏ gần bốn 4% so với diện tích các nhóm đất khác ở đồng bằng Phân bố chủ yếu dọc theo sông Tiền sông Hậu, tập trung ở địa hình trung bình đến cao, có độ cao tuyệt đối từ 1 – 1,2 m
Trang 17Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Hiện trạng canh tác chủ yếu trên nhóm đất này là: lúa được trồng 2 – 3 vụ trong năm
và một số loại hoa màu khác
v Nhóm phù sa xa sông Tiền và sông Hậu: Phân bố thành dãy dài khép kín nằm phía trong cùng của nhóm đất phù sa ven sông được bồi hằng năm chiếm diện tích 24%
so với các nhóm đất khác ở Đồng bằng sông Cửu Long
v Đất phèn: Chiếm diện tích gần 1/4 tổng diện tích tự nhiên của Đồng bằng sông Cửu Long (chiếm 1,6 triệu hecta) phân bố tập trung ở các vùng:
Vùng tứ giác Long Xuyên, Hà Tiên chủ yếu phân bố ở Hà Tiên, Hòn Đất của tỉnh Kiên Giang và Tịnh Biên, Tri Tôn thuộc An Giang
Vùng trũng phèn Đồng Tháp Mười
Vùng phèn phía tây sông Hậu và khu vực trũng giữa sông Tiền và sông Hậu
Vùng phèn mặn bán đảo Cà Mau và Vịnh Thái Lan
v Nhóm đất nhiễm mặn: Đồng bằng sông Cửu Long tiếp giáp với biển do đó nước biển có khả năng xâm nhập rất sâu vào vùng đất liền một cách tự nhiên hoặc theo các hệ thống thủy nông gây ra sự nhiễm mặn
v Nhóm đất phèn nhiễm mặn: Nhóm đất này mang cả hai đặc tính vừa phèn vừa mặn
v Nhóm đất giồng: Phân bố tập trung ở khu vực ven biển chiếm diện tích khoảng 1,2% so với tổng diện tích ở Đồng bằng sông Cửu Long
v Đất xám bạc màu: Phân bố tập trung ở biên giới Việt Nam và Campuchia chủ yếu
ở các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang Có ba nhóm đất:
Nhóm đất bị phong hóa tại chổ
Nhóm đất phát triển theo triền đồi và núi đá
Nhóm đất hình thành và phát triển trên phù sa cổ
v Nhóm đất than bùn: Chiếm diện tích 0,8%, phân bố chủ yếu ở U Minh Thượng và
U Minh Hạ (Ngô Ngọc Hưng, 2006)
Trang 18Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.1.4 Đặc điểm sản xuất nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long
Hiện nay do khoa học kỹ thuật phát triển, lao động máy móc đã thay thế dần lao động chân tay, đem lại hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp do đó việc cơ giới hóa
từ khâu làm đất đến khâu thu hoạch đang được nông dân áp dụng
Ngày nay cùng với những bước tiến nhảy vọt về thâm canh tăng vụ cũng như kết quả áp dụng những kỹ thuật mới đã góp phần quan trọng vào việc tăng năng xuất và sản lượng lương thực, thực phẩm.Tuy vậy thực tiễn sản xuất đòi hỏi phải có những biện pháp cải tạo nâng cao độ phì nhiêu thực tế của đất vì độ phì nhiêu của đất đai đang bị suy thoái, do quá trình thâm canh tăng vụ của con người mà không chú ý đến việc bồi hoàn dinh dưỡng trong đất hoặc có bồi hoàn nhưng không cân đối làm cho dinh dưỡng trong đất ngày càng suy giảm (Trần An Phong và ctv, 1986)
Đồng bằng sông Cửu Long được xem là vùng đất có tiềm năng sản xuất nông nghiệp lớn nhất tuy nhiên điều này không có nghĩa là tất cả các loại đất ở Đồng bằng sông Cửu Long đều phì nhiêu và thuận lợi cho việc canh tác Mặt khác đồng bằng lại có
cả hai vấn đề về tài nguyên nước mặt là dư thừa nước vào mùa mưa và thiếu nước vào mùa khô Thực tế cho thấy điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp
và cả đời sống con người trong vùng
Dù vậy diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất trồng lúa có khuynh hướng tăng chậm từ năm 1990 Nhìn chung tổng sản lượng lúa cũng tăng nhưng với tốc độ chậm, trong những năm gần đây cũng như sự sụt giảm năng suất đã bắt đầu xãy ra trên một số vùng Các kết quả ghi nhận được nêu lên ở trên có thể được lý giải do các nguyên nhân khác nhau trong đó việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong canh tác là một trong những yếu
tố quan trọng (Lê Văn Khoa, 2003)
Nhiều vùng đất đai ở Đồng bằng sông Cửu Long đã được khai thác và sử dụng khá triệt để qua nhiều thế hệ, đặc biệt là vùng ven sông Để có được năng suất và sản lượng cao người dân địa phương đã áp dụng nhiều biện pháp canh tác khác nhau như: làm đất thủ công hoặc cơ giới hóa, rửa phèn, bón phân… với những cách quản lý này, cùng với quá trình tự nhiên của đất có thể làm cho đất bị suy thoái hoàn toàn, nếu như các hoạt động này không phù hợp và tiêu cực Cuối cùng làm nảy sinh sự phát triển của nền nông nghiệp không bền vững trên toàn vùng nếu không có những nghiên cứu và công tác khuyến nông hợp lý (Lê Văn Khoa, 2003)
Đồng bằng sông Cửu Long có ba nhóm đất chiếm diện tích lớn nhất: đất phèn, đất phù sa, đất mặn (chiếm 90 % diện tích đất đồng bằng) những nhóm đất này giữ vai trò quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp (Tôn Thất Chiểu, 1991) Qua đó tiềm năng sản
Trang 19Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
xuất lương thực đặc biệt là cây lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long là rất lớn, và là nơi bảo đảm an toàn lương thực quốc gia Tuy nhiên do tình hình sản xuất hiện nay làm cho đất ngày càng suy thoái gây ảnh hưởng đến năng suất cây trồng
Theo Võ Quang Minh, qua khảo sát đánh giá một số đặc tính hóa lý đất trên vùng thâm canh ba vụ lúa tại Tiền Giang cho thấy: tầng đất mặt do ngập nước liên tục có hiện tượng lầy thụt, tầng B có xu hướng bị tụ sét và bị nén dẻ theo thời gian Đa số nông dân chuẩn bị đất bằng cơ giới hóa và độ sâu cày mỏng 10 – 15 cm nên sự nén chặt càng mạnh Nông dân chuẩn bị đất trong lúc đất ngập nước nên tiến trình rửa trôi theo chiều sâu đất càng tăng mạnh, chiều dài của tầng đế cày càng tăng theo thời gian canh tác, tầng
đế cày làm tăng khả năng giữ nước trên ruộng nhưng độ dầy tầng đế cày sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của bộ rễ cây trồng (Võ Quang Minh, 2006)
1.2 Sơ lược những đặc tính các nhóm đất nghiên cứu
1.2.1 Đất cát
Đất cát ở Đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu là đất cát giồng phần lớn diện tích phân bố ở ven biển đông (Bến Tre, Trà Vinh, Tiền Giang, Sóc Trăng) thành từng dãy hình vòng cung song song với bờ biển, nhô cao hơn so với vùng phù sa xung quanh Những dãy cát giồng là dấu vết minh chứng cho quá trình tiến ra biển của Đồng bằng sông Cửu Long, nơi mà móng đá chìm xuống sâu, quá trình hoạt động bờ biển của sông
đã tác động mạnh mẽ hình thành giồng cát Càng xa biển giồng cát càng thấp do đỉnh bị bào mòn, vật liệu tràn lấp xuống các trũng giữa giồng có nơi cát giồng bị lấp hoàn toàn dưới lớp phù sa như ở Gò Công Đông, Gò Công Tây (Tiền Giang) Vật liệu hình thành đất giồng cát gồm có cát thạch anh và những khoáng vật khác Trong điều kiện nhiệt, ẩm cao của Đồng bằng sông Cửu Long cát giồng tiếp tục phong hóa, phẫu diện đất đã hình thành tầng tích tụ, thành phần cơ giới tầng đất mặt có nơi đã là thịt nhẹ
Đất cát giồng thường có thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng cát 60 – 70% Màu sắc đất vàng sáng, vàng xẫm Tầng B có các vệt đỏ nâu và có nơi có kết von Độ xốp đất
16 – 22% nhưng do địa hình cao và thực bì thưa thớt, đất giồng thường bị hạn ở tầng đất mặt Đất có phản ứng ít chua tầng đất mặt và trung tính ở tầng dưới sâu Hàm lượng hữu
cơ 0,79 – 1,2%, mức độ khoáng hóa hữu cơ cao C/N = 5 – 7 Độ phì nhiêu tự nhiên của đất giồng rất thấp, N = 0,03 – 0,08% (Tôn Thất Chiểu và ctv, 1991)
1.2.2 Đất mặn
Nhóm đất mặn có diện tích khoảng 786.300 hecta bằng 19,90% diện tích đồng bằng, là loại đất tương đối phì nhiêu nhưng nhiễm mặn nên hạn chế năng suất và khả
Trang 20Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
năng tăng vụ do thiếu nước ngọt (Nguyễn Mạnh Hùng và ctv, 1986) Đất mặn được chia làm bốn nhóm:
v Đất mặn phần lớn dưới rừng ngập mặn, diện tích 56.022 hecta phân bố nhiều ở ven biển thuộc các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau
v Đất mặn nhiều, diện tích 102.103 hecta Phân bố ở Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau
v Đất mặn trung bình, diện tích 148.934 hecta phân bố ở Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau
v Đất mặn ít, diện tích 437.488 hecta Phân bố tương đối đồng đều ở các tỉnh Long
An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau
Đất mặn ở Đồng băng sông Cửu Long là mặn do muối trong nước biển, chủ yếu là NaCl Đất mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long thường có thành phần cơ giới nặng, hàm lượng sét 50 – 60% có khi cao hơn Vùng đất mặn thuộc Bến Tre, Trà Vinh có tầng dưới sâu của phẫu diện đất thành phần cơ giới nhẹ hơn (sét 35 – 48%)
Đất mặn có hàm lượng hữu cơ và đạm trung bình, lân tổng số trung bình Lượng Magie trong cation trao đổi luôn lớn hơn Canxi thể hiện ảnh hưởng mạnh mẽ của nước biển, tuy vậy ở đất mặn ít và trung bình ảnh hưởng của muối biển ít hơn và được sử dung canh tác nhiều nên tỷ lệ Ca/Mg cao hơn đất mặn nhiều (Tôn Thất Chiểu và ctv, 1991)
v Vùng phèn tứ giác Long Xuyên, Hà Tiên bao gồm các biểu loại đất chính sau: Sulfuric Humaquepts, Typic Sulfaquepts, Sulfuric Tropaquepts
v Vùng phèn Đồng Tháp Mười, đại diện có các biểu loại đất: Sulfuric Humaquepts, Sulfudic Humaquepts, Typic Sulfaquepts và Umbic Sulfaquepts
v Vùng phèn phía tây sông Hậu và khu vực trũng giữa sông Tiền và sông Hậu gồm các biểu loại đất: Sulfuric Humaquepts, Sulfudic Humaquepts, Typic Sulfaquepts
Trang 21Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
v Vùng phèn mặn bán đảo Cà Mau và Vịnh Thái Lan (Trần Kim Tính, 2003)
v Đất phù sa mới đã thoát khỏi quá trình bồi đắp hàng năm của hệ thống sông Cửu Long, xếp vào đất phù sa không được bồi Đây là các dãy đất phù sa ven sông Chiếm diện tích 96.885 hecta tập trung ở các tỉnh Trà Vinh, Đồng Tháp, Bến Tre, Hậu Giang
v Đất phù sa không được bồi có quá trình Glây trong phẫu diện đất trung bình hoặc mạnh, thể hiện ở hình thái phẫu diện có tầng sét màu xám xanh Chiếm diện tích 355.646 hecta tập trung ở các tỉnh (Tôn Thất Chiểu và ctv, 1991)
1.2.5 Đất xám
Nhóm đất xám là một trong những nhóm đất có vấn đề ở Đồng bằng sông Cửu Long phân bố tập trung ở ven biên giới Việt Nam và Campuchia, chủ yếu ở các tỉnh: Long An, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang Nhóm đất này có thể chia ra thành các phụ nhóm sau:
v Nhóm đất xám bị phong hóa tại chổ, nhóm đất này chiếm khoảng 0,04% so với tổng diện tích đồng bằng, phân bố ở địa hình núi, chủ yếu là ven các chân núi lớn như Thất Sơn của tỉnh An Giang
v Nhóm đất xám phát triển theo triền đồi và núi đá: nhóm này phần lớn phân bố ở vùng núi Thất Sơn thuộc tỉnh An Giang, chiếm khoảng 0,3% so với tổng diện tích đồng bằng, nhóm đất này định vị trên các ngọn núi có chiều dầy mỏng thay đổi từ
0 – 40 cm và bị xói mòn rất mảnh liệt
v Nhóm đất xám phát triển trên phù sa cổ, chiếm diện tích khoảng 2,7% so với diện tích đồng bằng, nhóm đất này phân bố chủ yếu dọc theo biên giới Việt Nam và Campuchia thuộc các tỉnh Long An, Đồng Tháp, Kiên Giang, An Giang Nhìn chung nhóm đất này rất nghèo về dinh dưỡng (Trần Kim Tính, 2003)
Trang 22Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bảng 1.1 Phân loại các nhóm đất ở Đồng bằng sông Cửu Long
1.3 Ảnh hưởng của biện pháp làm đất đến độ phì vật lý đất
Đối với bất kỳ một loại cây trồng nào trước khi trồng đều phải làm đất và làm đất còn có ý nghĩa quan trọng đối với canh tác lúa
Việc chuẩn bị đất trồng rất quan trọng, hạt gieo có mọc mầm tốt hay không cây con có phát triển và cho năng xuất cao hay thấp tùy thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị đất (Lê Văn Ký và ctv, 1986)
Làm đất giúp cải thiện kết cấu đất giúp việc giữ và thấm nước qua các lổ hổng của đất được dễ dàng, đất cày có tỷ lệ tế khổng 70% sau đó các trận mưa sẽ làm dẻ đất tỷ lệ tế khổng trở lại mức chưa cày
Việc làm đất có những ưu điểm:
v Đất thoáng khí giúp cho các hiện tượng sinh học trong đất thuận lợi
v Diệt cỏ dại giúp cây trồng khỏi cạnh tranh với cỏ dại về nước dinh dưỡng và ánh sáng
v Chôn các dư thừa thực vật hay các loại phân đã bón cho đất (Võ Tòng Xuân, 1984)
v Làm đất làm thay đổi độ xốp của đất, thay đổi khe hở mao quản và phi mao quản,
đã làm tăng khả năng giữ nước và thấm nước của đất
v Làm đất có độ chặt hợp lý, khả năng giữ chất dinh dưỡng của đất sẽ tốt hơn
v Làm đất hợp lý tạo ra kích thước hạt đất phù hợp, làm tăng tính thấm nước nên giữ được các hạt đất tại chổ Đối với những loại đất nặng và đất có lớp đất mặt và lớp
Trang 23Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
bên dưới khác nhau, làm đất sâu kết hợp với lật đất có thể cải tạo được thành phần
cơ giới, độ xốp của đất, tính chất hóa học và sinh học đất có lợi cho cây trồng (Chu Thị Thơm và ctv, 2006)
Tuy nhiên việc làm đất cũng gây một số ảnh hưởng không tốt đến tính chất vật lý đất:
v Việc làm đất với ẩm độ không thích hợp sẽ làm cho đất mất kết cấu, tăng độ dầy tầng đế cày
v Làm đất bằng cơ giới hóa nặng lâu ngày làm lớp đất mặt bị nén chặt và phá vỡ cấu trúc của đất (Lê Đức, 2006)
v Làm đất không hợp lý có thể làm tăng độ phân tán đất, tăng xói mòn, tăng cỏ dại,
Theo Trần Văn Chính thì trong quá trình hình thành đất đã tạo ra được các hạt đơn đất có kích thước và hình dạng khác nhau Những hạt đơn đất đó được gọi là “thành phần
cơ giới” Như vậy các phần tử cơ giới đất có thể có nguồn gốc từ hữu cơ, vô cơ hay hữu
cơ – vô cơ
Người ta chia thành phần cơ giới ra thành ba cấp hạt : cấp hạt cát - bụi (>0,02), cấp hạt thịt (0,02 – 0,002), cấp hạt sét( <0,002 )
Do thành phần hoá học cũng như tính chất của các cấp hạt khác nhau nên đất có thành phần cơ giới khác nhau thì việc sử dụng và cải tạo cũng khác nhau (Trần Văn Chính, 2006) Vì thành phần cơ giới khác nhau sẽ dẫn đến sự khác nhau về tỷ trọng, dung trọng, tính dính, khả năng hấp thụ và trao đổi ion và khả năng dự trữ dinh dưỡng trong đất (Mai Văn Quyền và ctv, 2005)
Ngoài ra thành phần cơ giới còn được định nghĩa là tỷ lệ giữa các cấp hạt cát, thịt, sét trong đất (Henry D.Foth, 1990)
Trang 24Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Hàm lượng chất dinh dưỡng trong cấp hạt nhỏ nhiều, nên đất sét chứa nhiều dinh dưỡng hơn đất cát Ở đất có tỷ lệ hạt nhỏ, về cơ bản là giàu dinh dưỡng là do khả năng giữ dinh dưỡng của nó tốt hơn đất có tỷ lệ cát cao Tuy nhiên, nếu đất sét không được bổ xung dinh dưỡng và không có biện pháp bảo vệ thì vẫn bị thoái hóa (Trần Trọng Nghĩa, 2004)
Đối với tính chất vật lý nước và cơ lý đất cho thấy kích thước hạt càng giảm đã làm giảm tốc độ thấm nước, tăng tính mao dẫn, tăng tính trương co, tăng sức dính cực đại (Nguyễn thế Đặng, 1999)
Trong canh tác nông nghiệp nếu đất có tỷ lệ sét cao hàm lượng hữu cơ thấp thời gian canh tác lâu thì sẽ gây nên tình trạng nén dẻ (Võ Thị Gương, 2004)
v Phân loại đất theo thành phần cơ giới
Cơ sở của việc phân loại đất theo thành phần cơ giới dựa vào hàm lượng của thành phần cấp hạt hoặc nhóm thành phần cấp hạt, đôi khi dựa vào cả hai nhóm: cát vật lý ( cấp hạt lớn hơn 0,01 mm ) hoặc sét vật lý (cấp hạt nhỏ hơn 0,01 mm) (Trần Kông Tấu, 2005)
Bảng 1.2 Phân loại đất theo thành phần cơ giới của liên hợp quốc
( Nguồn: Tôn Thất Chiểu, 1991 )
Theo Trần Văn Chính thành phần cơ giới có vai trò rất quan trọng, nông dân ta từ xưa
đã dựa vào những nhận xét ngoài đồng ruộng trong quá trình sản xuất để chia đất ra thành các loại: đất cát già, cát non, đất sét…mỗi loại đất phù hợp với một loại cây trồng nhất định và cần có biện pháp canh tác thích hợp Hiện nay khoa học thổ nhưỡng đã phát triển, việc phân loại đất theo thành phần cơ giới đã có tiêu chuẩn cụ thể trên cơ sở tỷ lệ tương đối giữa các cấp hạt (Trần Văn Chính, 2006)
Trang 25Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trên thế giới có nhiều bảng phân loại đất theo thành phần cơ giới khác nhau nhưng phổ biến nhất là bảng của Liên Xô, của USDA
Hình 1 Tam giác sa cấu theo USDA
v Tính chất các loại đất có thành phần cơ giới khác nhau: có ba loại đất có thành phần cơ giới khác nhau là: đất cát, đất sét và đất thịt
Đất cát: đất cát có tỷ lệ cấp hạt cát cao có thể lên đến 100% Đất cát có những nhược điểm sau: dễ bị khô hạn do tổng diện tích khe hở lớn, làm nước dễ thấm và bốc hơi, nghèo mùn do điều kiện oxy hóa tốt nên quá trình khoáng hóa chất hữu cơ mạnh, dễ bị đốt nóng và mất nhiệt nên bất lợi cho vi sinh vật phát triển, kết cấu rời rạc nên dễ cày bừa, nhưng giảm khả năng hấp phụ nước và giữ phân kém do chứa ít keo Tuy nhiên đất cát có ưu điểm là cây trồng dễ vươn rễ ra xa mà không bị chèn ép (Nguyễn Như Hà, 2006)
Đất sét: Là loại đất có tỷ lệ sét cao Đất sét có các hạt sét bé nên khe hở giữa chúng nhỏ dẫn đến thoát nước kém, dễ bị úng gây tác hại cho cây trồng cạn, độ thoán khí thấp, chất hữu cơ phân hũy chậm Đất chứa nhiều sét sức cản lớn, tính dính cao gây khó khăn cho việc làm đất Tuy nhiên đất sét là loại đất có hàm lượng hữu cơ cao, nếu kết cấu đất
Trang 26Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
tốt thì trở thành một loại đất lý tưởng nhờ khả năng cung cấp chất dinh dưỡng, nước…(Trần Văn Chính, 2006)
Đất thịt: đất thịt là loại đất có tỷ lệ cấp hạt cũng như tính chất vật lý, hóa học nằm trung gian giữa hai loại đất sét và đất cát Nói chung đất thịt trung bình là tốt nhất vì chúng có đặc tính lý, hóa, sinh học đất phù hợp cho nhiều loại cây trồng, vừa dễ làm đất
và chăm sóc cây trồng (Nguyễn Như Hà, 2006)
1.4.2 Tính bền cấu trúc đất
Trạng thái khi các phần tử cơ giới đất liên kết lại với nhau thành những hạt kết gọi
là kết cấu đất Nếu các phần tử cơ giới đất không có khả năng gắn kết lại với nhau mà ở trạng thái rời rạc (như đất cát, đất bạc màu) hoặc dính kết với nhau thì đất không có cấu trúc (Nguyễn Như Hà, 2006)
Theo Trần Kông Tấu thì thể rắn của đất cấu tạo từ những nguyên tố cơ học, nhờ năng lượng bề mặt, nhờ các lực tác động như lực hóa trị, lực keo tụ của đất, lực liên kết hidro, lực mao quản và hấp phụ, lực vandervan, lực chèn kéo giữa các rễ cây…những nguyên tố cơ học này tác động tương hỗ và kết dính lại với nhau tạo nên đoàn lạp hoặc còn gọi là cấu trúc riêng biệt Những đoàn lạp có kích thước lớn hơn 0,25 mm gọi là những đoàn lạp lớn, những đoàn lạp có kích thước nhỏ hơn 0,25 mm gọi là những vi đoàn lạp (Trần Kông Tấu, 2005)
Cấu trúc đất là sự sắp xếp các phần tử đất lại với nhau trong tính bền đoàn lạp mà tính bền đoàn lạp đất là sự liên kết các hạt đất rất nhỏ, chúng được giữ chặt bởi chất hữu
cơ, oxid sắt, carbonat, khoáng sét…(Raymond W.Miller et al, 2001)
Tính bền cấu trúc đất được xem như là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng đất đai Tính bền của đất có thể có tác động mạnh mẽ đến những đặc tính lý, hóa đất (Lê Văn Khoa, 2003) Tính bền của đất đo lường mức độ chịu đựng của đất dưới tác động của mưa, các lực cơ giới khi cày bừa hoặc khi tưới nước (Trần Bá Linh, 2004)
Tính bền cấu trúc đất thể hiện qua độ bền của các đoàn lạp đất ở Việt Nam, đối với những loại đất có thành phần cơ giới nặng thì độ bền đoàn lạp trong nước thể hiện khá cao 84 – 99% Đất xám bạc màu phát triển trên phù sa cổ có độ bền trong nước kém nhất, khoảng 5% (Trần Kông Tấu và ctv, 2000)
Chế độ nước, không khí và nhiệt độ ở đất có cấu trúc, kéo theo sự phát triển mạnh
mẽ những quá trình sinh học, khả năng nitrat hóa và khả năng chuyển hóa các hợp chất hữu cơ Đất có cấu trúc tốt sẽ ít dính thuận lợi cho việc cày đất và chăm sóc cây trồng (Trần Kông Tấu, 2005) Đất có cấu trúc kém hạn chế việc điều hòa chế độ nước và không