1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của PHÂN bón vô cơ và hữu cơ đến VIỆC cải THIỆN đặc TÍNH lý hóa học đất vườn TRỒNG cây CACAO XEN TRONG vườn dừa tại xã mỹ hòa HUYỆN mỏ cày bắc TỈNH bến TRE

77 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT    NGUYỄN CÔNG HẦU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN BÓN VÔ CƠ VÀ HỮU CƠ ĐẾN VIỆC CẢI THIỆN ĐẶC TÍNH LÝ H

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

  

NGUYỄN CÔNG HẦU

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN BÓN VÔ CƠ

VÀ HỮU CƠ ĐẾN VIỆC CẢI THIỆN ĐẶC TÍNH LÝ HÓA HỌC ĐẤT VƯỜN TRỒNG CÂY CACAO XEN TRONG VƯỜN DỪA TẠI XÃ MỸ HÒA HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Ngành: KHOA HỌC ĐẤT

Cần Thơ, 2012

Trang 2

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN BÓN VÔ CƠ VÀ HỮU CƠ ĐẾN VIỆC CẢI THIỆN ĐẶC TÍNH LÝ HÓA HỌC ĐẤT VƯỜN TRỒNG CÂY CACAO XEN TRONG VƯỜN DỪA TẠI XÃ MỸ HÒA

HUYỆN MỎ CÀY BẮC – TỈNH BẾN TRE

Cán bộ hướng dẫn

TS TẤT ANH THƯ

Sinh viên thực hiện:

NGUYỄN CÔNG HẦU MSSV: 3084080

Cần Thơ, 2012

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

………

XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Luận văn tốt nghiệp Kỹ Sư ngành Khoa Học Đất với đề tài: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN BÓN VÔ CƠ VÀ HỮU CƠ ĐẾN VIỆC CẢI THIỆN ĐẶC TÍNH LÝ HÓA HỌC ĐẤT VƯỜN TRỒNG CACAO XEN TRONG VƯỜN TẠI HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE Do sinh viên Nguyễn Công Hầu thực hiện từ tháng 12/2010 - 12/2011 Ý kiến của cán bộ hướng dẫn: ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày…., tháng… , năm 2011

Cán Bộ Hướng Dẫn

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT

………

………

XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp Kỹ Sư ngành Khoa Học Đất với đề tài: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA PHÂN BÓN VÔ CƠ VÀ HỮU CƠ ĐẾN VIỆC CẢI THIỆN ĐẶC TÍNH LÝ HÓA HỌC ĐẤT VƯỜN TRỒNG CACAO XEN TRONG VƯỜN TẠI HUYỆN MỎ CÀY BẮC –TỈNH BẾN TRE Do sinh viên Nguyễn Công Hầu thực hiện từ tháng 12/2010- 12/2011 và bảo vệ trước hội đồng Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp: ………

………

………

………

………

………

………

………

Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức: ………

Cần Thơ, ngày…., tháng… , năm 2012

Chủ tịch Hội đồng

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Trang 6

Cám ơn đến gia đình luôn quan tâm, động viên, hỗ trợ rất nhiều trong suốt thời gian học tập

Tất cả các bạn sinh viên lớp khoa học đất khoá 34 đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Em xin chúc tất cả quý Thầy, Cô, các anh chị trong Bộ môn Khoa Học Đất và các bạn luôn thành công

Nguyễn Công Hầu

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Xác nhận của cán bộ hướng dẫn ii

Xác nhận của hội đồng chấm luận văn iii

Lời cam đoan iv

Lời cảm tạ v

Mục lục vi

Danh sách hình ix

Danh sách bảng x

TÓM LƯỢC xi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 – LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 Tổng quan vùng nghiên cứu 2

1.2 Giới thiệu cây ca cao 3

1.2.1 Cây ca cao 3

1.2.2 Lợi ích của cây ca cao 3

1.2.3 Tình hình sự phát triển của cây ca cao 4

1.3 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển cây ca cao 8

1.4 Điều kiện phát triển của cây ca ca 10

1.5 Điều kiện đất đai 14

1.6 Tính chất vật lý 14

1.6.1 Thành phần cơ giới (sa cấu) 14

1.6.2 Dung trọng 20

1.7 Một số đặc tính hoá học đất 21

1.7.1 pH 21

1.7.2 EC (độ mặn) 22

1.7.3 Chất hữu cơ 22

1.7.4 CEC (khả năng trao đổi cation) 23

1.7.5 Lân (P) 23

Trang 8

1.7.6 Đạm (N) 24

1.7.7 Kali (K) .25

1.7.9 Calcium (Ca) 25

1.7.10 Magnesium (Mg) .26

1.8 Những trở ngại trên đất vườn trồng cây ăn trái lâu năm 28

Chương 2 – PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 30

2.1 Địa điểm và thời gian thí nghiệm 30

2.2 Phương pháp thí nghiệm 30

2.2.1 Thu thập và xử lý số liệu 31

2.2.2 Phương pháp phân tích mẫu đất 31

2.3 Xử lý số liệu 33

Chương 3 – KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Một số đặc tính lý - hoá học đất trước khi bố trí thí nghiệm 34

3.1.1 Đặc tính vật lý đất và cation trao dổi 34

3.1.2 Đặc tính hoá học đất và hàm lượng các chất dinh dưỡng trong mẫu đất đầu vụ 37

3.2 Theo dõi sự thay đổi các đặc tính hoá học đất và nguồn dinh dưỡng trong đất theo thời gian 39

3.2.1 pH 39

3.2.2 EC trong đất 40

3.2.3 Lân hữu dụng (P Olsen) .41

3.2.4 Đạm hữu dụng .43

3.2.5 Đạm hữu cơ dễ phân huỷ trong đất (N labile) 44

3.2.6 Carbon hữu cơ dễ phân huỷ trong đất (Clabile) .45

Chương 4 – KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47

4.1 Kết luận 47

4.2 Đề nghị 48

Trang 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

PHỤ CHƯƠNG

Trang 10

Hình 3.2 Sự thay đổi EC ở các nghiệm thức theo thời gian 42

Hình 3.3 Sự thay đổi hàm lượng lân hữu dụng (P Olsen) của các nghiệm

thức theo thời gian

43

Hình 3.4 Sự thay đổi hàm lượng đạm hữu dụng ở các nghiệm thức theo

thời gian

44

Hình 3.5 Sự thay đổi hàm lượng đạm hữu cơ dễ phân hủy ở các nghiệm

Thức theo thời gian

45

Hình 3.6 Sự thay đổi hàm lượng carbon hữu cơ dễ phân huỷ của các

nghiệm thức theo thời gian

46

Trang 11

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1.1 Năng suất và sản lượng cacao ở một số nơi trên thế giới 5

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng ca cao qua các năm ở

Việt Nam

6

Bảng 1.4 Hệ thống phân loại các cấp hạt theo hệ thống quốc tế 15

Bảng 1.5 Hệ thống phân loại các cấp hạt theo hệ thống USDA 16

Bảng 1.6 Phân loại đất theo thành phần cơ giới của quốc tế năm

Bảng 1.9 Nhu cầu sinh trưởng của cây ca cao ở các thời kỳ sinh trưởng

Trang 12

TÓM LƯỢC

Việc sử dụng phân bón vô cơ lâu dài trong sản xuất nông nghệp có nguy cơ làm đất bị suy thoái thẻ hiện qua hàm lượng các chất dinh dưỡng, chất hữu cơ trong đất thấp Vì vậy, “Đánh giá tác động của phân bón vô cơ và hữu cơ đến việc cải thiện đặc tính lý hoá học đất vườn trồng cây cacao xen trong vườn dừa tại xã Mỹ Hòa huyện Mỏ Cày Bắc – Tỉnh Bến Tre” Được thực hiện nhằm mục tiêu: (1) Đánh giá các yếu tố vật lý - hóa học của đất vườn dừa có xen cây cacao; (2) Đánh giá hiệu quả của phân hữu cơ lên việc cải thiện các đặc tính lý, hoá học đất

Kết quả phân tích mẫu đất vườn trồng cacao xen trong vườn dừa có tuổi liếp dừa là 35 năm tuổi cây cacao là 5 - 6 năm (đầu vụ) nhận thấy : Đất không bị nén dẻ (1.29 g/cm3 ), thành phần sa cấu đất chủ yếu là đất sét pha thịt ; pH đất thấp (pHH2O

= 4.66 – 5.32),hầu hết hàm lượng dinh dưỡng trong đất điều thấp thể hiện qua : hàm lượng chất hữu cơ rất thấp (1.36 – 1.36 %C), đạm tổng số biến động từ thấp đến trung bình (0.14 – 0.21% N), nghèo lân tổng số (0.02 – 0.03% P2O5), N hữu dụng thấp (8.23 – 10.18 mg/kg), N hữu cơ dễ phân hủy thấp (1.09 – 1.29 mg/kg), C hữu

cơ dễ phân huỷ ở mức thấp đến trung bình (0.7 – 0.88), hàm lượng lân hữu dụng biến động ở mức thừa lân (22.64 – 30.39 mg/kg), CEC ở mức thấp (12.48 – 14.59 cmol/kg), kali biến động trong mức khá (0.84 - 0.95 cmol/kg), Na cao (1.29 – 1.74 cmol/kg), Ca biến động từ thấp đến trung bình (5.08 – 6.63 cmol/kg), Mg cao (5.02 – 5.56 cmol/kg)

Qua theo dõi kết quả phân tích mẫu đất ở các nghiệm thức trong bố trí thí nghiệm cho thấy : Việc bón phân vô cơ không giúp duy trì nguổn dinh dưỡng trong đất lâu dài so với bón phân vô cơ kết hợp với phân hữu cơ cụ thể : Hàm lượng lân hữu dụng tăng lên biến động trong khoảng (42 – 76.71 mg/kg) ở mức giàu đến thừa lân (ở nghiệm thức3 và nghiệm thức 5); hàm đạm hữu dụng tăng biến động trong khoảng (10.92 – 47.94 mg/kg); đạm hữu cơ dễ phân hủy (1.46 – 7.22 mg/kg) có tăng nhưng vẫn ở mức thấp, carbon labile dao động trong khoảng (0.35 – 0.71 %C) vẫn chưa được cải thiện mà có xu hướng giảm

Trang 13

MỞ ĐẦU

Tỉnh Bến Tre là tỉnh có diện tích trồng dừa lớn nhất ĐBSCL(35.000 ha), là tỉnh có phong trào xen canh ca cao, khôi phục vườn dừa mạnh nhất trong hai năm gần đây Việc phát triển mô hình ca cao xen canh trong vườn dừa góp phần đa dạng hóa mục đích sử dụng đất, khai thác có hiệu quả Những hộ trồng cây ca cao xen trong vườn dừa hoặc vườn cây ăn trái đều đánh giá khá cao mô hình này bởi tính tiện lợi và không tốn nhiều chi phí cải tạo vườn và công lao động, chỉ tốn chi phí chăm sóc 1 lần mà thu nhập sản phẩm được cả 2 loại cây Theo tính toán của các nhà chuyên môn và bà con nông dân, với 1 ha chuyên trồng dừa chỉ thu nhập trên

50 triệu đồng/năm, nhưng nếu trồng xen thêm cây ca cao thì mức thu nhập sẽ tăng lên gấp đôi Tuy nhiên, trong quá trình canh tác nông dân thường gặp một số trở ngại như cây kém phát triển,năng suất không ổn định… Qua kết quả điều tra thực tế hầu hết các nông dân trồng cây cacao chưa có nhiều kinh nghiệm về kỹ thuật bón phân, đa số nông dân sử dụng phân bón vô cơ (hỗn hợp N-P-K ) Đây có thể là một trong những nguyên nhân chính gây trở ngại cho việc thất thu năng xuất, từ

thực tế đó đề tài “Đánh giá tác động của phân bón vô cơ và hữu cơ đến việc cải thiện đặc tính lý hoá học đất vườn trồng cây cacao xen trong vườn dừa tại xã

Mỹ Hòa huyện Mỏ Cày Bắc – Tỉnh Bến Tre” được thực hiện nhằm tìm ra trở ngại chính của việc trồng xen cacao, là cây chỉ phát triển tốt khi trồng dưới các tán cây lâu năm mà những vùng đất này thường bị bạc màu, khó đáp ứng về mặt dinh dưỡng cho cây cacao phát triển tốt Vì vậy để giải quyết vấn đề này đề tài được thực hiện nhằm:

- Đánh giá các yếu tố vật lý - hóa học của đất vườn dừa có xen cây cacao Trên cơ sở nghiên cứu tìm ra được nguyên nhân gây bất lợi cho sự phát triển của cây cacao trồng xen Chọn được công thức phân bón phù hợp góp phần cải thiện và duy trì độ phì nhiêu đất theo hướng bền vững

- Đánh giá hiệu quả của phân bón đến việc cải tạo độ phì nhiêu đất theo hướng bền vững Góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc khuyến cáo chế độ bón phân và quản lý nguồn dinh dưỡng trong đất theo hướng bền vững Từ đó đánh giá độ phì nhiều của đất vườn trồng cây cacao xen trong vườn dừa và các yếu tố bất lợi của đất, đưa ra những biện pháp canh tác hợp lý giúp hạn chế sự suy thoái đất, nâng cao năng suất ca cao và tăng hiệu quả kinh tế cho nghề trồng ca cao

Trang 14

CHƯƠNG I LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan vùng nghiên cứu

Mỏ Cày Bắc là một huyện thuộc tỉnh Bến Tre được thành lập vào ngày 25

tháng 3 năm 2009 theo ‘Nghị định số 08/CP ngày 9 tháng 2 năm 2009’ của Chính

phủ Việt Nam.Trung tâm huyện nằm tại xã Phước Mỹ Trung

Dân cư: Mỏ Cày Bắc có tổng diện tích tự nhiên là 154,6378 km2 và có 124.377 nhân khẩu Khi mới thành lập huyện bao gồm 134,1911 km2 diện tích tự nhiên và 109.575 nhân khẩu của huyện Mỏ Cày cũ và 20,4467 km2 diện tích tự nhiên và 14.802 nhân khẩu của huyện Chợ Lách Mật độ dân số 804 người/km2 (09/02/2009)

Đơn vị hành chính: Huyện có 13 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 13 xã:

Thanh Tân, Thạnh Ngãi, Tân Phú Tây, Tân Thành Bình, Thành An, Phước Mỹ Trung, Tân Thanh Tây, Tân Bình, Nhuận Phú Tân, Hoà Lộc, Khánh Thạnh Tân, Hưng Khánh Trung A, Phú Mỹ Bộ máy hành chính huyện Mỏ Cày Bắc chính thức

đi vào hoạt động từ 01-05-2009

Vị trí địa lý: Huyện của tỉnh Bến Tre, nằm trên cù lao Minh; Bắc giáp huyện

Châu Thành và thành phố Bến Tre, ranh giới là sông Hàm Luông, có cầu Hàm Luông bắc qua trên quốc lộ 60; Nam giáp sông Cổ Chiên, ngăn cách với huyện Vũng Liêm của tỉnh Vĩnh Long; Tây giáp huyện Chợ Lách, Đông giáp huyện Mỏ

Cày Nam

Kinh tế: Huyện có khoảng 16.000 ha đất trồng cây ăn trái các loại và nuôi trồng thủy sản Lợi thế của Mỏ Cày Bắc là có 2/3 trên tổng số 13 xã không bị nước mặn xâm nhập Huyện có làng trồng cây ăn trái, vùng bưởi da xanh đặc sản xen vườn dừa, vườn ca cao xen dừa và tiềm năng thủy sản Định hướng của huyện Mỏ Cày Bắc là tập trung phát huy thế mạnh kinh tế vườn, chăn nuôi và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp

Khí hậu: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26°C đến 27 °C Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.250 mm đến 1.500 mm Khí hậu ở đây là nhiệt đới gió mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, các tháng còn lại là mùa khô

canh tác và đa dạng cây trồng một số nhà vườn ở huyện Mỏ Cày Bắc đang áp dụng

mô hình trồng xen, nuôi xen như: cacao xen trong vườn dừa, tôm càng xanh trong

Trang 15

nòi… Để mô hình mang tính bền vững, đa phần nhà vườn học hỏi kinh nghiệm và tham dự các lớp tập huấn do trung tâm khuyến nông tỉnh Bến Tre tổ chức

Hình 1.1 Bản đồ Hành Chính Huyện Mỏ Cày Bắc Tỉnh Bến Tre

( nguồn Tài liệu Web UBND tỉnh Bến Tre)

1.2.Giới thiệu tổng quan cây ca cao

1.2.1 Cây ca cao: Cây ca cao (Theobroma cacao L.) thuộc họ Sterculiaceae, bộ Malvales, là cây hoang dại trong rừng Amazon (Nam Mỹ) được thuần hoá trồng từ thế kỷ XVI, Là loại cây thích bóng râm, dễ trồng, dễ chăm sóc, cho năng suất cao nên có thể trồng xen trong các vườn cây lâu năm Là cây công nghiệp có nhiều triển vọng (Phạm Hồng Đức, 2003)

1.2.2 Lợi ích của ca cao: Quả ca cao gồm vỏ, phần thịt màu trắng và hạt (Hình

1.1) Bộ phân được dùng nhiều nhất là hạt Hạt ca cao có hàm lượng bơ cao từ 56- 58%, dùng làm nguyên liệu trong sản xuất chocolate, nước uống, bánh kẹo, dược

phẩm, mỹ phẩm (Phạm Hồng Đức Phước, 2006)

Trang 16

Lá ca cao rụng cung cấp phân hữu cơ cung cấp cho đất

Cây ca cao có thể trồng xen dưới tán các vườn cây lâu năm nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất Cây dễ trồng, phát triển nhanh, năng suất ổn định, thu hoạch 2 vụ/năm

1.2.3 Tình hinh sự phát triển của cây cacao

- Trên thế giới:

Cacao được sử dụng đầu tiên ở vùng Aztecs, dưới dạng Chocolate, được sản xuất bằng cách nghiền hạt cacao với nước, bột bắp và một số chất gia vị, sử dụng trong các loại nước uống (Nguyễn Minh Thủy, 2000) Ở Nicaragua hạt ca cao có lúc được dùng như tiền tệ để trao đổi mua bán (Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Tài Sum, 1996) Ca cao được sử dụng rộng rãi từ thế kỷ thứ VI ở các bộ tộc Maya Thế

kỷ XVI ca cao được trồng rộng rãi ở Trung Mỹ Đầu thế kỷ XIX ở các nước Nam

Mỹ bắt đầu xuất khẩu ca cao với quy mô 2.000 đến 5.000 tấn Năm 1985, các nước

Châu Á bắt đầu phát triển mạnh trồng cacao, đầu tiên ở Malaysia, Indonesia, Ấn Độ,…từ đó thị trường ca cao ngày càng mở rộng, các sản phẩm của cacao, trước đây được coi như mặt hàng của người giàu nay được tiêu thụ phổ biến hơn (Lê Thị Thu Thủy và Phan Thanh Trúc, 2006) Trồng Ca cao phát triển rộng rãi trên thế giới, kéo theo sự phát triển của các mô hình trồng xen ca cao cũng phát triển, nhất là

mô hình trồng xen ca cao trong vườn dừa, được các nước trên thế giới công nhận đạt hiệu quả Nghiên cứu suốt 9 năm ở Philipin, cho thấy trồng xen ca cao không có ảnh hưởng xấu đến năng suất dừa (Mangabat và Marquez,1972) Lợi ích của trồng

ca cao xen trong vườn dừa là làm tăng thêm 55% năng suất dừa so với trồng chuyên dừa, ngoài ra còn giúp giảm xói mòn, tăng khả năng giữ dinh dưỡng, duy trì độ ẩm trong mùa khô, tăng nguồn CHC cho đất (Nair và Varghise, 1976) Với những thuận lợi trên, diện tích và sản lượng ca cao ở nhiều nước trên thế giới không ngừng

Trang 17

Giá cacao đạt mức cao và dao động ổn định từ 3.000- 3.300 USD (Đinh Hải Lâm, 2010) Hiện nay, trên thế giới có 4 khu vực trồng ca cao nhiều nhất là Tây Phi, Châu Mỹ, Châu Á và Châu Đại Dương, với tổng diện tích khoảng 5 triệu ha, Châu Phi chiếm 70% tổng sản lượng, đứng đầu là 4 quốc gia Bờ Biển Ngà, Rhana, Nigeria, Cameroon Châu Mỹ đạt 12% sản lượng ca cao toàn cầu, đứng đầu là Brazin và Ecuador Châu Á và Châu Đại Dương chiếm 18% sản lượng cacao toàn cầu hằng năm Indonesia là quốc gia cung cấp sản lượng chính trong khu vực, tiếp theo là Papua New Guinea và Malaysia (Nguyễn Văn Hòa và Nguyễn Thị Thanh Mai, 2010) Các nước có diện tích, sản lượng ca cao đạt năng suất cao, chiếm đến 90% sản lượng trên thế giới được trình bày qua hình

Bảng 1.1: Năng suất và sản lượng cacao ở một số nơi trên thế giới

Quốc gia Diện tích (ha) Sản lượng (Tấn) Năng suất (kg/ha)

(Nguồn: theo FAO, 2004)

Nhìn chung việc trồng, chế biến, tiêu thụ các sản phẩm của cây cacao đang

có chiều hướng tăng lên trên thế giới

- Ở Việt Nam:

Sau khi Pháp xâm chiếm, nước ta đã trồng thử nghiệm ca cao ở các tỉnh phía Nam (Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Tài Sum ,1996) Thập niên 80 của thế kỷ XX, Việt Nam đã nổ lực phát triển trồng ca cao chủ yếu ở các nông trường quốc doanh.Năm 1981 giống ca cao Trinitario được trồng thử nghiệm trên đất bazan, cho đến nay cây vẫn phát triển tốt, có thể trở thành nguồn cung cấp hạt giống Trinitario, để

Trang 18

trồng rộng rãi trên cả nước Nước ta đã có giống ca cao trồng trên 20 năm vẫn cho năng suất cao, trung bình mỗi cây từ 300 trái trở lên, kết quả này vô cùng khích lệ cho việc phát triển diện tích ca cao, để ca cao trở thành mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao (Phạm Hồng Đức Phước, 2004) Ứng dụng những thành công trên thế giới về mô hình trồng xen ca cao để áp dụng tại Việt Nam, kết quả đạt được là năng suất và sản lượng ca cao ngày càng tăng Cho thấy Việt Nam với điều kiện đất đai, khí hậu thích hợp, nguồn nhân lực dồi dào rất thích hợp để mở rộng diện tích trồng

ca cao Hiện nay thị trường tiêu thụ ngày càng rộng, nhu cầu cung cấp nguyên liệu này rất cao, hơn nữa nguồn cung cấp ca cao lớn nhất trên thế giới (Châu Phi) lại giảm, làm giá ca cao không ngừng tăng và ổn đinh ở mức cao Nắm bắt thời cơ này,

từ năm 2003 thông qua chương trình ca cao Quốc gia các doanh nghiệp đã tiếp cận đầu tư, bao tiêu sản phẩm, giá hạt cacao những năm qua liên tục tăng cao đã thu hút việc mở rộng gieo trồng, đã thúc đẩy diện tích ca cao ở Việt Nam trong những năm

gần đây không ngừng tăng

Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng ca cao qua các năm ở Việt Nam

(Ban điều phối và phát triển ca cao Việt Nam)

Hiện nay, ca cao được trồng rộng rãi ở hàng chục tỉnh từ Quãng Ngãi (miền Trung) đến Cần Thơ (ĐBSCL), riêng tỉnh Quãng Ngãi đã có 3.000 ha (Đinh Hải Lâm, 2010) Các giống ca cao được sử dụng phổ biến hiện nay được lai tạo bởi 8 dòng cacao lai vô tính nhập nội như TD1, TD2, TD3, DT5, DT6, DT8, DT10 và DT14, các giống này được nhập nội từ Malaysia, đều cho hạt có chất lượng cao nhất nếu chăm sóc đúng kĩ thuật (Đỗ Văn Công, 2011)

- Ở ĐBSCL: Trong thập niên 80, do giá ca cao tăng vọt ĐBSCL được nhà nước khuyến khích mô hình trồng xen ca cao trong vườn cây ăn trái, đặc biệt là mô hình trồng xen ca cao trong vườn dừa, đã làm diện tích ca cao của khu vực tăng lên 20.000 ha Giai đoạn 1980-1990 việc trồng ca cao tiếp tục phát triển Đến năm 1990 giá ca cao giảm do thiếu thị trường tiêu thụ, khó khăn trong chế biến, giá cả bấp bênh nên loại cây này dần bị chặt bỏ để trồng các loại cây trái khác (Đỗ Văn Công, 2011) Gần đây do ảnh hưởng của tình hình cung cấp ca cao trên thế giới giảm, thúc

Trang 19

được khuyến khích trồng ca cao, nhất là khu vực ĐBSCL Theo Trần Văn Hâu (2009) các vùng trồng ca cao ở ĐBSCL, cho thấy ca cao trồng xen cho năng suất cao và không cạnh tranh đất với dừa, và còn góp phần tăng năng suất dừa tăng từ 20- 25% Thực tế, nhiều nơi ở ĐBSCL cây cacao có khả năng cho năng suất từ 500kg – 750kg/ha (khoảng 20 – 30 trái/cây) Nếu cây 5 năm tuổi cho năng suất từ

1000 – 1.300kg/ha (40 – 60 trái/cây) ĐBSCL còn phát triển mô hình trồng xen ca cao trong vườn bưởi, chuối…trên vùng đất nhiễm phèn, mặn ở các tỉnh như Trà Vinh, Cà Mau, cho thấy năng suất ca cao không kém so với những loại đất khác

- Ở Bến Tre có khoảng 1.600 ha ca cao trồng xen trong vườn dừa Đặc biệt, trong năm 2003, tổ chức phi chính phủ Mỹ ACRI/VOC có dự án đầu tư 4 triệu đôla

mỹ để phát triển ca cao trong cả nước Dự án hỗ trợ giống, kỹ thuật trồng và xúc tiến thị trường tiêu thụ sản phẩm (Nguyễn Bảo Vệ 2005 Tủ sách Đại học Cần Thơ)

Hiện nay Bến Tre là tỉnh có diện tích đất trồng cacao xen dừa cao nhất so với các tỉnh khác trong khu vực Chương trình phát triển cacao tại Bến Tre do Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh hỗ trợ từ năm 2000 ở Bến Tre Sau thời gian trồng thử nghiệm cho thấy sự thích nghi khá tốt Hơn nữa ca cao trồng

ở đây cho chất lượng cao, bằng chứng cụ thể là mẫu cacao trồng ở Bến Tre được tập đoàn Cargill tại Việt Nam đưa đi phân tích tại Mỹ, kết quả cho thấy ca cao ở đây chất lượng rất tốt, hàm lượng béo cao 55% - 56% đạt loại hàng đầu châu Á Các mô hình trồng xen ca cao trong vườn cây ăn trái ở đất nhiễm phèn, mặn đạt được hiệu quả thử nghiệm

Trong những năm qua, diện tích trồng cacao xen trong vườn dừa trong nước cũng như trên thế giới tăng liên tục Cho thấy trong tương lai cây ca cao sẽ trở thành mặt hàng cạnh tranh trên thị trường thế giới

1.3 Đặc điểm sinh trưỏng phát triển của cây ca cao

Ca cao thuộc loại thân gỗ, đa niên, thường cao 5- 7m, có cây cao đến 11m

Ca cao phát triển đầy đủ trong 10 năm sau khi trồng có thể sống từ 25- 30 năm, cá biệt có thể sống đến 100 năm Sau 3 năm gieo trồng ca cao bắt đầu ra hoa, kết trái, cho trái quanh năm Trái đâm ra trực tiếp từ thân cây và những cành lớn Cây cho sản lượng cao nhất khi cây khoảng 9- 10 tuổi Tính trung bình mỗi cây có thể cho từ 20- 30 trái, có thể đến 50 trái Các bộ phận chính của cây ca cao gồm:

Trang 20

- Rễ: cacao thuộc loại rễ cọc, rễ chính có thể ăn sau 2- 3m, giúp cây chống chịu khi khô hạn (Phạm Hồng Đức Phước, 2009)

- Thân: cây có thể cao 4- 10m tùy theo mật độ và khoảng cách trồng Các chồi vượt thường hình thành từ thân và cành chính, tạo ra các tầng lá để tạo tán cho cây Tán ca cao có ảnh hưởng nhiều đến sản lượng của cây (Phạm Hồng Đức Phước, 2009)

- Lá: Mỗi năm ca cao ra từ 2- 4 đợt lá Lá sống 12 tháng nhưng chỉ hoạt động 4 -5 tháng sau đó già và rụng Kích thước là phụ thuộc nhiều vào điều kiện ánh sáng nhận được, khi được ánh sáng chiếu trực tiếp thì lá có màu nhạt, khích thước nhỏ và mau rụng

- Hoa: Cacao có thể trổ hoa suốt năm, tuy nhiên các thời kỳ trổ hoa phụ thuộc nhiều vào yếu tố khí hậu, nhất là nhiệt độ và chế độ mưa Ở ĐBSCL, cacao thường cho hai kỳ hoa, kỳ thứ nhất từ tháng 4 – 7 (dl), sẽ thu hoạch vào tháng 9 –

11 năm sau và kỳ thứ hai từ tháng 11 – 1 (dl), sẽ thu hoạch vào tháng 4 – 7

- Quả: Mỗi quả cacao thường chứa 30- 40 hạt, quả có kích thước hình dáng, màu sắc đa dạng tùy từng giống, trái có thể dài từ 10- 30 cm, vỏ ngoài có thể tương đối nhẵn hoặc nhám Màu sắc có thể từ xanh vàng đến tím sẫm hoặc hơi đỏ

- Hạt: Hạt thuộc loại không nhân, được bao bọc bởi một lớp cơm màu trắng,

có vị ngọt Hạt có hình dáng khác nhau tùy giống kích thước hạt dài trung bình 2- 3

cm Trọng lượng hạt từ 900- 1.200 hạt/kg (Phạm Hồng Đức Phước, 2009)

 Kỹ thuật canh tác:

- Chọn Giống: Giống là một trong những yếu tố quan trong quyết định năng suất của cây ca cao Theo Đỗ Văn Công (2011) các giống phù hơp với Việt Nam là TD1, TD2, TD3… nhập nội từ Malaysia Các giống này nếu được chăm sóc tốt sẽ cho năng suất cao

- Thời vụ gieo trồng: Nếu vùng có nước tưới chủ động có thể trồng ca cao vào bất kì thời gian nào, nhưng phải hạn chế trồng vào những lúc nắng quá nóng Nếu vùng thiếu nước tưới thường xuyên nên bắt đầu trồng vào mùa mưa, và kết thúc trước mùa khô từ 2- 3 tháng (Viện KHKTNLN Tây Nguyên, 2011)

- Giai đoạn chuẩn bị: Trồng ca cao ở những vùng đất trống, cần trồng cây che mát tạm thời cho ca cao như chuối, muồng…Nếu trồng xen trong các vườn các cây khác nhu chuối, dừa…dừa là cây che bóng vĩnh viễn là cây trồng chung với cây

ca cao và tồn tại vĩnh viễn với cây cao (Nguyễn Thị Tuyết Mai, 2009)

Trang 21

- Mật độ và khoảng cách: Mật độ thích hợp 400- 700 cây/ha Khoảng cách thích hợp để trồng ca cao là 3 x 3 m Ca cao nên trồng cách cây trồng chính tối thiểu

là 2m (Viện KHKTNLN Tây Nguyên, 2011)

- Đào hố/ đắp mô trồng cây: Đào hố với kích thước tối thiểu 50 x 50 x 50cm, Nếu đào thủ công phải để riêng lớp đất mặt (0- 20cm) sau này trộn với phân để lấp

hố ĐBSCL do ảnh hưởng của mực thủy cấp và ảnh hưởng của thủy triều nên trồng

ca cao cần phải đắp mô Mô có kích thước 40- 60 x 40- 60cm, sâu khoảng 40cm

 Bón phân:

- Bón lót: Theo Nguyễn Thị Tuyết Mai (2009) lượng phân bón bao gồm 100g super lân + 50g NPK (20- 20- 15) + phân hữu cơ để lấp đầy hố trống và quanh bầu cây để cung cấp dinh dưỡng cho ca cao trong thời gian đầu

- Bón Vôi: bón định kì 2 năm một lần ở những vùng đất chua Lượng bón là 0.5 kg/gốc đối với vườn ca cao kinh doanh Bón vôi rãi điều trên bề mặt đất bên dưới tán cây ca cao

- Bón thúc: ca cao trồng trong vườn dừa bóng râm dày từ 50- 75% thì việc bón thêm phân cũng không cần thiết Trong điều kiện bóng râm thấp hơn 50% nếu bón thêm phân sẽ cho năng suất cao rõ rệt so với không bón

- Ngoài ra, duy trì lớp lá ca cao khô rụng kết hợp phủ gốc bằng rơm rạ mục…Để tăng thêm CHC và cải thiện độ màu mỡ của đất

- Bổ sung phân hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh 1- 2 kg/cây/năm

- Liều lượng phân hóa học (vô cơ) bón cho ca cao theo từng giai đoạn

Theo báo cáo của Ban điều phối phát triển ca cao Việt Nam (2010) cứ 1 tấn ca cao hạt khô tăng thêm trên ha cần được bón theem1000kg Urê = 100kg lân nung chảy +

150 kg KCL/ha Nếu dùng phân bón NPK hỗn hợp bón với các liều lượng để đạt được lượng dinh dưỡng như N, P2O5, K2O tương đương với phân đơn

- số lần bón: Phân nên chia ra bón nhiều lần để tăng hiệu quả sử dụng

Lần 1 (đầu mùa mưa): 30% phân urê, 30% phân kali

Lần 2 (giữa mùa mưa): 40% phân urê, 30% phân kali

Lần 3 (trước khi kết thúc mùa mưa 1 tháng): 30% phân urê, 40% phân kali

Bảng 1.3: Liều lượng phân bón cho 1 ha ca cao

Trang 22

- Tỉa cành tạo tán: Theo Nguyễn Thị Tuyết Mai, (2009) khâu tỉa cành là

công việc hết sức quan trọng giúp cây phát triển cân đối, cành vươn điều mợi hướng, tán lá thông thoáng để giảm thiểu sâu bệnh, chiều cao hợp lý dễ chăm sóc

cho cây

- Cây trồng từ hạt: Chỉ cần 1 thân chính, điều chỉnh tầng cành đầu tiên có

độ cao 1,5- 2m từ mặt đất Khi cây đã tạo tán, nên tỉa thông thoáng vùng thân chính,

và chung quanh điểm phân cành, để kích thích phát triển trái và han chế sâu bệnh

- Cây ghép: tỉa bỏ hoàn toàn các cành thứ cấp trong khoảng 1m cách mặt đất Khi cây vào giai đoạn kinh doanh do mầm ghép lấy từ cành ngang nên cây không phát triển tàng cành, mà phát triển theo dạng bụi có nhiều thân Các nhánh phụ ở phần gốc, cành bị che khuất hay mọc hướng xuống cần được tỉa bỏ để cây thông thoáng,hạn chế sâu bệnh và kích thích ra hoa, tiện chăm sóc

1.4 Điều kiện phát triển của cây ca cao

- Nhiệt độ: Theo Trần Văn Hoà và Nguyễn Ngọc Thành, (1988) nhiệt độ

bình quân hằng năm thích hợp nhất cho ca cao từ 25- 27OC ĐBSCL có nhiệt độ bình quân hàng năm là 27OC và nhiệt độ ít thay đổi giữa các tháng rất thích hợp

trồng ca cao

Khi nhiệt độ dưới 16°C có thể dẫn tới tình trạng các mầm nụ non bị thui chột, gây mất mùa Khi nhiệt độ tăng cao hơn ngưỡng thích hợp, làm lượng lá ra mỗi đợt sẽ giảm Điều tra ở Trinidad cho thấy nhiệt độ ban ngày là 20OC và ban đêm là 22OC thì diện tích lá cacao tăng đều, ở 31OC thì sự ra hoa bị khống chế, ở

27OC hoa cacao ra nhiều nhất (Trần Văn Hâu và ctv., 2004)

Cây ca cao thích hợp với khí hậu nhiết đới nóng ẩm mưa nhiều nhiệt độ trung bình 25-28 oC, nhiệt độ bình quân thích hợp nhất cho cây cacao là 25- 270C, giới hạn nhiệt độ tối đa trong khoảng 30- 320C và tối thiểu khoảng 18- 210C Cây bị thiệt hại nghiêm trọng khi nhiệt độ dưới 100C hoặc dưới 150C nếu kéo dài (Phòng NN&PTNT- Đạ Huoai, 2009)

Trang 23

- Ẩm độ: Ẩm độ không khí khoảng 85% là thích hợp cho sự phát triển của ca

cao Ở ĐBSCL, ẩm độ bình quân từ 71 – 89% nên đáp ứng khá tốt đòi hỏi của ca

cao về ẩm độ (Nguyễn Bảo Vệ và ctv, 2011)

- Lượng mưa: Theo Braudeau (1984), cho rằng mưa chỉ có thể được coi là

một yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề cung cấp nước cho cây ca cao Vùng có lượng mưa thấp vẫn có thể trồng được ca cao nhờ việc bổ sung nước bằng phuơng pháp

hợp lý

Lượng mưa trung bình 1.500mm/năm là thích hợp cho ca cao phát triển, ít nhất cũng khoảng 1.250mm/năm và cũng cần chia đều cho cả năm Tính trung bình mỗi tháng khoảng 100mm, nếu trong vòng hai tháng liên tiếp lượng mưa dưới 60mm thì trái ca cao sẽ bị teo nhỏ ảnh hưởng trưc tiếp tới sản lượng trái

Với những điều kiện tối ưu của đất, lượng mưa tối thiểu cho cây ca cao hàng năm phải đạt trung bình 1.250 mm Tốt nhất là vào khoảng 1.500 mm, cây ca cao có thể chịu nhập úng trong vài ngày và có thể sống trong điều kiện có lượng mưa hàng năm tới 5.000 mm, nhưng với điều kiện đất phải thoát nước tốt Lượng mưa lớn làm

cho cây dễ bị nhiễm bệnh, đặc biệt là bệnh thối trái (Nguyễn Bảo Vệ và ctv, 2011)

Nước: Ca cao có thể chịu ngập nhưng không chịu được úng, cây có thể chịu

được nước mặn dưới 0.4‰ dưới ao mương nhưng không được tưới lên gốc sẽ làm

cây giảm sức sống

Chế độ gió: Ca cao thích hợp với điều kiện không có gió mạnh thường xuyên

do lá ca cao có cuống dài, phiến lá rộng nên dễ bị tổn thương nhất là lá non Những vùng gió mạnh và kéo dài, nhất thiết phải trồng cây chắn gió (Phòng NN&PTNN

Đạ Huoai, 2009)

Ánh sáng: Theo Trần Văn Hâu và ctv., (2004) cây ca cao không phải là cây

ưa bóng râm tiêu biểu Nếu thức ăn khoáng bị hạn chế, năng suất tiềm lực tối đa sẽ thấp và chỉ đạt được dưới bóng mát, ánh sáng quá mạnh sẽ làm năng suất giảm (Braudeau, 1984) Nếu trồng cacao trong điều kiện không có bóng râm phải bảo

đảm tất cả các yếu tố ngoại cảnh khác đều tốt

Cacao là cây ưu ánh sáng tán xạ (50- 60% cường độ ánh sáng tự nhiên) Cây sinh trưởng dưới bóng râm do đó có thể trồng xen trong vườn dừa, điều, chuối, cây

ăn trái có tán thưa… Đối với các vườn điều, dừa, cây ăn trái, vườn tạp không hiệu quả có thể trồng xen cacao (Phòng NN&PTNN Đạ Huoai, 2009)

Trang 24

Đất đai: Theo Trần Văn Hoà và Nguyễn Ngọc Thành, (1988) ca cao rất mẫn

cảm với sự thiếu nước, thiếu oxy để vùng rễ hoạt động, không chịu được đất nhiễm

2009) Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv., (2011) cây cacao sẽ phát triển tốt nếu đất đạt

một số tính chất sau:

- Đất có khả năng giữ nước và thoát nước tốt

- Đất có Bề dày tầng mặt khoảng: 1,5m (nếu lượng mưa thấp) và 1m (nếu lượng mưa thích hợp)

- Tần mặt trong vòng 1m, không có tầng phèn hay lớp đá cứng để cho bộ

rễ phát triển tốt

- Đất không bị nhiễm mặn trong mùa nắng

- Mực thuỷ cấp dao động trong khoảng 0,5 – 0,8m

- Đất sét nặng hoặc đất cát không thích hợp cho cây ca cao vì không giữ được nước trong mùa khô

Tuy nhiên bằng biện pháp canh tác như bón vôi, bón phân hữu cơ…cây ca cao vẫn có thể sống tốt và cho năng suất cao trên vùng đất kém màu mỡ (Phòng NN&PTNN Đạ Huoai, 2009)

Ca cao là cây công nghiệp có nhiều triển vọng kinh tế, thị trường thế giới luôn có sẳn đầu ra ổn định (Phạm Hồng Đức Phước, 2003) Hạt có hàm lượng bơ cao từ 56-58% được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực Ca cao là nguyên liệu để sản xuất chocolate, ca cao bột, bánh kẹo, dược phẩm Vỏ ca cao dùng làm thức ăn cho gia súc và phân bón Do đặc tính có thể chịu được điều kiện bóng râm, việc trồng xen cây ca cao trong vườn dừa góp phần tận dụng tối đa diện tích đất trống, tăng thu nhập cho người dân tròng dừa, đồng thời khi lá ca cao rụng còn có tác dụng giữ ẩm cho đất và là nguồn cung cấp chất hữu cơ cho cây dừa Do đó, với khoảng 147.000

ha đất trồng dừa trên cả nước (Võ Văn Long, 2011) cây ca cao có tiềm năng phát triển rất lớn

Trang 25

Ở Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), Bến Tre là tỉnh có diện tích trồng dừa lớn nhất (35.000 ha) và cũng là tỉnh có phong trào xen canh ca cao, khôi phục vườn dừa mạnh nhất trong hai năm gần đây Việc phát triển mô hình ca cao xen canh trong vườn dừa góp phần đa dạng hóa mục đích sử dụng đất, khai thác có hiệu quả

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng không ít vườn dừa lâu năm có những dấu hiệu của sự suy kiệt chất dinh dưỡng, lý hóa sinh học Do đó, vấn đề được đặt ra là phải xác định được độ phì nhiêu đất và phát hiện những dưỡng chất thiếu hụt ảnh hưởng đến cây ca cao để tìm hướng khắc phục, duy trì và nâng cao độ phì nhiêu đất Xuất

phát từ tình hình thực tế đó, đề tài: “ Đánh giá tác động của phân bón vô cơ và hữu cơ đến việc cải thiện đặc tính lý hoá học đất vườn trồng cây cacao xen trong vườn dừa tại xã Mỹ Hòa huyện Mỏ Cày Bắc – tỉnh Bến Tre ” được thực hiện nhằm mục đích:

- Đánh giá hàm lượng dinh dưỡng đất trồng ca cao xen trong vườn dừa đầu

vụ

- Đánh giá tính chất vật lý của đất( sa cấu – dung trọng)

- Quản lý nguồn dinh dưỡng cân đối trong canh tác ca cao thông qua bố trí thí nghiệm bằng nghiệm thức

Từ đó định hướng những nghiên cứu tiếp theo để có thể đưa ra những biện pháp canh tác hợp lý giúp hạn chế sự suy thoái đất, nâng cao năng suất ca cao và tăng hiệu quả kinh tế cho nghề trồng ca cao cũng như các loại cây trồng khác ở Bến Tre nói chung và huyện Mỏ cày bắc nói riêng

1.5 Điều kiện đất đai

Địa hình: cây ca cao có thể phát triển trên nhiều địa hình và loại đất khác nhau, từ các vùng triền dốc, đất cát, đất phù sa ven sông, đất phù sa cổ bạc màu nếu

có bóng che, đầy đủ nước tưới và các yếu tố sinh thái khác thích hợp

Thực tế ở Việt Nam, cây ca cao được trồng ở vùng đất bằng hoặc dốc nhẹ, tầng đất sâu, cát pha hoặc đất rừng thoáng khí, giữ nước tốt và thoát nước tốt, hơi chua pH từ 5-8, tỷ lệ mùn cao (Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Tài Sum, 1996)

Khi lượng mưa nhiều và phân bố cả năm, đất phải thoát nước tốt, do đó, tỷ lệ sét trong đất phải thấp, khi lượng mưa thấp và thường bị hạn hán như ở Châu Phi thì

Trang 26

đất phải có khả năng giữ nước, trong điều kiện này đất phải có tỷ lệ sét từ 30 – 50%

(Trần Văn Hâu và ctv., 2004)

Theo Trần Văn Hoà và Nguyễn Ngọc Thành (1988) do ca cao rất mẫn cảm với sự thiếu nước và thiếu oxy cho vùng rễ bàng hoạt động ở gần mặt đất và ca cao không chịu được đất nhiễm mặn cho nên việc chọn đất cho ca cao trong điều kiện của ĐBSCL cần phải có các điều kiện sau:

- Bề dày tầng mặt trong vòng 1m trở lại không có tầng phèn hay lớp đá cứng

để cho hệ rễ phát triển tốt

- Đất không bị nhiễm mặn trong mùa nắng

- Mực thuỷ cấp dao động trong khoảng 0,5 – 0,8m cách mặt đất, không ngập úng để cho rễ bàng có nhiều oxy hơn

- Đất có pH 4,5 – 6,5

1.6 Tính chất vật lý

1.6.1 Thành phần cơ giới (sa cấu)

Thành phần cơ giới của đất (còn gọi là thành phần cấp hạt hay sa cấu đất) là hàm lượng phần trăm của những nguyên tố cơ học có kích thước khác nhau khi đoàn lạp đất ở trong trạng thái bị phá hủy (Trần Kông Tấu, 2005) Một định nghĩa khác, thành phần cơ giới là tỷ lệ phần trăm các cấp hạt cát, thịt, sét trong đất (Henry D.Foth, 1990)

Sa cấu đất liên quan đến kích thước của các phần tử hạt trong đất và nó biểu thị thành phần tương đối của các cấp hạt trong một loại đất Vì kích thước của các hạt đất luôn cố định, do đó nó được xem là một đặc tính cơ bản của đất

Việc phân loại đất theo thành phần cơ giới có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là ứng dụng trong sản xuất Nông dân khi canh tác trên đất đai đã biết phân ra : đất cát, đất cát pha, đất thịt, đất sét… vì mỗi loại như vậy lại thích hợp cho mỗi loại cây trồng nhất định

Qui trình phân tích các cấp hạt trong đất được gọi là “phân tích thành phần

cơ giới” (particle-size analysis), là sự xác định phân bố cấp hạt trong đất

Sa cấu đất (soil texture) có ý nghĩa quan trọng liên quan đến nguồn gốc phát

Trang 27

dưỡng Các tính chất đất như: độ xốp, khả năng giữ ẩm, tính thấm, khả năng giữ khí

và nhiệt cũng điều phụ thuộc vào sa cấu đất

Các hệ thống phân loại cấp hạt chính đang được sử dụng ở nước ta như sau:

Bảng 1.4: Hệ thống phân loại các cấp hạt theo hệ thống quốc tế

Trang 28

Bảng 1.5: Hệ thống phân loại các cấp hạt theo hệ thống USDA

Đất có thành phần cơ giới khác nhau sẽ có những tính chất khác nhau về lý, hóa học

và có cách canh tác và loại cây trồng khác nhau Do đó cần nhóm chúng lại theo những nhóm khác nhau sao cho các đất trong mỗi nhóm có cùng tính chất vật lý, cơ học và hóa học

Để phân tích phần trăm các cấp hạt trong đất người ta phải phá vỡ các mối liên kết giữa các hạt bằng lực cơ học và phương pháp hóa học Vì kích thước các hạt đất luôn cố định, do đó nó được xem là một đặc tính cơ bản của đất

Hiện nay Việt Nam có ba hệ thống phân loại đất đang sử dụng, phổ biến nhất là bảng phân loại đất của Liên Xô (cũ), của USDA và của FAO – UNESCO

Trang 29

Bảng 1.6: Phân loại đất theo thành phần cơ giới của quốc tế năm 1963 (Trần Văn Chính, 2006)

% Trọng lượng

2 – 0,02mm

Bụi 0,02 – 0,002mm

Sét 0,002 – 0,0002mm Cát Đất cát

Trang 30

Phân loại đất theo thành phần cơ giới của Mỹ (theo Soil Taxonomy) Hình 1.3 Sơ đồ xác định thành phần cơ giới đất của USDA

(Nguồn: Soil information for environmental modeling and ecosystem management)

Trong đó:

1 Đất sét (Clay)

2 Đất sét pha cát (Sandy clay)

3 Đất sét pha thịt (Silty clay)

4 Đất thịt trung bình pha sét (Silty clay loam)

5 Đất thịt nhẹ pha sét (Clay loam)

6 Đất thịt nhẹ pha sét và cát (Sandy clay loam)

7 Đất thịt pha cát (Sandy loam)

8 Đất thịt nhẹ (Loam)

9 Đất thịt trung bình (Silt loam)

10.Đất thịt nặng (Silt)

Trang 31

- Thành phần cơ giới thô (nhẹ), khe hở giữa các hạt lớn nên thoát nước dễ, thấm nước nhanh nhưng giữ nước kém (dễ bị khô hạn)

- Thoáng khí, vi sinh vật háo khí hoạt động mạnh làm cho quá trình khoáng hóa chất hữu cơ và mùn xảy ra mãnh liệt Vì vậy đất cát thường nghèo mùn

- Đất cát nóng nhanh, lạnh nhanh gây bất lợi cho cây trồng và vi sinh vật

- Ðất cát khô, rời rạc, dễ cày bừa giảm công làm đất, nhưng nếu mưa to hay tưới ngập, đất thường bị lắng rẽ, bí chặt

 Đất sét

Ðất sét là loại đất trong đó cấp hạt sét chiếm tỷ lệ cao, ngược lại tỷ lệ cát thấp hoặc không có (Trần Văn Chính, 2006) Theo phân loại của USDA đường kính cấp hạt sét < 0,002 mm (Trần Bá Linh, 2008) Theo Trần Văn Chính (2006), khi xét về đất sét ta cần lưu ý đến trạng thái kết cấu của đất Nếu đất sét không có kết cấu hay kết cấu kém thì có những đặc tính sau:

- Hạt sét bé nên khe hở giữa chúng nhỏ do đó đất khó thấm nước nhưng giữ nước tốt, tuy nhiên đất lại thoát nước kém

- Đất sét có biên độ thay đổi nhiệt độ thấp hơn đất cát

- Ðộ thoáng khí thấp nên dễ gây ra glây hoá, xác hữu cơ phân giải chậm, lượng chất hữu cơ tích luỹ nhiều hơn

- Đất sét có sức cản lớn, cứng chặt, nức nẻ khi bị khô hạn

Tuy nhiên, nếu đất sét chứa nhiều chất hữu cơ trở nên có kết cấu tốt thì lại là một loại đất lý tưởng nhờ khả năng cung cấp chất dinh dưỡng, nước, không khí khi được cải thiện thỏa mãn cho cây trồng

 Đất thịt

Trang 32

Đất thịt là đất trung gian giữa đất sét và đất cát có đường kính cấp hạt từ 0,02 – 0,053 mm Đất thịt nhẹ và đất thịt trung bình nhìn chung có chế độ nước, nhiệt không khí thuận lợi cho canh tác cũng như các tiến trình lý hóa xảy ra trong đất

Công thức tính dung trọng:

Pb = (Wov – Wr)/Vr

Trong đó: Pb: dung trọng khô của đất, (g/cm3)

Wov: khối lượng đất và ring sau khi sấy khô ở 105oC, (g)

Wr: khối lượng của ring,(g) Vr: thể tích ban đầu của dụng cụ lấy mẫu, (cm3)

Như vậy dung trọng của đất thường nhỏ hơn so với tỷ trọng vì thể tích đất khô kiệt được xác định ở đây bao gồm cả các hạt đất rắn và các khe hở tự nhiên có trong đất

Trang 33

Bảng 1.7: Thang đánh giá dung trọng (Viện Thổ Nhưỡng Nông Hóa, 1998)

0,9 -1,2 Đất canh tác gần đây, đất mới xới xáo

<1,2 -1,4 Đất canh tác lâu đời, hạn chế bộ rễ phát triển

Các biện pháp canh tác, kỹ thuật canh tác khác nhau sẽ có tác dụng thay đổi dung trọng đất Với hệ thống cây trồng tăng cường chất hữu cơ cho đất như trồng xen canh, luân canh, sử dụng cây họ đậu, bón phân hữu cơ…sẽ làm giảm dung trọng đất, đặc biệt là dung trọng lớp đất mặt

1.7 Một số đặc tính hoá học

1.7.1 pH

Theo Ngô Ngọc Hưng và ctv., (2004) pH đất là chỉ tiêu đánh giá rất quan

trọng, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng , vi sinh vật đất, vận tốc phản ứng sinh hoá trong đất Độ hữu dụng của dưỡng chất trong đất, hiệu quả của phân bón cũng phụ thuộc rất nhiều vào độ chua của đất

Ca cao chịu được trên vùng có pH từ 5 - 8 nhưng tối ưu khoảng 5,5 – 6,7 (Phạm Hồng Đức Phước, 2004)

Một loại đất rất axit có pH thấp, đất này ít Ca và Mg trao đổi, các chất Al, Fe,Mn và Bo hoà tan nhiều, Mo ít hoà tan, độ hữu dụng của N va P thấp Một loại đất kiềm có pH cao, đất này có nhiều Ca và Mg và Mo, ít Al, độ hữu dụng của N cao (Trần Thành Lập, 1999)

Đất có pH khoảng 6 – 7 là tốt nhất vì ở mức pH này có sự hữu dụng tối đa của

chất dinh dưỡng (Ngô Ngọc Hưng và ctv., 2004)

Trang 34

1.7.2 EC (độ mặn)

EC là độ dẫn điện của đất, biểu thị trực tiếp hoặc gián tiếp nồng độ muối hoà tan trong dung dich đất Không chỉ có đất mặn mới có lượng muối hoà tan cao, mà trong đất phèn với sự cộng tác của axit vào khoáng sét, nồng độ muối có thể cao và gây độc cho cây trồng (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)

Cây ca cao có thể trồng được ở những vùng đất nhiễm mặn nhẹ (lợ), với độ mặn từ 1.4 – 20‰ (Bùi Thanh Liêm Phòng NN và PTNT huyện Giồng Trôm)

Độ mặn trong đất làm cản trở quá trình hút nước và dinh dưỡng của cây trồng, giảm lượng nước hữu dụng trong đất, phá huỷ cấu trúc đất (Tất Anh Thư, 2006)

1.7.3 Chất hữu cơ

Chất hữu cơ có liên quan chặt với đạm tổng số trong đất (Setevenson, 1982) nhưng đạm hữu dụng lại tương quan không cao với chất hữu cơ hoặc đạm tổng số

trong đất (Sims và ctv., 1967 và Cassman và ctv.,1996) Chất hữu cơ còn là nhân tố

tham gia tích cực vào việc chuyển hoá lân trong đất từ dạng khó tiêu sang dạng dễ

tiêu hữu dụng cho cây trồng (Nguyễn Thị Thuý và ctv., 1997) và chất hữu cơ còn

phát huy tác dụng của chất điều hoà tăng trưởng sinh ra trong đất (Hoàng Minh Châu, 1998)

Tóm lại, chất hữu cơ sau khi phân huỷ sẽ cung cấp các chất dinh dưỡng như N,

P, K và các khoáng vi lượng, vitamin, chất kích thích sinh trưởng cho cây trồng Chất hữu cơ với thành phần khó phân huỷ là mùn còn góp phần làm giảm dung trọng đất, tăng độ xốp, tăng cường cấu trúc đất và làm tăng tính đệm của đất nhờ đặc tính keo của chất mùn

- Carbon hữu cơ dễ phân hủy

Carbon dễ phân hủy ảnh hưởng mạnh tạo nên chất hữu cơ mới cung cấp cho cây hằng niên và có vai trò quan trọng trong việc cung cấp N và ảnh hưởng đến hoạt động và sinh khối vi sinh vật trong đất

Vi sinh vật có khả năng phóng thích ra N hữu dụng cho cây trồng Sự phóng thích ra N từ chất hữu cơ dễ phân hủy được thể hiện ở tỷ lệ C/N ở khoảng 22/1 Chất cặn bã cao có thể làm tăng tỷ lệ C/N trong hợp chất dễ phân hủy và đưa đến bất động N làm cho cây trồng không hấp thu được

Trang 35

Khi carbon dễ phân hủy tái tạo tương đối nhanh, nó được coi như là một chất làm thay đổi chất lượng và chức năng của chất hữu cơ hơn so với carbon tổng Sự đóng góp của thành phần carbon dễ phân hủy vào chất hưu cơ tổng làm ảnh hưởng đến độ màu mỡ của đất

1.7.4 CEC (khả năng trao đổi cation)

Dung tích hấp phụ cation (CEC) hay còn gọi là khả năng trao đổi cation của đất càng cao chứng tỏ đất có khả năng giữ và trao đổi tốt các dưỡng chất (Đỗ Thị Thanh Ren, 1993) Đất ở ĐBSCL thường chứa nhiều sét và ít hữu cơ nên dung tích hấp phụ thuộc loại trung bình đến khá (Ngô Ngọc Hưng, 2004)

Theo Võ Thị Gương và ctv., (2004) khả năng hấp phụ cation của đất phụ thuộc

vào nhiều yếu tố như thành phần khoáng sét, hàm lượng chất hữu cơ, pH đất, sự phát triển của đất, tuỳ thuộc vào loại đất mà có trị số CEC khác nhau, đất cát có CEC thấp, kế đến là đất sét, đất hữu cơ có CEC cao nhất

pH và CEC có liên quan mật thiết với nhau, khi pH tăng thì CEC tăng do một

số keo đất có diện tích thay đổi sẽ tích điện âm trong điều kiện pH cao, do đó khả năng hấp phụ cation cao pH thấp thì khả năng trao đổi cation thấp do các keo đất có tích điện thay đổi theo điện tích dương

1.7.5 Lân (P)

Hàm lượng lân trong đất thường thấp hơn đạm và kali Nguyên tố P không ở dạng tự do trong đất, nó kết hợp tự phát với oxy để tạo ra P2O5, với nước để tạo ra các orthophosphoric (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004)

So với các chất dinh dưỡng đa lượng khác thì nồng độ chất P trong dung dịch đất rất thấp thường trong khoảng 0,001 mg/l trong đất có độ phì kém và khoảng 1

mg/l trong đất có độ phì nhiêu cao (Brady và ctv., 2004)

Lân trong đất gồm lân hữu cơ và lân vô cơ, hàm lượng lân vô cơ trong đất thường cao hơn lân hữu cơ ngoại trừ các loại đất hữu cơ Lân hữu cơ thường chiếm

từ 20-80% lân tổng số Hàm lượng P vô cơ gia tăng theo chiều sâu phẩu diện đất (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004) Tuy nhiên, người ta thường phân biệt lân trong đất dựa vào lân dễ tiêu và lân tổng số

Lân tổng số cho ta biết được tổng lượng lân trong đất mà không cho biết khả năng cung cấp lân cho cây trồng Lân trong đất có thể không hữu dụng cho cây trồng khi nó tồn tại dưới dạng hợp chất khó tan như phosphate sắt, nhôm Hàm

Trang 36

lượng P tổng số biến thiên trung bình từ 0,02 – 0,15% P2O5 Đất vùng ĐBSCL nhìn chung nghèo P tổng số, hàm lượng P trung bình của các nhóm đất chính khoảng 0,06% P2O5 Trong hầu hết các loại đất, lượng lân hữu dụng cho cây trồng

từ dung dịch đất rất thấp, theo Bùi Hữu Trí và Moormann (1959) hàm lượng lân hữu dụng chủ yếu khoảng 0,1 – 0,2% P2O5

Lân dễ tiêu trong đất là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá độ phì của đất Nếu hàm lượng lân dễ tiêu cao thì đất có khả năng cung cấp lân rất nhanh

và việc hút thu lân của bộ rễ cây trồng được thuận lợi (Lê Văn Can, 1985) Độ hữu dụng của lân trong đất đạt tối đa trong khoảng pH từ 5,5 – 7,0 Độ hữu dụng của lân giảm khi pH< 5,5 và pH > 7 (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004)

sự phát triển của thân lá Cây được cung cấp đạm đầy đủ thân lá và chồi phát triển tốt, bộ rễ cân đối hơn so với cây thiếu N (Ken, 2001)

Hàm lượng đạm trong đất còn tuỳ thuộc vào hàm lượng chất hữu cơ, đất giàu mùn thì nhiều đạm 80% đạm tổng số trong đất ở dạng hợp chất hữu cơ nhờ khoáng hóa và tác động của vi sinh vật chuyển thành NH4+ cây mới hút được (Broadbent, 1978)

Đạm rất cần thiết để tăng năng suất cây trồng, trong đất N hữu dụng chỉ có thể đến từ hai nguồn chủ yếu : phân bón bổ sung từ con người và dạng khác là do sự chuyển đổi vật chất N trong đất thành dạng hữu dụng dưới tác động của vi sinh vật

Ở ĐBSCL đất phèn có hàm lượng N tổng số cao nhất, thường lớn hơn 0.20% Đất phù sa có hàm lượng N từ trung bình đến khá Đạm là yếu tố giới hạn năng suất chủ yếu trên đa số các loại đất và cây trồng ở ĐBSCL

1.7.7 Kali

Trang 37

Kali là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây ca cao trong giai đoạn trưởng thành (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2011), kali giúp tăng cường các sản phẩm quan hợp trong cây về nơi dự trữ vì vậy giúp gia tăng phẩm chất

Sau đạm và lân thì kali là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng thứ ba đối với cây trồng (Đỗ Ánh, 2002) Hàm lượng kali trong đất biến thiên từ 0.2 - 0.4% Đất ĐBSCL thấy giàu K tổng số 1.70 - 0.22% (Vũ Cao Thái, 2000) Theo Nguyễn Mỹ Hoa (2000), hàm lượng K tổng số trên đất ĐBSCL là 1.41 – 1.91% K2O Các loại đất ĐBSCL thường có K trao đổi khá và lượng K này luôn được bồi đắp bởi K dồi dào trong đất (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)

1.7.8 Natri

Natri (Na) không là chất cần thiết cho cây và nó không cần thiết cho sự phát triển cây trồng Hàm lượng cation Na+ cao trong đất là vấn đề cần được quan tâm Nồng độ Na cao thì gây hại cho đất và cây trồng

Theo Herrare (1999), trong đất có Na trao đổi xuất hiện 20% là đất Na cao (đất sodic) và có thể được phục hồi nếu Na được thay thế bởi các nguyên tố khác thường

là Ca Bón Gypsum và axit sunfuric thì tốt cho việc phục hồi đất có nồng độ Na cao

1.7.9 Calcium

Calcium có ảnh hưởng đến việc hình thành màng tế bào, cần thiết cho việc hình thành hệ thống rễ, làm giảm độ thấm của màng tế bào, làm giảm việc hút nước của cây (Đỗ Thị Thanh Ren, 2004) Calcium được cây trồng hấp thu dưới dạng Ca2+ hữu cơ (Western Agricultural Laboratories, 2002)

Ca rất cần thiết cho sự tăng trưởng của cây trồng, hàm lượng trong cây thay đổi khoảng 0,1-0,5% trọng lượng khô,tuỳ thuộc và điều kiện sinh trưởng, loại cây trồng và cơ quan của cây (Ngô Ngọc Hưng và ctv., 2004)

Theo Ngô Ngọc Hưng và ctv., (2004) nồng độ Ca của bề mặt trái đất và khoảng 3.64% hàm lượng Ca tuỳ theo loại đất: đất cát có hàm lượng rất thấp, đất kiềm có cacbonate calci tự do có hàm lưọng Ca biến động từ 0.7-01.5%, các loại đất phong hoá mạnh chứa Ca ít hơn vào khoảng 0.1-0.3%

Ca trong đất có thể bị mất đi do thoát thuỷ, được các vi sinh vật hấp thu xung quanh các phần tử sét hoặc tái kết tủa dưới dạng hợp chất Ca thứ sinh

1.7.10 Magnesium

Trang 38

Mg có vai trò thúc đẩy hấp thụ và vận chuyển lân trong cây, giúp đường vận chuyển dễ dàng trong cây, giúp hạt ca cao đạt hàm lượng đường cao Bên cạnh đó,

sự cân đối giữa Ca và Mg rất quan trọng Sự gia tăng chất này sẽ ảnh hưởng đến việc hấp thu chất kia

Mg có vai trò quan trọng đối với cây trồng: nằm trong thành phần cấu tạo nên diệp lục tố, giữ được khoảng pH thích hợp với hoạt động sinh lý của cây, có vai trò quan trọng trong việc tổng hợp protein, ATP…( Đỗ Thị Thanh Ren, 2004)

Theo Ngô Ngọc Hưng và ctv., (2004) hàm lượng Mg trong đất biến thiên từ 0.1-3.0%, Mg có hàm lượng thấp trên các loại đất cát thô và cao trên các loại đất có

Hàng năm lượng Mg rử trôi trên các loại đất vào khoảng từ 20-40 kg MgO/ha/năm Đất có sa cấu nhẹ dễ mất Mg hơn đất có sa cấu mịn, bón nhiều KCL thường làm giảm tỉ lệ Mg trong cây, vì vậy cần chú ý xây dựng chế độ bón phân,

nhất là cây có nhu cầu kali cao (Ngô Ngọc Hưng và ctv., 2004)

Ngoài dinh dưỡng đa lượng (N, P, K), trung lượng (Ca, Mg) nêu trên thì vi lượng cũng không kém phần quan trọng cho sự phát triển của ca cao

- Kẽm (Zn): Cây cần lượng rất nhỏ nhưng rất cần thiết Cây thường hay thiếu kẽm nên phải điều chỉnh kịp thời Thiếu kẽm các lá và chồi đầu cành không phát triển tốt (rụt đọt), lá không thể nở lớn

- Bo: cây cũng thường hay thiếu chất này, mặc dù cây cần lượng rất ít Cây thiếu Bo có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và sinh trưởng của cây Dư thừa Bo có thể cây bi ngộ độc

- Clor: chất này ảnh hưỏng xấu đến ca cao Để tránh cây bị ngộ độc, không nên

sử dụng KCL mà nên sử dụng sulphate kali

Cây ca cao có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau tuỳ từng giai đoạn sinh trưởng,

Ngày đăng: 12/04/2018, 21:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w