1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ một số đặc TÍNH vật lý đất vườn TRỒNG MĂNG cụt ở cái RĂNG và PHONG điền TP cần THƠ

58 175 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 490,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuTRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT & QLĐĐ TRẦN VĂN TUY ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC T

Trang 1

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT & QLĐĐ

TRẦN VĂN TUY

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC TÍNH VẬT LÝ ĐẤT VƯỜN TRỒNG MĂNG CỤT Ở CÁI RĂNG

VÀ PHONG ĐIỀN - TP.CẦN THƠ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH KHOA HỌC ĐẤT

Cần Thơ - 2009

Trang 2

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn:

“ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC TÍNH VẬT LÝ ĐẤT VƯỜN TRỒNG MĂNG

CỤT Ở CÁI RĂNG VÀ PHONG ĐIỀN-TP.CẤN THƠ”

là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ tài liệu nghiên cứu nào trước đây

Tác gi ả Luận văn

Trần Văn Tuy

Trang 3

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT & QLĐĐ

Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài:

“ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC TÍNH VẬT LÝ ĐẤT VƯỜN TRỒNG MĂNG

CỤT Ở CÁI RĂNG VÀ PHONG ĐIỀN-TP.CẤN THƠ”

Do sinh viên Trần Văn Tuy thực hiện và đề nạp

Ý kiến đánh giá của cán bộ hướng dẫn: -

-

-

-

-

-

-

- Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét

C ần Thơ, ngày … tháng … năm 2009

Cán b ộ hướng dẫn

Ths Tr ần Bá Linh

Trang 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT & QLĐĐ

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn đính kèm với đề tài :

“ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC TÍNH VẬT LÝ ĐẤT VƯỜN TRỒNG MĂNG

CỤT Ở CÁI RĂNG VÀ PHONG ĐIỀN-TP.CẤN THƠ”

Do sinh viên Trần Văn Tuy thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng Ngày … tháng … năm 2009

Luận văn được đánh giá ở mức : -

Ý kiến Hội đồng : -

-

-

-

-

-

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2009 CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG Duyệt Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng CHỦ NHIỆM KHOA

Trang 5

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

* PHẦN I: LÝ LỊCH

Ø Họ và tên: TRẦN VĂN TUY

Ø Sinh ngày: 10 tháng 06 năm 1985, tại Long Mỹ Hậu – Giang

Ø Nguyên quán: Ấp 6 – Xã Long Trị – Huyện Long Mỹ – Tỉnh Hậu Giang

Ø Họ và tên Cha: TRẦN VĂN TÔN

Ø Họ và tên Mẹ: NGUYỄN THỊ XÊ

* PHẦN II: QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN

Ä Năm 1992-1997: học Tiểu học Trường Tiểu học Long Trị II

Ä Năm 1997-2001: học Trung học cơ sở Trường THCS Long Trị I

Ä Năm 2001-2004: học Trung học phổ thông Trường THPT Long Mỹ

Ä Năm 2005-2009: học Đại học Trường Đại học Cần Thơ Ngành Khoa Học Đất - Khóa 31 (2005-2009), Khoa Nông nghiệp & Sinh học ứng dụng và đã tốt nghiệp Kỹ sư Ngành Khoa Học Đất vào tháng 06/2009

* PHẦN III: ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

F Số nhà 62, Ấp 6 – Xã Long Trị – Huyện Long Mỹ – Tỉnh Hậu Giang

F Điện thoại: 0973623232

Trang 6

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Lời đầu tiên Tôi xin gởi lời tri ơn sâu sắc đến Cha, Mẹ

Tôi xin ghi ơn Ths Thầy Trần Bá Linh đã tận tình hướng dẫn, động viên tinh thần, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành bài luận văn này Chúc Thầy sức khỏe và thành công

Chân thành biết ơn cô Nguyễn Mỹ Hoa là cố vấn học tập của lớp Khoa học Đất - Khóa 31 đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt khóa học Chúc Cô nhiều niềm vui và sức khỏe

Xin gởi lời biết ơn nhất đến quý Thầy Cô trong Bộ môn Khoa học Đất và Quản lý Đất đai, quý Thầy Cô Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian tôi học tập tại Trường Kính chúc quí thầy cô luôn được nhiều niềm vui và công tác tốt

Xin cảm ơn các cô bác nông dân ở huyện Phong Điền-TP.Cần Thơ đã nhiệt tình giúp đỡ, trả lời phỏng vấn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện tốt đề tài Chúc các cô bác sức khỏe và được mùa

Xin cám ơn anh Ngô Thiện Nhựt và anh Hiền (Bộ môn Khoa học Đất và QLĐĐ, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ) đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài Chúc các anh nhiều thành công và hạnh phúc

Tôi thân gởi lời chúc sức khỏe – thành đạt nhất đến tất cả các bạn lớp Khoa Học Đất Khóa 31, những người bạn đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập Chúc các bạn được nhiều sức khỏe và thành công trên con đường học vấn của mình

Trân trọng kính chào !!!

Trang 7

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu “ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC TÍNH VẬT LÝ ĐẤT VƯỜN TRỒNG MĂNG CỤT Ở CÁI RĂNG VÀ PHONG ĐIỀN-TP.CẦN THƠ” được thực hiện nhằm đánh giá các đặc tính vật lý, hóa học đất giữa 3 độ tuổi liếp vườn trồng măng cụt trên đất phù sa ven sông tại Cái Răng và Phong Điền-TP.Cần Thơ Kết quả điều tra cho thấy rằng, vùng đất này đã canh tác măng cụt rất lâu đời từ những năm 1930 Trong canh tác nông dân sử dụng rất nhiều phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật cho vườn trồng măng cụt mà không bón phân hữu cơ, phân xanh và vôi Trên đất thâm canh măng cụt nông dân có tập quán trồng xen canh với cây trồng khác đối với măng cụt có độ tuổi liếp < 40 năm tuổi Đối với vườn trồng măng cụt có độ tuổi liếp vườn 40-60 năm tuổi và vườn >60 năm tuổi thì nông dân trồng chuyên một loại cây măng cụt Kết quả nghiên cứu cho thấy, đất trồng măng có độ tuổi càng cao có các trị số dung trọng, độ xốp, hệ số thấm nước, lượng nước tối đa mà đất giữ được, độ bền đoàn lạp ở các tầng đất đều được đánh giá ảnh hưởng đến chất lượng đất Đất thâm canh măng cụt có độ tuổi cao >60 năm tuổi có dung trọng cao,

độ bền đoàn lạp thấp, độ xốp thấp Nguyên nhân là do quá trình thâm canh đã diễn ra liên tục trong thời gian dài làm cho các tính chất vật lý bị thoái hóa

Trang 8

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang phụ bìa

1.3 CÁC TÍNH CHẤT VẬT LÝ ĐẤT ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRƯỞNG CÂY MĂNG CỤT

6

Trang 9

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.3.4 Tỷ trọng 1.3.5 Dung trọng 1.3.6 Độ xốp 1.3.7 Hệ số thấm K sát 1.3.8 Lượng nước hữu dụng 1.3.9 Tính dính của đất 1.3.10 Tính dẻo của đất

1.4.3 Ảnh hưởng của chất hữu cơ đến độ phì vật lý 17

1.4.4 Ảnh hưởng vườn nhiều năm tuổi đến các tính chất vật lý 19

CHƯƠNG II: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

Trang 10

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

3.1 Tổng quan tình hình canh tác cây măng cụt tại điểm các nghiên cứu 24

Trang 11

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

DANH SÁCH HÌNH

1.2 Sự chuyễn hóa chất hữu cơ trong đất (Dương Minh Viễn, 2003) 19

3.1 Đồ thị dung trọng giữa các tầng đất của 3 độ tuổi liếp vườn 27

Trang 12

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.6 Quan hệ giữa dung trọng đất với thành phần cơ giới và thành phần

vật liệu cấu tạo ở một số loại đất (Trần Văn Chính,2006)

12

1.7 Giá trị dung trọng của một số loại đất thích hợp với cây trồng (Trần Kông Tấu, 2005)

13

1.9 Đánh giá độ xốp đất theo N.A.Karchinski, 1965 (trích trong Bài

giảng Phì Nhiêu Đất và Phân Bón của Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)

Thành phần cơ giới của vùng nghiên cứu Giá trị pH của đất khu vực nghiên cứu Giá trị EC (mS/cm) các tầng đất giữa 3 độ tuổi liếp vườn

Tỷ trọng các tầng giữa 3 độ tuổi vườn

Khả năng giữ nước lớn nhất của đất ở vùng nghiên cứu Tính thấm nước của đất vùng nghiên cứu

Trang 13

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

MỞ ĐẦU

Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất nông nghiệp chiếm tỉ lệ cao nhất

và là nơi xuất khẩu cây ăn trái lớn nhất cả nước Mô hình trồng cây ăn trái ở Đồng bằng sông Cửu Long được hình thành từ lâu đời tập trung ở vùng ven sông Tiền và sông Hậu

Ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện còn một số vườn măng cụt với diện tích khoảng 0,05-3 ha, tuổi vườn thường trên 30 năm, chủ yếu là vườn tạp và được canh tác chủ yếu theo tập quán cũ chưa ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Do đó, chất lượng măng cụt chưa tốt và sản lượng nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường trong và ngoài nước (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 2000)

Măng cụt là một cây trồng có tuổi đời cao, trồng khoảng 6-10 năm mới cho trái, măng cụt có giá trị kinh tế cao Nhằm mục đích bảo tồn tài nguyên đất nên đề

tài “ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC TÍNH VẬT LÝ ĐẤT VƯỜN TRỒNG MĂNG

CỤT Ở CÁI RĂNG VÀ PHONG ĐIỀN-TP.CẦN THƠ” được thực hiện nhằm

đánh giá giữa 3 độ tuổi vườn khác nhau về các đặc tính như dung trọng, tỷ trọng, độ xốp, độ bền đoàn lạp, khả năng giữ nước Thông qua kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học khuyến cáo ngành nông nghiệp và nông dân quản lý và sử dụng đất một cách hợp lý và hiệu quả

Trang 14

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA VÙNG NGHIÊN CỨU 1.1.1 Vị trí địa lý

Thành phố Cần Thơ nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích

tự nhiên 1.390km2, bên bờ tây sông Hậu, cách biển Đông 75 km, cách thủ đô Hà Nội 1.877 km và cách thành phố Hồ Chí Minh 169 km về phía bắc (theo đường bộ) Phía bắc giáp tỉnh An Giang và Đồng Tháp, phía nam giáp tỉnh Hậu Giang, phía tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía đông giáp tỉnh Vĩnh Long và Đồng Tháp

Cái Răng và Phong Điền là huyện ven thành phố Cần Thơ, được thành lập theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 2-1-2004 của chính phủ Cái Răng và Phong Điền có vị trí như sau phía bắc giáp quận Ô Môn và quận Bình Thủy, phía đông giáp quận Ninh Kiều, phía tây giáp huyện Cờ Đỏ, phía nam giáp tỉnh Hậu Giang

Với diện tích là 182,01 km2, dân số 179.913 người, đơn vị hành chính gồm

có 7 phường và 6 xã

1.1.2 Địa hình (topography)

Cái Răng và Phong Điền nằm ở khu vực bồi tụ phù sa nhiều năm của sông

Mê Kông, có địa hình đặc trưng cho đa dạng địa hình đồng bằng Nơi đây có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt

Mùa mưa từ tháng 05 đến tháng 11, gió mùa Tây Nam Nhiệt độ trung bình các tháng mùa mưa thường từ 26 đến 27 độ Mưa tập trung trong các tháng 9,10 trung bình lượng mưa phổ biến trong tháng từ 220 mm đến 420 mm Các tháng cuối mùa gây ngập úng trên diện rộng do lượng mưa lớn và lũ thượng nguồn đổ về

Trang 15

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.1.4 Đất đai

Với 84,6% diện tích đất tự nhiên là đất vườn và ruộng, phát triển nông nghiệp chất lượng cao luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của Cái Răng và Phong Điền Huyện đã đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi bằng cách tăng cường những cây con có giá trị kinh tế cao; phát triển các mô hình luân canh hiệu quả như 2 lúa-1 màu, lúa-cá Nhờ đó, đến nay, toàn huyện có hơn 420 ha đất nông nghiệp cho thu nhập từ 50 triệu ha trở lên (www.chinhphu.ogv.vn)

Đặc biệt, do có điều kiện thổ nhưỡng phù hợp, những vườn cây ăn trái của Cái Răng và Phong Điền luôn sum xuê tươi tốt Phát huy lợi thế này, trong thời gian qua, Cái Răng và Phong Điền đã chú trọng khôi phục, phát triển kinh tế vườn thông qua việc vận động nông dân trồng các loại cây ăn quả phù hợp, tổ chức nhiều lớp tập huấn, chuyển giao kỹ thuật cho bà con để cải tạo các vườn cây ăn quả bị suy thoái

Ngoài các cây ăn quả chính là cam, sầu riêng, chanh, vú sữa Cái Răng và Phong Điền còn nổi tiếng với sản phẩm cam mật và dâu Hạ Châu Trong đó, đặc sản cam mật đang có xu hướng được tái đầu tư, khôi phục diện tích hơn 2.000 ha Cây măng cụt là một loại cây trồng với tuổi thọ rất cao và đem lại kinh tế cao cho Cái Răng và Phong Điền, vì thế cho nên đã và đang được Huyện đầu tư nghiên cứu

sự hình thành và phát triển của nó trên vùng đất vàng này

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂY MĂNG CỤT 1.2.1 Nguồn gốc và phân bố cây măng cụt

Có thể nói nguồn gốc của cây măng cụt là ở Đông Nam Á, có lẽ là vùng Arehipelgado của Malaysia và những vùng xích đạo kế cận Indonesia (Erickson và Atmowidjoj, 2001) Hầu hết các giống măng cụt hiện nay đều bắt nguồn từ một dòng, mặc dù nó được trồng từ hạt (Horn,1940; Hume,1947)

Trên thế giới nước trồng măng cụt nhiều nhất là Thái Lan, Campuchia, Indonesia, Philippines, Ấn Độ, Srilanca (Vũ Công Hậu, 2000) Ngoài ra măng cụt còn tìm thấy ở Autralia, Brazil, Burma, các nước Trung Mỹ, Hawaii, Malaysia, Việt Nam và các nước nhiệt đới khác (Erickson và Atmowdjoj, 2001)

Ở Việt Nam, măng cụt được trồng tập trung tại các vườn cây ăn quả ở Lái Thiêu, Bình Dương với diện tích khoảng 0.5-2.0 ha và được trồng cách nay 40 năm Hiện nay Đồng bằng sông Cửu Long còn rải rác một số vườn với diện tích khoảng 0.05-3.00 ha và được trồng cách đây trên 30 năm (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999)

Trang 16

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Nguyễn Ngọc Ẩn (1999) cho biết măng cụt được trồng nhiều ở các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bến Tre, Vĩnh Long và Thành Phố Hồ Chí Minh

Măng cụt (Garcinia mangosteen Linn) thuộc họ Guttiferae đây là hai họ lớn

có tới 35 giống và hơn 800 loài thuộc lục địa nhiệt đới có hai loài ở Việt Nam là G morella và G loureiti (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999)

Măng cụt Đồng bằng sông Cửu Long sau 30 năm trồng thường cao 6-8 m và cho tán rộng 6-10 m (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999)

Đất trồng măng cụt thích hợp nhất thường là có ẩm độ cao trên 80%, lượng mưa trên 1.200mm/năm, nhiệt độ khoảng 25-35oC nếu dưới 20oC cây ngưng phát triển Măng cụt thích hợp loại đất phì nhiêu, sét pha cát giữ được nước không bị ngập úng, lớp đất mặt dày 2m, pH=5-6, không nhiễm phèn nhiều Đất sét sẽ làm cho tán cây xum xuê, dáng cây thẳng đứng, vỏ quả mỏng, trọng lượng ít nhưng ngọt (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999)

1.2.2 Đặc điểm sinh học cây măng cụt

Hume (1950), Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng (1999) cho rằng rễ cây măng cụt yếu, không có lông hút Theo Verheij và Coronel (1992) cây măng cụt phát triển chậm biểu thị một hệ thống rễ yếu ớt bởi vì nó không có lông hút Dưới những điều kiện thuận lợi rễ mầm sẽ mọc ở một bên của hạt còn thân sẽ mọc ở phần đối diện bên kia hạt Bordeaut và Moreuil (1970) mô tả sự phát triển của hệ thống rễ măng cụt ở Ivory Coast như sau ở cây măng cụt cao 3-8 m, đường kính tán 2-5 m rễ chỉ ăn sâu xuống đất từ 5-30 cm Rễ dài nhất không lan rộng hơn 1 m kể từ thân chính

Cây măng cụt là loại cây có dáng trung bình, đẹp Khi trưởng thành cây cao khoảng 10-25 m với đường kính thân 25-30 cm (Trần Thượng Tuấn và ctv 1994) Dáng cây thẳng đứng và vững chắc, tán hình chóp nón, cành từ thân đâm ra với một bán kính đồng đều (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999) Các cành trên thân cách đều nhau, gốc cành và thân to, đầu cành hơi rũ xuống (Vũ Công Hậu, 2000) Cây tăng trưởng chậm nhưng là một trong những loại cây có đời sống dài nhất, vỏ cây có màu nâu đen hoặc đen, nhăn và có khuynh hướng như muốn tách ra khỏi thân (Yacoob và Tindall, 1995)

Lá măng cụt là loại lá đơn to, hình bầu dục hơi dài, lá dày, mọc đối Cuống lá dẹp và dày cứng Phiến lá nguyên, thuôn dài, dày và có gân giữa nổi rõ Lá xanh

Trang 17

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

xẩm và bóng ở mặt trên lá, xanh vàng và mốc ở dưới mặt dưới lá Lá dài 12-25 cm, rộng 7-13 cm, cuống ngắn (1.2-2.0 cm) vát thành gốc tù Mỗi cuống lá mộc ra từ cánh và đối diện nhau (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999)

Downton và ctv.(1990), trích bởi Trần Thượng Tuấn và ctv.(1994), cho biết

lá măng cụt quang hợp rất kém Tuy nhiên nếu tăng nồng độ CO2 trong không khí lên gấp đôi so với bình thường, cây có thể hấp thụ thêm 40-60% lượng khí CO2 để tạo ra chất khô và cây tăng trọng được 77% Không khí giàu CO2 cũng giúp cây trồng có nhiều nhánh ngang, gia tăng diện tích lá, trọng lượng lá, giúp cây quang hợp có hiệu quả Ngoài ra, nó còn giúp bộ rễ cây gia tăng gấp đôi so với điều kiện bình thường

Hoa thường mọc đơn độc hoặc từng cặp ở ngọn các nhánh non Hoa cứng, mọc từ ngọn của nhánh non có thể là lá hoa đơn hoặc lá hoa kép Khi hoa có đường kính 4-6 cm, thì cuống hoa dài 1.5-2.0 cm, dày 7-9 mm Hoa có 4 đài gồm 2 cánh nhỏ khép chặt ở phía trong và 2 cánh lớn (dài 2cm) bao bọc bên ngoài có màu xanh hơi vàng Bốn cánh hoa màu xanh có viền đỏ hoặc đỏ, kích thước 2,5 cm x 3,0 cm, hình bầu dục tương đối tròn, dày, chắc (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999)

Theo Verheij.(1991) sự ra hoa được đánh dấu từ khi chồi ngọn phồng lên Thời kỳ ra hoa khoảng 25 ngày và trái chín khoảng 100-120 ngày sau đó Cây măng cụt có thể ra hoa 1-2 lần trong năm và thường ra hoa sau giai đoạn sinh trưởng chồi một thời gian ngắn Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng (1999) cho biết tại miền nam Việt Nam măng cụt thường ra hoa vào tháng 1-3dl và cho trái chín vào tháng 5-8dl (khoảng 120 ngày sau khi nở hoa) Theo Vũ Công Hậu, (1987) điều kiện thuận lợi để ra hoa là vào năm thứ 6-7 sau khi gieo Nếu bất lợi hoa ra sau 10-12 năm, thậm chí đến 15-20 năm nếu trồng ở nhiệt độ thấp

Trái măng cụt từ khi bắt đầu nở đến khi kết trái chỉ khoảng 24 giờ Khi kết trái màu cánh hoa giống như màu da và mọng nước rồi rụng, nhị đực khô dần và sẫm đen Lúc mới đậu trái nhụy cái màu vàng nhạt Trong trái đã hình thành cơm nhưng chưa tách ra khỏi vỏ Sau khi đậu trái cần tưới nước thường xuyên và tăng dần theo độ lớn của trái Trái bắt đầu già thì giảm lượng nước tưới để tăng hương vị cho trái sau này (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999)

Măng cụt chậm cho trái, thường trên 10-15 năm trồng Cây tốt có thể cho trái

từ 7-9 năm tuổi Tại Dawao (Phillippine), trồng dưới vườn dừa, măng cụt cho trái sau 4 năm Mùa cho trái của Phillippine từ tháng 6-12dl Tại miền nam Việt Nam,

Trang 18

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

măng cụt trổ hoa vào tháng 1-2 dl và bắt đầu thu hoạch trái từ tháng 5-8 dl ( Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 1999)

Cây măng cụt thường có khuynh hướng cho trái cách năm (Hume, 1947; Vietmeyer và ctv…1975) Tại Srilanka và một số nơi, năm thất mùa cho 100 trái/cây, trong khi năm trúng mùa cho trên 500-600 trái/cây Năng suất măng cụt năm trúng mùa ở Đồng bằng sông Cửu Long có thể đạt 300-500 trái/cây, đất tốt cây

có thể cho 800 trái/cây trong 1 năm

1.3 CÁC TÍNH CHẤT VẬT LÝ ĐẤT ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRƯỞNG CÂY TRỒNG

Độ phì đất được các nhà khoa học định nghĩa là: Khả năng cung cấp nước, chất dinh dưỡng và các yếu tố khác cần thiết cho cây trong một thời gian sinh trưởng (Nguyễn Thế Đặng, 1999)

Vật lý đất nghiên cứu về những tính chất lý học, những qúa trình vật lý học ở trong đất và ảnh hướng những quá trình đó nhằm không ngừng nâng cao độ phì nhiêu của đất (Nguyễn Thế Đặng, 1999)

Những tính chất này đặc biệt là dung trọng, tỷ trọng, độ xốp, tính dính, tính dẻo, độ chặt, sức cản… là những chỉ tiêu phản ánh được chế độ nước, chế độ không khí, chế độ nhiệt độ đất và nó thường được quyết định bởi các thành phần khoáng vật (nguyên sinh, thứ sinh), thành phần các cấp hạt (cát, thịt, sét), thành phần chất hữu cơ có trong đất và tính liên kết giữa các thành phần trên để tạo ra kết cấu của đất (Trần Văn Chính, 2006)

1.3.1 Thành phần cơ giới (Soil texture)

Tỉ lệ các cấp hạt giữa các phần tử cơ giới có kích thước khác nhau trong đất được biểu thị theo phần trăm trọng lượng (%) được gọi là thành phần cơ giới (Nguyễn Thế Đặng, 1999) Phần tử cơ giới đất là các hạt có đường kính to nhỏ khác nhau do sự phong hóa đá và khoáng vật tạo thành (Nguyễn Thế Đặng, 1999)

Thành phần cơ giới là một trong những chỉ tiêu quan trọng, khi ta muốn thể hiện đặc tính của đất hoặc tầng đất ở ngoài đồng ruộng cũng như khi ở phòng thí nghiệm Vì vậy, việc xác định thành phần cơ giới đất là rất có ý nghĩa (Lê Đức, Trần Khắc Hiệp, 2006)

Thành phần cơ giới đất ảnh hưởng lớn đến tính chất đất và cây trồng Khi tỷ

lệ các cấp hạt có kích thước khác nhau, ở mỗi loại đất, mỗi tầng đất khác nhau sẽ tác động trực tiếp đến tính chất đất là khác nhau và từ đó ảnh hưởng đến cây trồng (Nguyễn Thế Đặng và ctv, 1999)

Trang 19

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Bảng 1.1: Bảng phân loại đất theo thành phần cơ giới của Quốc tế

Loại đất

% Trọng lượng Cát

2 - 0.02

mm

Bụi 0.02 - 0.002

mm

Sét 0.002 - 0.0002

0-45 30-45 45-100

0-15 0-15 0-15

7 Đất sét nhẹ

55-85 30-55 0-40

0-30 20-45 45-75

15-25 15-25 15-25

0-20 45-75 0-45 0-55 0-35

25-45 25-45 25-45 45-65 65-100

Bảng 1.2: Bảng phân chia cấp hạt của Quốc tế, Mỹ và Liên Xô (cũ) (Nguồn: Nguyễn Thế Đặng và ctv, 1999)

0.0005 – 0.0001 mịn

Trang 20

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Phân loại đất theo thành phần cơ giới của Mỹ (theo Soil Taxonomy)

cả về hóa học và lý học (Lê Văn Khoa, 2003)

Hình 1.1 Tam giác xác định sa cấu đất của USDA (theo Soil Taxonomy)

Trang 21

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Cấu trúc đất bị tác động mạnh mẽ bởi hoạt động vi sinh vật trong đất và sự thay đổi trong hình thức quản lý sử dụng đất (Danniel Hillel, 1982)

Đất có thành phần cơ giới nặng và trung bình (đất thịt trung bình, thịt nặng, đất sét) ở mức độ khá lớn phụ thuộc vào cấu trúc của chúng vì cấu trúc ảnh hưởng đến chế độ sinh học, không khí, nước nói riêng và dinh dưỡng cho đất (Trần Kông Tấu, 2005; Chu Thị Thơm và ctv, 2006)

Ở những vùng trồng lúa có thể rất hữu ích khi xác định sức bền cơ học của đất đa cấu trúc và đất chưa thuần thục vì các loại đất đó thường có tính chống chịu kém (Trần Kim Tính, 2003)

Ở Việt Nam, đối với những loại đất có thành phần cơ giới nặng thì độ bền đoàn lạp trong nước thể hiện khá cao 84-89% Đất xám bạc màu phát triển trên phù

sa cổ có độ bền trong nước kém nhất 5% Đất nâu đỏ trên bazan có tính chất cấu trúc tốt nhất, chúng có quan hệ chặt chẽ với hàm lượng sắt tổng số và sắt di động,

có hàm lượng mùn cao (48%) và điện tích hấp phụ của đất cũng cao hơn cả (Trần Kông Tấu, 2000)

1.3.3 Tính liên kết của đất

Tính liên kết của đất là sự dính kết giữa các phần tử đất với nhau (khi đất khô tính chất này biểu hiện rõ) những loại đất có tính liên kết lớn thường tạo thành trong đất những kiểu kết cấu tảng cục lớn

Những yếu tố ảnh hưởng đến tính liên kết của đất là: Thành phần cơ giới, độ

ẩm đất, cấu trúc của đất, hàm lượng mùn và thành phần cation hấp phụ trong đất Đất có thành phần cơ giới nặng do chứa nhiều sét nên tính liên kết của chúng rất lớn, ngược lại đất có thành phần cơ giới nhẹ như đất cát, do có tỷ lệ các hạt cát cao nên có tính liên kết kém Độ ẩm đất chi phối đến khả năng liên kết của đất, ở những loại đất có tính liên kết lớn như đất sét nếu đất càng khô thì tính liên kết của đất thể hiện càng mạnh Hàm lượng mùn cao trong đất có tác động chung hòa rất tốt đến tính liên kết của một số loại đất có kết cấu kém hoặc không có kết cấu như đất cát và đất sét nặng (Trần Văn Chính, 2006)

Ý nghĩa thực tiễn: Tính liên kết của đất ảnh hưởng rất lớn đến việc làm đất

và áp dụng các biện pháp canh tác Đất có kết cấu tốt (như dạng kết cấu viên) lực liên kết giữa các hạt đất không lớn, do đó rất dễ cày, bừa Ngược lại, ở những loại đất sét có kết cấu tảng lớn thì việc làm đất rất khó khăn, đặt biệt là khi đất bị khô vừa phải cày bừa và vừa phải đập cho đất vỡ vụn ra (Trần Văn Chính, 2006)

Trang 22

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.3.4 Tỷ trọng (density)

Là tỉ lệ khối lượng của thể rắn đối với khối lượng của nước có cùng thể tích Hoặc có thể định nghĩa như sau: Tỷ trọng là khối lượng của đất trên một đơn vị thể tích Đất ở trạng thái khô kiệt và không tính đến thể tích các lỗ rổng trong đất (g/cm3) Tỷ trọng ký hiệu là ρp (Dương Minh Viễn, 2003)

Để tính tỷ trọng ta áp dụng công thức:

ρ p = M sp /Vw=(M s – M e )/(M s - M e ) – (M sw – Mw)

Trong đó: ρ p: Tỷ trọng khô, g/cm3 hoặc kg/m2

M sp: Khối lượng các hạt đất khô, g, kg

Vw: Thể tích nước trong bình pycnometer được thay bởi mẩu đất, cm3 hoặc

m3

M e : Khối lượng bình pycnometer (sạch và khô) có nắp, g

M s : Khối lượng đất khô + bình pycnometer có nắp, g

M sw : Khối lượng bình pycnometer chứa đầy nước khử khoáng + đất, g

Mw: Khối lượng bình pycnometer chứa đầy nước khử khoáng, g

Đất được hình thành trên các loại đá mẹ có thành phần khoáng khác nhau, có

tỷ trọng khác nhau Các loại đất khác nhau có tỷ trọng rất khác nhau (Nguyễn Thế Đặng, 1999)

Bảng 1.3: Tỷ trọng (g/cm 3 ) của một số loại khoáng điển hình

Các loại đất có thành phần cơ giới khác nhau có tỷ trọng khác nhau (Trần Văn Chính, 2006)

Trang 23

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ý nghĩa thực tiễn: Tỷ trọng đất được sử dụng trong các công thức tính toán

độ xốp, công thức tính tốc độ, thời gian sa lắng của các cấp hạt đất (cát, thịt, sét) trong phân tích thành phần cơ giới Thông qua tỷ trọng đất người ta cũng có thể đưa

ra được những nhận xét sơ bộ về hàm lượng chất hữu cơ, hàm lượng sét hay tỷ lệ sắt, nhôm của một loại đất cụ thể nào đó (Trần Văn Chính, 2006)

1.3.5 Dung trọng

Dung trọng (còn gọi là trọng khối hoặc tỉ trọng xương của đất) là trọng lượng (tính ra gam) của 1 cm3 đất ở trạng thái không bị phá hủy, còn gọi là tỉ lệ giữa trọng lượng đất khô tuyệt đối ở trạng thái tự nhiên (có cả khoảng hổng) của một thể tích xác định với trọng lượng nước cùng thể tích ở 4oC Hay dung trọng là khối lượng của một thể tích đất tự nhiên (không xáo trộn) bao gồm cả chất hữu cơ, không khí Đơn vị tính là kg/m3

hoặc g/cm3 Dụng trọng được tính theo trọng lượng đất khô Dung trọng và tỉ trọng có thể dùng để đánh giá, ước lượng sự nén dẽ của một loại đất nào đó Giá trị dung trọng bình quân của đất thịt có tầng canh tác biến động trong khoảng 1,1 – 1,4 g/cm3 Để cho sự phát triển của cây trồng được tốt hơn, dung trọng nên giới hạn trong các giá trị sau:

Trang 24

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- <1,4 g/cm3 với đất sét

- < 1,6 g/cm3 với đất cát (Lê Văn Khoa, 2000)

Dung trọng của đất thường được xác định theo phương pháp dùng ống trụ bằng kim loại (ring) đóng thẳng góc bề mặt đất ở trạng thái tự nhiên với một thể tích nhất định ( V = 98,125 cm3), sau đó đem sấy ở 105oC đến khi đất khô kiệt, cân khối lượng, rồi tính theo công thức:

ρ b = (W ov – W r )/V r Trong đó:

ρ b

: Dung trọng khô của đất, (g/cm3)

W ov: Khối lượng mẫu đất đất sau và ring sau khi sấy khô ở 105oC, (g)

W r: Khối lượng của ring, (g)

V r: Thể tích ban đầu của dụng cụ lấy mẫu đất, (cm3)

(Trần Bá Linh và Nguyễn Minh Phượng, 2007)

Như vậy, dung trọng của đất thường nhỏ hơn so với tỷ trọng vì thể tích đất khô kiệt được xác định ở đây bao gồm cả các hạt đất rắn và các khe hở tự nhiên có trong đất

Bảng 1.6: Quan hệ giữa dung trọng đất với thành phần cơ giới và thành phần vật liệu cấu tạo

(*): Khi sấy khô đất bị mất nhiều nước dẫn đến đất có tỷ trọng thấp

Dung trọng đất phụ thuộc vào thành phần khoáng vật, độ chặt, kết cấu đất và hàm lượng chất hữu cơ có trong đất Các loại đất tơi xốp, giàu hữu cơ và mùn thường có dung trọng nhỏ và ngược lại những loại đất chặt, bí, kém tơi xốp và

Trang 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

nghèo chất hữu cơ thường có dung trọng lớn Dung trọng được coi là thích hợp đối với đa số đất trồng khi chúng có những trị số sau:

Bảng 1.7: Giá trị dung trọng của một số loại đất thích hợp với cây trồng (Trần Kông Tấu, 2005)

v Xuống càng sâu, hàm lượng mùn càng giảm

v Do quá trình tích tụ các khoảng hổng và những mao quản ở các tầng dưới được tích đọng do những chất bị rữa trôi từ các tầng trên xuống làm cho đất càng chặt

v Do áp suất vĩnh cửu của các tầng trên đối với các tầng dưới Đất càng bị nén chứng tỏ quả trình tích tụ càng mạnh

Taylor, 1966, đã đưa ra cách đánh giá dung trọng của một số loại đất có thành phần cơ giới từ thịt đến sét như sau:

Bảng 1.8: Thang đánh giá dung trọng

(g/cm 3 )

Dung trọng đặc trưng cho độ chặt của đất nên thường được dùng để tính độ xốp của đất, trữ lượng các chất dinh dưỡng, trữ lượng mùn, trử lượng nước… có trong đất Dựa vào đặc tính nén của đất, dung trọng còn được dùng để kiểm tra chất

Trang 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

lượng các công trình thủy lợi, đê, bờ mương máng… để đảm bảo độ vững của các công trình (Trần Văn Chính, 2006)

1.3.6 Độ xốp (soil porosity)

Độ xốp của đất là phần trăm thể tích của đất được chiếm bởi không khí và nước (Trần Bá Linh và ctv, 2006) Độ xốp là tổng các tế khổng trong đất biểu thị bằng % thể tích đất Độ xốp đất phụ thuộc vào cấu trúc đất, thành phần cơ giới, dung trọng và tỷ trọng đất Khả năng thoáng khí, khả năng giữ nước phụ thuộc lớn vào độ xốp đất Đối với cây lúa độ xốp là chỉ tiêu không quan trọng, ngoại trừ các mao quản, lượng tế khổng lớn chứa khí trong đất phải không dưới 25% cho đất canh tác cây trồng cạn Độ xốp thích hợp cho hầu hết sự tăng trưởng của cây trồng là 50% (Võ Thị Gương và ctv, 2004)

Sự trao đổi không khí đặc biệt là sự khuếch tán oxy có ý nghĩa rất quan trọng cho cây trồng Việc giảm chất hữu cơ trong đất sẽ đưa đến giảm độ xốp đất Đất kém thông thoáng có thể giới hạn sự phát triển của rễ, đặc biệt ảnh hưởng đến việc

hấp thu chất dinh dưỡng (Lipiec and Stepniewski, 1995)

Độ xốp của đất được tính theo công thức (Nguyễn Mỹ Hoa, 2007):

là tiến trình thay đổi một số đặc tính vật lý đất như dung trọng, độ chặt, độ xốp, khả năng thấm nước của đất

Trang 27

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Sự nén dẽ tự nhiên hoặc nhân tạo trong các tầng đất của phẫu diện đất sẽ làm giới hạn độ sâu hoạt động của hệ thống rễ cây trồng, ảnh hưởng đến độ thoáng khí, chế độ ẩm, khả năng thoát nước trong đất, tình trạng dinh dưỡng trong đất và một cách gián tiếp tác động đến các chu trình vận chuyển vật chất trong đất (Lê Văn Khoa, 2000) Một cách tổng quát sự nén chặt trong đất được xem như là một hàm số thay đổi theo các điều kiện như: Dung trọng khô của đất; độ xốp của đất; sức cản của đất và hàm lượng ẩm độ trong đất

Bảng 1.10: Dung trọng, tỷ trọng và độ xốp của một số loại đất ở Việt Nam (Trần Văn Chính, 2006)

Loại đất (theo phát sinh) Dung Trọng

2000)

Hầu hết đất lúa nước đạt năng suất cao tại Nhật Bản có tốc độ thấm trong khoảng 20–30 mm/ngày (Takai and Mada, 1997) Riêng ở Trung Quốc để đạt được năng suất cao, tốc độ thấm trong đất từ 9 – 15 mm/ngày (Yang and Chen, 1961)

1.3.8 Lượng nước hữu dụng

Lượng nước hữu dụng là lượng nước được đất dự trữ lại: Cây trồng sử dụng

dễ dàng nhất Nói cách khác độ ẩm hữu dụng là sự chênh lệch giữa độ ẩm đồng ruộng và độ ẩm cây héo Độ ẩm có sẳn cho cây là tỉ lệ của ẩm độ hữu hiệu mà cây trồng hấp thu dễ dàng nhất, thường chiếm khoảng 75 – 80% ẩm độ hữu dụng (Chu Thị Thơm và ctv, 2006)

Lượng nước hữu dụng trong đất được đánh giá thông qua chỉ số pF (lực giữ nước của nền đất) và trị số này thay đổi đối với các loại đất khác nhau (Kisu, 1978)

Trang 28

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Các nhà khoa học đã xác định độ ẩm trong đất bằng khoảng 60 – 75% độ trữ ẩm tối

đa để có một lượng trữ không khí khoảng 15 – 35% thể tích của đất là ẩm độ thích hợp nhất (Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv, 2005)

1.3.9 Tính dính của đât

Là tính dính khi tiếp xúc với các vật khác từ bên ngoài như cày, bừa, các dụng cụ làm đất Nó sẽ làm tăng lực ma sát, và gây khó khăn khi làm đất Tính dính được xác định bởi lực cần để dứt đất ra khỏi bảng kim loại (g/cm2

) Tính dính thường xuất hiện ở gần giới hạn dưới ẩm độ đồng ruộng và tăng dần cho đến khi đất vượt độ ẩm giới hạn động ruộng (Dương Minh Viễn, 2003)

Giống như tính liên kết của đất, tính dính phụ thuộc thành phần các cấp hạt trong đất, kết cấu và độ ẩm đất Những loại đất có tỷ lệ các cấp hạt sét cao với các thành phần khoáng sét càng cao thì tính dính của chúng càng lớn, trong các thành phần khoáng sét thì montmorilonit, ililite có tính liên kết và tính dính cao hơn hẳn các khoáng sét kaolinit và các hydroxyt sắt Ngược lại với tỷ lệ sét, khi đất có hàm lượng mùn càng lớn thì càng làm giảm tính dính của đất Hầu hết đất bắt đầu có tính dính cao khi độ ẩm trong đất đạt 60 – 80% độ trữ ẩm cực đại (Trần Văn Chính, 2006)

1.3.10 Tính dẻo của đất

Tính dẻo của đất là chỉ khả năng của đất có thể biến dạng mà không bị vỡ vụn ra khi có lực tác động từ bên ngoài vào Như vậy tính dẻo được hình thành chính do sức hút lẫn nhau của các phân tử đất (Nguyễn Thế Đặng, 1999)

Tính dẻo phụ thuộc vào hàm lượng sét và độ ẩm Khi đất quá ướt sẽ bị chảy hoặc khô trở nên mất tính dẻo

Giới hạn trên của tính dẻo: Là độ ẩm mà ở đó đất bắt đầu chảy, được xác định là ẩm độ khi đầu hình chóp nón để đo lực cản có trọng lượng 76g có thể tự chìm đến độ sâu 10 cm

Giới hạn dưới của tính dẻo: Là độ ẩm mà ở đó đất có thể ve thành sợi có đường kính 3 cm mà không bị nứt nẻ

Chỉ số dẻo là hiệu của giới hạn trên và dưới hạn dưới

Ý nghĩa thực tiễn: Đất có tính dẻo cao thường có những ảnh hưởng không

tốt đến việc làm đất vì ở trạng thái ẩm, ướt khi cày bừa đất sẽ tạo thành tảng lớn chứ không tơi vỡ tạo ra các kết cấu thích hợp cho cây trồng Còn ngược lại, ở trạng thái đất khô thì lại cứng, làm tăng lực cản của đất đối với các công cụ làm đất và làm tiêu tốn nhiều năng lượng làm đất (Trần Văn Chính, 2006)

Trang 29

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.4 CÁC TÍNH CHẤT HÓA HỌC ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY TRỒNG

1.4.1 pH

pH = - log [H + ]

Theo Ngô Ngọc Hưng và ctv (2004), pH đất là chỉ tiêu đánh giá đất quan trọng, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vi sinh vật đất, vận tốc phản ứng hóa học và sinh hóa trong đất Độ hữu dụng của dưỡng chất trong đất, hiệu quả của phân bón cũng phụ thuộc rất nhiều vào độ chua của đất

pH đất ảnh hưởng đến độ hữu dụng của dinh dưỡng cây trồng, độc chất trong đất, đến hoạt động của vi sinh vật đất (Tất Anh Thư, 2006) Theo Trần Thành Lập (1999), đất Đồng bằng sông Cửu Long thường có pH thấp, đất phù sa không phèn thường có pH = 4,0-5,5 Đất có pH thấp nhất là đất phèn, trên đất phèn nặng

pH có thể <3,0, ở trị số pH này cây chịu phèn mới sống nổi

Trong đất sự chua hóa được phân thành hai loại là phèn và chua Về nguồn gốc, phèn là do sự oxi hóa các hợp chất sulphide (FeS, FeS2) trong đất; và chua do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Mẫu chất xuất phát từ đá acid, do cây trồng, do phân bón, rửa trôi calci, sự ô nhiễm,…Trong đất nguyên nhân gây chua hóa là do sự tồn tại của hai ion H+ và Al3+ (Trần Kim Tính, 2003)

1.4.2 Độ dẫn điện dung dịch đất (EC)

Độ mặn trong đất làm cản trở quá trình hút nước và dinh dưỡng của cây trồng, giảm lượng nước hữu dụng trong đất, phá huỷ cấu trúc của đất (Tất Anh Thư, 2006)

EC được tính bằng đơn vị mmhos trên centimet, chính mmhos cũng là trị số nghịch đảo của đơn vị đo sức cản điện (ohms) Trị số mhos/cm là một đơn vị rất lớn, phần lớn EC của dung dịch đất thì nhỏ hơn trị số này rất nhiều (Trần Kim Tính, 2003)

EC là độ mặn của đất, biểu thị trực tiếp hoặc gián tiếp nồng độ muối hoà tan trong dung dịch đất Không chỉ có đất mặn mới có lượng muối hoà tan cao, mà trong đất phèn sự tác động của acid vào khoáng sét, nồng độ muối có thể cao và gây độc cho cây (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)

1.4.3 Ảnh hưởng của chất hữu cơ đến độ phì vật lý đất

Chất hữu cơ là một thành phần cơ bản kết hợp với sản phẩm phong hoá từ đá

mẹ để tạo thành đất Chất hữu cơ là một đặc trưng để phân biệt đất với đá mẹ và một nguồn nguyên liệu để tạo nên độ phì nhiêu đất (Nguyễn Thế Đặng và ctv, 1999)

Ngày đăng: 12/04/2018, 21:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w