1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của PHÂN hữu cơ và PHÂN n đến TÍNH CHẤT hóa học đất và NĂNG SUẤT gấc TRỒNG TRÊN đất PHÙ SA tại BÌNH tân –VĨNH LONG

80 228 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 595,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT  NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Chứng nhận chấp thuận báo cáo luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Ảnh h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD

BỘ MÔN KHOA HOC ĐẤT

TẠI BÌNH TÂN – VĨNH LONG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH KHOA HỌC ĐẤT

Cần Thơ, 2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD

BỘ MÔN KHOA HOC ĐẤT

TẠI BÌNH TÂN – VĨNH LONG

LỚP: KHĐ33

Cần Thơ, 2011

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT



NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Chứng nhận chấp thuận báo cáo luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Ảnh hưởng của phân hữu cơ và phân N đến tính chất hóa học đất và năng suất Gấc trồng trên đất phù sa tại Bình Tân – Vĩnh Long”

Sinh viên thực hiện: Trần Cẩm Thùy, MSSV: 3077498, lớp Khoa Học Đất Khóa 33

Nhận xét của Giáo viên hướng dẫn:

Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp thông qua

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2011 Cán bộ hướng dẫn

Phạm Nguyễn Minh Trung

Võ Thị Gương

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT



NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Đề tài: “Ảnh hưởng của phân hữu cơ và phân N đến tính chất hóa học đất và năng suất Gấc trồng trên đất phù sa tại Bình Tân – Vĩnh Long”

Do sinh viênTrần Cẩm Thùy, lớp Khoa Học Đất K33 thực hiện

Ý kiến đánh giá của giáo viên phản biện:

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2011

Giáo viên phản biện

Trang 5

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT



NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG

Hội đồng chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp ngành Khoa Học Đất đã chấp thuận báo

cáo đề tài: “Ảnh hưởng của phân hữu cơ và phân N đến tính chất hóa học đất và năng suất Gấc trồng trên đất phù sa tại Bình Tân – Vĩnh Long”

Do sinh viên Trần Cẩm Thùy, MSSV: 3077498, lớp Khoa Học Đất K33 báo cáo trước Hội đồng

Ngày … tháng … năm 2011

Luận văn tốt nghiệp đã được Hội đồng đánh giá ở mức:

Nhận xét của Hội đồng:

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2011 Chủ tịch Hội đồng

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trước đây

Tác giả luận văn

Trần Cẩm Thùy

Trang 7

TÓM TẮT LỊCH SỬ CÁ NHÂN

  

Họ và tên: Trần Cẩm Thùy

Ngày sinh: 23/09/1987

Nguyên quán : Tân Tiến – Đầm Dơi – Cà Mau

Họ và tên cha : Trần Trung Dũng

Họ và tên mẹ : Lê Hồng Cẩm

Nguyên quán : Tân Tiến – Đầm Dơi – Cà Mau

Năm 2006 : tốt nghiệptrung học phổ thông tại trường THPT Đầm Dơi, Cà Mau Trúng tuyển vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2007, học chuyên ngành Khoa Học Đất khoá 33 (2007-2011) thuộc khoa Nông Nghiệp

và Sinh Học Ứng Dụng - trường Đại Học Cần Thơ Tốt nghiệp chuyên ngành Khoa Học Đất năm 2011

Trang 8

LỜI CẢM TẠ

Qua thời gian học tập và tiến hành đề tài Luận văn tốt nghiệp của em đến nay

đã hoàn thành Đạt được kết quả như ngày hôm nay, em xin chân thành cảm ơn đến:

Cô Võ Thị Gương và anh Phạm Nguyễn Minh Trung trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo em trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp

Chị Võ Thị Thu Trân đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt quá trình phân tích ở phòng thí nghiệm, để em có thể hoàn thành tốt số liệu của đề tài

Bạn Nguyễn Thị Phương Thảo và tất cả các bạn Khoa Học Đất-33 đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Em xin kính lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô cùng các anh chị trong phòng phân tích – Bộ môn Khoa Học Đất, Khoa Nông Nghiệp & SHƯD – ĐHCT đã giúp em trong thời gian thực hiện đề tài

Sự giúp đỡ, động viên của chị Trịnh Kiều Nhiên và người thân

Trân trọng kính chào!

Cần Thơ, ngày … tháng …năm 2011

Trần Cẩm Thùy

Trang 9

MỤC LỤC

Trang

XÉT DUYỆT LUẬN VĂN i

LỜI CAM ĐOAN iv

LỊCH SỬ CÁ NHÂN v

LỜI CẢM TẠ vi

MỤC LỤC vii

DANH SÁCH HÌNH x

DANH SÁCH BẢNG xi

TÓM LƯỢC xii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1.1 CHẤT HỮU CƠ 2

1.1.1 Khái niệm chất hữu cơ 2

1.1.2 Nguồn gốc chất hữu cơ trong đất 3

1.1.3 Vai trò của chất hữu cơ 4

1.2 PHÂN HỮU CƠ 8

1.2.1 Hiệu quả của phân hữu cơ trong cải thiện vật lý đất 9

1.2.2 Hiệu quả của phân hữu cơ trong cải thiện hóa học đất 10

1.2.3 Phân hữu cơ ảnh hưởng tới vi sinh vật đất 12

1.2.4 Hiệu quả của phân hữu cơ trong tăng trưởng cây trồng 12

1.2.5 Một số lưu ý khi sử dụng phân hữu cơ 13

1.3 ĐẶC ĐIỂM VÀ TÍNH CHẤT ĐẤT PHÙ SA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 14

1.3.1 Đất phù sa 14

1.3.2 Đất phù sa hệ thống song Cửu Long 14

1.3.3 Điều kiện và quá trình hình thành 15

1.3.4 Phân bố 15

Trang 10

1.3.5 Đặc tính của đất phù sa 16

1.4 CÂY GẤC 16

1.4.1 Hình thái thực vật 16

1.4.2 Phân bố 17

1.4.3 Điều kiện sống 17

1.4.4 Canh tác Gấc 17

1.4.5 Thành phần và giá trị dinh dưỡng của dầu Gấc 18

1.4.6 Tác dụng dược lý của dầu Gấc 20

CHƯƠNG II: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 21

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

3.1 ĐẶC TÍNH ĐẤT PHÙ SA TẠI BÌNH TÂN – VĨNH LONG 26

3.2 HIỆU QUẢ PHÂN HỮU CƠ VÀ PHÂN N TRONG CẢI THIỆN TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA ĐẤT 27

3.2.1 pH đất 27

3.2.2 Chất hữu cơ trong đất 28

3.2.3 P hữu dụng trong đất 29

3.2.4 NH4+_N ở trong đất 30

3.2.5 NO3-_N ở trong đất 32

3.2.6 Đạm hữu cơ dễ phân hủy trong đất 34

3.2.7 Cation K+ trao đổi và CEC trong đất 36

3.3 Hiệu quả của phân hữu cơ và phân N trên năng suất Gấc 37

CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38

4.1 KẾT LUẬN 38

4.2 KIẾN NGHỊ 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

PHỤ CHƯƠNG 44

Trang 11

30

5 Ảnh hưởng phân N đến NH4

+ trong đất theo thời gian sau khi trồng

31

6 Ảnh hưởng phân hữu cơ đến NO3

trong đất theo thời gian sau khi trồng

-32

7 Ảnh hưởng phân N đến NO3

trong đất theo thời gian sau khi trồng

Trang 12

DANH SÁCH BẢNG

2 Thành phần các loại acid béo có trong dầu Gấc 19

5 Ảnh hưởng phân hữu cơ đến cation K+ trao đổi và CEC trong đất

1 tháng sau khi trồng

39

Trang 13

Trần Cẩm Thùy, 2011 “Ảnh hưởng của phân hữu cơ và phân N đến tính chất hóa học đất và năng suất Gấc trồng trên đất phù sa tại Bình Tân – Vĩnh Long” Luận

văn tốt nghiệp đại học, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: Ks Phạm Nguyễn Minh Trung

Đề tài được thực hiện tại ấp Thành Nhân – xã Thành Lợi – huyện Bình Tân – Vĩnh Long từ tháng 09/2009 đến 05/2010 được trồng gấc với giống Gấc OM3, giống Gấc chọn bằng cách chiết cành Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân tố với 5 nghiệm thức ((0SC + 50g N/cây ), ( 5SC + 50g N/cây ), ( 5SC + 80g N/cây), ( 10SC + 50g N/cây ), ( 5SC + 120g N/cây )) và 4 lần lặp lại Các chỉ tiêu phân tích: pHđất , chất hữu cơ, P hữu dụng, N_ NH4+, N_ NO3-, Nlabile , CEC,

K+ được phân tích để đánh giá tác động của phân hữu cơ và phân N lên đặc tính hóa học đất Ảnh hưởng của phân hữu cơ và phân N cũng được đánh giá thông qua năng suất Gấc đem thí nghiệm

Kết quả thí nghiện cho thấy, nghiệm thức bón phân hữu cơ từ 5-10 kgSC và bón 50gN/cây có hiệu quả nhất trong việc cải thiện pH đất, lượng chất hữu cơ trong đất,

N hữu dụng so với nghiệm thức không có bón phân hữu cơ Bón 10kgSC giúp tăng

K trao đổi và CEC ở trong đất Tuy nhiên tăng lượng N đến 80g và 120g thì không thấy ảnh hưởng đến việc cải thiện độ phì nhiêu đất Bón phân hữu cơ qua một vụ chưa giúp tăng năng suất Gấc Hiệu quả năng suất Gấc cao nhất ở nghiệm thức 5

Trang 14

kgSC+50gN/cây trên đất phù sa tại Bình Tân-Vĩnh Long Do đó, cần phải có thời gian dài hạn hơn để thấy rõ hiệu quả của phân hữu cơ cải thiện tính chất hóa học đất

và năng suất trái Gấc

Trang 16

MỞ ĐẦU

Đất phù sa là loại đất mới được bồi tụ hàng năm và có độ phì tự nhiên cao thích hợp với nhiều loại cây trồng, cho năng suất tốt và giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, với tình hình canh tác thâm canh tăng vụ liên tục qua nhiều năm như hiện nay, nếu không có biện pháp cải tạo cung cấp trả lại cho đất một hàm lượng chất dinh dưỡng thích hợp, thì đất sẽ có nguy cơ bị suy thoái và làm giảm năng suất của cây trồng Do đó, bón phân hữu cơ được xem là biện pháp kỹ thuật có hiệu quả tốt trong duy trì độ phì nhiêu đất, ổn định năng suất cây trồng, giúp gia tăng hoạt động của vi sinh vật, cải thiện tính chất vật lý, hóa học đất và góp phần quan trọng trong

việc phát triển nông nghiệp bền vững (Giller và ctv., 1997) Vì thế hướng lâu dài và

ổn định trong cải thiện đất, giúp tăng năng suất cây trồng bền vững là tăng cường hàm lượng chất hữu cơ trong đất Phân hữu cơ được sản xuất từ các vật liệu hữu cơ như dư thừa thực vật, phân chuồng, phân xanh, các phế phẩm công nghiệp, nông nghiệp,… chẳng những ít tốn kém mà còn tận dụng được nguồn phụ phẩm gây ô nhiễm môi trường

Gấc (Momordica cochinchinensis (lour) Spreng) là loại cây có giá trị cao về

y học, giàu chất dinh dưỡng, mang lại giá trị kinh tế cao Gấc là loại cây dễ trồng, mọc khỏe, ít sâu bệnh, không cần nhiều phân bón, nếu được chăm sóc chu đáo có

thể sống và cho quả từ 10-15 năm (Đỗ Huy Bích và ctv., 2003) Ngoài ra, dầu Gấc

được chiết xuất từ quả Gấc có hàm lượng  - carotene và lycopene rất cao (P Bonnet và Bùi Đình Sang, 1942) Chất  - carotene, lycopene và các hợp chất khác

có trong quả Gấc như vitamin E có tác dụng vô hiệu hóa 75% chất gây ung thư, chống oxy hóa, chống lão hóa tế bào, chống suy dinh dưỡng và thiếu vi chất ở trẻ

em Chế phẩm dầu Gấc có ích cho những người đã tiếp xúc với các tia xạ độc hại, với các hóa chất và những người bị viêm gan virus B có nguy cơ bị ung thư gan (Đỗ

giá hiệu quả của phân hữu cơ trong cải thiện độ màu mỡ của đất và năng suất trái Gấc trồng trên đất phù sa tại Bình Tân – Vĩnh Long

Trang 17

CHƯƠNG I LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 Chất hữu cơ

1.1.1 Khái niệm chất hữu cơ

Chất hữu cơ (CHC) trong đất được xem là nguồn quan trọng đặc biệt có ý nghĩa đối với độ phì nhiêu đất và liên quan đến rất nhiều tính chất khác của đất Chất hữu cơ trong đất là nguồn cung cấp và cũng là nơi lưu trữ dinh dưỡng trong đất Chất hữu cơ có khả năng hấp phụ ion, tạo phức và liên kết hoá học với khoáng chất nên có khả năng trao đổi ion, quan trọng trong điều kiện đất có thành phần sét phong hóa trong đất nhiệt đới Những nghiên cứu gần đây về chất hữu cơ trong đất

đã chú trọng đến thành phần của chất hữu cơ như các xác bã chưa phân hủy, thành phần dễ phân hủy, chậm phân hủy và rất khó phân hủy.Trên tầng đất mặt của tất cả các loại đất, chất hữu cơ trong đất chứa trên 90% N và S tổng số, trên 75% P tổng

số (Stevenson, 1994)

Chất hữu cơ là một thành phần cơ bản kết hợp với các sản phẩm phong hóa

từ đá mẹ để tạo thành đất Chất hữu cơ là một đặc trưng để phân biệt đất với đá mẹ

và là nguồn nguyên liệu để tạo nên độ phì của đất Số lượng và đặc tính của chất hữu cơ quyết định nhiều đến tính chất hóa, lý và sinh học đất (Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thế Hùng, 1999)

Theo Võ Thị Gương (2004) CHC được định nghĩa bao gồm một phần vật chất được phân hủy, vi sinh vật, động vật nhỏ tham gia vào tiến trình phân hủy và các sản phẩm phụ

Chất hữu cơ của đất được xem là các vật chất hữu cơ được hình thành trong quá trình chuyển hoá các vật liệu hữu cơ sau khi xâm nhập vào đất Chất hữu cơ là thành phần đặc trưng tạo nên sự khác biệt đất với mẫu chất và là thành phần quan trọng tạo nên độ phì của đất Lượng và tính chất của chất hữu cơ quyết định đến nhiều tính chất hóa lý và sinh học đất (Dương Minh Viễn, 2007)

Trang 18

Chất hữu cơ có thành phần phức tạp và có thể chia làm hai phần: chất hữu cơ chưa bị phân giải và chất hữu cơ đã phân giải Chất hữu cơ chưa bị phân giải gồm các thải thực vật như rễ cây, lá cây, cỏ, phần còn lại sau thu hoạch; xác động vật và

vi sinh vật Chất hữu cơ đã phân giải gồm những chất hữu cơ ngoài mùn (chiếm tỉ lệ thấp) và những hợp chất hữu cơ ngoài mùn (chiếm tỉ lệ cao)

Theo Brady (1974) trích dẫn từ Trần Nguyễn Thanh Tâm (2007), thành phần chung của chất hữu cơ bao gồm: Carbohydrates như đường đơn, tinh bột, cellulose,

là những hợp chất hữu cơ quan trọng nhất trong cây Lignin là hợp chất phức tạp với cấu trúc vòng thơm được tìm thấy trong mô cây đặc biệt là mô gỗ, chúng rất khó bị phân hủy Chất béo và dầu có cấu trúc phức tạp hơn carbohydrates, nhưng ít phức tạp hơn so với lignin Thành phần protein gồm có C, H, O, N và một lượng nhỏ các nguyên tố cần thiết như S, Mg, Cu, Fe Protein là nguồn cơ bản của những nguyên tố cần thiết này

1.1.2 Nguồn gốc của chất hữu cơ trong đất

Theo Thái Công Tụng (1971), nguồn gốc nguyên thủy của chất hữu cơ trong đất là từ mô thực vật Ngoài ra động vật cũng là nguồn cung cấp chất hữu cơ cho đất Chất chữu cơ được bổ sung vào đất từ các nguồn sau đây:

Xác thực vật (hay tàn tích vi sinh vật): đây là nguồn chủ yếu Sinh vật đã hút thức ăn từ đất để tạo nên cơ thể chúng và khi chết đi để lại những tàn tích hữu cơ cho đất Trong xác sinh vật có tới 4/5 là thực vật Hằng năm, đất được bổ sung chất hữu cơ từ thực vật khoảng 5-15 tấn thân, lá, rễ/ha Tùy theo thảm thực vật khác nhau mà số lượng và chất lượng chất hữu cơ được bổ sung cũng khác nhau Nếu là cây gỗ thì cành lá rụng sẽ tạo một lớp thảm mục và khi bị phân giải sẽ làm đất dễ bị chua Còn cây hòa thảo thì lượng thân, lá, rễ để lại khá hơn và cho chất lượng chất hữu cơ tốt hơn (Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thế Hùng 1999) Ngoài ra, xác bã động vật và sinh vật chỉ được xem là nguồn hữu cơ thứ cấp cung cấp cho đất, mặc

dù khối lượng không lớn nhưng chất lượng tốt

Chuyển hóa chất hữu cơ thành các dạng khác: Theo kết quả nghiên cứu của Dương Minh Viễn (2003) chỉ ra rằng, hầu như tất cả chất hữu cơ vào đất đều bị xử

lý bởi vi sinh vật và động vật sống trong đất, sản phẩm cuối cùng là các hợp chất vô

Trang 19

cơ Tuy nhiên trong quá trình chuyển hóa hình thành nên rất nhều các sản phẩm hữu

cơ bền và phức tạp khác Phân hữu cơ do con người bón vào đất là nguồn hữu cơ đáng kể Những nơi thâm canh cao người ta có thể bón tới 80 tấn hữu cơ/ha Nguồn

phân hữu cơ bao gồm: phân chuồng, phân xanh, phân rơm rác, bún ao…

1.1.3 Vai trò của chất hữu cơ trong đất

Chất hữu cơ đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với tất cả các quá trình

lý, hóa, sinh học đất

 Về lý học đất

Chất hữu cơ có ảnh hưởng rất lớn đến tính chất vật lý của đất Một trong những ảnh hưởng quan trọng là hình thành cấu trúc và duy trì độ bền cấu trúc đất

(Cochrane và Aylmore, 1994; Thomas và ctv., 1996)

Chất hữu cơ liên kết các hạt đất thành một tập hợp, làm tăng cấu trúc và độ xốp của đất, là những đặc tính quan trọng quyết định đến sự tăng trưởng của rễ, trao đổi khí, sự giữ nước và di chuyển của nước trong đất Khi hàm lượng chất hữu cơ trong đất cao giúp gia tăng mật số cũng như đa dạng quần thể vi sinh vật đất Đặc biệt khi quần thể nấm gia tăng, các sợi nấm sẽ liên kết các hạt đất lại với nhau, cải thiện độ bền của đoàn lạp, giúp đất có cấu trúc tốt hơn Hiệu quả của chất hữu cơ lên tính chất vật lý quan trọng khác là độ hữu dụng của nước (Võ Thị Gương & et

al, 2008)

Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Thanh Ren (1998) đã cho thấy, thông qua hoạt động của vi sinh vật chất hữu cơ phân hủy biến thành mùn, mùn có khả năng kiên kết những hạt đất phân tán làm cho đất có cấu trúc tốt, thoáng khí, tăng độ xốp, đất

dễ cày bừa, giữ phân và giữ nước tốt hơn Khi bón phân hữu cơ một cách có hệ thống sẽ cải thiện những tính chất lý – hóa cũng như sinh học, chế độ nước, chế độ

nhiệt của đất (Lê Văn Khoa và ctv., 1996) Đất có cấu trúc làm cho đất thoáng khí

và điều hòa nhiệt độ đất, do đó giúp rễ cây trồng phát triển, trao đổi khí được tốt hơn (Hamblin, 1985), đồng thời giảm dung trọng và lực cản của đất (Sparovek và

ctv., 1999; Carter, 2002) Ngược lại, sự suy giảm chất hữu cơ trong đất đưa đến

giảm độ xốp đất và tăng dung trọng đất (Tisdall và Oades, 1982)

Trang 20

Chất hữu cơ còn có khả năng làm tăng độ hữu dụng của nước, tốc độ thấm nước cũng cao hơn, do đó hạn chế sự mất nước qua chảy tràn; giúp cây trồng hấp thu nước và dinh dưỡng tốt hơn Chất hữu cơ ảnh hưởng đến tuần hoàn nước trong đất làm cho nước ngầm sâu trong đất được tốt hơn, khả năng giữ nước cao hơn, việc bốc hơi mặt đất ít đi nhờ vậy mà tiết kiệm được nước tưới, ngoài ra chất hữu cơ có tác dụng làm cho đất thông thoáng tránh sự tạo váng và tránh xói mòn (Ngô Ngọc

Hưng và ctv., 2004)

Phế phẩm của mùa vụ trước để lại trên bề mặt đất và sự mùn hóa của những vật liệu này xảy ra sau đó có tác dụng to lớn lên tính chất vật lí đất, làm giảm khả năng bị xói mòn, cải thiện đất như một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của cây như giảm nhiệt độ, sự rắn chắc và nén dẽ của đất (Cassel và Lal,1992) Kết quả

là cấu trúc của tế khổng được bền vững, hoạt động của vi sinh vật mạnh hơn, sự thấm nước nhanh hơn, giảm sự chảy tràn và mất đất, tác động này có ý nghĩa to lớn đối với những vùng đất dốc (Coughlan, 1994) Bên cạnh đó, chất hữu cơ làm tơi xốp đất do hoạt động của vi sinh vật và tạo lớp phủ bề mặt cho đất (Hoàng Minh Châu, 1998)

 Về hóa học đất

Chất hữu cơ và mùn tham gia vào các phản ứng hóa học của đất Đặc biệt mùn nâng cao tính đệm của đất Mùn ảnh hưởng đến trạng thái oxy hóa - khử của đất, ảnh hưởng đến dung tích hấp thu và chi phối các chỉ tiêu hóa tính khác của đất

Nhiều nghiên cứu cho thấy chất hữu cơ ảnh hưởng rất lớn đến đặc tính hóa học đất Một cách trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng cung cấp chất dinh dưỡng của đất:

Tác động trực tiếp: theo nghiên cứu của Jenkinson (1988), thành phần các nguyên tố trong chất hữu cơ đặc biệt là C, N, P, S, tỷ số C:N giữa C hữu cơ và N hữu cơ dường như không thay đổi ở hầu hết các loại đất, thường dao động từ 10-14 Một sự bất biến tương tự đó là tỷ số giữa C hữu cơ và S hữu cơ khoảng 7-8 Mặt khác, C hữu cơ trong đất ít liên kết với P hữu cơ trong đất hơn so với N hữu cơ và S hữu cơ trong đất Hơn nữa, P hữu cơ ít được khoáng hóa một cách dễ dàng so với P

vô cơ sẵn có, điều này xảy ra tương tự với N, S hữu cơ so với N, S vô cơ Nguyên

Trang 21

nhân có thể là do phần lớn P hữu cơ trong đất hiện diện ở dạng inositol phosphates khá bền (Tate, 1987) Sự kết hợp của N, S thành những dạng hữu cơ sẽ làm sự rửa trôi các nguyên tố do thấm lậu, sự khoáng hóa chậm của N, S, P xảy ra cùng lúc trong phạm vi nhu cầu của cây trồng

Tác động gián tiếp: Nghiên cứu của Willett (1994) cho thấy rằng vai trò tích cực của chất hữu cơ trong việc tăng cường khả năng trao đổi cation (CEC), chất hữu

cơ liên kết với các nguyên tố vi lượng có tác dụng giảm ảnh hưởng gây độc và giúp tăng độ hữu dụng của các nguyên tố vi lượng cho cây trồng; chất hữu cơ có ảnh hưởng gián tiếp trong việc cung cấp dinh dưỡng là nâng cao khả năng trao đổi cation của đất Chất hữu cơ còn là nhân tố tích cực tham gia vào chuyển hóa lân trong đất từ dạng khó tiêu sang dạng dễ tiêu, hữu dụng cho cây trồng (Nguyễn Thị

Thúy và ctv., 1997) Mặt khác, chất hữu cơ còn có tác dụng đệm trong hầu hết các

loại đất (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999), hay tạo phức chất hữu cơ – khoáng để khắc

phục các yếu tố độc hại trong đất (Lê Văn Khoa và ctv, 1996)

Chất hữu cơ và khả năng trao đổi cation trong đất (CEC)

Theo John Wiley and Sons (1990) chất hữu cơ trong đất góp phần tăng khả năng hấp phụ cation của đất, yếu tố quan trọng của sự trao đổi dinh dưỡng Ngoài

ra, chất hữu cơ trong đất liên kết với các hóa chất hữu cơ và các loại thuốc trừ dịch hại làm giảm sự hoạt động và di chuyển của chúng, làm giảm ảnh hưởng của chúng đến môi trường

Chất hữu cơ liên kết với các nguyên tố vi lượng có tác dụng giảm ảnh hưởng gây độc và giúp tăng độ hữu dụng của các nguyên tố vi lượng cho cây trồng; chất hữu cơ có ảnh hưởng gián tiếp trong việc cung cấp dinh dưỡng là nâng cao khả năng trao đổi cation của đất (Willett, 1994)

 Về sinh học đất

Chất hữu cơ là nguồn thức ăn quan trọng cho các loài vi sinh vật sống trong đất Phần lớn vi sinh vật trong đất thuộc nhóm hoại sinh Nguồn thức ăn chủ yếu của nhóm này là dư thừa và thải thực vật Cung cấp chất hữu cơ giúp duy trì nguồn thức ăn, tạo điều kiện phát triển sinh khối, đa dạng chủng loại và kiềm hãm sự gia

Trang 22

tăng của các loài vi sinh vật có hại Bởi sự đào bới đất, tiêu thụ và phân phối lại vật liệu hữu cơ, giun đất làm thay đổi môi trường vi sinh vật đất và rễ cây, làm tăng sự

thoáng khí trong đất Theo Saffigna & et al , (1989) cung cấp chất hữu cơ vào đất

có thể kích thích gia tăng sinh khối đất, ví dụ như sự hoàn trả từ xác bã cây lúa trong khoảng 1/5 năm làm tăng sinh khối C xấp xỉ 15%, trong khi lượng C hữu cơ tổng số gia tăng thêm chỉ 9% Tỷ lệ phân hủy chất hữu cơ trong đất và độ lớn sinh khối dao động bởi những thay đổi của các chất trong xác bã hữu cơ và điều kiện môi trường Hô hấp đất, là chỉ tiêu đánh giá hoạt động của vi sinh vật đất Bossuyt

& et al., (2001) thấy rằng sự hô hấp, hoạt động của vi sinh vật đất gia tăng khi chất hữu cơ thêm vào đất và khi tỉ lệ C/N trong chất hữu cơ phù hợp thì hoạt động của vi

sinh vật càng gia tăng

Tầm quan trọng của giun đất được nghiên cứu nhưng chỉ thiên về tính chất

cơ học vì giun đất làm tăng độ phì đất và sự phát triển của cây (Syers và Springett, 1984) Ngoài ra, giun đất cũng ảnh hưởng về lý học cũng như sinh học, sự tương tác này tác động đến khả năng cung cấp chất dinh dưỡng của chất hữu cơ cho cây, chất hữu cơ có vai trò quan trọng trong tiến trình này bởi vì nó là nguồn thức ăn cho giun đất (Edwards,1981)

Chất hữu cơ trong tăng trưởng cây trồng

Theo John Wiley and Sons (1990) chất hữu cơ đất là nguồn chính cung cấp

N, và nguồn cung cấp quan trọng của P, S và các nguyên tố vi lượng Chất hữu cơ

có chứa các nguyên tố như: N, P, K, Mg và các nguyên tố vi lượng cần thiết cho cây trồng Cây trồng có thể hút trực tiếp một lượng nhỏ chất đạm hữu cơ dưới dạng amino acid như Alanin, Glycine, còn thông thường cây hút dinh dưỡng dưới dạng muối khoáng được phóng thích từ sự khoáng hóa chất hữu cơ

Theo Akio Ikono (1984) chất hữu cơ là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng qua quá trình khoáng hóa Chất hữu cơ không chỉ là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng mà còn giúp duy trì chất lượng đất theo hướng bền vững nhằm đạt năng suất cao qua sự cải tạo tính chất lý, hóa và sinh học đất (Wolgang Flaig, 1984)

Trang 23

1.2 Phân hữu cơ

Phân hữu cơ là tên gọi chung của các loại phân được sản xuất từ vật liệu hữu

cơ như các dư thừa thực vật, rơm rạ, các loại phân chuồng, phân rác, phân xanh (Nguyễn Công Vinh, 2002; Đỗ Thị Thanh Ren và Ngô Ngọc Hưng, 2004)

Phân hữu cơ là các loại chất hữu cơ mà sau khi vùi vào đất được phân hủy

và cung cấp chất dinh dưỡng cho cây, là nguồn phân quý không những làm tăng năng suất cây trồng mà còn có khả năng làm tăng hiệu lực của phân hóa học, cải tạo

và nâng cao độ phì của đất (Vũ Hữu Yêm, 1995)

Phân hữu cơ được đánh giá chủ yếu dựa vào hàm lượng chất hữu cơ (%), hoặc chất mùn có trong phân Mặc dù nền công nghiệp hóa học trên thế giới ngày càng phát triển, phân hữu cơ vẫn là nguồn phân quý, không những làm tăng năng suất cây trồng mà còn có khả năng làm tăng hiệu lực của phân hóa học, cải tạo và nâng cao độ phì của đất (Ngô Ngọc Hưng và ctv, 2004)

Phân hữu cơ có một ưu điểm là giàu về chủng loại các chất dinh dưỡng từ đa lượng (N, P, K), trung lượng (S, Ca, Mg) đến vi lượng (Fe, Mn, Zn,…) do đó có tác dụng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng (Nguyễn Như Hà, 2006 và Trần Thành Lập, 1998) Mặt khác, phân hữu cơ làm tăng lượng đạm dễ phân hủy, đạm hữu dụng

ở trong đất và cung cấp thêm cho đất một số nguyên tố vi lượng cần thiết cho cây trồng (Võ Thị Gương và ctv, 2004) Và cũng theo Nguyễn Lân Dũng (1968) nguồn đạm bổ sung cho đất chủ yếu dựa vào nguồn phân hữu cơ và sự cố định đạm của những vi sinh vật sống trong đất

Theo Lê Huy Bá (2000), cây trồng chỉ hấp thu từ phân tử hữu cơ chỉ khoảng 20-30% chất dinh dưỡng chính vì vậy mà liều lượng và thời gian bón rất quan trọng Theo Nguyễn Ngọc Hà (2000), đối với cây lúa bón toàn rơm rạ sẽ tăng năng suất lúa 16% so với hoàn toàn không bón Bên cạnh đó nếu bón kết hợp phân hóa học và phân hữu cơ thì năng suất lúa tăng 22% Ngoài ra, để đảm bảo năng suất ổn định thì phân hữu cơ chiếm ít nhất 25% trong tổng số dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng (Bùi Đình Dinh, 1984)

Trang 24

Chất hữu cơ không chỉ là nguồn dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng do mùn

bị phân hủy và hòa tan các chất vô cơ trong đất (Nguyễn bảo Vệ, 1996) mà còn có tính chất bề vững đến tiềm năng, năng suất cao nhất cho phép của đất nhờ con đường khoáng hóa và cải tạo tính chất lý – hóa đất (Wolfgang Flaig, 1984) Bên cạnh đó, nhờ có các acid humic có trong phân tử hữu cơ đã giúp cho cây trồng hấp thu tốt chất dinh dưỡng (Hoàng Minh Châu, 1998)

1.2.1 Hiệu quả phân hữu cơ trong cải thiện vật lý đất

Phân hữu cơ bón vào đất sau khi được phân giải sẽ cung cấp cho đất các chất khoáng làm phong phú thêm nguồn dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng Theo Lê Văn Tri (2002) phân hữu cơ luôn chứa các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng như: đạm, lân, kali, natri, magiê và các nguyên tố vi lượng khác nhưng hàm lượng không cao, đây là một ưu điểm mà không có một loại phân hóa học nào có được Ngoài ra, nó còn cung cấp chất mùn làm cho cấu trúc đất ngày càng tốt hơn như đất tươi xốp giúp cho bộ rễ phát triển nhanh hơn, hạn chế bốc hơi nước, chống xói mòn

Phân hữu cơ làm cho đất có kết cấu ổn định Tác dụng ổn định cấu trúc đất

phụ thuộc vào bản chất hữu cơ và mức độ mùn hóa Mùn làm tăng sự kết dính giữa các hạt đất để tạo thành đoàn lạp cà làm giảm khả năng thấm ướt khiến cho kết cấu

được bền trong nước (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)

Theo Ngô Ngọc Hưng và ctv (2004) thì bón phân hữu cơ cải thiện độ thoáng khí của đất, cung cấp oxy cho rễ cây, tạo ra con đường thoát CO2 từ không gian của vùng rễ

Phân hữu cơ làm cho đất thông thoáng, dễ cày bừa, giữ nước và giữ phân tốt (Vũ Hữu Yêm, 1995) Bên cạnh đó còn tránh được sự đóng ván, tránh xói mòn, tăng khả năng thấm nước của đất Góp phần đẩy mạnh quá trình phân giải các hợp chất vô cơ, hữu cơ thành nguồn dễ tiêu N, P, K và vi lượng… để cây trồng hấp thu, qua đó làm giảm các tổn thất do bay hơi và rửa trôi gây ra Phân hủy các độc tố trong đất, tiêu diệt các loại mầm bệnh, các loại vi sinh vật gây hại, làm giảm mầm mống sâu bệnh trong đất Góp phần làm cho nông sản sạch, chất lượng cao và an toàn trong tiêu dùng (Vũ Hữu Yêm, 1995)

Trang 25

1.2.2 Hiệu quả phân hữu cơ trong cải thiện hóa học đất

Theo Vũ Hữu Yêm (1995) cho rằng, phân hữu cơ khi bón vào đất sau khi phân giải sẽ cung cấp thêm các chất khoáng làm phong phú thêm thành phần thức

ăn cho cây và sau khi mùn hóa làm tăng khả năng trao đổi của đất Đặc biệt là các humic aicd trong phân có tác dụng khoáng hóa đạm rất tốt trong đất Tương tự, theo Jones và Jarvis (1982) cho rằng trong quá trình phân hủy, chất hữu cơ tạo ra nhiều dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng, làm giảm sự cố định K, P trong đất và có khả năng tạo phức với các kim loại

Ảnh hưởng gián tiếp trong việc cung cấp dinh dưỡng từ bón phân hữu cơ là nâng cao khả năng trao đổi cation của đất Ngoài ra, do chất hữu cơ có khả năng trao đổi cation lớn hơn 2 đến 3 lần so với khoáng sét cùng khối lượng và chứa nhiều các nguyên tố đa lượng nên dễ dàng phóng thích dinh dưỡng cho cây trồng khi xảy

ra quá trình khoáng hóa (Brady và Well, 1996)

Keo hữu cơ tham gia trao đổi với các ion khoáng nhờ đó nâng cao hiệu lực

của phân khoáng bón vào Nhận định này được Nguyễn Thị Thúy & et al., (1996)

chứng minh qua nghiên cứu về khả năng hấp thu NH3 của đất dưới tác dụng của phân hữu cơ

Sau khi bón vào đất phân hữu cơ được vi sinh vật phân giải, giải phóng chất dinh dưỡng dễ tiêu cho cây Trong quá trình phân giải phân hữu cơ có thể tăng khả năng hào tan các chất khó tan trong đất, tăng khả năng hấp phụ trao đổi của đất, ngăn ngừa sự rửa trôi dinh dưỡng nhất là với đất có thành phần cơ giới nhẹ và tăng

tính đệm của đất giữ cho pH đất ít bị thay đổi đột ngột (Hà Thị Thanh Bình và ctv.,

2002)

Trong quá trình phân giải phân hữu cơ đã hình thành các phức hữu cơ - vô cơ cũng có thể làm giảm khả năng di động của một số nguyên tố khoáng làm hạn chế khả năng đồng hóa kim loại nặng của cây, ngăn chặn được sự rửa trôi (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999) Ngoài ra, chất hữu cơ còn có khả năng hấp thụ Al, Fe, hấp thu hóa chất bảo vệ thực vật và các hợp chất hóa hữu cơ trong đất (Dương Minh Viễn, 2003)

Trang 26

Theo Vũ Hữu Yêm (1995): Phân hữu cơ khi bón vào đất sau khi phân giải sẽ cung cấp thêm các chất khoáng làm phong phú thêm thành phần thức ăn cho cây và sau khi mùn hóa làm tăng khả năng trao đổi của đất Đặc biệt hơn là các acid humic trong phân có tác dụng khoáng hóa đạm rất tốt trong đất (Nguyễn Bảo Vệ, 1996) và hữu cơ là nhân tố tham gia tích cực vào sự chuyển hóa lân trong đất từ dạng khó

tiêu sang dễ tiêu hữu dụng cho cây trồng (Nguyễn Thị Thúy và ctv., 1997)

Theo Lê Duy Phước (1968), tăng cường bồi dưỡng đất bằng phân hữu cơ kết hợp sử dụng vôi, phân hóa học hợp lý để cải tạo lý – hóa của đất, cải tạo nhanh chóng đất bạc màu, phát huy tác dụng của các chất điều hòa tăng trưởng sinh ra trong đất (Hoàng Minh Châu, 1998)

Bón phân hữu cơ vào đất làm tăng dung tích hấp thụ NH4+ Bón từ 6–15 tấn hữu cơ có khả năng hấp thụ NH4+ tăng 15-24% Bón phân hữu cơ làm tăng hiệu quả của khoáng hóa Khối lượng phân hữu cơ vùi vào đất càng nhiều thì độ phì

nhiêu phục hồi càng nhanh (Ngô Ngọc Hưng và ctv., 2004)

Sau khi bón phân hữu cơ vào đất sẽ được phân giải và cung cấp thêm các chất khoáng làm phong phú thêm nguồn thức ăn cho cây trồng Cũng theo Nguyễn Thị Thúy & et al (1996) một đặc tính rất quan trọng của phân hữu cơ là giúp ổn định độ phì nhiêu của đất vì chúng có khả năng chuyển hóa lân từ dạng khó tiêu sang dạng dễ tiêu hữu dụng cho cây trồng Hàng loạt thí nghiệm trong phòng và ngoài đồng cho thấy nhóm phosphate hoạt động trong đất tăng lên đáng kể và làm giảm rõ rệt sự cố định lân trong đất Bởi vì chất hữu cơ đã tạo với sắt, nhôm thành các chelate hay phức hệ hữu cơ- khoáng, các ion Fe, Al mất khả năng liên kết với

PO4

1.2.3 Phân hữu cơ ảnh hưởng đến vi sinh vật đất

Phân hữu cơ là môi trường thích hợp cho vi sinh vật sống và phát triển Phân chuồng có ảnh hưởng đến vi sinh vật cố định đạm, đất được bón nhiều phân chuồng làm gia tăng hiệu quả cố định đạm, số lượng vi sinh vật tăng lên làm khả năng khoáng hóa đạm cũng tăng lên Bổ sung phân hữu cơ vào đất làm tăng mật số vi

sinh vật trong đất, giúp đất có cấu trúc tốt hơn (Võ Thị Gương & et al., 2004) Bón

phân hữu cơ đơn thuần hoặc bón kết hợp phân hóa học thì vi sinh vật đất ổn định

Trang 27

hơn, dẫn đến sự cân bằng trong đất được tốt hơn (Nguyễn Ngọc Hà, 2000) Theo Wolgang Flaig (1984) hầu hết các vật liệu hữu cơ được phân hủy trong đất do hoạt động của vi sinh vật, vì thế những yếu tố ảnh hưởng đến chúng thì rất quan trọng trong việc chuyển hóa vật liệu hữu cơ, những yếu tố ảnh hưởng là nhiệt độ, ẩm độ, điều kiện thoáng khí, dinh dưỡng trong đất

Thông qua hoạt động của vi sinh vật chất hữu cơ được phân hủy biến thành mùn, mùn có khả năng liên kết các hạt đất phân tán làm cho đất có cấu trúc tốt hơn, thoáng khí, tăng độ xốp, dễ cày bừa, giữ phân và giữ nước tốt hơn Khi bón phân hữu cơ có hệ thống hợp lý sẽ cải thiện những tính chất lý-hóa cũng như sinh học,

chế độ nước, chế độ nhiệt của đất (Lê Văn Khoa và ctv., 1996)

Một số chất có hoạt tính sinh học được hình thành lại tác động đến việc tăng trưởng và trao đổi chất của cây (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)

1.2.4 Hiệu quả của phân hữu cơ trong tăng trưởng cây trồng

Theo kết quả nghiên cứu Akio Inoko (1984) tại nhật Bản thì phân hữu cơ là nguồn cung cấp dinh dưỡng có hiệu quả cao cho lúa ở đất không bón phân hay bốn phân khoáng với liều lượng thấp Nếu chỉ bón phân khoáng đơn thuần thì không đạt được năng suất cao, hơn nữa độ phì của đất dần dần giảm xuống

Phân hữu cơ sau khi bón vào đất được phân giải sẽ cung cấp thêm các chất khoáng đa lượng và vi lượng cần thiết cho cây Qua kết quả nghiên cứu của Võ Thị Gương & et al (2004) cho thấy khi bổ sung phân hữu cơ vào đất giúp tăng hàm lượng đạm hữu cơ dễ phân hủy và đạm hữu dụng trong đất cung cấp thêm cho đất một số nguyên tố vi lượng cần thiết cho cây trồng như Cu, Zn… Khi môi trường đất thích hợp cho sự sinh trưởng của cây thì sự gia tăng năng suất qua phân hữu cơ thường ít, nhưng khi môi trường đất không thích hợp thì năng suất sẽ gia tăng hơn khi được bón phân hữu cơ Theo Akio Inoko (1984) bón 20 tấn phân chuồng/ha sẽ cung cấp 78 kg N, 17 kg P và 6 kg K Nhiều thí nghiệm cũng đã chứng minh nếu muốn có năng suất cao nhất thiết phải có sự phối hợp dinh dưỡng giữa phân khoáng

và phân hữu cơ Theo Hoàng Minh Châu (1998) nhờ các acid humic trong phân hữu

cơ mà nó giúp cây hấp thụ tốt chất dinh dưỡng Các chất hữu cơ cũng là nguồn cung

Trang 28

trong đất Cũng theo Nguyễn Lân Dũng (1968) nguồn đạm bổ sung cho đất chủ yếu

từ nguồn phân hữu cơ và sự cố định đạm của vi sinh vật sống trong đất Ngoài ra, bản thân phân hữu cơ có chứa các nguyên tố N, P, K, Ca, Mg và nhiều nguyên tố vi lượng cần thiết cho cây trồng (Trần Thành Lập, 1998)

Theo Nguyễn Ngọc Hà (2000) bón hoàn toàn phân hữu cơ rơm rạ sẽ làm năng suất lúa tăng 16% so với hoàn toàn không bón phân Bón kết hợp phân hữu cơ với phân hóa học sẽ tăng năng suất lúa 22% Ngoài ra khi dùng phân hữu cơ đơn thuần hoặc khi kết hợp phân hữu cơ với phân hóa học sâu bệnh sẽ xuất hiện trễ hơn

và gây thiệt hại ít hơn (đặc biệt là bệnh đốm vằn) so với chỉ sử dụng phân hóa học đơn thuần

1.2.5 Một số lưu ý khi sử dụng phân hữu cơ

Phân hữu cơ có thể dùng bón lót cho cây trồng, nhưng bón phân chưa hoai có nhiều bất lợi như hạt cỏ, mầm bệnh từ phân gia xúc mắc bệnh, nấm bệnh, các acid hữu cơ (Vũ Hữu Yêm, 1995 và Trần Thành Lập, 1998) Hơn nữa nguồn đạm trong phân chuồng rất dễ mất do bay hơi (Lê Văn Khoa & et al, 1996)

Phân vi sinh thường chỉ phát huy tác dụng trong những điều kiện đất đai và khí hậu nhất định Thường chúng phát triển tốt ở các chân đất cao, đối với các loại cây trồng cạn Theo Vũ Hữu Yêm (2000), muốn sử dụng phân vi sinh có hiệu quả cao phải chú ý đến việc cải tạo môi trường đất trước khi bón phân vi sinh vật, như khử chua nếu thấy pH đất không phù hợp với sự phát triển của vi sinh vật

1.3 Đặc điểm và tính chất đất phù sa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)

1.3.1 Đất phù sa

Đất phù sa được hình thành do sản phẩm bồi tụ của các hệ thống sông theo những loại hình tam giác châu hoặc đồng bằng ven biển, là nhóm đất chủ lực cho sản suất lương thực và các cây ngắn ngày khác, với địa hình bằng phẳng giải quyết được nguồn tưới tiêu thuận lợi Diện tích toàn nhóm gần 3.5 triệu ha, chiếm 10% diện tích tự nhiên của cả nước Những tỉnh ở hai tam giác châu lớn (sông Hồng và

Trang 29

sông Cửu Long) chiếm tỷ lệ diện tích cao; ngoài ra có đều ở các tỉnh đồng bằng ven biển (Nguyễn Văn Bộ và et all, 2001)

Do đặc điểm cấu tạo địa chất và địa hình của nước ta, những nhóm đất bồi tụ được hình thành về phía biển Nhóm đất phù sa thường phân bố ở giữa nhóm đất bồi tụ ở hai đồng bằng tam giác châu lớn: đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long cũng như đồng bằng ven biển miền trung; ở đây thường có sự phân cách bởi các hệ thống sông ngắn hình thành các bồn lưu vực riêng (Trần Văn Chính,

1.3.2 Đất phù sa hệ thống sông Cửu Long

Đất phù sa hệ thống sông Cửu Long được hình thành do hệ thống sông Mekong chảy vào nước ta và chia ra thành 9 nhánh đổ ra biển có tên là “Cửu Long” Hàm lượng phù sa ở đây thấp hơn hệ thống sông Hồng, trong mùa mưa lũ cũng chỉ đạt 250 g/m3 trong khi ở sông Hồng con số này là 900-1300g/m3 Tuy nhiên với tổng lượng nước chảy qua sông hằng năm rất lớn khoảng 1400 tỷ m3 nên tổng lượng phù sa bồi đắp hàng năm ở đây cũng rất lớn (khoảng 1-1,5 tỷ m3) Diên tích đất phù

sa sông Cửu Long khoảng 850.000 ha phân bố dọc theo sông Tiền và sông Hậu, lớn thứ hai sau diện tích đất phèn ở đồng bằng Nam Bộ Đây là lớp phù sa trẻ nhất của đồng bằng nước ta

1.3.3 Điều kiện và quá trình hình thành

Khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long mang tính chất khí hậu nhiệt đới điển hình (không có mùa đông) với hai mùa mưa và mùa khô phân chia rõ rệt trong năm Đặc biệt mùa khô ở đây kéo dài đã chi phối tới hình thái đất khá rõ, phần lớn các phẫu diện đất phù sa sông Cửu Long có tầng loang lỗ đỏ vàng đặc trưng

Trang 30

Do phù sa thường xuyên bồi đắp và lan tỏa khá đều trên toàn bộ bề mặt nên

bề mặt đất đai ở đây khá bằng phẳng Nằm ở cuối hệ thống sông dài nên phù sa chủ yếu là phù sa mịn điều này đã quyết định đến thành phần cơ giới của đất Nhìn chung, đất ở đây có thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét và thành phần cơ giới này không có sự biến động lớn

Do những hoạt động kiến tạo, quy luật bồi đắp phù sa và môi trường ngập mặn đã làm cho lớp phủ thổ nhưỡng ở nơi đây có những đặc điểm riêng

Theo Nguyễn Vy và Đỗ Đình Thuận (1977), trên đất phù sa ngọt có hàm lượng Ca từ khá đến giàu do đất giàu hữu cơ có lượng mùn cao, cho nên keo mùn

có khả năng trao đổi cation rất cao nên Ca sẽ được hấp phụ lại trên bề mặt keo đất

Theo Lê Viết Phùng (1987) lân dễ tiêu trong đất phụ thuộc rất nhiều yếu tố như: pH, sự có mặt của các ion để tao kết tủa như Al3+, Fe2+, Fe3+, Ca2+… nên có những vùng lượng lân tổng số cao nhưng lượng lân dễ tiêu thấp Đối với đất phù sa

do không chứa phèn nên lân chủ yếu hiện diện ở dạng Ca-P

Trang 31

1.4.1 Hình thái thực vật

Theo Đỗ Huy Bích và ctv., 2003 thì :

Gấc là loại dây leo to, sống lâu năm, có rễ mập Thân cứng nhẵn, có khía cạnh Lá mọc so le có 3-5 thùy, màu lục sẫm, gốc lá hình tim, lúc đầu có lông ở mặt trên, sau nhẵn, gân 5 hình chân vịt, mép lá nguyên hoặc có răng thưa không đều, cuống lá dài 2-3 Cm, có tuyến ở phần giáp với góc lá, tua cuốn to đơn

Hoa đực và hoa cái riêng trên cùng một cây Hoa đực có lá bắc hình thận to, rộng, đài có ống ngắn, các thùy hình tam giác nhọn, màu lam sẫm,tràng 5 cánh, màu trắng hoặc ngà vàng, hình trứng thuôn, có lông dày ở mặt trong, nhị 5 Hoa cái có lá bắc nhỏ, bầu xù xì

Quả hình bầu dục hoặc hình trứng, có cuống mập, đầu tù hoặc hơi nhọn, dài 12-17 Cm, mặt ngoài có rất nhiều gai nhọn Khi chín màu đỏ, hạt dẹt màu đen, hoặc xám đen, vỏ ngoài rất cứng có răng tù ở mép, dày 5-6 mm

1.4.2 Phân bố

Theo Đỗ Huy Bích và ctv (2003), Gấc chủ yếu được trồng ở Ấn Độ, Trung

Quốc, Philippine, Lào và Việt Nam Ở Việt Nam, Gấc được trồng từ lâu đời, cây trồng có giống quả chín màu đỏ và giống màu vàng Giống quả vàng hiện thấy trồng

ở một số vùng núi thuộc tỉnh Lai Châu và Sơn La Giống quả đỏ có 2 loại: quả to và quả nhỏ, đều được trồng nhiều ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ

Trang 32

1.4.3 Điều kiện sống

Theo Nguyễn Đình Cán và Trương Canh (1976), Gấc thuộc loại cây ưa sáng

ưa ẩm, rất dễ trồng, mọc khỏe, không đòi hỏi điều kiện gì khắt khe lắm, chỉ cần chú

ý chọn nơi cao ráo, không bị úng nước và có giá để leo Cây lụi vào mùa đông, phát triển tốt trong mùa hè

1.4.4 Canh tác Gấc

Theo Giáp Kiều Hưng và ctv (2004), canh tác Gấc gồm có:

Cần phải cuốc hốc trước một tháng, mỗi hốc rộng khoảng 50 cm Dùng phân chuồng, mùn rác mục trộn lẫn với đất tốt, san bằng mặt đất sau đó gieo hạt, hoặc trồng cây con hay cây mầm

− Bón phân: trước khi trồng bón lót mỗi hốc 5-10 Kg phân chuồng trộn lẫn với tro bếp, mùn rác Trước lúc cây ra hoa bón thúc thêm phân chuồng (5-10 Kg) Ngoài ra, có thể tưới thêm nước phân chuồng, nước giải pha loãng giữa 2 lần bón thúc và trong quá trình quả lớn

Chọn cây Gấc cho quả to, sai quả, và khi chín màu đỏ để lấy giống Có 3 cách trồng: gieo thẳng, trồng bằng cây con, trồng bằng dây mầm

+ Hạt Gấc bóc hết vỏ đen bên ngoài, dùng nhân trắng bên trong để trồng Mỗi hố gieo 2-4 hạt, khi cây con mọc thì tỉa bớt để lại 1-2 cây khỏe trong hố

+ Muốn trồng bằng cây con thì phải ươm hạt, cách ươm hạt giống như cách gieo thẳng, khi cây con cao khoảng 15-20 cm thì đánh ra trồng

+ Cắt những đoạn cây bánh tẻ (không quá non cũng không quá già) của cây giống tốt, mỗi đoạn dài 35-40 cm Vùi 2/3 đoạn cây xuống hố có phân bón và rơm

rạ Tưới nước cho đủ ẩm thường xuyên, mầm sẽ nảy ra ở mắt đốt

− Chăm sóc: khi cây mới ra mầm phải thường xuyên giữ ẩm, bón thúc phân đạm hoặc nước phân chuồng để cây phát triển nhanh Gấc là loại dây leo, cần phải làm giàn rộng cho dây, giàn càng rộng dây leo càng dài và sai quả Khi cây leo lên giàn thì bón thúc phân chuồng và vun gốc cho cây Sau khi thu hoạch hết quả cần

Trang 33

đốn bỏ thân lá, chỉ để lại đoạn gốc dài khoảng 50-60 cm Cách này sẽ làm cho cây sai quả, với quả có chất lượng tốt hơn quả mùa trước

− Sâu bệnh: Gấc ít bị sâu phá, nhưng thường bị bệnh sùi đốt do tuyến trùng gây nên Bệnh này chưa có thuốc trị, chỉ có cách cắt bỏ những dây bị bệnh, năm sau cây ra ngọn mới, bệnh sẽ giảm (Nguyễn Đình Cán Và Trương Canh, 1976)

1.4.5 Thành phần và giá trị dinh dưỡng của dầu Gấc

Bảng 1 Thành phần carotenoid có trong dầu Gấc

Trang 34

Bảng 2 Thành phần các loại acid béo có trong dầu Gấc

Bảng 3 Giá trị dinh dưỡng trong 5 ml dầu Gấc

Trang 35

1.4.6 Tác dụng dược lý của dầu Gấc

Dầu Gấc có hàm lượng  - carotene rất cao, dưới tác dụng của men carotenaza có trong gan và thành ruột sẽ tách một phân tử  - carotene thành hai

phân tử vitamin A (Đỗ Huy Bích và ctv., 2003) Do đó,  - carotene có vai trò quan

trọng tạo ra vitamin A rất cần thiết cho cơ thể sinh vật Ngoài ra,  - carotene cũng

là chất chống oxy hóa tốt, phối hợp với vitamin E trung hòa gốc tự do có hại cho cơ thể

Theo Đỗ Tất Lợi (2003) trên súc vật thí nghiệm và trên người bệnh, từ năm

1986 đến nay chế phẩm dầu Gấc có khả năng sửa chữa các hư hỏng của nhiễm sắc thể, các khuyết tật của phôi thai do dioxin gây ra trên động vật, và khả năng phòng ung thư cho người bị xơ gan

Dầu Gấc còn chứa một lượng đáng kể acid béo chưa bão hòa như palmitic acid, oleic acid,…, nó hòa tan lượng  - carotene sẵn có trong dầu Gấc, giúp cơ thể

dễ hấp thu và không làm tăng cholesterol trong máu

Trang 36

CHƯƠNG II PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Phương tiện nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tại ấp Thành Nhân – xã Thành Lợi – huyện Bình Tân – Vĩnh Long từ tháng 09/2009 đến 05/2010 được trồng Gấc với giống Gấc OM3, giống Gấc chọn bằng cách chiết cành và thời gian từ lúc chiết cành đến lúc trồng là

2 tháng và được chọn từ Bộ môn sinh lý – sinh hóa – Khoa Nông nghiệp và SHƯD

– Trường Đại học Cần Thơ

Đất được phân tích tại: Phòng thí nghiệm hóa – lý đất, Bộ môn Khoa học đất Khoa Nông nghiệp và SHƯD – Trường Đại học Cần Thơ

− Mẫu đất lấy tại địa điểm trồng

− Dụng cụ lấy mẫu, dụng cụ nghiền mẫu, các hóa chất và các thiết bị dùng trong phân tích các chỉ tiêu …

− Sử dụng phần mềm excel, phần mềm MSTAT-C để xử lý số liệu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

 Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân tố với 5 nghiệm thức và 4 lần lặp lại

Trang 38

 Các thí nghiệm và số lượng phân bón:

 Các giai đoạn bón phân và liều lượng bón:

Bón lót : toàn bộ lượng P + SC, bón trước khi trồng

(NSKT: ngày sau khi trồng, TSKT: Tháng sau khi trồng)

 Thời gian thu mẫu: Thu mẫu trước khi trồng (mẫu đầu vụ), 1 TSKT, 3 TSKT,

Trang 39

− Các chỉ tiêu phân tích: pHđất , chất hữu cơ, PBray1, N_ NH4

+, N_ NO3

, Nlabile , CEC, K+.

-+ pHH2O: Được xác định bằng phương pháp trích H2O với tỷ lệ 1:2,5 và được

đo bằng pH kế

+ Chất hữu cơ: Được xác định theo phương pháp Walkley – Black (1934) dựa trên nguyên tắc oxy hóa chất hữu cơ bằng K2Cr2O7 trong môi trường H2SO4đậm đặc, sau đó chuẩn độ lượng dư K2Cr2O7 bằng FeSO4 0,1N

+ PBray1: Xác định theo phương pháp Bray1 bằng dung dịch trích 0,03M

NH4F và 0,025M HCl với tỷ lệ 1:7, lắc trong thời gian 1 phút Dung dịch trích sau

đó được đem so màu bằng máy quang phổ ở bước sóng 880 nm

+ Hàm lượng đạm hữu dụng: được trích bằng dung dịch KCl 2M tỉ lệ 1:10 (đất:dung dịch trích) Lắc một giờ, sau đó ly tâm và lọc lấy dung dịch trích Dung dịch trích thu được dung để phân tích NH4

+

và NO3

-+ Nlablie: Xác định bằng dung dịch trích KCl 2N với tỷ lệ 1:10 đun nóng ở nhiệt độ 1000C trong 4 giờ, sau đó phân tích hàm lượng N-NH4+ đo ở bước sóng 640

nm bằng máy quang phổ đo cường độ màu Kết quả hàm lượng N-NH4+ đo ở bước sóng 640 nm bằng máy quang phổ đo cường độ màu mà đem đun trừ cho kết quả N-

NH4

+

không đem đun ta được kết quả hàm lượng N labile

+ CEC: Xác định theo phương pháp không đệm, trích bằng BaCl2 0,1M Đây

là phương pháp được cải tiến từ phuong pháp của Gillman (1979) Mẫu đất được bão hòa và trích ba lần với dung dịch BaCl2 0,1M Trong phức hệ hấp thu chỉ có

Trang 40

cation Ba2+ vì tất cả các cation đều trao đổi với Ba2+ Sau đó một lượng MgSO40,02M biết trước được thêm vào hệ thống Tất cả Ba2+ hiện diện trong phức hệ hấp thu được trao đổi với Mg và kết tủa thành dạng khó hòa tan BaSO4 Chuẩn độ Mg còn thừa trong dung dịch sẽ tính toán được lượng Mg hấp phụ và tính toán được trị

số CEC

+ K+ trao đổi : được đo trên máy hấp thu nguyên tử sau khi trích bằng dung dịch BaCl2

Ngày đăng: 12/04/2018, 21:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w