TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN TẤN NGỌC ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ COMPOST LỤC BÌNH LÊN NĂNG SUẤT MỘT SỐ LOẠI RAU MÀU, LÚA VÀ DƯỠNG CHẤT TRÊN ĐẤT PH
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN TẤN NGỌC
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ (COMPOST) LỤC BÌNH LÊN NĂNG SUẤT MỘT SỐ LOẠI RAU MÀU, LÚA VÀ DƯỠNG CHẤT TRÊN ĐẤT PHÙ SA Ở
CÁI TẮC, HẬU GIANG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: KHOA HỌC ĐẤT
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
CÁI TẮC, HẬU GIANG
Cần Thơ, 2009
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
>?
NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Chứng nhận chấp thuận báo cáo luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Ảnh hưởng của phân hữu cơ (compost) lục bình lên năng suất một số loại rau màu, lúa và dưỡng chất trên đất phù sa ở Cái Tắc, Hậu Giang”
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Tấn Ngọc, MSSV: 3053159, lớp Khoa Học Đất Khóa 31
Nhận xét của Giáo viên hướng dẫn:
Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp thông qua Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2009 Cán bộ hướng dẫn
Dương Minh Viễn
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
>?
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Đề tài: “Ảnh hưởng của phân hữu cơ (compost) lục bình lên năng suất một số loại rau màu, lúa và dưỡng chất trên đất phù sa ở Cái Tắc, Hậu Giang”
Do sinh viên Nguyễn Tấn Ngọc, lớp Khoa Học Đất K31 thực hiện
Ý kiến đánh giá của giáo viên phản biện:
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2009 Giáo viên phản biện
Trang 5TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
>?
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG
Hội đồng chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp ngành Khoa Học Đất đã chấp thuận báo cáo đề tài: “Ảnh hưởng của phân hữu cơ (compost) lục bình lên năng suất một số loại rau màu, lúa và dưỡng chất trên đất phù sa ở Cái Tắc, Hậu Giang”
Do sinh viên Nguyễn Tấn Ngọc, MSSV: 3053159, lớp Khoa Học Đất K31 báo cáo trước Hội đồng
Ngày tháng năm 2009
Luận văn tốt nghiệp đã được Hội đồng đánh giá ở mức:
Nhận xét của Hội đồng:
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2009 Chủ tịch Hội đồng
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Tấn Ngọc
Trang 7TÓM TẮT LỊCH SỬ CÁ NHÂN
@ & ?
Họ và tên: Nguyễn Tấn Ngọc Ngày sinh: 30/10/1987
Nguyên quán : Phương Bình - Phụng Hiệp - Hậu Giang
Là con của ông Nguyễn Văn Sĩ và bà Nguyễn Thị Nga Nguyên quán : Phụng Hiệp - Hậu Giang
Nghề nghiệp: Làm ruộng Tốt nghiệp phổ thông trung học trường THPT Cây Dương năm 2005 Trúng tuyển vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2005, học chuyên ngành Khoa Học Đất khoá 31 (2005-2009) thuộc khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng - trường Đại Học Cần Thơ Tốt nghiệp chuyên ngành Khoa Học Đất năm 2009
Trang 8LỜI CẢM TẠ
Qua thời gian học tập, rèn luyện và tiến hành đề tài Luận văn tốt nghiệp của em đến nay đã hoàn thành Để đạt được điều này phần lớn đều do công ơn của quý Thầy Cô trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình chỉ dẫn, truyền đạt những kiến thức quý báu Đây sẽ là hành trang vô cùng vững chắc, là vốn sống giúp em vững buớc vào đời
Em xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:
Thầy Dương Minh Viễn người đã tận tình chỉ bảo em trong suốt thời gian học và thực hiện đề tài
Cô cố vấn học tập Nguyễn Mỹ Hoa và cô Trịnh Thị Thu Trang đã chỉ dạy, dìu dắt
em trong 4 năm qua
Cô Nguyễn Minh Phượng, anh Nguyễn Chí Tâm và chị Ngô Thị Hồng Thắm cùng tất cả các anh chị trong bộ môn đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để đề tài em được hoàn thiện hơn
Cảm ơn các Thầy Cô bộ môn Khoa Học Đất và Quản Lý Đất Đai đã tận tình hướng dẫn cho em trong suốt thời gian học tập
Cha mẹ người đã suốt đời vất vả, tạo điều kiện tốt nhất cho con được đến trường, luôn bên cạnh ủng hộ và động viên con trong những lúc khó khăn
Cám ơn tất cả các bạn của tôi, tập thể sinh viên lớp KHĐ K31 đã cùng tôi chung sức vượt qua những thử thách, khó khăn để có được ngày hôm nay Mong rằng với tri thức có được, các bạn cùng tôi mãi mãi là những người hữu dụng cho gia đình và
xã hội
Nguyễn Tấn Ngọc
Trang 9Nguyễn Tấn Ngọc, 2009 Ảnh hưởng của phân hữu cơ (compost) lục bình lên năng suất một số loại rau màu, lúa và dưỡng chất trên đất phù sa ở Cái Tắc, Hậu Giang Luận văn tốt nghiệp đại học, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: TS Dương Minh Viễn
Thí nghiệm được tiến hành trên ba loại cây là lúa, dưa leo và rau muống được bố trí với năm nghiệm thức và bốn lần lặp lại gồm: (1) nghiệm thức đối chứng không bón phân hữu cơ, (2) bón 5 tấn/ha compost (rể lục bình), (3) bón 5 tấn/ha compost (rể + bã bùn mía + xác mía), (4) bón 5 tấn/ha compost (rể + rơm + phân heo), (5) bón 10 tấn/ha compost (rể + rơm + phân heo) đối với dưa leo và rau muống và bón 2,5 tấn/ha compost (rể + rơm + phân heo) đối với lúa Thí nghiệm ủ khoáng hóa trong phòng với các nghiệm thức và số lần lặp lại giống như thí nghiệm ngoài đồng gồm hai hình thức ủ háo khí và ủ yếm khí nhằm tạo điều kiện tương tự như điều kiện ngoài đồng giúp đánh giá khả năng khoáng hóa của phân hữu cơ trong điều kiện có thể kiểm soát được Các chỉ tiêu về đất sau thí nghiệm như pH, C, P dễ tiêu, NH4+, NO3- được phân tích để đánh giá tác động của phân hữu cơ lên đặc tính hóa học đất Ảnh hưởng của phân hữu
cơ cũng được đánh giá thông qua năng suất của các loại cây trồng đem thí nghiệm Ngoài ra, còn khảo sát trong việc cải thiện dung trọng giữa đất có bón và không bón phân hữu cơ trên đất trồng lúa
Kết quả nghiên cứu cho thấy sau hai vụ phân hữu cơ đã có tác dụng tích cực trong việc cải thiện năng suất cây trồng, ở hầu hết các nghiệm thức có sử dụng phân hữu cơ năng suất của các cây trồng đem thí nghiệm đều tăng, đặc biệt tăng cao là ở các nghiệm thức
sử dụng phân có công thức phối trộn giữa rể lục bình + rơm + phân heo và cho hiệu
Trang 10lượng 10 tấn/ha đối với dưa leo, rau muống và bón với lượng 5 tấn/ha đối với lúa, sự khác biệt về năng suất này có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng Về mặt cải thiện dưỡng chất đất, kết quả thí nghiệm ủ khoáng hóa cho thấy ở hầu hết các nghiệm thức có bón phân hữu cơ các chỉ tiêu về hóa học đất đều tăng, trong đó ở nghiệm thức bón phân hữu cơ có công thức phối trộn giữa rể lục bình + rơm + phân heo đã làm tăng hàm lượng N dễ tiêu, P dễ tiêu, K trao đổi đã có khác biệt có ý nghĩa
so với nghiệm thức đối chứng Kết quả phân tích đất ở ba điểm trồng lúa, dưa leo và rau muống cho thấy không có sự khác biệt về các chỉ tiêu hóa học giữa đất của các nghiệm thức có sử dụng phân hữu cơ và đất của nghiệm thức đối chứng Nhưng về mặt vật lý đất, kết quả phân tích dung trọng trên đất trồng lúa đã cho thấy có sự khác biệt
có ý nghĩa giữa đất có sử dụng phân hữu cơ và đất không có sử dụng phân hữu cơ Đất
có bón phân hữu cơ phân tích cho dung trọng thấp hơn đất của nghiệm thức đối chứng Điều này cho thấy hiệu quả tích cực của phân hữu cơ trong việc cải thiện đặc tính vật
lý đất
Trang 11MỤC LỤC
Trang
XÉT DUYỆT LUẬN VĂN i
LỜI CAM ĐOAN iv
LỊCH SỬ CÁ NHÂN v
LỜI CẢM TẠ vi
TÓM LƯỢC vii
MỤC LỤC ix
DANH SÁCH HÌNH xii
DANH SACH BẢNG xiii
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.1 Tổng quan về chất hữu cơ trong đất 2
2.1.1 Khái niệm chất hữu cơ 2
2.1.2 Nguồn gốc chất hữu cơ trong đất 3
2.1.3 Vai trò của chất hữu cơ 4
2.2 Phân hữu cơ 5
2.2.1 Hiệu quả phân hữu cơ trong cải thiện chất lượng đất 5
2.2.2 Hiệu quả của phân hữu cơ trong tăng trưởng cây trồng 6
2.2.3 Đối với vi sinh vật 7
2.3.4 Một số lưu ý khi sử dụng phân hữu cơ 8
2.4.5 Một số dạng phân hữu cơ và vài nghiên cứu ứng dụng 8
2.3 Đặc điểm và tính chất của đất phù sa ở Đồng bằng sông Cửu Long 11
2.3.1 Phân bố 11
2.3.2 Đặc tính của đất phù sa 11
Trang 122.4 Nguồn gốc và đặc điểm của một số cây trồng sử dụng trong thí nghiệm 13
2.4.1 Cây lúa 13
2.4.2 Cây dưa leo 14
2.4.3 Cây rau muống 15
Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 17
3.1 Thí nghiệm ủ khoáng hóa 17
3.1.1 Thí nghiệm ủ yếm khí 17
3.1.2 Thí nghiệm ủ háo khí 18
3.2 Thí nghiệm đồng ruộng 18
3.2.1 Thí nghiệm trên lúa 18
3.2.2 Thí nghiệm trên dưa leo 19
3.2.3 Thí nghiệm trên rau muống 20
3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 21
3.3.1 Phương pháp phân tích 21
3.3.2 Thống kê, xử lý số liệu 21
Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 22
4.1 Tính chất của đất phù sa Cái Tắc 22
4.2 Thành phần và tính chất của các loại phân hữu cơ đem thí nghiệm 23
4.3 Khả năng khoáng hóa của phân hữu cơ 24
4.3.1 Khả năng khoáng hóa của phân hữu cơ trong điều kiện yếm khí 24
4.3.2 Khả năng khoáng hóa của phân hữu cơ trong điều kiện háo khí 26
4.4 Hiệu quả của phân hữu cơ trong cải thiện năng suất cây trồng và chất lượng đất 28
4.4.1 Hiệu quả của phân hữu cơ trong việc cải thiện năng suất cây trồng 28
4.4.2 Hiệu quả của phân hữu cơ trong việc cải thiện tính chất đất 33
4.4.3 Hiệu quả kinh tế khi sử dụng phân hữu cơ 36
Trang 13Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37
5.1 Kết luận 37
5.2 Kiến nghị 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38 PHỤ CHƯƠNG
Trang 14DANH SÁCH HÌNH
2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ lên sự khoáng hóa đạm trong đất ở điều kiện yếm khí
24
3 Ảnh hưởng của phân hữu cơ lên sự khoáng hóa đạm trong đất ở điều kiện háo khí
26
6 Hiệu quả của phân hữu cơ trong cải thiện năng suất dưa leo 31
8 Hiệu quả của phân hữu cơ trong cải thiện năng suất rau muống 32
9 Hiệu quả của phân hữu cơ trong cải thiện dung trọng đất 35
Trang 156 Ảnh hưởng của phân hữu cơ lên sự khoáng hóa lân và các cation
của đất trong thí nghiệm ủ háo khí
27
7 Hiệu quả của phân hữu cơ trong cải thiện năng suất lúa 29
8 Ảnh hưởng của phân hữu cơ trong cải thiện dưỡng chất đất trồng lúa
Trang 16Chương 1: GIỚI THIỆU
Đồng bằng sông Cửu Long từ lâu đã lấy nông nghiệp làm nền tảng để phát triển kinh tế nên những vấn đề năng suất cây trồng và cải thiện độ phì của đất ngày càng được mọi người quan tâm Ngày nay, do dân số tăng nhanh, áp lực của phát triển kinh tế cùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật, thâm canh tăng vụ được thực hiện phổ biến và rộng rãi nhằm tăng năng suất giúp nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân
Tuy nhiên, thâm canh liên tục cùng với việc sử dung phân bón hóa học một cách tùy ý trong nhiều năm có thể ảnh hưởng xấu đến chất lượng của đất đai, làm cho đất ngày càng suy thoái về mặt hóa, lý và sinh học từ đó ảnh hưởng xấu đến năng suất cây trồng
Vì vậy, để bảo vệ được đất đai trong quá trình canh tác lâu dài cần phải có một chế độ quản lý phù hợp chất dinh dưỡng của đất, trong đó chất hữu cơ đặc biệt được quan tâm Nhưng trong điều kiện khí hậu của nước ta quá trình phân hủy chất hữu cơ xảy ra tương đối mạnh, và tập quán sản xuất của người dân ít khi bón phân hữu cơ nên hàm lượng hữu cơ trong đất thường không cao (Dương Minh Viễn, 2007) Do đó, bón phân hữu cơ bổ sung cho đất được xem là biện pháp ổn định và cải thiện đất lâu dài (Võ Thị
Gương et al., 2004) Đề tài: “Ảnh hưởng của phân hữu cơ (compost) lục bình lên năng
suất một số loại rau màu, lúa và dưỡng chất trên đất phù sa ở Cái Tắc, Hậu Giang” cho
ta thấy được cái nhìn tổng quát và góp phần khẳng định thêm vai trò tích cực của phân hữu cơ trong việc cải thiện chất lượng đất và nâng cao năng suất cây trồng cũng như vai trò tích cực trong nền sản xuất nông nghiệp bền vững
Mặt khác, vì lục bình là một loài thủy sinh có rất nhiều ở Hậu Giang, phân hữu cơ lục bình kết hợp với các nguồn nguyên liệu khác như: bã bùn mía, xác mía, rơm, phân heo giúp người dân có thể tận dụng được các nguồn phế phẩm sẵn có ở địa phương để làm phân bón cho nông nghiệp và giảm thiểu ô nhiễm môi trường đồng thời góp phần tăng được hiệu quả kinh tế
Trang 17Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT HỮU CƠ TRONG ĐẤT 2.1.1 Khái niệm chất hữu cơ
Chất hữu cơ của đất được xem là các vật chất hữu cơ được hình thành trong quá trình chuyển hoá các vật liệu hữu cơ sau khi xâm nhập vào đất Chất hữu cơ là thành phần đặc trưng tạo nên sự khác biệt đất với mẫu chất và là thành phần quan trọng tạo nên độ phì của đất Lượng và tính chất của chất hữu cơ quyết định đến nhiều tính chất hóa lý
và sinh học đất (Dương Minh Viễn, 2007)
Theo John Wiley and Sons (1990) chất hữu cơ trong đất bao gồm thành phần dễ phân hủy và thành phần khó phân hủy Thành phần khó phân hủy có tốc độ khoáng hoá rất chậm, do đó khả năng phóng thích dinh dưỡng kém Trên tầng đất mặt của tất cả các loại đất, chất hữu cơ trong đất chứa trên 90% N và S tổng số, trên 75% P tổng số (Stevesnon, 1994)
Theo Wolfgang Flaig (1984) chất hữu cơ trong đất có nhiều ảnh hưởng lên tăng trưởng cây trồng Quá trình khoáng hoá chất hữu cơ xảy ra trong suốt quá trình hình thành và chuyển hoá của chất hữu cơ trong đất Vi sinh vật có vai trò quan trọng trong sự khoáng hoá chất hữu cơ N, P và S thường là những nguyên tố dinh dưỡng chính được phóng thích vào đất từ quá trình khoáng hoá chất hữu cơ Ngay cả trên đất ngập nước,
có độ yếm khí cao như đất lúa, khoáng hóa N, P và S của chất hữu cơ cũng đóng góp
phần quan trọng trong cung cấp dinh dưỡng cho lúa (Zhao-liang Zhu et al., 1984)
Chất hữu cơ trong đất có thể chia làm hai phần: phần thứ nhất là chất hữu cơ chưa chuyển hoá và những tàn tích hữu cơ: thân, rễ, lá thực vật, xác động vật, xác vi sinh vật Phần thứ hai là những chất hữu cơ đã chuyển hoá Phần chất hữu cơ đã chuyển hoá được chia làm hai nhóm: chất mùn và khác chất mùn Trong đất nhóm khác chất mùn chiếm tỷ lệ thấp trong toàn bộ chất hữu cơ thường không vượt quá 10 – 15% (trừ đất than bùn hoặc đất dưới rừng có tầng thảm mục dày) Nhóm chất hữu cơ này gồm các chất hữu cơ thông thường có trong động vật, thực vật như: carbonhydrate, protein, lignin, lipid, aldehyde…Nhóm hợp chất mùn là những hợp chất cao phân tử có cấu tạo phức tạp Chúng chiếm tỷ lệ cao trong chất hữu cơ (khoảng 80 – 90%)
Trang 18Hình 1.1 Sự chuyển hóa chất hữu cơ trong đất (Dương Minh Viễn, 2003)
Chất hữu cơ có vai trò quan trọng tạo nên độ phì của đất, với những đặc trưng về tính
lý, hóa học, có nhiều ảnh hưởng lên sinh trưởng của thực vật và môi trường sống cũng như hoạt động của vi sinh vật trong đất (Dương Minh Viễn, 2003)
Do chất hữu cơ có vai trò quan trọng trong đất nên để duy trì độ phì nhiêu đất cần phải thường xuyên bổ sung chất hữu cơ cho đất để bù đắp lượng chất hữu cơ bị mất đi do quá trình khoáng hoá (Phạm Tiến Hoàng, 2003) Việc bổ sung chất hữu cơ cho đất đặc biệt quan trọng ở vùng nhiệt đới do sự mất mát chất hữu cơ do khoáng hoá xảy ra mạnh hơn so với vùng ôn đới
2.1.2 Nguồn gốc chất hữu cơ trong đất
Chất hữu cơ trong đất được bổ sung từ các nguồn chính sau:
§ Xác sinh vật (động vật, thực vật, vi sinh vật và các động vật đất) Trong đó xác thực vật là nguồn bổ sung chủ yếu cho đất, trung bình hàng năm có 5 – 15 tấn thân, lá, rễ/ha Ngoài thực vật thì xác vi sinh vật, động vật đất cũng cung cấp một phần chất hữu cơ đáng kể, mặc dù khối lượng không lớn nhưng có chất lượng tốt (Phạm Tiến Hoàng, 2003)
§ Phân hữu cơ: Các loại phân hữu cơ được bón vào đất gồm phân chuồng, phân xanh, Ở vùng thâm canh nông dân có thể bón đến 80 tấn/ha/năm (Phạm Tiến Hoàng, 2003)
Trang 192.1.3 Vai trò của chất hữu cơ Chất hữu cơ trong tăng trưởng cây trồng
Chất hữu cơ quan trọng và giữ vai trò chính bởi vì nó ảnh hưởng đến đặc tính lý, hóa
và sinh học đất (Son and Ramaswami, 1997) Theo John Wiiley and Sons (1990) chất hữu cơ đất là nguồn chính cung cấp N, và nguồn cung cấp quan trọng của P, S và các nguyên tố vi lượng Chất hữu cơ có chứa các nguyên tố như: N, P, K, Mg và các nguyên tố vi lượng cần thiết cho cây trồng Cây trồng có thể hút trực tiếp một lượng nhỏ chất đạm hữu cơ dưới dạng amino acid như Alanin, Glycine, còn thông thường cây hút dinh dưỡng dưới dạng muối khoáng được phóng thích từ sự khoáng hóa chất hữu
cơ
Theo Akio Ikono (1984), chất hữu cơ là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng qua quá trình khoáng hóa Chất hữu cơ không chỉ là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng mà còn giúp duy trì chất lượng đất theo hướng bền vững nhằm đạt năng suất cao qua sự cải tạo tính chất lý- hóa và sinh học đất (Wolgang Flaig, 1984)
Chất hữu cơ trong cải thiện tính chất đất
Tác dụng cải tạo và bảo vệ đất: giúp đất ít bị rửa trôi, chất hữu cơ có tác dụng như keo giữ lại các hạt đất nhỏ, nếu chất mùn trong đất tăng lên thì các chất dinh dưỡng do ta bón vào cho cây ít bị rửa trôi hay bị bay hơi Ngoài ra, nhờ vào đặc tính keo của chất mùn mà chất hữu cơ làm tăng tính đệm của đất Thông qua hoạt động của vi sinh vật, chất hữu cơ bị phân hủy thành mùn và mùn có khả năng liên kết những hạt đất phân tán làm cho đất có cấu trúc tốt, thoáng khí dễ cày bừa, giữ nước và giữ phân tốt hơn Theo
Olk et al (2007) sự khoáng hóa đạm từ chất hữu cơ của đất có khả năng cung cấp
khoảng 50- 80% lượng đạm mà cây hấp thu
Hầu hết các loại đất nếu chỉ bón phân đạm lâu ngày sẽ có xu hướng làm giảm pH đất Bón phân hữu cơ giúp duy trì pH của đất do chất hữu cơ có khả năng đệm pH Ngoài
ra, chất mùn có thể tạo phức với nhôm, làm giảm tính di động của Al và những tác hại
do Al gây ra như: độc chất, pH thấp và gây bất động P (Jones and Javis, 1981)
Theo John Wiley and Sons (1990) chất hữu cơ trong đất góp phần tăng khả năng hấp phụ cation của đất, yếu tố quan trọng của sự trao đổi dinh dưỡng (Willett, 1994) Ngoài
ra, chất hữu cơ trong đất liên kết với các hóa chất hữu cơ và các loại thuốc trừ dịch hại làm giảm sự hoạt động và di chuyển của chúng, làm giảm ảnh hưởng của chúng đến môi trường
Trang 20Chất hữu cơ liên kết với các nguyên tố vi lượng có tác dụng giảm ảnh hưởng gây độc
và giúp tăng độ hữu dụng của các nguyên tố vi lượng cho cây trồng Chất hữu cơ là nguồn cung cấp vi lượng cho đất, nhưng chúng cũng có thể làm giảm độ hữu dụng của một số nguyên tố vi lượng, chẳng hạn như sự cố định Cu trên đất than bùn (Lê Anh Tuấn, 2003)
Chất hữu cơ còn có khả năng làm tăng độ hữu dụng của nước, tốc độ thấm nước cũng cao hơn, do đó hạn chế sự mất nước qua chảy tràn; giúp cây trồng hấp thu nước và dinh dưỡng tốt hơn Chất hữu cơ ảnh hưởng đến tuần hoàn nước trong đất làm cho nước ngầm sâu trong đất được tốt hơn, khả năng giữ nước cao hơn, việc bốc hơi mặt đất ít đi nhờ vậy mà tiết kiệm được nước tưới, ngoài ra chất hữu cơ có tác dụng làm
cho đất thông thoáng tránh sự tạo váng và tránh xói mòn (Ngô Ngọc Hưng et al.,
2004)
Về mặt sinh học đất
Chất hữu cơ cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của vi sinh vật đất, liên quan đến đặc tính hóa sinh của đất quan trọng trong phì nhiêu đất và dinh dưỡng cây trồng (Gaur
et al., 1990) trích trong Man et al (2007) Các nguồn như phân chuồng, phân xanh chế
phẩm của vụ mùa… khi bón vào đất sẽ kích thích quần thể vi khuẩn và nấm phát triển,
kế đến là sự phát triển của hệ động vật nguyên sinh và trùn đất, góp phần tạo nên sự cân bằng hệ vi sinh vật trong môi trường đất Hàm lượng chất hữu cơ trong đất có liên
quan đến sinh khối vi sinh vật đất (Saffigna et al., 1989) trích trong Ngô Thị Hồng
Liên (2006) Hàm lượng chất hữu cơ trong đất cao còn góp phần tăng mật số và đa dạng vi sinh vật, do đó tăng tính cạnh tranh góp phần giảm sự phát triển của vi sinh vật
có hại trong đất
2.2 PHÂN HỮU CƠ
Phân hữu cơ là tên gọi chung của các loại phân được sản xuất từ các vật liệu hữu cơ như xác bã thực vật, phân chuồng, phân xanh, các phế phẩm nông nghiệp, và công nghiệp Sau khi phân giải có khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Phân hữu
cơ giúp tăng năng suất cây trồng do có thể cải thiện các tính chất hóa lý và sinh học đất, qua đó nâng cao độ phì nhiêu của đất và làm tăng hiệu lực của phân vô cơ (Bùi Đình Dinh, 1998)
2.2.1 Hiệu quả phân hữu cơ trong cải thiện chất lượng đất
Chất hữu cơ là nhân tố không thể thiếu trong canh tác để đạt hiệu quả cao Do đó phân hữu cơ là nguồn cung cấp chất hữu cơ chính để tăng cường chất hữu cơ trong đất Ngày
Trang 21nay phân hữu cơ ngày càng được coi trọng trong sản xuất nông nghiệp bền vững do những đặc tính có lợi của nó trong việc cải tạo đất
Khaleel et al (1996) khảo sát 42 ruộng thí nghiệm tìm thấy sự tương quan có ý nghĩa
giữa bón phân hữu cơ và giảm dung trọng đất Tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đất giúp tăng độ xốp của đất, tăng độ bền của đoàn lạp, giảm dung trọng đất Theo một thí
nghiệm khác của Châu Minh Khôi et al (2007) thí nghiệm về hiệu quả của phân hữu
cơ lên đất liếp vườn trồng cam cho thấy bón phân chuồng và bã bùn mía ủ hoai với lượng 10t/ha/năm mỗi loại giúp gia tăng hoạt động của vi sinh vật đất, hàm lượng chất hữu cơ, khả năng hấp phụ và trao đổi cation của đất
Phân hữu cơ bón vào đất sau khi được phân giải sẽ cung cấp cho đất các chất khoáng làm phong phú thêm nguồn dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng Theo Lê Văn Tri (2002) phân hữu cơ luôn chứa các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng như: đạm, lân, kali, natri, magiê và các nguyên tố vi lượng khác nhưng hàm lượng không cao, đây
là một ưu điểm mà không có một loại phân hóa học nào có được Ngoài ra, nó còn cung cấp chất mùn làm cho cấu trúc đất ngày càng tốt hơn như đất tươi xốp giúp cho
bộ rễ phát triển nhanh hơn, hạn chế bốc hơi nước, chống xói mòn
Keo hữu cơ tham gia trao đổi với các ion khoáng nhờ đó nâng cao hiệu lực của phân
khoáng bón vào Nhận định này được Nguyễn Thị Thúy et al (1996) chứng minh qua
nghiên cứu về khả năng hấp thu NH3 của đất dưới tác dụng của phân hữu Cũng theo tác giả này một đặc tính rất quan trọng của phân hữu cơ là giúp ổn định độ phì nhiêu của đất vì chúng có khả năng chuyển hóa lân từ dạng khó tiêu sang dạng dễ tiêu hữu dụng cho cây trồng Hàng loạt thí nghiệm trong phòng và ngoài đồng cho thấy nhóm phosphate hoạt động trong đất tăng lên đáng kể và làm giảm rõ rệt sự cố định lân trong đất Bởi vì chất hữu cơ đã tạo phức với sắt, nhôm, ngăn cản chúng liên kết với PO4 Bón phân hữu cơ giúp cải thiện cấu trúc đất như làm mất độ cứng, làm gia tăng khả năng giữ nước, nhiệt độ đất, cải tạo độ thoáng Ngoài ra, bón phân hữu cơ làm gia tăng chủng loại và số lượng vi khuẩn amôn hóa, vi khuẩn khoáng hóa, xạ khuẩn và các loại nấm có ích rõ rệt, gián tiếp làm cho cấu trúc đất trở nên tốt hơn
2.2.2 Hiệu quả của phân hữu cơ trong tăng trưởng cây trồng
Phân hữu cơ sau khi bón vào đất được phân giải sẽ cung cấp thêm các chất khoáng đa
lượng và vi lượng cần thiết cho cây Qua kết quả nghiên cứu của Võ Thị Gương et al
(2004) cho thấy khi bổ sung phân hữu cơ vào đất giúp tăng hàm lượng đạm hữu cơ dễ phân hủy và đạm hữu dụng trong đất cung cấp thêm cho đất một số nguyên tố vi lượng
Trang 22của cây thì sự gia tăng năng suất qua phân hữu cơ thường ít, nhưng khi môi trường đất không thích hợp thì năng suất sẽ gia tăng hơn khi được bón phân hữu cơ Theo Akio Inoko (1984) bón 20 tấn phân chuồng/ha sẽ cung cấp 78 kg N, 17 kg P và 6 kg K Nhiều thí nghiệm cũng đã chứng minh nếu muốn có năng suất cao nhất thiết phải có sự phối hợp dinh dưỡng giữa phân khoáng và phân hữu cơ Theo kết quả nghiên cứu Akio Inoko (1984) tại Nhật Bản thì phân hữu cơ là nguồn cung cấp dinh dưỡng có hiệu quả cao cho lúa ở đất không bón phân hay bốn phân khoáng với liều lượng thấp Nếu chỉ bón phân khoáng đơn thuần thì không đạt được năng suất cao, hơn nữa độ phì của đất dần dần giảm xuống
Theo Hoàng Minh Châu (1998) nhờ các acid humic trong phân hữu cơ mà nó giúp cây hấp thụ tốt chất dinh dưỡng Các chất hữu cơ cũng là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây thông qua quá trình khoáng hoá và hòa tan các chất vô cơ trong đất Cũng theo Nguyễn Lân Dũng (1968) nguồn đạm bổ sung cho đất chủ yếu từ nguồn phân hữu cơ
và sự cố định đạm của vi sinh vật sống trong đất Ngoài ra, bản thân phân hữu cơ có chứa các nguyên tố N, P, K, Ca, Mg và nhiều nguyên tố vi lượng cần thiết cho cây trồng (Trần Thành Lập, 1998)
Theo Nguyễn Ngọc Hà (2000) bón hoàn toàn phân hữu cơ rơm rạ sẽ làm năng suất lúa tăng 16% so với hoàn toàn không bón phân Bón kết hợp phân hữu cơ với phân hóa học sẽ tăng năng suất lúa 22% Theo Bùi Đình Dinh (1984) để đảm bảo năng suất ổn định thì phân hữu cơ chiếm ít nhất là 25% trong tổng số dinh dưỡng cung cấp cho cây Ngoài ra khi dùng phân hữu cơ đơn thuần hoặc khi kết hợp phân hữu cơ với phân hóa học sâu bệnh sẽ xuất hiện trễ hơn và gây thiệt hại ít hơn (đặc biệt là bệnh đốm vằn) so với chỉ sử dụng phân hóa học đơn thuần (Nguyễn Ngọc Hà, 2000)
2.2.3 Đối với vi sinh vật
Phân hữu cơ là môi trường thích hợp cho vi sinh vật sống và phát triển Phân chuồng
có ảnh hưởng đến vi sinh vật cố định đạm, đất được bón nhiều phân chuồng làm gia tăng hiệu quả cố định đạm, số lượng vi sinh vật tăng lên làm khả năng khoáng hóa đạm cũng tăng lên Bổ sung phân hữu cơ vào đất làm tăng mật số vi sinh vật trong đất, giúp
đất có cấu trúc tốt hơn (Võ Thị Gương và ctv, 2004) Bón phân hữu cơ đơn thuần hoặc
bón kết hợp phân hóa học thì vi sinh vật đất ổn định hơn, dẫn đến sự cân bằng trong đất được tốt hơn (Nguyễn Ngọc Hà, 2000) Theo Wolgang Flaig (1984) hầu hết các vật liệu hữu cơ được phân hủy trong đất do hoạt động của vi sinh vật, vì thế những yếu tố ảnh hưởng đến chúng thì rất quan trọng trong việc chuyển hóa vật liệu hữu cơ, những yếu tố ảnh hưởng là nhiệt độ, ẩm độ, điều kiện thoáng khí, dinh dưỡng trong đất
Trang 232.2.4 Một số lưu ý khi sử dụng phân hữu cơ
Phân hữu cơ có thể dùng bón lót cho cây trồng, nhưng bón phân chưa hoai có nhiều bất lợi như: hạt cỏ, mầm bệnh từ phân gia xúc mắc bệnh, nấm bệnh, các acid hữu cơ (Vũ Hữu Yêm, 1995 và Trần Thành Lập, 1998) Hơn nữa nguồn đạm trong phân chuồng rất
dễ mất do bay hơi (Lê Văn Khoa et al., 1996)
Phân vi sinh vật thường chỉ phát huy tác dụng trong những điều kiện đất đai và khí hậu nhất định Thường chúng phát triển tốt ở các chân đất cao, đối với các loại cây trồng cạn (Đường Hồng Dật, 2002) Theo Vũ Hữu Yêm (2000), muốn sử dụng phân vi sinh
có hiệu quả cao phải chú ý đến việc cải tạo môi trường đất trước khi bón phân vi sinh vật, như khử chua nếu thấy pH đất không phù hợp với sự phát triển của vi sinh vật
2.2.5 Một số dạng phân hữu cơ và vài nghiên cứu ứng dụng Một số dạng phân hữu cơ
Một nền nông nghiệp bền vững và an toàn về lương thực trong quản lý tổng hợp dinh dưỡng cho cây trồng, nhất thiết phải tính đến việc sử dụng phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp Chỉ chỉ có trên cơ sở đó thì độ phì nhiêu đất mới được bảo tồn và năng suất cây trồng mới ổn định Trên thế giới, trước năm 1950 khi mà công nghiệp hóa học chưa phát triển thì người nông dân đều dùng chất thải của động vật và tàn dư của thực vật để bón cho cây trồng Ở Việt Nam, trước năm 1954 thì nông nghiệp Việt Nam là nông nghiệp hữu cơ, nông dân ta có thói quen dùng phân chuồng để bón cho cây trồng
Về sau, việc dùng phân hóa học ngày càng tăng do trong nước đã sản xuất được phân hóa học và nhập phân hóa học từ nước ngoài càng nhiều Tuy nhiên đến nay lượng phân chuồng bón cho cây trồng vẫn chiếm rất cao trong tổng số phân bón hàng năm (Phạm Tiến Hoàng, 2003)
Ở nước ta hiện nay trên thị trường xuất hiện khá nhiều dạng phân hữu cơ như: phân hữu cơ tổng hợp chế biến từ bùn, rác thải công nghiệp, phân trùng, phân xanh, phân hữu cơ vi sinh vật, phân chuồng…
Phân xanh là loại phân hữu cơ, sử dụng các loại bộ phận trên mặt đất của cây Phân xanh thường được sử dụng tươi, không qua quá trình ủ Vì vậy, phân xanh chỉ phát huy hiệu quả sau khi được phân hủy Cho nên người ta thường dùng phân xanh để bón lót cho cây hàng năm hoặc dùng để “ép xanh” (tủ gốc) cho cây lâu năm Tuy vậy, ở một số địa phương vùng Trung Bộ, phân xanh được chặt nhỏ và bón cho ruộng lúa, người ta gọi là “bón bổi” Cây phân xanh thường là cây họ đậu, tuy vậy cũng có một số loại cây
Trang 24có một số loài cây mọc hoang dại được sử dụng làm phân xanh Các loại cây họ đậu thường có các vi sinh vật cộng sinh sống trên rễ và giúp cây hút đạm từ không khí Lượng đạm này về sau có thể cung cấp một phần cho cây trồng Cây họ đậu còn có khả năng hút lân khó tiêu và kali từ những lớp đất sâu mạnh hơn nhiều loài cây khác
Phân vi sinh vật là những chế phẩm trong đó có chứa các loài vi sinh vật có ích Có nhiều nhóm vi sinh vật có ích bao gồm vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn được sử dụng để làm phân bón Trong số đó quan trọng là các nhóm vi sinh vật cố định đạm, hòa tan lân, phân giải chất hữu cơ, kích thích sinh trưởng cây trồng…
Phân than bùn hiện nay được sản xuất trên cơ sở than bùn Trên thị trường có các loại phân hỗn hợp với các tên thương phẩm sau đây: Biomix (Củ Chi), Biomix (Kiên Giang), Biomix (Plây Cu), Biofer (Bình Dương), Komix (Thiên Sinh), Komix RS (La Ngà), Compomix (Bình Điền II), phân lân hữu cơ sinh học sông Gianh và nhiều loại phân lân hữu cơ sinh học ở nhiều tỉnh phía Bắc
Phân tro, phân dơi: Tro các loại được sử dụng làm phân bón rất có hiệu quả ở những loại đất thiếu kali hoặc trong trường hợp bón quá nhiều phân đạm Phân dơi có hàm lượng lân rất cao Nhiều gia đình nông dân đã vào các hang động trong núi đá, thu gom phân dơi về bón ruộng, bón cho cây trồng và đã thu được kết quả tốt Nhiều hộ nông dân đã nuôi dơi để lấy phân bón ruộng
Phân rác là loại phân hữu cơ được chế biến từ rác, cỏ dại, thân lá cây xanh, bèo tây, rơm rạ, chất thải rắn thành phố… được ủ với một số phân men như phân chuồng, nước giải, lân, vôi… cho đến khi hoai mục
Ngoài ra tại các vùng trồng mía sản xuất đường tại Vị Thanh – Hậu Giang, người dân
đã tận dụng bã bùn và xác mía còn lại ủ hoai mục làm phân bón cho cây trồng và đã cho kết quả rất tốt
Một số nghiên cứu và ứng dụng phân hữu cơ trong nông nghiệp
Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học trong những năm gần đây, phân hữu cơ là một đề tài luôn được quan tâm đặc biệt, có rất nhiều nghiên cứu đã được công bố và áp dụng ngoài thực tế Kết quả nghiên cứu của Dương Minh Viễn và Võ Thị Gương (2006) bón phân hữu cơ từ bã bùn mía được bón trở lại cho vùng đất phèn trồng mía cho thấy hàm lượng Al trao đổi và Al liên kết hữu cơ giảm đáng kể theo lượng tăng của phân bã bùn mía, hàm lượng Pi (lân vô cơ) dễ tiêu trong đất tăng lên đáng kể so với không bón giúp cải thiện Pi dễ tiêu trên đất phèn
Trang 25Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đình Tân (2000) cho thấy rằng bón phân lân kết hợp với bón phân hữu cơ cho chiều cao cây lúa, số lóng/cây, số cây/lô khác biệt có ý nghĩa
so với nghiệm thức không bón phân hữu cơ Tương tự, kết quả của Trần Bá Linh (1999) cho thấy phân hữu cơ từ hầm ủ biogas có tác dụng tốt trên đất phèn, hiệu lực của phân gia tăng đáng kể ở vụ thứ hai
Theo Tống Thị Thu Thủy (1986), đất phù sa bón phân xanh có hiệu quả làm gia tăng năng suất lúa ở nghiệm thức bón 30 tấn/ha phân xanh so với nghiệm thức bón phân đạm 25-100kgN/ha Đối với đất phèn, bón phân xanh ở liều lượng 20-30 tấn/ha có tác dụng tương tự như bón phân đạm ở mức 75-100kgN/ha Khi bón phân chuồng kết hợp với phân đạm và lân thích hợp (2/3 N và 1/2 P) là mang lại hiệu quả cao nhất
Theo Nguyễn Công Vinh (2002), bón phân hữu cơ làm tăng năng suất và phẩm chất cây trồng Những nghiên cứu về cải tạo đất phiến thạch sét thoái hóa bằng phân chuồng
và phân xanh làm tăng năng suất cả hai loại cây trồng trong hệ thống xen canh (sắn,
lạc), cải tạo độ phì của đất Ngoài ra, theo Dương Minh Viễn et al (2006) thì sử dụng
phân hữu cơ từ bã bùn mía sẽ cải thiện dinh dưỡng P và độc chất Al trên đất phèn Theo Phạm Tiến Hoàng (2003), vai trò của phân hữu cơ trong việc điều hòa dinh dưỡng tròg đất khá rõ ở nhiều yếu tố, trong đó rõ nét nhất là việc chuyển hóa lân khó tan thành lân dễ tan cung cấp lân cho cây trồng Với tác động của các lượng phân khác nhau cho thấy lân tổng số và lân dễ tiêu tăng lên rõ rệt
Bảng 1.1 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến hàm lượng lân dễ tiêu trong đất phèn (sau cấy 30 ngày)
Công thức thí nghiệm Hàm lượng P2O5 dễ tiêu (mg/100g đất)
Trang 26Bảng 1.2 Ảnh hưởng của phân chuồng đến việc cải thiện lân trong đất phù sa sông Hồng
Phân chuồng (tấn/ha)
Al-P (%)
Fe-P (%)
Ca-P (%)
P2O5(%)
P2O5 dễ tiêu (mg/100g đất)
5-7 10-12
5,70 14,90
22,4 31,1
9,9 15,0
0,066 0,100
10,2 25,9
(Nguồn: Phạm Tiến Hoàng (2003))
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Phấn và Nguyễn Kim Chung (2005) cho thấy qua hai vụ năng suất lúa trung bình có chiều hướng gia tăng ở các nghiệm thức bón phân hóa học cao và giảm ở các nghiệm thức bón phân hóa học thấp Tuy nhiên xét về hiệu quả kinh tế, nghiệm thức bón phân hóa học với liều lượng thấp có hoặc không có kết hợp với phân hữu cơ (rơm ủ hoai mục) cho hiệu quả kinh tế cao hơn nghiệm thức bón phân hóa học cao có hoặc không có kết hợp với phân hữu cơ
2.3 ĐẶC ĐIỂM VÀ TÍNH CHẤT CỦA ĐẤT PHÙ SA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
2.3.1 Phân bố
Theo Nguyễn Vy và Đỗ Đình Thuận (1977) do sự chi phối của các qui luật lắng đọng phù sa nên địa hình và mức độ úng nước, cũng như phẫu diện, chiều sâu phân bố lớp hữu cơ… điều có khác nhau ít nhiều ở các vùng đất Bởi vậy đất phù sa được chia thành hai loại đất như sau:
§ Vùng đất phù sa giữa châu thổ: gồm phần Đông Nam tỉnh Long An, tỉnh Hậu Giang Đây là vùng đất đã được khai thác lâu (trên 150 năm)
§ Vùng đất phù sa ở miền Tây châu thổ: Đây là vùng đất có độ phì nhiêu tiềm tàng cao hơn đất phù sa giữa châu thổ, chủ yếu được phân bố ven sông Tiền và sông Hậu
2.3.2 Đặc tính của đất phù sa
Theo Đoàn Thị Thu Thảo (1987) kết luận đất phù sa có các đặc tính: là loại đất chua ít, đạm tổng số ở mức trung bình, lân tổng số và lân dễ tiêu từ nghèo đến khá, Ca trao đổi khá, Mg trao đổi khá
Trang 27Theo Nguyễn Vy và Đỗ Đình Thuận (1977), trên đất phù sa ngọt có hàm lượng Ca từ khá đến giàu do đất giàu hữu cơ có lượng mùn cao, cho nên keo mùn có khả năng trao đổi cation rất cao nên Ca sẽ được hấp phụ lại trên bề mặt keo đất
Theo Lê Viết Phùng (1987) lân dễ tiêu trong đất phụ thuộc rất nhiều yếu tố như: pH, sự
có mặt của các ion để tao kết tủa như Al3+, Fe2+, Fe3+, Ca2+… nên có những vùng lượng lân tổng số cao nhưng lượng lân dễ tiêu thấp Đối với đất phù sa do không chứa phèn nên lân chủ yếu hiện diện ở dạng Ca-P
2.3.3 Một số điểm cần lưu ý để duy trì và cải thiện độ phì cho đất phù sa
Kết quả nghiên cứu của Luu Hong Man et al (2001), sử dụng liên tục 100% phân hữu
cơ làm tăng năng suất so với đối chứng khoảng 13,9% và sử dụng 50% phân hữu cơ kết hợp với 50% phân vô cơ làm tăng năng suất lúa khoảng 22,5%, mật số vi sinh vật trong đất nhiều hơn so với sử dụng 100% phân vô cơ
Tăng độ phì nhiêu đất bằng cách bón phân hữu cơ và trồng luân canh với cây họ đậu, cây phân xanh để cải thiện lý hóa tính của đất là biện pháp hữu hiệu đối với lúa và cây
ăn trái (Võ Thị Gương, 2006)
Quản lý sử dụng phân hữu cơ và vô cơ có thể cải thiện năng suất cây trồng và duy trì
độ phì của đất Bón phân hữu cơ và hóa học một cách cân đối, làm đất trong điều kiện
ẩm độ thích hợp, áp dụng mô hình canh tác luân canh với cây màu là hoạt động cần thiết để cải thiện năng suất lúa và phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững (Lê Văn Khoa, 2003)
Luân canh lúa với cây trồng khác có ý nghĩa cải thiện năng suất lúa Ở Cần Thơ, năng suất lúa vụ Hè Thu đạt cao nhất 4,6 t/ha khi trồng trên nền đất vụ trước có trồng khoai lang, kế đến trên đất vụ trước trồng đậu nành (4,2 t/ha), và bắp (3,9 t/ha), so với đất vụ trước là lúa (3,4 t/ha) Hiệu suất sử dụng phân N của lúa lúa trồng trên nền đất vụ trước trồng khaoi lang là 29,1% cao hơn so với trên nền đất trồng lúa là 18,5% (Ngô Ngọc
Hưng et al., 2005)
Quản lý chất thải thực vật trở nên quan trọng để duy trì lâu dài độ phì của đất cho hệ thống cây trồng Sử dụng hiệu quả chất thải thực vật có thể làm thay đổi tiến trình hoạt động của vi sinh vật, có ảnh hưởng đến dinh dưỡng hữu dụng và năng suất cây trồng (Oliver C Devêvre và William R Horwáth, 2000) Các dư thừa thực vật để lại tại chỗ không kể hệ thống rể, cung cấp từ 10-60 kgN/ha (Võ Thị Gương, 2004)
Rơm rạ lúa khi thu hoạch được xử lý bằng chế phẩm sinh học (Trichoderma sp) để tạo
Trang 28protein trong đất khi bón hữu cơ (rơm rạ đã qua xử lý) kết hợp với phân hóa học cao hơn trường hợp ruộng lúa không bón hoàn toàn hoặc chỉ bón phân hóa học (Luu Hong
có lẽ của các bộ lạc sống ở vùng này cách đây khoảng 2000 năm
Roschevicz (1931), phân các loài Oryza thành 4 nhóm: Sativa, Granulata, Coarctata
và Rhynchoryza, đồng thời khẳng định nguồn gốc của Oryza Sativa là một trường hợp của nhóm Sativa, có lẻ Oryza Sativa f pontanea ở Ấn Độ, Đông Dương hoặc Trung
Quốc
Đặc tính sinh học
Lúa là các loài thực vật sống một năm, có thể cao tới 1-1,8 m, đôi khi cao hơn, với các
lá mỏng, hẹp bản (2-2,5 cm) và dài 50-100 cm Các hoa nhỏ thụ phấn nhờ gió mọc thành các cụm hoa phân nhánh cong hay rủ xuống, dài 30-50 cm Hạt là loại quả thóc (hạt nhỏ, cứng của các loại cây ngũ cốc) dài 5-12 mm và dày 2-3 mm Cây lúa non được gọi là mạ Sau khi ngâm ủ, người ta có thể gieo thẳng các hạt thóc đã nảy mầm vào ruộng lúa đã được cày, bừa kỹ hoặc qua giai đoạn gieo mạ trên ruộng riêng để cây lúa non có sức phát triển tốt, sau một khoảng thời gian thì nhổ mạ để cấy trong ruộng lúa chính Sản phẩm thu được từ cây lúa là thóc Sau khi xát bỏ lớp vỏ ngoài thu được sản phẩm chính là gạo và các phụ phẩm là cám và trấu Gạo là nguồn lương thực chủ yếu của hơn một nửa dân số thế giới (chủ yếu ở châu Á và châu Mỹ La tinh), điều này làm cho nó trở thành loại lương thực được con người tiêu thụ nhiều nhất (http://vi.wikipedia.org)
Yêu cầu ngoại cảnh
Nhiệt độ có tác dụng quyết định tới tốc độ sinh trưởng của cây lúa nhanh hay chậm, tốt hay xấu Trong phạm vi giới hạn (20-300C), nhiệt độ cáng tăng cây lúa càng phát triển
Trang 29mạnh Nhiệt độ trên 400C hoặc dưới 170C, cây lúa tăng trưởng chậm lại Dưới 130C cây lúa ngừng tăng trưởng, nếu kéo dài một tuần cây lúa sẽ chết Phạm vi nhiệt độ mà cây lúa có thể chịu đựng được và nhiệt độ tối hảo thay đổi tùy theo giống lúa, giai đoạn sinh trưởng, thời gian bị ảnh hưởng và tình trạng sinh lý của cây lúa
Thông thường, cây lúa chỉ sử dụng được khoảng 65% năng lượng mặt trời chiếu tới ruộng lúa Trong điều kiện bình thường, lượng bức xạ trung bình từ 250-300 cal/cm2/ngày thì cây lúa sinh trưởng tốt và trong phạm vi này thì lượng bức xạ càng cao thì quá trình quang hợp xảy ra càng mạnh
Trong điều kiện thủy lợi chưa hoàn chỉnh, lượng mưa là một trong những yếu tố khí hậu có tính chất quyết định đến việc hình thành các vùng trồng lúa và các vụ lúa trong năm Trong mùa mưa ẩm, lượng mưa cần thiết cho cây lúa trung bình là 6-7 mm/ngày
và 8-9mm/ngày trong mùa khô nếu không có nguồn nước khác bổ sung Nếu tính luôn lượng nước thấm rút và bốc hơi thì trung bình một tháng cây lúa cần một lượng mưa khoảng 200 mm và suốt vụ lúa năm tháng cần khoảng 1000 mm
Đất trồng lúa cần giàu dinh dưỡng, nhiều hữu cơ, tơi xốp, thoáng khí, khả năng giữ nước, giữ phân tốt, tầng canh tác dầy để bộ rễ ăn sâu, bám chặt vào đất và huy động nhiều dinh dưỡng nuôi cây Loại đất thịt hay đất thịt pha sét, ít chua hoặc trung tính (pH = 5,5-7,5) là thích hợp đối với cây lúa Tuy nhiên, muốn trồng lúa đạt năng suất cao, đất ruộng cần bằng phẳng và chủ động nước Trong thực tế, có những giống lúa có thể thích nghi được trong những điều kiện đất đai khắc nghiệt (như: phèn, mặn, khô hạn, ngập úng) rất tốt (Nguyễn Ngọc Đệ, 2007)
Về lượng phân bón nói chung, trên hầu hết các loại đất phù sa ở đồng bằng sông Cửu Long, công thức phân 90-40-30 (kgN, P2O5, K2O/ha) có thể xem như mức khuyến cáo tổng quát cho đa số các giống lúa ngắn ngày (Nguyễn Ngọc Đệ, 2007) Nhưng cũng tùy theo nơi và tập quán sản xuất của nông dân mà lượng phân bón có thể cao hơn
2.4.2 Cây dưa leo
Dưa leo tên khoa học là Cucumis sativus L., tên tiếng anh là Cucumber, thuộc họ bầu
bí (Cucurbitaceae) (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1999; Trần Thị Ba, 2000)
Nguồn gốc
Dưa leo có nguồn gốc châu Phi, châu Mỹ được đưa vào châu Á từ 3000 năm trước đây
(Nguyễn Mân, 1984) Theo Phạm Hồng Phúc và et al (2001) dưa leo có nguồn gốc ở
Ấn Độ cách đây hơn 3000 năm, sau đó được lan truyền theo hướng tây châu Á, châu