1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÁC ĐỊNH các LOÀI VI KHUẨN gây VIÊM ĐƯỜNG SINH dục ở CHÓ cái tại một số cơ sở THÚ y THUỘC THÀNH PHỐ cần THƠ

52 265 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 6,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN THỊ THU TRANG XÁC ĐỊNH CÁC LOÀI VI KHUẨN GÂY VIÊM ĐƯỜNG SINH DỤC Ở CHÓ CÁI TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ... Đề tài: Xác định các l

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN THỊ THU TRANG

XÁC ĐỊNH CÁC LOÀI VI KHUẨN GÂY VIÊM ĐƯỜNG SINH DỤC Ở CHÓ CÁI TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: BÁC SĨ THÚ Y

Tên đề tài:

XÁC ĐỊNH CÁC LOÀI VI KHUẨN GÂY VIÊM

ĐƯỜNG SINH DỤC Ở CHÓ CÁI TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ

THÚ Y THUỘC THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

MSSV: 3042930

Lớp: Thú Y K30

Cần Thơ, 2009

Trang 3

Đề tài: Xác định các loài vi khuẩn gây viêm đường sinh dục ở chó cái

tại một số cơ sở Thú Y thuộc Thành Phố Cần Thơ do sinh viên Nguyễn Thị Thu Trang lớp Thú Y Khóa 30 thực hiện tại phòng kiểm nghiệm vệ sinh thực phẩm súc sản, Bộ môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ từ tháng 01/2009 đến tháng 20/04/2009

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN THÚ Y



Cần Thơ, ngày tháng năm 2009 Cần Thơ, ngày tháng năm 2009

Duyệt bộ môn Duyệt giáo viên hướng dẫn

LƯU HƯU MÃNH LÝ THỊ LIÊN KHAI

Cần Thơ, ngày tháng năm 2009

Duyệt Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN



Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đến ba mẹ, người đã sinh thành dưỡng dục, suốt đời hy sinh cho tương lai chúng con

Chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Cần Thơ, Bộ môn Thú

Y, Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, cùng tất cả quý thầy cô đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập

Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Lý Thị Liên Khai đã hết lòng hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành biết ơn thầy Nguyễn Văn Biện, cô Đồng Thị Thu, cùng tất cả các anh chị đang công tác tại Bệnh Xá Thú Y Trường Đại Học Cần Thơ, Trạm Thú

Y Quận Ninh Kiều, Phòng mạch Thú Y 30/4 đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Cám ơn tất cả các anh chị phòng kiểm nghiệm vệ sinh thực phẩm súc sản, Bộ môn Thú Y và các bạn cùng lớp Thú Y Khóa 30 đã chia sẽ cùng tôi những buồn vui trong quá trình học tập cũng như hết lòng hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian

thực hiện đề tài

Nguyễn Thị Thu Trang

Trang 5

MỤC LỤC

Trang tựa i

Trang duyệt ii

Lời cảm tạ iii

Mục lục iv

Danh mục sơ đồ và bảng vi

Danh mục hình vii

Tóm lược viii

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2

2.1 Tình hình nghiên cứu các loài vi khuẩn gây viêm đường sinh dục của chó cái ở nước ngoài và ở Việt Nam 2

2.1.1 Tình hình nghiên cứu các lòai vi khuẩn gây viêm đường sinh dục của chó cái ở nước ngoài 2

2.1.2 Tình hình nghiên cứu các loài vi khuẩn gây viêm đường sinh dục của chó cái ở Việt Nam 3

2.2 Cấu trúc và chức năng cơ quan sinh dục cái 3

2.2.1 Buồng trứng (noãn sào) 4

2.2.2 Ống dẫn trứng (noãn quản) 5

2.2.3 Tử cung 5

2.2.4 Âm đạo 7

2.2.5 Âm hộ 7

2.3 Tìm hiểu về các bệnh viêm đường sinh dục của chó cái 7

2.3.1 Viêm tử cung cấp tính 7

2.3.2 Viêm mủ tử cung 8

2.3.3 Viêm âm đạo 10

2.4 Các nguyên nhân gây viêm đường sinh dục ở chó cái 11

2.4.1 Vi khuẩn Staphylococcus 11

Trang 6

2.4.2 Vi khuẩn Streptococcus 15

2.4.3 Vi khuẩn Escherichia coli 18

Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 20

3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện 20

3.2 Mẫu vật 20

3.3 Phương tiện thí nghiệm 20

3.3.1 Dụng cụ 20

3.3.2 Môi trường 20

3.3.3 Hóa chất 21

3.4 Phương pháp thí nghiệm 21

3.4.1 Phương pháp chẩn đoán lâm sàng 21

3.4.2 Phương pháp nuôi cấy phân lập 21

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 29

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30

4.1 Tỷ lệ viêm đường sinh dục ở chó cái tại một số cơ sở Thú Y thuộc Thành Phố Cần Thơ 30

4.2 Tỷ lệ viêm đường sinh dục ở chó cái theo giống 30

4.3 Tỷ lệ viêm đường sinh dục ở chó cái theo tuổi 32

4.4 Tần số xuất hiện các triệu chứng lâm sàng thường gặp trên chó cái bị bệnh viêm đường sinh dục 33

4.5 Kết quả phân lập các loài vi khuẩn trên dịch viêm đường sinh dục của chó cái 35

4.6 Kết quả khảo sát tỷ lệ nhiễm ghép vi khuẩn trên tổng số mẫu phân tích 36

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37

5.1 Kết luận 37

5.2 Đề nghị 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

PHỤ CHƯƠNG 40

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG



Sơ đồ Trang

Sơ đồ 3.1 Qui trình nuôi cấy phân lập vi khuẩn Staphylococcus và Streptococcus 28

Sơ đồ 3.2 Qui trình nuôi cấy phân lập vi khuẩn E coli 29

Bảng

Bảng 3.1 Định danh vi khuẩn Staphylococcus aureus bằng phản ứng sinh hóa 24 Bảng 3.2 Định danh vi khuẩn Streptococcus bằng phản ứng sinh hóa 25 Bảng 3.3 Định danh vi khuẩn E coli bằng phản ứng sinh hóa 26

Bảng 4.1 Tỷ lệ viêm đường sinh dục ở chó cái tại một số cơ sở Thú y thuộc Thành Phố Cần Thơ 30 Bảng 4.2 Tỷ lệ viêm đường sinh dục ở chó cái theo giống 31 Bảng 4.3 Tỷ lệ viêm đường sinh dục ở chó cái theo tuổi 32 Bảng 4.4 Tần số xuất hiện các triệu chứng lâm sàng thường gặp trên chó cái bị bệnh viêm đường sinh dục 33 Bảng 4.5 Kết quả phân lập các loài vi khuẩn trên dịch viêm đường sinh dục của chó cái 35 Bảng 4.6 Tỷ lệ nhiễm ghép vi khuẩn trên tổng số mẫu phân tích 36

Trang 8

DANH MỤC HÌNH



Hình 2.1 Cơ quan sinh dục của chó cái 4

Hình 3.1 Khuẩn lạc Staphylococcus aureus trên môi trường MSA 22

Hình 3.2 Khuẩn lạc Escherichia coli trên môi trường MC 23

Hình 3.3 Phản ứng sinh hóa định danh vi khuẩn Escherichia coli 27

Hình 4.1 Dịch viêm trắng đục chảy ra ngoài âm hộ (viêm mủ tử cung thể hở) 34

Hình 4.2 Âm hộ bình thường, không có dịch viêm chảy ra ngoài (viêm mủ tử cung thể kín) 34

Hình 4.3 Tử cung tích mủ 34

Trang 9

TÓM LƯỢC



Bệnh viêm đường sinh dục ở chó cái là một bệnh khá nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng sinh sản của vật nuôi Nếu bệnh không được phát hiện và điều trị kịp thời thì có thể dẫn đến thú chết Một trong những nguyên nhân gây bệnh là do

vi khuẩn Escherichia coli, Staphylococcus spp., Streptococcus spp Qua thời gian

khảo sát trên 401 con chó cái đến khám và điều trị tại một số cơ sở Thú Y thuộc Thành Phố Cần Thơ có 25 con chó bị viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 6,23% Trong đó, chó thuộc giống ngoại (8,65%) cao hơn chó nội (3,63%) và tuổi không phải là yếu tố quyết định bệnh viêm đường sinh dục ở chó cái Các triệu chứng lâm sàng thường gặp trên chó bị bệnh viêm đường sinh dục là tiểu nhiều, bụng căng to, biếng ăn, uống nước nhiều và biểu hiện đặc trưng ở chó bị bệnh viêm đường sinh dục thể hở là có dịch viêm chảy ra ngoài âm hộ Tỷ lệ dương tính với

E coli là 24%, Staphylococcus spp là 28%, Streptococcus spp là 28% Nguyên

nhân gây viêm đường sinh dục không phải chỉ do nhiễm một loài vi khuẩn mà có

sự nhiễm ghép của hai hay ba loài vi khuẩn

Trang 10

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống người dân ngày càng được nâng cao về vật chất lẫn tinh thần Do đó nhu cầu giải trí của con người cũng ngày càng phong phú và đa dạng hơn Nuôi chó cảnh là một trong những thú giải trí tao nhã đang được nhiều người lựa chọn Bên cạnh đó, với bản chất thông minh, nhanh nhẹn và khả năng khứu giác tốt, chó còn được nuôi và huấn luyện làm nhiệm

vụ an ninh quốc phòng Đây là một trong những lý do làm gia tăng số lượng và chủng loại chó đang được nuôi tại Việt Nam

Cùng với sự gia tăng về số lượng và chủng loại thì sự gia tăng về bệnh tật ở chó cũng đang là nỗi lo của nhiều người nuôi Trong đó bệnh viêm đường sinh dục

ở chó cái là một trong những bệnh khá nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng sinh sản của vật nuôi Nếu bệnh không phát hiện và điều trị kịp thời chó sẽ bị nhiễm trùng huyết, nhiễm độc huyết, hôn mê và chết Theo Quinn và ctv (1997), một trong những nguyên nhân gây viêm đường sinh dục ở chó cái là do hệ vi khuẩn

ở ngoài môi trường, vi khuẩn ở âm hộ, vi khuẩn đường tiết niệu, như Staphylococus spp., Streptococcus spp., E coli gây ra

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, được sự cho phép của Bộ môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ chúng tôi

tiến hành thực hiện đề tài: "Xác định các loài vi khuẩn gây viêm đường sinh dục ở

chó cái tại một số cơ sở Thú Y thuộc Thành Phố Cần Thơ"

Mục tiêu của đề tài:

Xác định tỷ lệ viêm đường sinh dục ở chó cái tại một số cơ sở Thú Y thuộc Thành Phố Cần Thơ

Xác định các loài vi khuẩn gây viêm đường sinh dục ở chó cái tại một số cơ

sở Thú Y thuộc Thành Phố Cần Thơ

Trang 11

Năm 1975, Sandholm, Vasenius và Kivisto đã nghiên cứu về bệnh học của

bệnh viêm tử cung tích mủ ở chó và cho rằng Escherichia coli xuất hiện thường xuyên nhất trong các trường hợp viêm tử cung tích mủ, ông đã tìm thấy vi khuẩn E

coli trong dịch viêm của 85 con chó trên 100 con bị viêm tử cung tích mủ

Trong nghiên cứu về vi sinh, miễn dịch học và các nội độc tố trong bệnh viêm

tử cung tích mủ ở chó của Borresen và Naess (1977), tỷ lệ nhiễm E coli lả 86% (83 mẫu), và các loài vi khuẩn khác cũng được tìm thấy là Streptococcus, Klebsiella,

Proteus, Staphylococcus và Micrococcus

Năm 1988, Stone, Littman, Robertson và Bovee nghiên cứu về sự rối loạn chức năng thận trong bệnh viêm tử cung tích mủ ở chó, đã tìm thấy 26 mẫu có sự

hiện diện của vi khuẩn trong 27 trường hợp chó bị viêm tử cung tích mủ, E coli chiếm tỷ lệ 59% và ngoài ra còn tìm thấy những vi khuẩn khác như Staphylococcus,

Klebsiella, Pseudomonas, Seratia, Enterococcus and Streptococcus spp

Năm 1991, Johnson đã báo cáo nguyên nhân gây viêm âm đạo mãn tính ở chó cái tại các phòng mạch Thú Y thuộc Bắc Mỹ là do các loài vi khuẩn như:

Streptococcus spp., Staphylococcus spp., Bacillus spp., Proteus spp Ngoài ra ở

những chó khỏe mạnh các vi khuẩn như Klebsiella spp., Staphylococcus spp.,

Corynebacterium spp và Proteus spp cũng được phân lập

Ở Ấn Độ, năm 1994, Gandotra, Singla, Kochhar, Chauhan và Dwivedi nghiên

cứu về vi khuẩn học trên chó bị bệnh viêm tử cung tích mủ, đã tìm thấy 38,47%

Staphylococcus aureus, 30,77% Staphylococcus spp., 20,07% Corynebacterium

spp và 7,69% E coli từ dịch viêm của chó

Năm 1997, Fransson, Lagerstedt, Hellmen, Jonssontrong nghiên cứu tìm hiểu

về sinh lý máu, vi khuẩn học và nồng độ nội độc tố trong huyết tương trên chó bị

Trang 12

bệnh viêm tử cung tích mủ và những bệnh khác ở tử cung đã phân lập được vi

khuẩn E coli từ 43 con chó trong 48 con bị viêm tử cung tích mủ

Năm 2008, Coggan, Melville, Oliveira, Faustino, Moreno, Benites nghiên cứu

về vi sinh và bệnh tích của bệnh viêm tử cung tích mủ ở chó tại bệnh viện Thú Y, thuộc khoa Thú Y, trường Đại học São Paulo, Bazil đã khảo sát trên 197 mẫu và có

kết quả phân lập các loại vi khuẩn như: E coli (74,1%), Klebsiella pneumoniae subsp pneumoniae (3%), Citrobacter diversus (3%), Pseudomonas aeruginosa (2%), Staphylococcus kloosii (2%), Salmonella spp (2%), Proteus mirabilis (2%),

Streptococcus spp (2%), Morganella morgani (1%), Klebsiella pneumoniae subsp azanae (1%), Staphylococcus schleiferi subsp coagulans (1%), Staphylococcus intermedius (1%), Staphylococcus epidermidis (1%), Streptococcus canis (1%), và Corynebacterium jeikeium (1%)

2.1.2 Tình hình nghiên cứu các loài vi khuẩn gây viêm đường sinh dục của chó cái ở Việt Nam

Năm 2007, Huỳnh Minh Trí nghiên cứu tình hình nhiễm Staphylococcus

aureus và E coli trên chó bị bệnh viêm tử cung tại thành phố Cần Thơ cho thấy có

26 mẫu dương tính với Staphylococcus aureus chiếm tỷ lệ 65%, 13 mẫu dương tính với E coli chiếm tỷ lệ 32,5% và có sự nhiễm ghép giữa hai loài vi khuẩn này (20%)

Lê Văn Thọ, Lê Quang Thông, Huỳnh Thị Thanh Ngọc, Nguyễn Thị Huỳnh Hoa và Phan Thị Kim Chi (2009), khảo sát bệnh viêm tử cung ở chó và kết quả điều trị từ năm 2003-2008 tại Thành Phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương đã cho

rằng vi khuẩn phổ biến nhất trong dịch viêm là vi khuẩn E coli chiếm tỷ lệ 61,76% (105/170) và vi khuẩn Staphylococcus spp chiếm tỷ lệ 10,59% (37/170)

2.2 Cấu trúc và chức năng cơ quan sinh dục cái

Cơ quan sinh dục của thú cái gồm có: buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo, âm hộ và tuyến vú (Lăng Ngọc Huỳnh, 2003)

Trang 13

Hình 2.1 Cơ quan sinh dục của chó cái (www.vetmed.wsu.edu )

Về cấu trúc thành vách, mỗi phần của đường sinh dục có 4 lớp:

Lớp ngoài cùng là màng tương nối kết với màng phúc mạc của mặt trong thành bụng

Lớp cơ trơn gồm lớp cơ dọc và lớp cơ tròn

Lớp dưới màng nhày chứa mạch máu, dây thần kinh và bạch huyết

Lớp màng nhày lót mặt trong của đường sinh dục gồm 1 lớp tế bào biểu

mô có khả năng phân tiết Lớp màng nhày và lớp dưới màng nhày được gọi là lớp nội mạc (Trần Thị Dân, Dương Nguyên Khang, 2006)

2.2.1 Buồng trứng (noãn sào)

Ở chó, buồng trứng nhỏ, hình bầu dục, dài và dẹt Mỗi noãn sào thường ở sau hay tiếp xúc với cực sau của thận tương ứng Kích thước của buồng trứng thay đổi tùy theo trọng lượng cơ thể Chó có tầm vóc lớn thì buồng trứng lớn hơn nhưng chênh lệch không quá 0,2 cm (Lăng Ngọc Huỳnh, 2003)

Cực trước của buồng trứng tiếp xúc với vòi Fallope, cực sau dính với sừng tử cung bằng dây tròn gọi là dây chằng noãn Buồng trứng bên phải nằm về trước so

Trang 14

với buồng trứng bên trái, khoảng đốt sống lưng 3-4 Buồng trứng bên trái nằm ở đốt sống lưng 4-5

Cắt ngang noãn sào ta thấy: ngoài cùng là miền vỏ, có nhiều noãn bào phát triển ở những giai đoạn khác nhau; bên trong là miền tủy có chứa nhiều mạch máu

và dây thần kinh

Noãn sẽ rụng khi chín và được phần loa kèn hứng lấy, chỗ noãn rụng sẽ biến thành thể vàng có chức phận nội tiết, tiết ra hormone progesterone có tác dụng trong việc biến đổi lớp niêm mạc của thành tử cung để đón nhận trứng thụ tinh và thể vàng sẽ tồn tại trong suốt thời gian mang thai Nếu trứng không thụ tinh, sau vài tuần thể vàng sẽ biến đi, niêm mạc thành tử cung bị bong ra và được đẩy ra ngoài, thể vàng biến thành thể trắng (Lăng Ngọc Huỳnh, 2003)

Buồng trứng là tuyến sinh dục chính của thú cái, có chức năng dưỡng cho trứng chín và tiết ra những hormone sinh dục có ảnh hưởng đến những đặc điểm giới tính và chức năng của tử cung

2.2.2 Ống dẫn trứng (noãn quản)

Ống dẫn trứng còn gọi là vòi Fallope, nhỏ, dài khoảng 5-8 cm, hơi cong bắt đầu từ cạnh bên buồng trứng bởi một phần loe rộng gọi là loa kèn, ống dẫn trứng thông với đầu sừng tử cung (Trần Thị Dân, Dương Nguyên Khang, 2006)

Loa kèn chiếm 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ

Chức năng cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi thụ tinh trong ống dẫn trứng, tiết ra các chất để nuôi dưỡng noãn, duy trì sự sống và gia tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng, tiết ra các chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi đi vào tử cung

2.2.3 Tử cung

Tử cung là nơi thai phát triển, nằm trong xoang chậu, phía dưới trực tràng và phía trên bóng đái Tử cung thông với ống dẫn trứng về phía trước và âm đạo về phía sau, gồm các phần sau:

Trang 15

Sừng tử cung: ở chó sừng tử cung dài 12-15 cm Các sừng có đường kính đồng đều và gần như thẳng Từ thân chúng rẽ ra thành hình chữ V hướng về mỗi bên thận

Thân tử cung: có hình ống, phía trước thông với đầu sừng tử cung, phía sau thông với âm đạo qua 1 eo hẹp gọi là cổ tử cung Ở chó, thân tử cung dài khoảng 2-3 cm

Cổ tử cung: là chỗ eo lại, ngăn cách cổ tử cung với âm đạo Có tính chất cứng rắn hơn các phần khác là do ở trong có các nếp xoắn nhô lên Nhiệm vụ của cổ tử cung là ngăn cản ngoại vật vào tử cung (Lăng Ngọc Huỳnh, 2003)

Thành tử cung có cấu tạo gồm 3 lớp: nội mạc, cơ và vỏ ngoài

Lớp vỏ ngoài với nửa trên là mô liên kết và phúc mạc, nửa dưới là mô liên kết

Cơ tử cung: gồm nhiều lớp cơ trơn ngăn bởi mô liên kết, xếp theo 4 lớp không phân định rõ rệt Lớp trong cùng và lớp ngoài cùng chủ yếu gồm lớp cơ vòng dày, lớp cơ dọc mỏng hơn, 2 lớp giữa có nhiều mạch máu lớn Trong thời kỳ mang thai,

tử cung phát triển mạnh, tăng về số lượng nhờ phân chia các tế bào cơ trơn cũng như sự trương to của từng tế bào cơ Sau giai đoạn mang thai, 1 số tế bào cơ trơn bị tiêu đi và các tế bào cơ khác giảm kích thước Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt, trương lực co càng cao khi có nhiều estrogen trong máu và trương lực

co giảm khi có nhiều progesterone trong máu (Trần Thị Dân, Dương Nguyên Khang, 2006) Vai trò của cơ tử cung cũng góp phần cho sự di chuyển của tinh trùng và của chất nhày trong tử cung, đồng thời đẩy thai ra ngoài khi sinh đẻ

Nội mạc tử cung: gồm lớp biểu mô và lớp đệm Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng

Chức năng quan trọng khác của tử cung là gây thoái hóa thể vàng nếu thú không mang thai, nhờ vậy thú lên giống trở lại Tuy nhiên, khi vật mang thai, nếu

tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều prostaglandine F2α gây phân hủy thể vàng ở buồng trứng và thú sẽ bị sảy thai do thiếu progesterone

Trang 16

2.2.4 Âm đạo

Có hình ống nối tiếp với tử cung, phía sau ngăn cách với âm hộ bởi tiền đình

Âm đạo chó tương đối dài và hẹp ở phần trước, là nơi tiếp nhận dương vật con đực khi giao phối và để cho thai ra ngoài khi đẻ (Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh, 2002)

Thành âm đạo không có tuyến và gồm 3 lớp: lớp ngoài cùng là màng tổ chức liên kết sợi; ở giữa là lớp cơ trơn mỏng hơn cơ tử cung, cơ vòng ở trong, cơ dọc ở ngoài; trong cùng là lớp niêm mạc màu hồng nhạt, có nhiều nếp gấp dọc

2.2.5 Âm hộ

Là phần sau cùng của cơ quan sinh dục cái, thông ra ngoài bởi một khe thẳng đứng, nằm dưới hậu môn, được giới hạn bởi 2 mép dày ở 2 bên và chụm lại bằng một chóp nhọn ở dưới Lỗ thoát tiểu mở ra về phía trước của mép dưới Ở thành

âm hộ có các tuyến nhờn (Lăng Ngọc Huỳnh, 2003)

Ngoài ra, ở mép dưới cũng có một cơ quan cảm giác đặc biệt là âm vật, nằm trong một hố nhỏ

2.3 Tìm hiểu về các bệnh đường sinh dục của chó cái

2.3.1 Viêm tử cung cấp tính

Bệnh thường xảy đối với những trường hợp như có sự sảy thai, thai chết lưu, sót nhau, hoặc đẻ khó Đặc điểm của bệnh là quá trình viêm làm phá hủy tế bào ở các lớp của tử cung làm ảnh hưởng đến sức khỏe của vật nuôi, gây hiện tượng rối loạn sinh sản, thậm chí là làm mất khả năng sinh sản

Tất cả những nguyên nhân trên tạo điều kiện cho các tập đoàn vi khuẩn xâm nhập từ bên ngoài vào tử cung, vào những vết trầy xước trên niêm mạc tử cung

Trang 17

Chúng tăng cường phát triển về số lượng và độc lực gây viêm Vi khuẩn E coli là

vi khuẩn phổ biến nhất được tìm thấy khi phân lập từ tử cung bị viêm, bên cạnh đó

còn thấy Streptococcus, Staphylococcus và một số vi khuẩn khác… (Quinn và ctv,

1997) Sự viêm nhiễm ở tử cung nặng hay nhẹ là tùy thuộc vào số lượng vi khuẩn hiện diện trong tử cung

Triệu chứng

Chó bị viêm tử cung cấp tính thường sốt, suy nhược, biếng ăn, ói mửa, mất sữa, đôi khi xao lãng trong việc nuôi con và có dịch tiết bất thường từ âm đạo Tuy nhiên, cũng nên chú ý chó sau khi sinh bình thường cũng có dịch tiết lẫn huyết tương và máu cho đến tuần thứ sáu Còn dịch tiết âm đạo ở chó trong bệnh viêm tử cung thì thường có mùi hôi khó chịu, có mủ hoặc lẫn máu (Quinn và ctv, 1997) Viêm tử cung cấp tính có thể tiến triển nhanh gây nhiễm độc huyết và nhiễm trùng huyết làm cho con vật yếu Bệnh có thể trở nên mãn tính và gây vô sinh ở vật nuôi (Quinn và ctv, 1997)

Chẩn đoán

Dựa vào lịch sử bệnh lý, dấu hiệu lâm sàng như có triệu chứng bệnh toàn thân sau khi đẻ, hoặc có dịch tiết bất thường chảy ra từ âm đạo Khi sờ nắn vùng bụng cảm giác được tử cung phình to

Chẩn đoán bằng X-quang và siêu âm để xác định xem tình trạng của tử cung, thành tử cung dày lên, có thể chứa dịch bên trong

Qua đếm tế bào máu ta có thể thấy sự tăng bạch cầu với khuynh hướng chưa trưởng thành

Lấy mẫu phân lập các tác nhân gây bệnh và kiểm tra sự nhạy cảm của vi khuẩn với kháng sinh

Lấy dịch đem nhuộm có thể thấy tế bào biểu mô, sự thoái hoá của bạch cầu trung tính và có cả vi khuẩn

Trang 18

Nguyên nhân

Những rối loạn về nội tiết tố estrogen, progresterone hay sự lên giống dẫn đến những bất thường ở nội mạc tử cung; đây là điều kiện thích hợp cho vi khuẩn tấn công và gây nhiễm trùng tử cung Trong hoạt động sinh dục, khi mức độ progresterone trong máu tăng lên thì lớp nội mạc tử cung phát triển, trong khi các hoạt động của cơ tử cung giảm đi Tiếp đó có sự tăng sinh các tuyến ở nội mạc tử cung và cuối cùng sự tiết dịch tử cung tăng lên Dịch tiết từ các tuyến tử cung là môi trường rất tốt cho vi khuẩn phát triển Hệ vi khuẩn ở âm đạo là nguồn vi khuẩn gây viêm tử cung chủ yếu, các vi khuẩn này có thể xâm nhập lúc cổ tử cung dãn nở trong thời kỳ tiền lên giống (Nguyễn Văn Biện, 2001)

Ngoài ra, vi khuẩn bên ngoài môi trường và vi khuẩn đường tiết niệu cũng là

nguồn bệnh đáng chú ý E coli là vi khuẩn đáng kể nhất trong tình trạng này, mặc

dù các vi khuẩn như Staphylococcus, Streptococcus, Pseudomonas và một số loài vi

khuẩn khác cũng được tìm thấy khi phân lập (Quinn và ctv, 1997)

Triệu chứng

Tùy theo tình trạng dịch viêm ở bên trong tử cung có chảy ra ngoài qua đường

âm đạo hay không mà người ta chia viêm tử cung làm hai dạng là viêm mủ tử cung thể kín và viêm mủ tử cung thể hở

 Viêm mủ tử cung thể hở

Ở chó bị viêm mủ tử cung thể hở, dịch viêm bên trong tử cung sẽ tràn ra ngoài

âm đạo Khi đó sẽ thấy dịch viêm ở âm hộ hoặc dính vào vùng lông dưới đuôi Dịch viêm có mủ hoặc lẫn máu, có thể xuất hiện sau khi lên giống 4-8 tuần Cần lưu ý bản tính của chó cái hay liếm vào vùng âm hộ khi có dịch chảy ra để tránh nhầm lẫn khi chuẩn đoán lâm sàng (Quinn và ctv, 1997)

Con vật lừ đừ, suy nhược, tiểu nhiều, khát nước, biếng ăn và ói mửa

Khám lâm sàng vùng bụng thấy tử cung căng to

Con vật có thể sốt hoặc không, nếu có sốc thì thấy tim đập yếu, nhanh

Trang 19

 Viêm mủ tử cung thể kín

Viêm mủ tử cung thể kín có biểu hiện triệu chứng bên ngoài trầm trọng hơn viêm mủ tử cung thể hở Vì cổ tử cung đóng không cho phép dịch bài tiết xuất ra ngoài nên bệnh trở nên âm ỉ bên trong, chủ nuôi khó phát hiện

Con vật suy nhược, bỏ ăn, bụng căng, tử cung nở lớn, tiểu nhiều, khát nước, ói mửa và tiêu chảy Ói thường xảy ra do nhiễm độc huyết và rối loạn chức năng thận Những triệu chứng trên có thể diễn biến nhanh làm cho con vật hạ nhiệt, mất nước nghiêm trọng, sốc, hôn mê và chết

2.3.2 Viêm âm đạo

Bệnh có thể xảy ra đối với chó chưa thành thục, chó trưởng thành có khi cũng xảy ra đối với chó đã thiến

Nguyên nhân

Do nhiễm khuẩn khi giao phối, do con đực bị viêm cơ quan sinh dục hay vì một lý do nào đó gây xây sát tổn thương bộ phận sinh dục con cái, tạo điều kiện cho

vi khuẩn gây bệnh

Viêm âm đạo chủ yếu do vi khuẩn Staphylococcus aureus, Streptococcus, E

coli, Proteus; những vi khuẩn này có thể gây nhiễm trùng thứ phát từ những điều

kiện bất thường như có ngoại vật, khối u trong âm đạo, nhiễm trùng đường tiểu hay một số trường hợp can thiệp cơ giới cũng có thể gây ra viêm âm đạo (Nguyễn Văn Biện, 2001)

Trang 20

Triệu chứng

Dấu hiệu rõ nhất là có dịch viêm chảy ra ngoài âm hộ, dịch này có thể là dịch nhày có mủ, hay huyết thanh hoặc lẫn máu Nhưng cần phân biệt với dịch tiết lúc chó lên giống, dịch tiết này thu hút nhiều chó đực

Chó bị viêm âm đạo thường liếm âm hộ, đi tiểu giắt, quay đầu về phía sau, đi lại bồn chồn Dấu hiệu toàn thân của bệnh thì không biểu hiện rõ (Quinn và ctv,1997)

Chẩn đoán

Ở đây cần phân biệt viêm âm đạo với viêm mủ tử cung thể hở Để chẩn đoán chính xác cần phải dựa trên cơ sở lịch sử bệnh, triệu chứng lâm sàng, nội soi âm đạo, chẩn đoán hình ảnh để xem tình trạng tử cung và các xét nghiệm ở phòng thí nghiệm

Kiểm tra lâm sàng khi thấy con vật có biểu hiện dịch tiết bất thường chảy ra ngoài âm hộ, kiểm tra niêm mạc âm đạo xem có dấu hiệu sưng, viêm nhiễm không Lấy mẫu phân lập các tác nhân gây bệnh và kiểm tra sự nhạy cảm của vi khuẩn với kháng sinh

Lấy dịch đem nhuộm có thể thấy tế bào biểu mô, sự thoái hoá của bạch cầu trung tính và có cả vi khuẩn

Kiểm tra sinh lý và sinh hóa máu

2.4 Các nguyên nhân gây viêm đường sinh dục ở chó

2.4.1 Vi khuẩn Staphylococcus

Staphylococcus, cầu khuẩn hình chùm nho là một loại vi khuẩn sinh mủ điển

hình làm cho các tổ chức của động vật, người bị sưng, vết thương nung mủ gây chứng viêm có mủ, một số trường hợp chuyển sang chứng huyết nhiễm mủ và bại huyết (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)

Đặc tính nuôi cấy: Staphylococcus sống hiếu khí hoặc kỵ khí tùy tiện, nhiệt

độ thích hợp 32-37oC, pH thích hợp 7,2-7,6 Dễ mọc trên các môi trường nuôi cấy thông thường Trên môi trường nước thịt peptone: sau 12-24 giờ đục đều, không kết cụm, không có màng, lắng cặn nhiều, màu trắng rồi vàng

Trang 21

Trên môi trường thạch thường: sau khi cấy 24 giờ, vi khuẩn hình thành khuẩn lạc tương đối to dạng S (Smouth), mặt khuẩn hơi ướt, bờ đều nhẵn, khuẩn lạc

có màu trắng, hoặc vàng thẫm hoặc vàng chanh Màu sắc của khuẩn lạc là do vi khuẩn sinh ra, sắc tố này không tan trong nước, căn cứ vào màu sắc của khuẩn lạc

Nguyễn Vĩnh Phước (1977), cho rằng khuẩn lạc có màu vàng thẫm (Staphylococcus

aureus) là có độc lực và có khả năng gây bệnh cho động vật, còn khuẩn lạc màu

vàng chanh (Staphylococcus citreus) hoặc màu trắng (Staphylococcus albus) không

có động lực và không gây bệnh

Trên môi trường thạch máu: vi khuẩn mọc rất tốt sau khi cấy 24 giờ, vi khuẩn hình thành những khuẩn lạc dạng S Nếu là tụ cầu loại gây bệnh sẽ có hiện tượng dung huyết (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)

Trên môi trường Gelatin: cấy vi khuẩn theo đường trích sâu, ở 20oC sau 2-3

ngày làm gelatin tan ra, đặc biệt là Staphylococcus aureus

Đặc tính sinh hóa: Staphylococcus có khả năng lên men đường glucose,

lactose, mantose, saccarose, không lên men đường galactose (Nguyễn Như Thanh

và ctv, 1997) Phản ứng Catalase dương tính và có khả năng làm đông huyết tương

Đây là tiêu chuẩn quan trọng để phân biệt Staphylococcus aureus với các tụ cầu

khác

Sức đề kháng: Staphylococcus chịu được khô, nóng (ở nhiệt độ 50oC trong 30 phút vẫn còn sống), sống trong nồng độ muối lên tới 9%, tuy nhiên dễ dàng bị ức chế bởi hóa chất hexachlorophene 3% Nhiệt độ 70oC diệt vi khuẩn trong môi trường 1 giờ; 80oC trong vòng 10-30 phút, đun sôi 100oC vài phút vi khuẩn chết Vi khuẩn đề kháng đối với sự khô hanh và đóng băng Ở nơi khô ráo, vi khuẩn sống trên 200 ngày Đối với chất sát trùng acid phenic 3-5 % giết vi khuẩn trong 3-15 phút, HgCl2 1% giết vi khuẩn trong 30 phút hay lâu hơn, HgCl2 0,5% trong 1 giờ, formol 1% trong 1 giờ, cồn nguyên chất không có tác dụng đối với tụ cầu khuẩn, cồn 70% diệt vi khuẩn trong vài phút (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)

Tính gây bệnh: Staphylococcus thường ở trên da, niêm mạc và các hốc tự

nhiên Khi sức đề kháng của cơ thể kém, hoặc tổ chức bị tổn thương là cơ hội cho

vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh Vi khuẩn có thể gây mủ ở ngoài da, niêm mạc Tụ cầu khuẩn có thể theo đường máu gây nung mủ ở nội tạng, từ đó gây ra bại huyết và nhiễm độc huyết (Trần Thị Phận, 2004) Trong tự nhiên ngựa dễ cảm nhiễm nhất,

Trang 22

rồi đến chó, bò, lợn, cừu Trong phòng thí nghiệm thỏ mẫn cảm nhất Nếu tiêm 2ml canh khuẩn tụ cầu vào tĩnh mạch tai thỏ, sau 36-48 giờ thỏ chết vì chứng huyết nhiễm mủ Mổ khám thấy nhiều ổ áp xe trong phủ tạng Nếu tiêm canh khuẩn tụ cầu vào dưới da thỏ sẽ gây áp xe dưới da

1-Các chất do Staphylococcus gây bệnh tiết ra

 Các loại độc tố

Độc tố dung huyết (Haemolysine): là loại ngoại độc tố có thể làm tan hồng

cầu thỏ, dê và các động vật khác Ở canh trùng nước thịt sau 3-4 ngày có nhiều độc

tố, sau 7-10 ngày thì độc tố lên đến mức cao nhất Độc tố dung giải có thể thông qua lọc, dung huyết tố không chịu được nóng, bị tiêu diệt ở 60oC sau 30 phút Khi cấy tụ cầu vào thạch máu có 5% máu cừu hoặc thỏ thì thấy dung huyết rõ rệt Để tủ

ấm 36oC sau 24 giờ thì thấy chung quanh khuẩn lạc có một vòng dung huyết

Có 4 loại chính

Dung huyết tố alpha (α): gây dung giải hồng cầu thỏ ở 37oC Dung huyết tố này cũng gây hoại tử da và gây chết Đây là một ngoại độc tố, bản chất là protein, bền với nhiệt độ Là một kháng nguyên hoàn toàn, gây hình thành kháng thể trung hòa dưới tác dụng của formol và nhiệt độ nó biến thành giải độc tố có thể dùng làm vaccine

Dung huyết tố beta (β): gây dung giải hồng cầu cừu ở 40oC, dung huyết tố này kém độc hơn dung huyết tố alpha

Dung huyết tố denta (δ): gây dung giải hồng cầu người, thỏ, cừu, ngựa và gây

hoại tử da

Dung huyết tố gamma (γ): khác với các loại dung huyết tố trên, loại này không

tác động trên hồng cầu ngựa

Trong các dung huyết tố trên thì dung huyết tố alpha (α) là đặc điểm cần thiết

của các chủng tụ cầu có khả năng gây bệnh

Độc tố diệt bạch cầu (Leucocidine): làm cho bạch cầu mất tính di động, mất

hạt và nhân bị phá hủy, nó giữ vai trò quan trọng trong cơ chế sinh bệnh của tụ cầu

Độc tố hoại tử: lọc canh trùng tụ cầu, tiêm 0,2 ml độc tố pha loãng vào thỏ,

qua 24 giờ ở chỗ tiêm phát sinh phản ứng hoại tử, chung quanh nóng và ứ máu

Trang 23

Độc tố làm chết: tiêm nước lọc canh trùng tụ cầu vào tĩnh mạch động vật cảm

nhiễm thì sẽ sinh ra độc tố làm chết con vật Với 0,1-0,75 ml có thể làm chết con thỏ nặng 1 kg

Độc tố đường ruột (Enterotoxine): độc tố ruột chỉ do một số chủng tụ cầu tiết

ra, nó gây nên các bệnh đường tiêu hóa: nhiễm độc do thức ăn, viêm ruột cấp Độc

tố ruột là ngoại độc tố, bền với nhiệt độ và không bị phá hủy bởi dịch vị (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)

Ngoại độc tố sinh mủ (Pyogenic exotoxine): độc tố này tương tự pyogenic

exotoxin của liên cầu Protein ngoại độc tố này có tác dụng sinh mủ và phân bào lymphocyte, đồng thời nó làm tăng nhạy cảm về một số phương diện đối với nội độc tố như gây sốc và hoại tử cơ gan, cơ tim Sau này người ta phân biệt được 3 loại pyogenic exotoxin ký hiệu là A, B, C Ba loại này khác nhau về trọng lượng phân tử (12000, 18000 và 22000 dalton), về tính đặc hiệu kháng nguyên, nhưng giống nhau về khả năng sinh mủ và phân bào

 Các Enzyme

Men đông huyết tương (coagulase): men này làm đông huyết tương của người

và thỏ, nó tác động lên globulin trong huyết tương Men này là một protein bền vững với nhiệt độ và có tính kháng nguyên yếu Coagulase là một yếu tố cần thiết của các chủng tụ cầu gây bệnh, nó gây nên các huyết cục trong tĩnh mạch và gây nên nhiễm khuẩn huyết Ngoài ra còn có coagulase cố định, nó tác động trực tiếp lên fibrinogen, chất này gắn vào vi khuẩn tạo thành một loại vỏ xung quanh vi khuẩn giúp vi khuẩn chống lại hiện tượng thực bào

Men làm tan tơ huyết (fibrinolysinase): đây là một men đặc trưng cho các

chủng gây bệnh ở người Muốn có men này người ta phải nuôi vi khuẩn trong vài ngày sau khi vi khuẩn đã mọc Những chủng tụ cầu tiết ra men này phát triển trong cục máu, làm cục máu vở thành những mảnh nhỏ, những mảnh này dời chỗ và gây tắc những mạch nhỏ hoặc gây ngưng mủ, đôi khi gây ra hiện tượng nhiễm mủ di căn (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997)

Men Dezoxyribonuclease: đây là một men có thể thủy phân acid

dezoxyribonucleic và gây tổn thương các tổ chức

Trang 24

Men Hyaluronidase: men này có tác dụng thủy phân acid hyaluronic là chất

cơ bản của mô liên kết, giúp vi khuẩn lan tràn trong cơ thể

Men Penicilinase: men này có thể có ở tụ cầu gây bệnh, làm cho peniciline

mất tác dụng Đây là cơ chế cần thiết của sự kháng peniciline

Đường xâm nhiễm: Staphylococcus có trên niêm mạc đường sinh dục của

chó cái khỏe mạnh (Quinn và ctv, 1997) Khi chó sinh sản sức đề kháng giảm, trong quá trình đẻ khó hay khi gặp trường hợp thai chết lưu, sót nhau; đường sinh dục chó bị tổn thương, nhất là đối với chó có sức khỏe kém, sức rặn đẻ yếu, thời gian đẻ kéo dài Chính điều này đã tạo điều kiện cho tụ cầu xâm nhập và gây bệnh

viêm mủ điển hình

Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1977), cho rằng Staphylococcus thường ký sinh

trên da, niêm mạc và các hốc tự nhiên sẽ xâm nhập vào các vết xây sát trên da, làm các tổ chức bị sưng, tạo thành những ổ mủ, áp xe Khi thú đẻ, cơ quan sinh dục bị tổn thương, niêm mạc âm đạo, tử cung bị xây sát, là điều kiện cho tụ cầu và liên cầu xâm nhập vào khu vực tổn thương, phát triển nhanh về số lượng và độc tố, gây viêm cata niêm mạc âm đạo, tử cung sau đó gây viêm mủ cơ quan sinh dục

Chẩn đoán: lấy bệnh phẩm phải đúng qui cách, tuyệt đối vô trùng để tránh

nhiễm các vi khuẩn khác Trong trường hợp lấy ở ổ áp xe thì dùng xylanh hút mủ

Làm tiêu bản, nhuộm gram, quan sát dưới kính hiển vi, nếu là tụ cầu thì thấy vi khuẩn hình cầu, gram dương, tụ lại thành từng đám như chùm nho (Nguyễn Như Thanh và ctv, 1997) Nuôi cấy trong môi trường thích hợp: Mannitol Salt Agar

(MSA), thạch máu Tiêm truyền cho động vật thí nghiệm

2.4.2 Vi khuẩn Streptococcus

Streptococcus là vi khuẩn hình cầu xếp thành chuỗi, uốn khúc dài, ngắn khác

nhau Liên cầu khuẩn có ở khắp nơi trong tự nhiên như đất, nước, không khí,…, trong cơ thể động vật và người Trên cơ thể động vật, người một số liên cầu khuẩn thường ký sinh trên da, niêm mạc, đường tiêu hóa, hô hấp và không gây bệnh, một

số còn lại có khả năng gây bệnh

Đặc tính nuôi cấy: Streptococcus là vi khuẩn hiếu khí hay yếm khí tùy tiện,

tương đối khó nuôi cấy, vi khuẩn chỉ mọc trong các môi trường có đầy đủ chất dinh dưỡng như môi trường nước thịt, môi trường có huyết thanh hay hồng cầu Vi

Trang 25

khuẩn tăng trưởng mạnh trong điều kiện có CO2, riboflavin, pantothenic acid…(Nguyễn Thanh Bảo, 2005)

Trên môi trường thạch thường: khuẩn lạc dạng S, nhỏ, tròn, lồi, bóng, màu hơi xám Khi làm tiêu bản, liên cầu không xếp thành chuỗi dài mà thường hình thành chuỗi ngắn

Trên môi trường thạch máu: khuẩn lạc có đường kính 1mm, tròn bóng, li ti, trong như hạt sương Liên cầu khuẩn có 3 dạng dung huyết: dung huyết α: khuẩn lạc được bao quanh bằng một vòng màu xanh nhạt, tương đối hẹp Đây là hiện tượng dung huyết không hoàn toàn, chỉ có một phần hồng cầu bị tan Dung huyết β: bao quanh khuẩn lạc là một vòng trong suốt, rộng 2-4mm; đây là hiện tượng dung huyết hoàn toàn, không có hồng cầu ở chung quanh khuẩn lạc Dung huyết γ: màu thạch xung quanh khuẩn lạc vẫn nguyên vẹn; trường hợp này hồng cầu không bị tan (Trần Thị Phận, 2004)

Đặc tính sinh hóa: Streptococcus có khả năng lên men đường glucose,

lactose, saccarose, không có khả năng lên men đường mannitose Các phản ứng sinh hóa khác như Indol, H2S, Catalase, Cogulase cho kết quả âm tính

Sức đề kháng: Streptococcus có sức đề kháng kém đối với nhiệt độ và hóa

chất Ở 70oC liên cầu khuẩn chết trong 35-40 phút, ở 100oC trong 1 phút diệt vi

khuẩn Các chất sát trùng thông thường tiêu diệt được Streptococcus

Tính gây bệnh: vi khuẩn có khắp nơi trong thiên nhiên, đất, nước, không khí,

trong cơ thể động vật và người, sống hoại sinh ở đường tiêu hoá, hô hấp, ở xoang

âm đạo, trên da, ngoài ra còn thấy ở các niêm mạc Vi khuẩn trong cơ thể người hay gia súc, do những nguyên nhân phức tạp có thể trở nên độc và tác động gây bệnh một mình hay kết hợp với những loại vi khuẩn khác, gây những rối loạn cục

bộ hay toàn thân Ở người, vi khuẩn gây những chứng nhiễm trùng hay nung mủ ở phủ tạng, tương mạc, bại huyết, mẫn đỏ…Ở gia súc, vi khuẩn gây những chứng nung mủ, biến chứng toàn thân hay biến chứng cục bộ Trong phòng thí nghiệm thỏ

là động vật thí nghiệm dễ cảm thụ nhất Nếu tiêm liên cầu khuẩn dưới da thỏ, sẽ thấy áp xe tại nơi tiêm Nếu tiêm liên cầu khuẩn vào tĩnh mạch hay phúc mạc, thỏ chết nhanh do nhiễm khuẩn huyết

Trang 26

Các chất do Streptococcus tiết ra

 Độc tố: Streptococcus sản sinh ngoại độc tố có khả năng dung huyết, diệt

bạch cầu, gây hoại tử, làm tan tơ huyết, gây khuếch tán

Độc tố làm dung huyết: trên thạch máu, tiêm vào tĩnh mạch thỏ thì làm thỏ

đái ra huyết sắc tố và máu

Độc tố diệt bạch cầu: là độc tố làm ngăn sự thực bào của bạch cầu

Độc tố khuếch tán: là độc tố làm cho liên cầu khuẩn phát triển nhanh ở trên tổ

chức

Độc tố làm dung huyết bị nhiệt phá hoại ở 56oC, độc tố diệt bạch cầu bị tiêu diệt ở 70oC còn độc tố làm tan sợi huyết không bị diệt khi đun sôi 50 phút

 Các enzyme

Men làm tan tơ huyết (Streptokinase): men này có tính kháng nguyên cao,

kích thích cơ thể hình thành kháng thể anti streptokinase

Streptodornase: men này có tác dụng làm lỏng mủ đặc do các liên cầu khuẩn

độc tạo nên (mủ đặc này được tạo bởi ADN và ARN)

Hyaluronidase: men này có tác dụng thủy phân acid hyaluronic là chất cơ bản

của mô liên kết, giúp cho vi khuẩn dễ lan tràn Men này là một kháng nguyên có khả năng kích thích cơ thể hình thành kháng thể đặc hiệu, nhưng hiệu giá kháng thể rất thấp nên ít dùng trong chuẩn đoán bệnh

Đường xâm nhiễm: vi khuẩn Streptococcus thường có trong miệng, mũi-hầu

và hạch amydal, một vài nhóm sống trong đường ruột của người và động vật, một

số sống ở bộ phận sinh dục của gia súc (Trần Thị Phận, 2004)

Khi thú sinh sản sức đề kháng giảm, đường sinh dục thú dễ bị tổn thương tạo

cơ hội cho liên cầu khuẩn xâm nhập, phát triển và gây viêm Ngoài ra, vi khuẩn bên ngoài môi trường còn xâm nhiễm vào đường sinh dục khi vật nuôi đẻ khó phải can thiệp

Chẩn đoán: lấy bệnh phẩm tùy theo tính chất nhiễm khuẩn: quệt cổ họng,

mủ, máu hay huyết thanh tìm kháng thể Nhuộm gram, quan sát dưới kính hiển vi

điện tử Thực hiện phản ứng CAMP để xác định Streptococcus agalactiae (dung

huyết β) Dùng thỏ làm động vật thí nghiệm để gây bệnh

Ngày đăng: 12/04/2018, 21:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w