Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuTRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ THÚ Y Giáo Viên Hướng Dẫn NGUYỄN DƯƠ
Trang 1Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Trang 2Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ THÚ Y
Giáo Viên Hướng Dẫn NGUYỄN DƯƠNG BẢO
Cần Thơ, 05/2008
Trang 3Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
Đề tài: Xác định bệnh Mò Bao Lông ở chó tại Bệnh Xá Thú Y và so sánh hiệu quả một số phác đồ điều trị; do sinh viên: Nguyễn Viết Sử thực hiện tại:
Bệnh xá thú y từ ngày 01/03/2008 đến ngày 05/05/2008
Cần Thơ ngày tháng năm 2008 Cần Thơ ngày tháng năm 2008
Duyệt Bộ Môn Duyệt giáo viên hướng dẫn
Cần Thơ ngày tháng năm 2008Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 4Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI CẢM ƠN
Trải qua những tháng năm học tập tại trường và thời gian thực tập luận văn tốt nghiệp tại Bệnh Xá Thú Y trường Đại học Cần Thơ, em chân thành
biết ơn.
Thầy Nguyễn Dương Bảo đã nhiệt tình, tận tâm giúp đỡ và hướng dẫn
em hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Quý thầy cô Bộ môn Thú y, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng trường Đại học Cần thơ đã truyền thụ kiến thức quý báu và tạo điều kiện tốt cho em thực hiện tốt đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn anh chị làm việc tại Bệnh Xá Thú y đã tận tình giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và thực tập tại Bệnh Xá.
Cùng tất cả các bạn thực tập tại Bệnh Xá Thú Y, các bạn Thú y khóa 29
đã chia sẽ niềm vui, nỗi buồn trong thời gian thực tập.
Chân thành cảm ơn!
Trang 5Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Trang duyệt bộ môn ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Tóm lược viii
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1 Các giống chó nuôi ở Việt Nam 2
2.2 Đặc điểm sinh lý của chó 3
2.2.1 Một số hằng số sinh lý của chó 3
2.2.2 Một số đặc điểm sinh lý sinh sản của chó 4
2.3 Hình thái, cấu tạo và chức năng sinh lý của da 4
2.3.1 Hình thái và cấu tạo da 4
2.3.2 Chức năng của da 6
2.4 Lông 6
2.5 Tuyến da 7
2.5.1 Tuyến nhờn 7
2.5.2 Tuyến mồ hôi 7
2.6 Bệnh Mò Bao Lông ở chó (Demodex canis) 7
2.6.1 Hình thái và cấu tạo của Demodex canis 8
2.6.2 Cách sinh bệnh 10
2.6.3 Triệu chứng 11
2.6.4 Bệnh tích 11
2.6.5 Chẩn đoán 12
2.6.6 Điều trị 13 2.7 Tính chất dược lý và cơ chế tác dụng của những thuốc điều trị dùng trong
Trang 6Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.7.1 Amitraz 15
2.7.2 Ivermectin 17
2.8 Tính chất dược lý và cơ chế tác dụng của một số thuốc chống nhiễm trùng dùng trong đề tài 17
2.8.1 Shotapen LA 17
2.8.2 Dexamethazol 18
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Thời gian thực hiện 19
3.2 Địa điểm tiến hành 19
3.3 Đối tượng thí nghiệm 19
3.4 Phương tiện thí nghiệm 19
3.5 Phương pháp thí nghiệm 20
3.5.1 Hỏi bệnh 20
3.5.2 Kiểm tra lâm sàng 20
3.5.3 Kiểm tra cận lâm sàng 21
3.6 Thí nghiệm điều trị bệnh do Demodex canis 21
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Kết quả khảo sát, thu thập các triệu chứng lâm sàng ở các ca chó bị bệnh da tại Bệnh Xá Thú Y 24
4.2 Kết quả xét nghiệm da tìm Demodex canis 26
4.3 Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm Demodex canis ở chó ta và chó ngoại 27
4.4 Kết quả xác định thể bệnh Mò Bao Lông ở chó tại Bệnh Xá Thú Y 28
4.5 Kết quả điều trị chó nhiễm bệnh do Demodex canis 29
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Trang 7Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Tần suất một số triệu chứng lâm sàng ở 114 ca bệnh da 24
Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm Demodex canis ở các ca bệnh da 26
Bảng 4.3 Tỷ lệ nhiễm Demodex canis ở chó ta và chó ngoại 27
Bảng 4.4 Tỷ lệ bệnh Mò Bao Lông cục bộ và toàn thân 28
Bảng 4.5.a: Tỷ lệ khỏi của các nghiệm thức điều trị bệnh Mò Bao Lông ở chó
30
Bảng 4.5.b Chi phí thuốc của các nghiệm thức điều trị bệnh Mò Bao Lông ở chó 32
Trang 8Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH MỤC HÌNH
Trang Hình 1 Cấu tạo da 5 Hình 2 Hình thái của Demodex canis 8 Hình 3 Sự xâm nhập và cư trú của Demodex vào tuyến nhờn và bao lông 10 Hình 4 Bệnh tích dạng vảy ở vùng mặt chó 11 Hình 5 Bệnh tích dạng mủ ở mũi chó bệnh Mò Bao Lông 12
Trang 9Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TÓM LƯỢC
Sau 3 tháng thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài “Xác định bệnh Mò Bao Lông ở chó tại Bệnh Xá Thú Y và so sánh hiệu quả một số phác đồ điều trị” Chúng tôi thu được một số kết quả như sau:
Chó bị bệnh ngoài da chiếm tỷ lệ khá cao 29,92%
Ta có thể sơ bộ chẩn đoán bệnh do Demodex canis qua một số triệu chứng lâm sàng quan trọng như: Ngứa, gãi, rụng lông, viêm da, da có mùi hôi.
Khi bệnh mới phát hiện còn ở thể cục bộ nếu không được điều trị sớm sẽ dẫn đến bệnh toàn thân.
Tuy nhiên để kết luận chính thì cần dựa vào kết quả xét nghiệm da Tất cả các
ca bệnh được kết luận là bệnh Mò Bao Lông thì phải tìm thấy Demodex canis trong mẫu bệnh phẩm xét nghiệm.
Kết quả điều trị bệnh Mò Bao Lông cho thấy sử dụng Taktic kết hợp với Ivomec thì cho kết quả điều trị rất cao (tỷ lệ khỏi bệnh 100%), và khi sử dụng Derma thì không trị khỏi bệnh.
Trang 10Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng có khí hậu quanh năm nóng ẩm rất thuận lợi cho vi trùng, nấm, kí sinh trùng tồn tại, phát triển và gây bệnh cho các loài vật nuôi Có rất nhiều bệnh ký sinh trùng xảy ra trên chó, trong đó bệnh Mò Bao Lông do Demodex canis gây ra là bệnh phổ biến, được người nuôi và cán bộ thú y đặc biệt quan tâm Bởi vì bệnh xảy ra không chỉ gây viêm da, rụng lông làm ảnh hưởng đến sức khỏe, vẻ đẹp của chó, mà còn gây phiền phức cho chủ nuôi do chó bệnh có mùi hôi tanh rất khó chịu, gây tốn nhiều thời gian, tiền bạc vì đây là một trong những bệnh khó điều trị
Nhằm đem những hiểu biết đã học áp dụng vào thực tiễn sản xuất, cùng với sự giúp
đỡ tận tình của quý thầy cô bộ môn Thú Y, Bệnh Xá Thú Y trường đại học Cần Thơ
tôi tiến hành luận văn tốt nghiệp với đề tài “Xác định bệnh Mò Bao Lông ở chó
tại Bệnh Xá Thú Y và so sánh hiệu quả một số phác đồ điều trị”.
Mục đích của đề tài:
- Sơ bộ chẩn đoán bệnh Mò Bao Lông ở chó qua các triệu chứng lâm sàng
- Chẩn đoán xác định bệnh Mò Bao Lông ở chó qua kết quả xét nghiệm da bằng phương pháp xem tươi
- Xác định hiệu quả một số phác đồ điều trị nhằm tìm ra phác đồ có tỷ lệ khỏi bệnh cao, nhưng thời gian điều trị phải ngắn và chi phí điều trị thấp
Trang 11Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Các giống chó nuôi ở Việt Nam
Theo Phạm Sĩ Lăng và ctv, 2006 thì giống chó nội có bốn giống
+ Giống chó vàng: Tầm vóc trung bình cao từ 50-55cm nặng 12-15kg là giống chó
săn được nuôi phổ biến ở nước ta để giữ nhà, săn thú và làm thực phẩm Chó đực phối giống được ở lứa tuổi 15-18 tháng Chó cái sinh sản được ở lứa tuổi từ 12-14 tháng
+ Giống chó của người H ’ Mông: Sống ở miền núi cao được dùng giữ nhà và săn
thú có tầm vóc lớn hơn chó vàng: cao từ 55-60cm, nặng 18-20kg Chó đực phối giống được khi 16-18 tháng chó cái sinh sản khi 12-15 tháng
+ Giống chó Lào: Có ở trung du và miền núi, lông xù màu hung có 2 vệt trắng trên
mí mắt, có tầm vóc lớn: cao từ 60-65cm, nặng từ 18-25kg Chó đực có thể phối giống ở lứa tuổi từ 16-18 tháng Chó cái sinh sản ở tuổi 13-15 tháng
+ Giống chó Phú Quốc: Màu nâu xám, bụng thon, trên lưng lông mọc có hình
xoắn, hay lật theo kiểu rẽ “ngôi”, lông vàng xám có các đường kẻ nhạt chạy dọc theo thân, tầm vóc tương tự chó Lào Chó cao 60-65cm: nặng 20-25kg Chó đực phối giống ở tuổi 15-18 tháng Chó cái sinh sản ở tuổi 12-15 tháng
Chó nhập nội
Một số giống chó nhập nội đã và đang xuất hiện khá phổ biến ở nước ta bao gồm:
+ Chó Nhật: Đây là giống chó cảnh có bộ lông dài xoăn hoặc không Màu lông
trắng đôi khi có một vài đốm nâu, đen…có mõm ngắn, thân hình nhỏ nhắn, hiền lành Hiện nay chó Nhật được nuôi nhiều nhằm đáp ứng nhu cầu làm cảnh và giữ nhà
+ Chó Berger Đức: Là giống chó xuất phát từ nước Đức, chó có màu lông đen-nâu
hoặc đen vàng, là giống chó lớn con, đuôi dài, to và rậm lông, tai đứng, thông minh linh hoạt Chó Berger được nuôi chủ yếu để giữ nhà, nghiệp vụ (chó trinh sát)
Chó có tầm vóc lớn so với các giống chó khác, dài 110-112 cm, cao 56-65 cm đối với chó đực và 62-66 cm đối với chó cái, trọng lượng 28-37kg
+ Giống Dobermann pincher: Có nguồn gốc từ Đức có tầm vóc trung bình cao,
kích thước cao 65-69 cm, dài 110-112 cm, nặng 30-33kg
Trang 12Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Ngoại hình: Đầu hình nên hơi thô, mũi rộng màu đen, tai đứng, mắt đen, hàm răng chắc, cổ to khỏe, bụng thon, cơ chi chắc, đuôi ngắn
+ Chó Bắc Kinh: Ngoại hình gần giống chó Nhật nhưng tầm vóc nhỏ hơn, mõm
ngắn hơn và có bộ lông dài lượn sóng, lông thường có bộ lông dài trắng, vàng, nâu…tính tình hiền lành được nuôi làm cảnh
+ Chó Chihuahua: Ở nước ta chó còn được gọi là “Chó Fok hươu” vì chó trông
nhỏ, nhưng có hình dáng giống như con hươu thu nhỏ, được nuôi ở nước ta từ rất lâu để làm cảnh
Chó có tầm vóc nhỏ cao 16-20cm; dài 30cm; nặng 2,1-2,7 kg là một trong những giống chó nhỏ nhất nên còn được gọi là “chó bỏ túi” có thể cho vào túi sách mang
đi du lịch Bộ lông màu vàng xẫm hay nâu nhạt; tai, mõm thường có màu xẫm hơn
Về ngoại hình chó có thân hình thanh mảnh; mõm dài; tai dài dựng đứng; ngực nở bụng thon nhỏ; chân mảnh, chắc, đuôi ngắn
+ Chó Fox: Nguồn gốc tại Pháp, là giống chó nhỏ con, lông màu trắng hay nâu
vàng Nặng từ 3-4 kg, đầu nhỏ, tai to mà vểnh, song mũi gãy, mõm nhỏ và dài, ngực
nở bụng thon, bốn chân mảnh và cao nên chó chạy rất nhanh lanh lợi và dễ thương
2.2 Đặc điểm sinh lý của chó
2.2.1 Một số hằng số sinh lý của chó
Thân nhiệt bình thường của chó trưởng thành là 38o- 38o5 C, chó con là 38o5
-39oC Mùa hè có thể tăng 0,2oC mùa đông giảm 0,2oC Thân nhiệt sinh lý giữa cá thể trong loài có sự khác nhau, nó phụ thuộc vào tuổi, giới tính, trạng thái sinh lý, điều kiện thời tiết
Nhịp tim 70-130 nhịp/phút Mùa hè tăng 5 nhịp/phút, mùa đông giảm 5 nhịp/phút Khi hoạt động tăng 10-15 nhịp/phút
Nhịp thở 10-40 nhịp/phút Mùa hè tăng 5 nhịp/phút, mùa đông giảm 5 nhịp/phút Khi hoạt động tăng 10-15 nhịp/phút
Hồng cầu: Từ 5,2 - 8,4 triệu/mm3 máu, trung bình 6,2 triệu/mm3 máu
Hemoglobine: Từ 11 – 17 gram/100ml máu, trung bình là 14 gram/100ml máu
Bạch cầu ( White blood cell) từ 7000 – 17000/mm3 máu, trung bình là 12000/mm3máu
Trang 13Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.2.2 Một số đặc điểm sinh lý sinh sản của chó
Theo Phạm Sĩ Lăng và ctv, 2006
Một năm chó có 2 kỳ động dục, và biểu hiện của sự động dục chia làm 4 kỳ:
- Giai đoạn trước động đực
- Giai đoạn động đực
- Giai đoạn sau động đực
- Giai đoạn nghỉ ngơi
Thời gian mang thai: khoảng 58 - 63 ngày.
Số con trung binh ở mỗi lứa đẻ
Giống lớn con: từ 3 - 4 con
Giống nhỏ con: khoảng 2 - 4 con
Giống chó ta: từ 6 - 8 con
Chó con sau khi sinh khoảng 12 - 15 ngày thì mở mắt
2.3 Hình thái, cấu tạo và chức năng sinh lý của da
2.3.1 Hình thái và cấu tạo da
Theo Nguyễn Đình Nhung và Nguyễn Minh Tâm, 2005
- Da dày hơn ở lưng, bụng, các chi; da mỏng ở môi, mi mắt; các lỗ tự nhiên (miệng, hậu môn, âm hộ ) da rất bền nên bảo vệ cơ ở trong, vì thế trong nhiều trường hợp
cơ ở bên trong bị tổn thương mà da không bị rách
Trang 14Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Da có màu sắc khác nhau do có tế bào sắc tố Ngoài da còn có lông, màu lông cũng khác nhau tùy loài gia súc
- Cấu tạo da gồm 3 lớp: Biểu bì, da chính thức, lớp dưới da
+ Biểu bì: Là lớp da ngoài cùng do một lớp mô thượng bì nhiều tầng tạo thành Tầng ngoài cùng bị sừng hóa nên dễ bong ra Dưới đó là tầng hạt tăng sinh dễ dàng thay thế tầng đã bong Tầng này gồm các tế bào chứa sắc tố melanin làm da có màu sắc khác nhau
+ Da chính thức (lớp bì): Lớp này gồm các mô sợi sinh keo, sợi đàn hồi, sợi cơ trơn
và chia làm 2 tầng
Tầng trên: Tầng gai sát với biểu bì chứa mao mạch đầu mút thần kinh, lỗ đổ của tuyến mồ hôi
Tầng dưới: là tầng lưới, dày hơn tầng gai chứa mô sợi chắc
+ Lớp dưới da: Nằm sát và phủ các cơ chứa mô sợi xốp và mỡ Lớp này dày mỏng khác nhau tùy vùng cơ thể, tùy giới tính và chế độ dinh dưỡng Nó là mô mỡ dự trữ của cơ thể
Hình 1 Cấu tạo da
Trang 15Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Tham gia điều tiết thân nhiệt (nóng giãn ra, lạnh co lại)
- Loại thải chất cặn bã (mồ hôi)
- Tham gia điều tiết, phân phối máu và nước trong cơ thể
- Nang lông (bọng chân lông): Cấu tạo có 4 lớp từ ngoài vào:
Trang 16Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
+ Lông mi ở mi mắt
+ Lông xúc giác ở xung quanh môi hoặc mi mắt
- Sự rụng lông: Lông thường rụng vào mùa xuân và mùa thu sau đó được thay bởi lớp lông mới gọi là sự thay lông Lông có thể thay từng phần dần dần hoặc cả một lúc
Nhờ có sự hoạt động của tuyến nhờn mặt da được trơn láng không bị nứt nẻ, ít thấm nước
2.5.2 Tuyến mồ hôi
- Tuyến mồ hôi có dạng hình ống Tuyến nằm ở lớp da chính thức hoặc ở lớp dưới
da Ở lợn, ngựa, cừu, mèo đầu dưới cuộn lại hình xoắn ốc xuyên qua lớp biểu bì lên mặt da
- Ống dẫn mồ hôi có thể đổ vào gốc lông hoặc xuyên qua biểu bì da thoát ra ngoài ở những nơi không có lông
- Ở ngựa, cừu có tuyến mồ hôi phân bố khắp cơ thể
- Ở chó tuyến này lại ở phần đệm gan bàn chân
2.6 Bệnh Mò Bao Lông ở chó (Demodex canis).
Phân bố: Bệnh mò bao lông do Demodex canis ở khắp nơi trên thế giới Ký sinh ở tuyến bã nhờn, bao lông của thú như: Chó, trâu, bò, dê, cừu, ngựa và con người.Ngoài ký sinh ở tuyến nhờn và bao lông thì người ta còn tìm thấy Demodex canis ở nốt bạch huyết, lách, thận, nước tiểu, phân và ruột non
Nguyên nhân: Nguyên nhân gây bệnh Mò Bao Lông ở chó là do Demodex canis
Trang 17Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Theo Trịnh Văn Thịnh – Phan Trọng Cung – Phạm Văn Khuê – Phan Lục, 1982 thìDemodex canis được định danh phân loại như sau:
Loài Demodex canis
Theo Phạm Văn Khuê – Phan Lục, 1996 thì có nhiều tác giả cho rằng giống Demodex có nhiều dạng nhưng chỉ một loài Sự thật các dạng đó có thể phân biệt dựa vào kích thước và nhất là vật chủ mà chúng ký sinh như: Demodex canis trên chó, Demodex bovis trên bò, D.phyllyoides trên heo…
2.6.1 Hình thái và cấu tạo của Demodex canis:
Demodex canis có thân dài khoảng 0.25mm, không có lông, thân Demodex chia làm 3 phần: Đầu , ngực, bụng
Hình 2 Hình thái của Demodex canis
Đầu
Ngực
Bụng
Trang 18Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Đầu: Ngắn hình móng ngựa, có một đôi râu đầu xúc tu (palps), một đôi càng
(chelicerae), và một tấm dưới miệng (unpaired hypostom)
Ngực: Có bốn đôi chân ngắn, tù, tiêu giảm giống như hình mấu.
Bụng: Dài, trên mặt lưng và mặt bụng đều có những vệt vằn ngang.
Cơ quan sinh dục:
Con đực: có gai giao cấu (penis) nhô lên trên mặt lưng ở bộ phận ngực, lỗ sinh dục
thực của con đực ở trên khoảng cách giữa cặp chân thứ nhất và cặp chân thứ hai
Con cái: Âm đạo (vulva) ở mặt bụng vào chính giữa thân kể từ gốc của đôi chân thứ
tư lùi xuống phía dưới phần bụng trứng hình bầu dục dài, kích thước 0.07-0.09 mm
Vòng đời
Theo Đỗ Trung Giả - Nguyễn Hữu Hưng, 2002
Con cái đẻ trứng có dạng hình cọc sợi hay ô van sau 4 – 6 ngày trứng nở ra ấu trùng, 2 – 3 ngày tiếp theo thành Protonymph, sau 3 – 4 thành deutonymph, sau 3 –
5 ngày thành dạng trưởng thành Để hoàn thành vòng đời phát triển mò cần 30 – 35 ngày Tất cả các giai đoạn phát triển đều được tìm thấy ở nang lông
Căn bệnh phát triển tạo thành nhiều khuẩn lạc ở nang lông (gốc củ hành) và ở tuyến nhờn Bên ngoài cơ thể ký chủ Demodex canis sống được 10 ngày Gia súc mắc bệnh do tiếp xúc trực tiếp với căn bệnh hay môi trường xung quanh bị nhiễm mầm bệnh Những động vật non có tính cảm thụ cao đối với căn bệnh
Dịch tể học
Demodex canis có sức sống rất dai, rời khỏi cơ thể chó ra ngoài, nếu điều kiện ngoại cảnh thuận lợi, có đủ ẩm độ còn sống được vài ngày Điều kiện ẩm và lạnh ở phòng thí nghiệm sống được khoảng 21 ngày
Chó lành khi tiếp xúc với chó nhiễm Demodex hoặc khi tiếp xúc vật liệu như mền, bàn chải, lông,…đã bị nhiễm mầm bệnh thì sẽ bị bệnh (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996)
Trên thân hình chó mạnh khỏe bình thường vẫn có mầm bệnh tồn tại nhưng chưa phát thành bệnh mà chỉ khi trên lớp da ngoài của thân hình chó bị tổn thương, viêm tấy sưng mủ, lúc đó hệ thống miễn dịch yếu là cơ hội tốt cho Demodex xâm nhập
Trang 19Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Demodex canis được phát hiện rõ nhất ở loài chó lông ngắn, thể trạng dinh dưỡng kém, sức đề kháng yếu như nhiễm một số bệnh nhất là bệnh Care đó là cơ hội tốt cho Demodex xâm nhập, và tắm rửa chó bằng xà phòng có chứa nhiều chất kiềm,
đó cũng là nguyên nhân làm giảm sức đề kháng của da hoặc là điều trị không đúng qui cách
2.6.2 Cách sinh bệnh
Demodex vào bao lông và tuyến nhờn gây viêm mãn tính, biểu bì bị phồng lên nhanh, lông rụng Demodex canis tiếp tục phát triển, sinh sôi và gây bệnh cho ký chủ qua các phương thức tác động
Tác động cơ giới: Một mặt Mò Bao Lông gây các tổn thương, viêm cơ học ở da và
bao lông Mặt khác dịch nước bọt và chất thải của Mò Bao Lông gây ra các tác động hóa học kích thích vào thần kinh cảm giác ở da làm cho con vật ngứa, khó chịu Cho nên con vật tự mình dùng các móng chân để gãi, hoặc tự cắn lên vùng da
bị ngứa, hoặc cọ mình vào các vật cứng, hoặc có thể cọ lên thân mình chó khác làm cho nhiều vùng da bị trầy xước, chảy máu
Tác động chiếm đoạt: Mò Bao Lông phát triển và sinh sản ngày càng nhiều, chúng
chiếm đoạt một phần dưỡng chất của ký chủ và ăn các tế bào nang lông, kế đến là những tuyến nhờn Cho nên, khi con vật bị nặng thường gầy còm, xơ xác và có thể chết
Tác động đầu độc: Bằng chất độc tiết ra trong quá trình trao đổi chất, nước bọt và
chất thải của mò xâm nhập vào máu là yếu tố đầu độc ký chủ Các độc tố của mòbao lông chủ yếu là ức chế sản sinh bạch cầu, ức chế tạo miễn dịch và giảm khả
Hình 3 Sự xâm nhập và cư trú của Demodex
vào tuyến nhờn và bao lông
Tuyến nhờn
Nang lông Lông
Trang 20Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
năng thực bào, kết quả là quá trình bệnh trở nên phức tạp và trầm trọng hơn do nhiễm khuẩn thứ phát
Tác động của nhiễm khuẩn thứ phát: Các tổn thương viêm cơ học ở da do Demodex
canis gây ra và do chó bệnh bị giảm sức đề kháng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các
vi khuẩn khác xâm nhập vào, thường là Staphylococcus aureus xâm nhập và gây thành nốt mụn mủ Nếu không được điều trị kịp thời chó nhiễm bệnh có thể bị chết
do vi khuẩn tiết độc tố vào máu gây nhiễm trùng huyết
2.6.3 Triệu chứng
Theo Phạm Văn Khuê – Phan Lục, 1996 thì hai dạng bệnh thường gặp Da dày lên
và nhăn nheo xuất hiện vẩy hoặc thể vẩy, lông rụng, ửng đỏ, cuối cùng thành màu xanh hay màu vàng đỏ Dạng khác là nổi mụn do nhiễm vi khuẩn, thường dạng này xuất hiện trước dạng vẩy Phát triển những mụn nhỏ, đường kính vài mm hoặc có thể thành những nốt áp xe rộng, đôi khi gặp cả nhũng ổ hoại tử Dạng vẩy ít khốc liệt hơn
Ở chó gặp cả hai dạng bệnh đó, thường nổi mụn ở bụng, hai bên chân, trên mặt, khuỷu chân và trên chân
2.6.4 Bệnh tích
- Bệnh dạng vẩy: Thường ở thể nhẹ, biểu hiện rõ nhất ở da trán, mắt, bốn chân, co biểu hiện rụng lông, da dày cộm và có màu sẫm, chó thường đưa chân gãi gây thương tổn, có mùi hôi khó chịu, ăn kém
Theo Vương Đức Chất và Lê Thị Tài, 2004
- Bệnh dạng mủ: Xuất hiện những bọc mủ, đặc quánh màu vàng xám do vi khuẩn xâm nhập Tại đây da nhăn nheo, rụng lông lâu ngày các tổ chức chết cùng với dịch
Hình 4 Bệnh tích dạng vảy ở vùng mặt chó
Trang 21Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
thể lâm ba tiết ra tạo thành các vảy khô cứng dày côm Bệnh nặng chó bị trụi hết lông, đôi khi dẫn đến nhiễm trùng huyết
2.6.5 Chẩn đoán
- Dựa vào triệu chứng lâm sàng: Có những vùng da rụng hết lông, viêm sưng tấy, nổi lên các mụn mẩn đỏ Vùng da rụng lông lúc đầu thường là ở mặt, vành mắt, trán, rồi lan dần xuống cổ, hầu và tứ chi và cuối cùng là toàn bộ cơ thể
Dạng cục bộ thường không thấy viêm, dạng toàn thân da đỏ với nhiều dịch rỉ viêm,
da có mủ và mùi hôi
Chẩn đoán lâm sàng cần phân biệt với các bệnh như: Nấm da, Sarcoptes scabieivar canis
Bệnh nấm da: Vùng da rụng lông có giới hạn rõ thường là dạng tròn, lông rụng hay
gãy từng mảng có khi toàn thân, có các vảy gào, nổi mẫn đỏ tại vùng rụng lông làm con vật ngứa, khó chịu
Sarcoptes scabieivar canis: Phạm Văn Khuê – Phan Lục, 1996, thì bệnh ghẻ do
Sarcoptes có ba triệu chứng chủ yếu là ngứa, rụng lông và đóng vảy
+ Ngứa: Do ghẻ đào hang và độc tố trong nước bọt của ghẻ kích thích Ngứa nhiều nhất là triệu chứng của bệnh ghẻ ngầm
+ Rụng lông: là do cọ sát và viêm bao lông, lông rụng thành những đám tròn càng ngày càng lan rộng ra xung quanh, rụng lông do ghẻ ngầm thì rụng toàn bộ, đều và
Hình 5 Bệnh tích dạng mủ ở mũi chó bệnh Mò Bao Lông
Trang 22Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
+ Đóng vảy: Do các vết thương và tương dịch chảy ra, cùng với máu và những mảng thượng bì khô lại đóng thành vảy màu nâu nhạt ở những chỗ rụng lông
- Dựa vào kết quả xét nghiệm:
Bắt mò ngoài thiên nhiên:
Cách làm nổi: Lấy mẫu đất, cát quanh chuồng trại hay nơi nghi có Demodex canis Mỗi mẫu chừng 500g, gói vào túi ni lông hay giấy dày, cho mẫu vào nước sạch trong chậu men trắng khuấy đều Sau khi nước đứng yên kiểm tra bằng kính thấy mò nổi lên trên
Dùng giấy đen (15-20cm) đặt vào nơi nghi có Demodex canis trong 15 phút, lấy lên dùng kính lúp kiểm tra mò ở mặt dưới giấy
Bắt mò trên cơ thể con bệnh bằng cách cạo da:
Dùng dao cạo da ở vùng tiếp giáp giữa vùng da lành và vùng da bệnh cho đến khi rỉ máu và cho vào lame có chứa sẵn glycerin, dàn đều mẫu rồi đưa lên kính hiển vi độ phóng đại là 100 lần và 400 lần để tìm Demodex canis
+ Tác dụng nhanh
+ Không hay ít độc đối với vật chủ
+ Có tác dụng hiệp đồng hay được phân bố đồng đều trong dung dịch lỏng, phù hợp với yêu cầu của cách sử dụng
+ Dễ sử dụng, có thể sử dụng dưới dạng trộn vào thức ăn, nước tắm trong bể lớn cho động vật đi qua, bơm, xịt, bôi lên da hay tiêm dưới da,… Tất cả đều phải đảm bảo kinh tế
+ Không hay ít tồn lưu trong vật chủ
Trang 23Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
+ Không gây ô nhiễm môi trường, ít gây độc đối với các côn trùng, vi sinh vật có lợi Đặc biệt các sản phẩm phân giải các hợp chất hữu cơ này không độc đối với thủy hải sản
Theo Đỗ Trung Giã – Nguyễn Hữu Hưng, 2002 thì để phòng trừ tốt bệnh thì phải áp dụng thuyết phòng trừ tổng hợp của viện sĩ SKRJABIN
Phòng trừ bệnh ký sinh trùng là một vấn đề phức tạp nên phải dùng biện pháp phòng trừ tổng hợp bao gồm:
- Điều trị
- Phòng ngừa (tự vệ - chủ động)
- Tiêu trừ căn bệnh
Nếu dùng một trong những biện pháp trên thì không đạt kết quả tốt
Điều trị: Chữa khỏi những con bệnh bằng các loại thuốc Tuy nhiên điều trị đối với
ngoại cảnh lại là phòng ngừa mà cũng còn là tiêu diệt ký sinh trùng trong cơ thể gia súc bệnh nên cũng là một mặt của nội dung tiêu trừ căn bệnh
Phòng ngừa:
Làm gia súc khỏe không mắc bệnh Có hai loại phòng ngừa:
- Phòng ngừa có tính chất tự vệ (bị động) mục đích làm cho gia súc mạnh không bị cảm nhiễm
- Phòng ngừa có tính chất công kích (chủ động tích cực) mục đích dùng các phương pháp cơ giới, hóa học, vật lý, sinh vật học để phá hủy ký sinh vật bất cứ ở giai đoạn nào trong vòng đời của chúng Biện pháp này thực tế là tiêu trừ căn bệnh
Tiêu trừ căn bệnh: Mục đích chính là để tiêu diệt ký sinh trùng ở bất cứ giai đoạn
nào trong vòng đời của chúng nhưng đồng thời cũng bao hàm nội dung phòng ngừa
có tính chất chủ động và điều trị gia súc ốm
Điều kiện thực hiện công tác tiêu trừ căn bệnh:
- Phải nắm được chu trình phát triển của ký sinh vật trong và ngoài ký chủ
- Qui luật dịch tể học trong vùng, tình hình chăn nuôi và các nhân tố tự nhiên