Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuTRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN THÚ Y --- ---BÙI NGỌC GIÀU TÌNH HÌNH NHIỄM NGUYÊN S
Trang 1Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
-
-BÙI NGỌC GIÀU
TÌNH HÌNH NHIỄM NGUYÊN SINH ĐỘNG VẬT NGOẠI
KÝ SINH TRÊN CÁ TRA (Pangasius hypophthalmus)
TẠI CẦN THƠ, AN GIANG VÀ ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ THÚ Y
Cần Thơ, 06/2008
Trang 2Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
-
-BÙI NGỌC GIÀU
TÌNH HÌNH NHIỄM NGUYÊN SINH ĐỘNG VẬT NGOẠI
KÝ SINH TRÊN CÁ TRA (Pangasius hypophthalmus)
TẠI CẦN THƠ, AN GIANG VÀ ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ THÚ Y
Giáo Viên Hướng Dẫn NGUYỄN HỮU HƯNG
Cần Thơ, 06/2008
Trang 3Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
-
-Đề tài: Tình hình nhiễm nguyên sinh động vật ngoại ký sinh trên cá tra
(Pangasius hypothalmus) tại Cần Thơ, An Giang và Đồng Tháp; do sinh viên:
BÙI NGỌC GIÀU thực hiện tại Bộ môn Thú Y, khoa Nông Nghiệp & SHƯD, trường Đại học Cần Thơ; từ tháng 03 đến tháng 05 năm 2008
Cần Thơ, ngày tháng năm… Cần Thơ, ngày tháng năm
Duyệt Bộ môn Thú Y Duyệt Giáo viên hướng dẫn
Cần Thơ, ngày tháng năm
Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 4Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI CẢM TẠ
* Kính dâng lên cha mẹ
Suốt đời tận tụy vì sự nghiệp và tương lai của chúng con
* Mãi mãi biết ơn
Thầy Nguyễn Hữu Hưng đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ, cung cấp kiến thức và kinh nghiệm cho tôi hoàn thành luận văn này
Trang 5Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Trang duyệt ii
Lời cảm tạ iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Danh mục từ viết tắt ix
Tóm lược x
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ i
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trong và ngoài nước 3
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá trên thế giới 3
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá ở Việt Nam 4
2.2 Đặc điểm sinh học cá tra 5
2.2.1 Phân loại 5
2.2.2 Phân bố 6
2.2.3 Đặc điểm hình thái, sinh lý 7
2.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng 7
2.2.5 Đặc điểm sinh trưởng 8
2.2.6 Đặc điểm sinh sản 8
2.2.7 Môi trường sống của cá tra 10
2.3 Nguyên nhân và điều kiện gây bệnh 10
2.4 Một số bệnh do nguyên sinh động vật ngoại ký sinh trên cá tra 12
2.4.1 Bệnh trùng bánh xe Trichodinosis 12
Trang 6Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.4.2 Bệnh trùng loa kèn 14
2.4.3 Bệnh trùng quả dưa Ichthyophthyriosis 17
2.5 Bệnh truyền nhiễm thường xảy ra trên cá tra 20
2.5.1 Bệnh đốm đỏ 20
2.5.2 Bệnh gan, thận mủ 22
2.5.3 Bệnh trắng da 23
2.6 Một số yếu tố môi trường trong nuôi trồng thủy sản 25
2.6.1 Chỉ số pH 25
2.6.2 Độ kiềm 26
2.6.3 Chỉ số NH3 26
2.6.4 Chỉ số NO2 27
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Nội dung 29
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29
3.3 Phương tiện thí nghiệm 29
3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 29
3.3.2 Dụng cụ và hoá chất 29
3.4 Phương pháp nghiên cứu 30
3.4.1 Phương pháp thu mẫu 30
3.4.2 Phương pháp phân tích mẫu 30
3.4.3 Phương pháp cố định và nhuộm mẫu ký sinh trùng 31
3.4.4 Phương pháp xác định mức độ nhiễm ký sinh trùng 31
3.4.5 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự xuất hiện bệnh 32
3.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 32
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình nuôi cá tra tại 3 địa điểm thuộc 3 tỉnh 33
4.1.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội 33
Trang 7Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
4.1.2 Tình hình nuôi cá tra tại 3 địa điểm thuộc 3 tỉnh 35
4.1.3 Tình hình dịch bệnh xảy ra 36
4.2 Kết quả điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình nhiễm ký sinh trùng ở cá tra tại 3 địa điểm 36
4.2.1 Mùa vụ 36
4.2.2 Tỷ lệ nhiễm nguyên sinh động vật ngoại ký sinh theo mật độ điều tra 37
4.2.3 Một số chỉ tiêu về môi trường nuôi cá 38
4.3 Kết quả tình hình nhiễm nguyên sinh động vật ngoại ký sinh ở cá theo giai đoạn .40
4.3.1 Tỷ lệ nhiễm nguyên sinh động vật ngoại ký sinh ở cá tra theo giai đoạn 40
4.3.2 Tỷ lệ nhiễm nguyên sinh động vật ngoại ký sinh ở da cá tra 41
4.3.3 Tỷ lệ nhiễm nguyên sinh động vật ngoại ký sinh ở mang cá tra 42
4.3.4 Tỷ lệ nhiễm ghép giữa các loài nguyên sinh động vật ngoại ký sinh trên cá tra .43
4.4 Mối quan hệ giữa nguyên sinh động vật ngoại ký sinh với các bệnh truyền nhiễm 44
4.5 Các bệnh xuất hiện trong quá trình kiểm tra mẫu 45
4.6 Một số hình ảnh ghi nhận 47
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ CHƯƠNG 53
1 Phiếu điều tra 53
2 So sánh thống kê 55
Trang 8Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH MỤC BẢNG
TrangBảng 2.1 Tiêu chuẩn về chất lượng nước cho nuôi trồng thủy sản 28Bảng 4.1 Tình hình diện tích ao nuôi cá tra tại 3 địa điểm qua các năm 2006, 2007
và đến tháng 04/2008 35Bảng 4.2 Mật độ nuôi cá tra tại 3 địa điểm điều tra 37Bảng 4.3 Tỷ lệ các chỉ tiêu môi trường ở các ao nuôi cá tra tại 3 địa điểm 38Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm nguyên sinh động vật ngoại ký sinh ở cá tra theo giai đoạn 40Bảng 4.5 Tỷ lệ nhiễm nguyên sinh động vật ngoại ký sinh ở da cá tra 41Bảng 4.6 Tỷ lệ nhiễm nguyên sinh động vật ngoại ký sinh trên mang cá tra 42Bảng 4.7 Tỷ lệ nhiễm ghép giữa các loài nguyên sinh động vật ngoại ký sinh trên cá tra 43Bảng 4.8 Tỷ lệ nhiễm ghép giữa các bệnh do nguyên sinh động vật ngoại ký sinh với các bệnh truyền nhiễm 44Bảng 4.9 Tỷ lệ các bệnh xuất hiện trong quá trình kiểm tra 45
Trang 9Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1 Cá tra (Pangasius hypophthalmus) 6
Hình 2 Cấu tạo của Trichodina 12
Hình 3 (a) giống Apiosoma, (b) giống Epistylis 15
Hình 4 Ichthyophthyrius 18
Hình 5 Trùng bánh xe Trichodina 47
Hình 6 Trùng loa kèn Apiosoma 47
Hình 7 Trùng quả dưa Ichthyophthyrius 47
Hình 8 Gan, thận, tỳ tạng có những đốm mủ 47
Hình 9 Cá bị loét da, thối đuôi 47
Hình 10 Mang cá bị trắng 48
Hình 11 Gan cá bị trắng 48
Hình 12 Cá bị xuất huyết ở nắp mang 48
Hình 13 Mật sưng 48
Trang 10Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu LongTLN: tỷ lệ nhiễm
CĐN: cường độ nhiễmSMKT: số mẫu kiểm traSMN: số mẫu nhiễm
Trang 11Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TÓM LƯỢC
Trong quá trình phân tích 298 mẫu cá tra, trong đó cá 189 mẫu cá giống và
109 mẫu cá thịt chúng tôi phát hiện được 3 giống nguyên sinh động vật ngoại ký
sinh trên cá tra: Trichodina, Ichthyophthyrius và Apiosoma với tỷ lệ nhiễm là
49,74% ở cá giống và 26,60% ở cá thịt
Cá nuôi ở giai đoạn giống thường nhiễm nguyên sinh động vật ngoại ký sinh
ở da và mang Trong đó, Trichodina là giống thường xuất hiện với tỷ lệ nhiễm 46,03% ở da và 17,99% ở mang nhiều hơn so với 2 giống còn lại Apiosoma 33,86%
ở da và 8,99% ở mang, Ichthyophthyrius 0,53% ở da và 1,59% ở mang.
Ở giai đoạn cá thịt thì mức độ nhiễm nguyên sinh động vật ngoại ký sinh
thấp hơn so với cá ở giai đoạn giống Trichodina 20,18% ở da và 2,75% ở mang,
Apiosoma 14,68% ở da và không tìm thấy giống này ở mang cá thịt, Ichthyophthyrius 3,76% ở mang và không tìm thấy ở da.
Môi trường nước ao nuôi tại 3 địa điểm khảo sát có giá trị pH nằm trong giới hạn cho phép, độ kiềm và nồng độ NH3dao động từ mức xấu đến trung bình, NO2
thì dao động từ mức xấu đến tốt
Khảo sát mối quan hệ giữa bệnh do nguyên sinh động vật ngoại ký sinh với các bệnh truyền nhiễm cho thấy bệnh do nguyên sinh động vật ngoại ký sinh là yếu
tố mở đường cho sự xâm nhập của vi khuẩn Qua quá tình kiểm tra 59 ao nuôi cá tra
đã phát hiện 28 ao nhiễm ghép giữa nguyên sinh động vật ngoại ký sinh với các bệnh truyền nhiễm chiếm tỷ lệ 47,46% và có 53 ao có xuất hiện bệnh truyền nhiễm chiếm tỷ lệ 89,83%
Trang 12Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá tra (Pangasius hypophthalmus) là loài có nhiều ưu thế so với các loài cá
nuôi phổ biến hiện nay ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) Cá tra có khả năng tăng trọng nhanh, kích thước lớn, dễ nuôi và dễ dàng thích ứng với các loại thức ăn Chúng là loài có ngưỡng oxy thấp nên có thể nuôi ở mật độ cao và dễ dàng thích nghi với các loại hình thủy vực từ ao nhỏ, ao lớn đến các bè trên sông,…
Mặt khác, cá tra ngày nay đã trở thành một trong những đối tượng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam Cá tra đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn cho nước nhà, tăng thu nhập cho người nuôi mà còn giải quyết việc làm cho người lao động Do nhu cầu xuất khẩu, nhiều nơi đã đưa nghề nuôi cá tra đến mức độ thâm canh với quy mô ngày càng lớn và đặc biệt là các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ
Với đặc điểm trên, không ít người đã chạy theo lợi nhuận trên bàn tính theo cách nghĩ thông thường mà nuôi cá với mật độ dày, việc quản lý ao nuôi chưa đúng cách đã làm cho môi trường nuôi ngày càng trở nên xấu đi dẫn đến cá thường xuyên
bị bệnh, gây ảnh hưởng đến năng xuất và gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi Trong số những tác nhân gây nguy hiểm cho cá tra thì ký sinh trùng cũng là một trong những tác nhân gây bệnh thường xuyên trong quá trình nuôi Ngoài ra, ký sinh trùng và đặc biệt là nguyên sinh động vật còn đóng vai trò là yếu tố mở đường cho vi khuẩn, virus, cũng như các loài nấm tấn công gây bệnh
Do đó, việc nghiên cứu về ký sinh trùng trên cá tra là việc làm có ý nghĩa rất lớn không những về khoa học mà còn cả trong thực tiễn sản xuất nhằm chẩn đoán, xác định tác nhân gây dịch bệnh và tổ chức việc phòng trừ có hiệu quả để phục vụ sản xuất nhằm góp phần nâng cao năng suất, sản lượng nuôi trồng thủy sản
Được sự đồng ý của Bộ môn Thú Y, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại học Cần Thơ tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình nhiễm
nguyên sinh động vật ngoại ký sinh trên cá tra (Pangasius hypophthalmus) tại Cần
Thơ, An Giang và Đồng Tháp”
Mục tiêu của đề tài:
Điều tra điều kiện tự nhiên, xã hội và tình hình nuôi cá tra tại Cần Thơ, An Giang và Đồng Tháp
Trang 13Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Xác định tỷ lệ nhiễm nguyên sinh động vật ngoại ký sinh trên cá tra theo giai đọan nuôi
Xác định các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tình hình bệnh
Trang 14Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trong và ngoài nước
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá trên thế giới
Việc nghiên cứu ký sinh trùng trên cá đã được bắt đầu từ rất lâu Công trình nghiên cứu được coi là sớm nhất, đồ sộ và toàn diện nhất thuộc về những nhà nghiên cứu Liên Xô cũ Viện sĩ V.A.Dogiel (1882 - 1956) đã đặt nền móng cho nghiên cứu ký sinh trùng cá, tác giả đã đưa ra phương hướng phát triển mới cho nghiên cứu về các khu hệ ký sinh trùng, và các loại bệnh cá do ký sinh trùng gây ra với việc đưa ra “phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng trên cá” Sau nhiều năm phát triển và từ kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả
Ở các nước Châu Âu khác cũng có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng trên cá
Năm 1976, Jiri Lom và G.Grupcheva nghiên cứu ký sinh trùng đơn bào của
cá chép ở Tiệp Khắc và Bungari, các tác giả đã so sánh sự xuất hiện bệnh và mô tả loài mới
Năm 1992, Jiri Lom và Ivandykova đã xuất bản cuốn “Ký sinh trùng đơn bào
(Protozoa) của cá” Họ cho biết hiện nay có xấp xỉ 2.420 loài ký sinh trùng đơn bào (Protozoa) ở cá đã được công bố Nhiều loài gây nguy hiểm cho cá nước ngọt và
nước mặn Cuốn sách đã giới thiệu phương pháp nghiên cứu và hệ thống phân loại của 7 ngành ký sinh trùng đơn bào ở cá
Ở Châu Á cũng có một số công trình nghiên cứu đồ sộ điển hình là:
Ở Trung Quốc, Chen Chil - Leu (1973) đã biên soạn quyển sách ký sinh trùng cá nước ngọt ở tỉnh Hồ Bắc, điều tra 50 loài cá nước ngọt và phân loại được
375 loài ký sinh trùng Trong đó, động vật đơn bào (Protozoa) có 159 loài, sán lá đơn chủ (Monogenea) có 116 loài, sán dây (Cestoda) 10 loài, sán lá song chủ (Trematoda) có 33 loài, giun tròn (Nematoda) 21 loài, nhuyễn thể (Mollusca) 1 loài, giáp xác (Crustacea) 26 loài (trích dẫn từ Bùi Quang Tề, 2001).
Ở Nhật Bản, Nagasawa, Awakura, Urawa (1989) đã tổng kết nghiên cứu ký sinh trùng trên cá nước ngọt ở Hokaido - Nhật Bản và xác định được 96 loài ký sinh
trùng bao gồm: Protozoa 21 loài, Monogenea 11 loài, Trematoda 22 loài, Cestoda
Trang 15Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
10 loài, Nematoda 15 loài, Acanthocephala 7 loài, Mollusca 2 loài, Copepoda 6 loài, Branchuira 1 loài, và Isopoda 1 loài và 38 loài chưa xác định được tên loài.
Ở những nước khu vực Đông Nam Á đã có các nghiên cứu ký sinh trùng cá nước ngọt từ đầu thế kỷ 20, nhưng chưa nghiên cứu toàn diện nhóm ký sinh trùng
mà thường nghiên cứu từng nhóm ký sinh trùng như sán lá song chủ ở Philippines, hoặc sán lá đơn chủ ở Malaysia
Ở Thái Lan, từ năm 1926 - 1928, nhà khoa học Mỹ Charles Branch Wilson
đã mô tả 2 loài của Argulus và Caligus từ cá nước ngọt Thái Lan Năm 1985,
Paiboon - Yutisri, Apirum – Thuhanruksa, khi điều tra khu hệ ký sinh trùng của một
số cá sống tự nhiên ở một số vùng ở Thái Lan đã phát hiện 16 loài ký sinh trùng trong đó gồm 3 loài ngoại ký sinh và 13 loài nội ký sinh ở cá bống tượng
(Oxyeleotris marrmorrtus) với tỷ lệ cảm nhiễm 69% và giun sán ở cá sặc rằn (Trichogaster pectoralis) Năm 1992, Tonguthai đã nghiên cứu Isopoda và
Myxosporidia ký sinh trên cá Năm 1991, 1993, 1994, Supranee đã nghiên cứu sán
lá đơn chủ trên một số cá nước ngọt Năm 1997, Lerssuthichawal đã nghiên cứu sán
lá đơn chủ ký sinh trên cá trê ở Thái Lan (trích dẫn từ Bùi Quang Tề, 2001)
Ở Indonesia, khi nghiên cứu sán dây, sán lá song chủ và giun đầu gai trên cá nước ngọt ở Java, Bovien (1926, 1927, 1933) đã mô tả một giống mới và một loài
mới Djombangia penetras tìm thấy ở cá trê trắng (Clarias batrachus), Isoparorchis
eurytremum ở cá Wallagoattu Tiếp theo là nhà khoa học người Đức Buschkiel
(1932-1935) đã nghiên cứu ký sinh trùng đa bào (Ichthyophthyrius mutifillis) ở một
số loài cá nước ngọt ở Indonesia Một số tác giả viện nghiên cứu cá nước ngọt Bogor đã nghiên cứu ký sinh trùng ở cá nuôi, Darnas Dana (1978), một trong số họ
nghiên cứu Myxosporidia ở cá nước ngọt (trích dẫn từ Bùi Quang Tề, 2001).
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá ở Việt Nam
Người dầu tiên nghiên cứu ký sinh trùng cá ở Việt Nam là nhà ký sinh trùng người Pháp, bác sĩ Albert Billet (1856 - 1915) Ông đã mô tả một loài sán lá song
chủ Distomum hypselobagri (1898) ký sinh trong bóng hơi cá nheo ở Việt Nam, P.Chevey và J.Lemasson (1936) đã nghiên cứu ký sinh của trùng mỏ neo Lernaea
carassii.
Mặc dù, ký sinh trùng ở Việt Nam được nghiên cứu rất lâu nhưng nghiên cứu được xem là toàn diện và đầy đủ nhất thuộc về tiến sĩ Hà Ký (trích dẫn từ Bùi Quang Tề, 2001) Khi điều tra nghiên cứu ký sinh trùng của 16 loài cá kinh tế ở Bắc
Bộ Việt Nam, Hà Ký đã xác định được 120 loài ký sinh trùng thuộc 48 giống, 37
Trang 16Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
họ, 26 bộ và 10 lớp, trong đó trùng roi Masstigophora 2 loài, Monogenea 42 loài, trùng bào tử Myxozoa 18 loài, trùng lông Ciliophora 17 loài, Cestoda 4 loài,
Trematoda 8 loài, Nematoda 12 loài, Acanthocephala 2 loài, Crustacea 15 loài Hà
Ký đã mô tả một họ, một giống và 42 loài mới với khoa học
Lê Văn Hòa và Phạm Ngọc Khuê (1967), Lê Văn Hòa và Bùi Thị Liên Hương (1969) đã nghiên cứu phân loại giun tròn trên cá ở Nam Bộ Các tác giả đã
nghiên cứu 1 giống và 2 loài mới: Pseudoproleptus lamyi, Campanarougetia
campanarougetae (trích dẫn từ Bùi Quang Tề, 2001).
Năm 1976, Nguyễn Thị Muội và cộng sự đã nghiên cứu giun đầu gai trên cá thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, bước đầu phân loại được 9 loài ký sinh trên 12 loài
cá Năm 1981 – 1985, Nguyễn Thị Muội và cộng sự khi điều tra nghiên cứu ký sinh trùng của 2 loài cá nước ngọt ở Tây Nguyên, sơ bộ phân loại được 57 taxon trong
đó Monogenea (15), Protozoa (13), Trematoda (11), Crustacea (7), Cestoda (5),
Nematoda (3), Acanthocephala (3)
Công trình nghiên cứu “ Thành phần loài ký sinh trùng trên một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại Phú Khánh (Khánh Hòa)” của Nguyễn Thị Muội và Đỗ Thị Hòa (1978 – 1980), công trình này phát hiện 80 loài ký sinh trùng ký sinh trên
cá biển
Theo Bùi Quang Tề (2001), có 23 loài ký sinh trùng ký sinh trên cá tra nuôi
ở các giai đoạn: giai đoạn cá thịt gặp 10 loài, giai đoạn cá nhỏ gặp 16 loài
Một số ký sinh trùng gây nguy hiểm cho cá tra nuôi ở ĐBSCL là trùng bánh
xe (Trichodina, Trichodinella, Tripartiella), trùng quả dưa (Ichthyophthyrius), trùng loa kèn (Apiosoma), sán lá đơn chủ, giun tròn (Spectatus) (trích dẫn từ Bùi Quang
Tề, 2001)
2.2 Đặc điểm sinh học cá tra
2.2.1 Phân loại
Cá tra là một trong số 11 loài thuộc họ cá tra (Pangasiidae) được xác định ở
sông Cửu Long Theo tài liệu gần đây nhất năm 1996 của tác giả W.Rainboth xếp
cá tra nằm trong giống cá tra dầu Cá tra dầu rất ít gặp ở nước ta và còn sống sót rất
ít ở Thái Lan và Campuchia Cá tra dầu đã được xếp vào danh sách cá cần bảo vệ.Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, cá tra được xếp vào hệ thống phân loại khoa học như sau:
Giới Animalia
Trang 17Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Ngành Chordata Phân ngành Vertebrata
Lớp Actinopterygii Phân lớp Neoptergii
Siêu bộ Ostariophysi
Bộ Siluriformes
Họ Pangasiidae
Giống Pangasius Loài Pangasius hypophthalmus Sauvage,1878.
(theo http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1_tra)
2.2.2 Phân bố
Cá tra phân bố ở một số nước Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam, loài cá này được tìm thấy ở lưu vực sông Mêkông cũng như
ở sông Chaophraya Ngày nay, cá tra được nuôi phổ biến trong các ao bè
Ở nước ta những năm trước đây khi chưa có cá sinh sản nhân tạo, cá bột và
cá tra giống được vớt trên sông Tiền, sông Hậu Cá trưởng thành chỉ thấy trong ao nuôi, rất ít gặp ngoài tự nhiên ở địa phận Việt Nam, do cá có tập tính di cư ngược dòng sông Mêkông để sinh sống và tìm nơi sinh sản tự nhiên (Mai Đình Yên và ctv, 1992)
Cá tra phân bố ở các tầng nước từ tầng trên đến tầng đáy, cá có thể sống ở các thủy vực nước tĩnh và nước chảy
Hình 1 Cá tra (Pangasius hypophthalamus)
Trang 18Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cá tra là loài cá di cư, vào mùa lũ khi mực nước dâng cao cá di chuyển về vùng thượng nguồn đẻ trứng Khi mực nước sông xuống thấp cá trở về vùng hạ nguồn để tìm nơi cư trú Cá sống thành từng đàn trên sông cũng như ao, hồ Cá có thể sống trong ao, hồ có hàm lượng oxy thấp cũng như ở những nơi có nước tù bẩn,
do đó nó có thể được nuôi với mật độ cao Ngoài ra, cá tra khỏe mạnh có sức đề kháng với các thay đổi của môi trường cao
Cá tra sống chủ yếu dọc theo sông Mêkông, nhiều nhất là ở Campuchia, Lào
và Việt Nam Ở sông Mêkông cá tra định cư vùng thượng nguồn vào tháng 5 - 6 và trở về vùng hạ nguồn từ đầu tháng 9 đến cuối tháng 12 Cá tập trung ở những chổ nước sâu vào mùa khô khi mực nước hạ xuống thấp (Thoại Sơn, 2006)
2.2.3 Đặc điểm hình thái, sinh lý
Cá tra có kích thước tương đối lớn, là loài cá da trơn (không vẩy), có thân dài, dẹp ngang, lưng xám đen, bụng hơi bạc Đầu nhỏ vừa phải, mắt tương đối to, miệng rộng, có hai đôi râu dài Vây lưng và vây ngực là gai cứng, có vây mỡ nhỏ, phần cuối đuôi vây hơi nhỏ (Mai Đình Yên và ctv, 1992)
Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước hơi lợ (nồng độ muối 7-10 ), có thể chịu đựng được nước phèn với pH >5, dễ chết ở nhiệt
độ thấp dưới 15oC, nhưng chịu nóng tới 39oC Cá tra có số lượng hồng cầu trong máu nhiều hơn các loài cá khác Cá có cơ quan hô hấp phụ và còn có thể hô hấp bằng bóng khí và da nên chịu đựng được môi trường nước thiếu oxy hòa tan Tiêu hao oxy và ngưỡng oxy của cá tra thấp hơn 3 lần so với cá mè trắng (trích dẫn từ http://www.ficen.org.vn/details.asp?)
2.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Về mặt cơ thể học cá tra có dạ dầy hình chữ U và co dãn được, ruột cá ngắn không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay bên dưới bóng khí và tuyến sinh dục, dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của cá thiên về ăn thịt
Cá tra sau khi nở 30 - 32 giờ thì hết noãn hoàng, cá tra bắt đầu tìm kiếm thức
ăn bên ngoài Ở giai đoạn cá bột cá thích ăn mồi tươi sống và ăn liên tục các loại như: luân trùng, trứng nước và các loại động vật nhỏ sống trôi nổi trong nước Đến ngày thứ 8 cá ăn được lăng quăng, ấu trùng muỗi đỏ, trùng chỉ, mùn bã hữu cơ Cá bắt đầu xuống đáy tìm thức ăn từ ngày thứ 11, kể từ ngày thứ 25 cá chuyển sang ăn tạp và tính ăn như cá trưởng thành (Dương Nhựt Long, 2003)
Trang 19Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cá tra có đặc tính ăn những con cá nhỏ hơn, vì thế cá tra khi hết noãn hoàng thì chúng thích ăn mồi tươi sống nên thể hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn nhau Do đó, chúng ăn lẫn nhau ngay trong bể ấp và chúng vẫn tiếp tục ăn nhau nếu cá hương không được cho ăn đầy đủ (Nguyễn Văn Kiểm, 2004)
Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các loại thức ăn bắt buộc khác như mùn bã hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc động vật Trong ao nuôi cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn khác nhau như cám, rau, động vật đáy…nhưng đối với những thức ăn có nguồn gốc từ động vật sẽ giúp cá lớn nhanh hơn (trích dẫn từ http://www.ficen.org.vn/details.asp?)
Trong quá trình nuôi, ở giai đoạn cá giống cỡ nhỏ (khoảng 2 g) cho cá ăn thức ăn có độ đạm 26 - 30% thì cá sẽ tăng trưởng tốt, giảm giá thành sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao Còn ở giai đoạn nuôi thịt, thức ăn có độ đạm thích hợp dao động khoảng 18 - 28%
2.2.5 Đặc điểm sinh trưởng
Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài Nuôi trong ao 1 năm cá đạt 1 - 1,5 kg/con (năm đầu tiên), những năm về sau cá tăng trọng nhanh hơn (Dương Nhựt Long, 2003)
Cá ương trong ao sau 2 tháng đã đạt chiều dài 10 - 12 cm (14 - 15 g) Từ khoảng 2,5 kg trở đi là bước vào thời kỳ tích mỡ mức tăng trọng lượng nhanh hơn
so với tăng chiều dài cơ thể nên cần phải có chế độ dinh dưỡng thích hợp để cá phát dục tốt Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng còn tùy thuộc vào điều kiện môi trường, mật
độ nuôi, chất lượng và số lượng thức ăn cung cấp Độ béo cũng tăng dần theo sự phát triển của cá Ở những năm đầu tiên, độ béo tăng nhanh, qua các năm sau độ béo biến đổi không đáng kể Cá có trọng lượng 11,2 g có độ béo là 0,99%, cá nặng
560 g có độ béo là 1,6% nhưng cá 3 năm tuổi nặng 3,62 kg có độ béo 1,62% (Trần Thanh Xuân, 1994)
2.2.6 Đặc điểm sinh sản
Cá tra đực thành thục ở tuổi thứ 2 và cá cái ở tuổi thứ 3 trở lên, trọng lượng
cá thành thục lần đầu từ 2,5 - 3 kg Trong tự nhiên chỉ gặp cá thành thục trên sông ởđịa phận của Campuchia và Thái Lan Ngay từ năm 1966, Thái Lan đã bắt cá tra thành thục trên sông (trong đầm Bung Borapet) và kích thích sinh sản nhân tạo thành công Sau đó họ nghiên cứu nuôi vỗ cá tra trong ao Ðến năm 1972, Thái Lancông bố quy trình sinh sản nhân tạo cá tra với phương pháp nuôi vỗ cá bố mẹ thành thục trong ao đất
Trang 20Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ (sinh dục thứ cấp), nên nếu chỉ nhìn hình dáng bên ngoài thì khó phân biệt được cá đực, cái Ở thời kỳ thành thục, tuyến sinh dục ở cá đực phát triển lớn gọi là buồng tinh hay tinh sào, ở cá cái gọi là buồng trứng hay noãn sào Tuyến sinh dục của cá tra bắt đầu phân biệt được đực cái từ giai đọan II tuy màu sắc chưa khác nhau nhiều Các giai đọan sau, buồng trứng tăng về kích thước, hạt trứng màu vàng, tinh sào có hình dạng phân nhánh, màu hồng chuyển dần sang màu trắng sữa
Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5 - 6 dương lịch, cá
có tập tính di cư đẻ tự nhiên trên những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp thuộc địa phận Campuchia và Thái Lan, cá không đẻ tự nhiên ở phần sông của Việt Nam Bãi đẻ của cá nằm từ khu vực ngã tư giao tiếp 2 con sông Mêkông và Tonlesap, từ thị xã Kratie (Campuchia) trở lên đến thác Khone, nơi giáp biên giới Campuchia và Lào Nhưng tập trung nhất từ khu Kampi đến hết Koh Rongiev thuộc địa giới 2 tỉnh Kratie và Stung Treng Tại đây có thể bắt được những cá tra nặng tới
15 kg với buồng trứng đã thành thục Cá đẻ trứng dính vào giá thể thường là rễ của
loài cây sống ven sông Gimenila Asiatica, sau 24 giờ thì trứng nở thành cá bột và
trôi về hạ nguồn Chúng đẻ trứng trong giai đoạn giao mùa giữa tháng 5 và tháng 8 (âm lịch) Ấu trùng trôi dạt xuống vùng châu thổ sông Mêkông vào cuối mùa mưa,
cá tra bột có khuynh hướng di chuyển đến những vùng nước sâu hơn Tuy nhiên, cá mái trưởng thành thường lại di chuyển ngược dòng nước đến vùng thượng nguồn để
đẻ trứng, sau khi đẻ trứng xong chúng lại di chuyển xuống vùng hạ nguồn để định cư
Trong sinh sản nhân tạo, ta có thể nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn trong tự nhiên (từ tháng 3 dương lịch hàng năm), cá tra có thể tái phát dục 1 - 3 lần trong một năm (Phạm Văn Khánh, 2000)
Số lượng trứng đếm được trong buồng trứng của cá gọi là sức sinh sản tuyệt đối Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra từ 200 ngàn đến vài triệu trứng Sức sinh sản tương đối có thể tới 135 ngàn trứng/kg cá cái, lượng trứng vuốt được ở mỗi cá thể cái chỉ chiếm từ 70 - 80% số trứng có trong buồng trứng Kích thước của trứng cá tra tương đối nhỏ và có tính dính Trứng sắp đẻ có đường kính trung bình 1 mm Sau khi đẻ ra và hút nước đường kính trứng khi trương nước có thể tới 1,5- 1,6 mm
Tỷ lệ sống của cá tra dưới 30% hiện tượng chết nhiều xảy ra trong tuần đầu sau khi nở (Cacot, 1998) Theo Subadgja và ctv, tỷ lệ sống của cá tra bột phụ thuộc rất lớn vào chất lượng cá bố mẹ và hiện tượng cá chết nhiều là hậu quả của cá bị nhiễm bệnh hơn là do chúng ăn lẫn nhau
Trang 21Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Khi nuôi vỗ, để cá phát triển và có sản phẩm phát dục tốt cần phải cung cấp thức ăn cho cá đủ về số lượng và chất lượng, cân đối về thành phần dinh dưỡng đặc biệt là protein phải đảm bảo từ 30% trở lên Theo Trương Tấn Toàn (1985) cá tra sẽ thành thục tốt khi thức ăn có hàm lượng protein 30 - 50% Thức ăn phải cung cấp hàng ngày cho cá
2.2.7 Môi trường sống của cá tra
Môi trường cho cá tra sống rất quan trọng Môi trường nước ổn định mồi ăn đầy đủ, cá tra có sức đề kháng cao, ký sinh trùng và mầm bệnh khó xâm nhập, cá khoẻ mạnh, tăng trưởng nhanh Trong nuôi trồng thuỷ sản, phần lớn nguyên nhân gây bệnh đầu tiên là những biến đổi xấu về môi trường gây sốc hay gây tổn thương đến cơ thể làm giảm khả năng kháng bệnh của cá, cá dễ bị bệnh và chết (Từ Thanh Dung, 2005)
Môi trường sống cho cá tra thích hợp và phát triển tốt là môi trường nước ngọt, không bị nhiễm mặn, không bị nhiễm phèn, pH từ 7 - 8, nhiệt độ 26 - 30oC, oxy trên 3 mg/l Tuy nhiên, cá tra nhờ có cơ quan hô hấp phụ nên vẫn sống được ở môi trường khắc nghiệt như: đất nhiễm phèn pH = 4 - 4,5, nước bị nhiễm bẩn từ nước thải sinh hoạt, môi trường dưỡng khí thấp với oxy hoà tan trên 2 mg/l (Phạm Văn Khánh, 2000)
2.3 Nguyên nhân và điều kiện gây bệnh
Ngành nuôi trồng thủy sản đã và đang phát triển rất mạnh ở cả nước nói chung và ở ĐBSCL nói riêng Người nuôi đã tận dụng mọi nguồn có thể huy động được nhằm đạt hiệu quả cao Điều này dẫn đến mật độ nuôi cao, thức ăn nghèo dinh dưỡng, quản lý ao nuôi kém, chất lượng nước nuôi xấu,…làm cá yếu đi và mầm bệnh có cơ hội xâm nhập vào cơ thể cá (Từ Thanh Dung, 2005) Riêng đối với cá tra trong nuôi tăng sản với mật độ cao là một vấn đề rất được quan tâm, vì điều đó
sẽ làm tăng khả năng tiếp xúc giữa cá và ký sinh trùng
Môi trường nước là môi trường sống tất yếu của cá, nhưng nếu nước quá dơ bẩn, thiếu oxy trầm trọng,…thì cá không sống nổi Trong môi trường nước luôn luôn tồn tại mầm bệnh: vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng,…và nó có khả năng trở thành tác nhân gây bệnh cho cá
Quá trình hình thành bệnh ở động vật thủy sản liên quan đến các yếu tố: mầm bệnh, môi trường và vật chủ Theo Snieszko (1974) đã giải thích mối quan hệ giữa: môi trường, mầm bệnh và vật chủ Động vật thủy sản chỉ bị bệnh khi có sự tác
Trang 22Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
động qua lại phức tạp đồng thời của 3 yếu tố trên Nếu thiếu 1 trong 3 yếu tố thì động vật thủy sản không bị bệnh
Mầm bệnh luôn có trong môi trường nước chỉ bộc phát và gây bệnh cho động vật thủy sản khi có đủ số lượng và điều kiện sống thuận lợi Mầm bệnh có thể chia thành nhiều loại:
Vật lý: sự thay đổi đột ngột nhiệt độ, pH, lượng oxy,…
Hóa học: chất độc, khí độc,…
Sinh học: vi khuẩn, vius, nấm, ký sinh trùng,…
Vật chủ phải có tính mẫn cảm với bệnh Tính mẫn cảm của động vật thủy sản còn phụ thuộc vào tuổi, kích cỡ, giống loài, sức đề kháng,…
Trong mối quan hệ giữa 3 yếu tố trên thì yếu tố môi trường là quan trọng nhất vì nó điều khiển mối quan hệ giữa vật chủ và môi trường theo hướng có lợi hoặc bất lợi
Động vật thủy sản sống trong môi trường nước nên chúng và nước có mối quan hệ qua lại với nhau Các yếu tố môi trường tạo điều kiện cho động vật thủy sản tồn tại, sinh trưởng và phát triển Tuy nhiên, khi yếu tố môi trường bất lợi sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của động vật thủy sản và thậm chí làm cho chúng chết hàng loạt
Theo Từ Thanh Dung (2005) bệnh được chia làm 2 nhóm: bệnh truyền nhiễm và bệnh không truyền nhiễm:
* Bệnh truyền nhiễm do: vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng gây ra, có tính
chất lan truyền rất nhanh, có thể gây thành ổ dịch làm cá chết hàng loạt Do đó, nuôi
cá với mật độ cao sẽ làm mầm bệnh lây lan nhanh chóng, thức ăn dư thừa tích tụ dưới đáy ao và nguồn nước dơ bẩn là điều kiện tốt cho mầm bệnh phát triển và xâm nhập vào cơ thể cá gây bệnh
* Bệnh không truyền nhiễm: do dinh dưỡng, môi trường và độc tố, không
có tính chất lây lan Thức ăn kém dinh dưỡng, oxy thấp, pH không thích hợp là nguyên nhân làm cá dễ mắc bệnh Mặt khác, do ngẫu nhiên hay một lý do nào đó
mà các độc tố từ thuốc trừ sâu, thức ăn,…cũng làm cá chết hàng loạt
Trang 23Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.4 Một số bệnh do nguyên sinh động vật ngoại ký sinh trên cá tra
Hình 2 Cấu tạo của Trichodina
Tiêm mao
Thể răng
Mặt bên Mặt bụng
Trang 24Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Họ trùng bánh xe Trichodinidae có nhiều giống, nhưng ở Việt Nam thường
gặp các loài thuộc 3 giống trên ký sinh ở cá nước ngọt, nước mặn, lưỡng thê và bò
sát Những loài thường gặp: Trichodina nigra, Trichodina nobilis, Trichodina
pediculus, Trichodina domerguei, Trichodina mutabilus, Trichodinella siluri, Trichodinella epizootica, Tripartiella bulbosa (Đỗ Thi Hòa và ctv, 2004).
Trùng bánh xe hay còn gọi là trùng mặt trời, mặt bụng có hình dạng tròn giống cái dĩa, nhìn nghiêng có dạng hình chuông Có 2 - 3 vòng tiêm mao trùng dùng để bơi trong nước Lúc vận động nó quay tròn lật qua lật lại giống như bánh
xe nên có tên là trùng bánh xe Nhìn chính diện có một đĩa bám lớn có cấu tạo phức tạp, trên đĩa có một răng và các đường phóng xạ, vòng răng có nhiều thể răng có dạng như hình chữ “V” bao gồm thân răng ở phía ngoài dạng hình lưỡi rìu, hình tròn hay hình bầu dục, còn móc răng ở phía trong thường dạng hình kim Các thể răng xếp chồng lên nhau Hình dạng, số lượng và đường phóng xạ khác nhau ở mỗi loài Xung quanh cơ thể có lông tơ luôn luôn rung động làm cho cơ thể vận động rất linh hoạt Cơ thể có một hạch lớn hình móng ngựa nằm ở giữa và một hạch nhỏ
hình tròn nằm cạnh hạch lớn Trichodina bám vào da và mang nhờ móc bám bằng kitin ở mặt bụng Giống Trichodinella và Tripartiella ký sinh chủ yếu ở mang cá
(Đỗ Thị Hòa và ctv, 2004)
Trùng bánh xe sinh sản chủ yếu bằng hình thức vô tính phân chia đơn giản,
tùy theo từng loài chúng sinh sản quanh năm như: Trichodina nigra, Tripartiella
bulbosa thì sinh sản trong thời tiết ấm, nhiệt độ 22 - 28oC; Trichodina pediculus có
thể sinh sản trong điều kiện thời tiết lạnh, nhiệt độ 16oC trùng vẫn có thể sinh sản được (theo D.Ivanov, 1969)
Trùng bánh xe có thể sống tự do trong nước (ngoài ký chủ) từ 1 - 1,5 ngày
Trang 25Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Theo Bùi Quang Tề và Vũ Thị Tám (2000), cho rằng nếu tỷ lệ cảm nhiễm 90
- 100%, cường độ cảm nhiễm 20 - 30 trùng/thị trường 9 x 10 là nguy hiểm cho cá Đàn cá phát bệnh khi cường độ cảm nhiễm 50 - 100 trùng/thị trường 9 x 10 Bệnh nặng cường độ cảm nhiễm có khi đến 200 - 250 trùng/thị trường 9 x 10, trùng bám dày đặc trên da, vây và mang cá
* Phân bố và lan truyền
Theo Đỗ Thi Hòa và ctv (2004) trùng bánh xe phân bố rất rộng và gây bệnh
ở nhiều loài cá khác nhau như: cá chép, trắm cỏ, mè trắng, mè hoa, trê, tra,…Gần đây, một số loài cá biển nuôi như cá mú cũng bị nhiễm tác nhân này
Trong các ao ương cá bệnh phát triển quanh năm nhưng phổ biến nhất vào mùa xuân, đầu hạ và mùa thu ở miền Bắc, vào mùa mưa ở miền Nam mùa khô ít gặp hơn Trùng bánh xe ký sinh ở hầu hết ở các loại cá nhưng chúng gây hại chủ yếu cho cá hương, cá giống trong các ao ương có mật độ dày, điều kiện sống không tốt, thức ăn thiếu thốn,…(Từ Thanh Dung, 2005)
* Chẩn đoán
Quan sát các biểu hiện bệnh lý của cá trong ao nuôi
Kiểm tra nhớt, vây và mang dưới kính hiển vi để xác định tỷ lệ và cường độ cảm nhiễm
2.4.2 Bệnh trùng loa kèn
* Tác nhân gây bệnh
Trùng loa kèn
Trang 26Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Họ phụ Apiosomatinae Banina Giống Apiosoma Blanchard, 1885
Họ phụ Vorticellidae Giống Vorticella Giống Zoothamnium
Hình 3 (a) giống Apiosoma, (b) giống Epistylis
Trang 27Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trùng loa kèn ký sinh ở động vật thủy sản Việt Nam thường gặp 4 giống thuộc 2 họ Nhìn chung, hình dạng cơ thể phía trước lớn, phía sau nhỏ, có dạng hình loa kèn, hình chuông lộn ngược nên có tên là trùng loa kèn Phía trước cơ thể có 1 -
3 vòng lông rung và khe miệng, phía sau ít nhiều đều có cuống để bám vào bất kỳ
giá thể nào Một số giống hình thành tập đoàn (Epistylis, Zoothamnium) Các cá thể
liên kết với nhau bởi nhánh đuôi Trùng loa kèn lấy dinh dưỡng bằng cách lọc trong môi trường nước (Từ Thanh Dung, 2005)
Trùng loa kèn sinh sản vô tính bằng hình thức cắt đôi theo chiều dọc cơ thể
và sinh sản hữu tính bằng hình thức tiếp hợp
- Giống Vorticella: Có thể sống đơn độc, tế bào đính vào giá thể bằng một
cuống hình trụ mãnh, xoắn lò xo có thể co rút được Tế bào có dạng hình chuông lộn ngược, phía trước thường rộng hình đĩa, có một vùng lông xoắn ngược chiều kim đồng hồ, hướng tới miệng, có thể có một nhân nhỏ và một nhân lớn hình dải, có
1 - 2 không bào co rút Cơ thể không màu hoặc màu vàng xanh
- Giống Zoothamnium: cấu tạo tương tự như Vorticella nhưng có một số đặc điểm khác với Vorticella, những loài của giống này sống tập đoàn, mỗi tập đoàn có
vài hoặc có rất nhiều tế bào Cuống phân nhánh dạng lưỡng phân đều và có khả năng co rút được (mynemes) không liên tục trong tập đoàn nên mỗi nhánh co rút riêng rẽ
- Giống Epistylis: cấu tạo tế bào gần tương tự Zoothamnium Nhân lớn của chúng tương đối ngắn, có dạng xúc xích Đặc điểm chủ yếu khác với Zoothamnium
là cuống không co rút Bản thân tế bào có thể co hoặc duỗi vòng lông rung ở phía trước miệng vào trong lòng cơ thể, cuống phân nhánh so le hoặc đều
- Giống Apiosoma: cơ thể hình chuông hoặc hình phễu lộn ngược Phía trước
tế bào hình thành đĩa lông rung gồm 3 vòng lông tơ xoáy ngược chiều kim đồng hồ tới phễu miệng Cuối phía sau tế bào thon dài thành cuống, đầu mút của cuống có một đĩa bám nhỏ hoặc túm lông bám, tổ chức dính Màng tế bào mỏng có vân ngang, gần thân có vành đai lông mao ngắn Nhân lớn hình nón lộn ngược nằm ở trung tâm tế bào, nhân nhỏ hình bán cầu hoặc hình que gần nhân lớn
Kích thước tế bào của trùng loa kèn thay đổi theo giống loài, ví dụ:
Apiosoma piscicolum kích thước tế bào 50 - 80 x 11 - 15,4 µm (Chen, 1955); Epistylis sp có kích thước 36 - 49,2 x 19,2 - 26,4 µm (Hà Ký, 1968); Epistylis kích
thước 56 - 70 x 30 - 40 µm (Bùi Quang Tề, 1990) (Trích dẫn từ Đỗ Thị Hòa và ctv, 2004)
Trang 28Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
* Dấu hiệu bệnh lý
Trùng loa kèn bám trên da, vây và mang Sự ký sinh của chúng làm ảnh hưởng đến hô hấp, sinh trưởng của cá Ở giai đoạn ấu trùng, trùng loa kèn cản trở sự hoạt động của ấu trùng và gây chết rải rác
* Phân bố và lan truyền
Trùng loa kèn, phân bố ở cá nước ngọt, nước mặn Chúng ký sinh ở tất cả các động vật thủy sản Tuy nhiên, mỗi loài khác nhau có những ký chủ khác nhau như:
Zoothamnium ký sinh ở giáp xác nhuyễn thể biển; Epistylis ký sinh ở cá, ba ba, ếch
và tôm nước ngọt; Apiosoma ký sinh ở các loài cá nước ngọt Theo Skriptrenko (1967) khi động vật thủy sản nhiễm Apiosoma thì không phát hiện có Chilodonella
trên cơ thể cá và ngược lại Bệnh trùng loa kèn thường xuất hiện quanh năm nhưng hay vào mùa xuân, mùa thu ở miền Bắc và mùa mưa ở miền Nam (Đỗ Thị Hòa và ctv, 2004)
* Chẩn đoán
Lấy nhớt, vây và mang cá dưới kính hiển vi
* Cách phòng và trị bệnh
Giống như cách phòng và trị đối với trùng bánh xe
2.4.3 Bệnh trùng quả dưa Ichthyophthyriosis
* Tác nhân gây bệnh
Trùng quả dưa
Lớp Hymenostomata Delage Heroward, 1896
Bộ Tetrahymenita Faure – Fremiet, 1956
Họ Ophryoglenidae Kent, 1882
Giống Ichthyophthyrius Fouguet, 1876
Trang 29Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Tác nhân gây bệnh là loài Ichthyophthyrius multifiliis (Fouguet, 1876) Toàn
thân phủ nhiều lông tơ nhỏ theo các đường sọc dọc trông giống quả dưa nên có tên
là trùng quả dưa hay còn gọi là bệnh đốm trắng hoặc bệnh “Ich”, kích thước 0,2 - 1
mm, mắt thường có thể nhìn thấy Chúng ký sinh ở da và mang cá đó là những đốm tròn trắng đục Chung quanh có nhiều tiêm mao mọc thành hàng dọc, giúp chúng chuyển động tròn đều về phía trái Có hạch lớn hình móng ngựa ở giữa, trong nguyên sinh chất có một số hạt cứng và nhiều không bào Trùng có miệng tròn ở phía trên dùng để bám và hút chất dinh dưỡng trên cá (Từ Thanh Dung, 2005)
Chu kỳ sống của trùng chia làm hai giai đoạn là dinh dưỡng và bào nang:
Giai đoạn dinh dưỡng: khi ấu trùng ký sinh ở da, mang, các tổ chức thượng
bì hút chất dinh dưỡng của ký chủ để sinh trưởng, đồng thời kích thích các tổ chức của ký chủ hình thành đốm mủ trắng Khi trùng trưởng thành chui ra khỏi đốm mủ trắng và chuyển sang giai đoạn bào nang
Giai đoạn bào nang: trùng rời khỏi ký chủ bơi lội tự do trong nước một thời
gian rồi dừng lại ở ven bờ hoặc tựa vào cây cỏ thủy sinh, tiết ra chất keo bao vây lấy
Hình 4 Ichthyophthyrius
Giai đoạn Ichthyophthyrius ký sinh trên cá
Sự sinh sản của Ichthyophthyrius
1 2 3
Trang 30Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
cơ thể hình thành bào nang Trùng bắt đầu sinh sản phân đôi thành rất nhiều (1000 2000) ấu trùng có đường kính từ 18 - 22 µm Ấu trùng tiết ra loại men Hyaluronidaza phá vở bào nang chui ra ngoài, bơi trong nước tìm ký chủ mới Ấu trùng có thể sống trong nước 2 - 3 tuần Thời gian sinh sản của ấu trùng tùy thuộc vào nhiệt độ nước 10 - 12 giờ ở nhiệt độ 26 - 27oC, 14 - 15 giờ ở nhiệt độ 24 - 25oC,
-18 - 20 giờ ở nhiệt độ 20 - 22oC, 72 - 84 giờ ở nhiệt độ 7 - 8oC Nhiệt độ thích hợp cho trùng phát triển là 25 - 26oC
Ở giai đoạn không ký sinh, trùng quả dưa rất nhạy cảm với yếu tố môi trường Chúng không chịu được môi trường có pH < 5 Khi oxy trong nước giảm xuống 0,8 mg/l trùng cũng bị chết
Ở giai đoạn ký sinh chúng rất nhạy cảm với nhiệt độ và phản ứng miễn dịch của cá bệnh Khi cá đã nhiễm bệnh trùng quả dưa, cơ thể cá sinh kháng thể có khả năng miễn dịch bệnh này Vì thế, sự tái nhiễm sẽ giảm đi rất nhiều (Đỗ Thị Hòa và ctv, 2004)
* Dấu hiệu bệnh lý
Cá bị bệnh thường xuất hiện các đốm trắng nhỏ trên da, vây, mang do có nhiều trùng bám thành các hạt lấm tấm rất nhỏ, màu hơi trắng đục, có thể thấy bằng mắt thường Da, mang cá bệnh tiết nhiều dịch nhày làm cơ thể có màu sắc nhợt nhạt Cá bệnh nổi từng đàn trên mặt nước, bơi lờ đờ yếu ớt Lúc đầu cá tập trung gần bờ nơi có cỏ rác, quẫy nhiều do ngứa ngáy Trùng bám ở mang phá hoại biểu
mô mang làm cá ngạt thở, khi cá yếu quá chỉ còn ngoi đầu lên để thở, đuôi bất động cắm xuống nước
Bệnh gây ảnh hưởng đến chức năng sinh lý, sinh hóa của cá Protein trong huyết thanh giảm tới 2,5 lần, hoạt động của gan thận bị rối loạn, lượng tích lũy protein bị giảm, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi aminoacid
* Phân bố và lan truyền
Bệnh lưu hành rất rộng khắp các châu lục trên thế giới Trùng ký sinh trên hầu hết các loài cá nhưng chủ yếu làm chết cá hương và cá giống chép, mè, trôi, trắm cỏ, rô phi và đặc biệt là cá da trơn trong các ao ương Tỷ lệ chết rất cao từ 50 -100% Tuy nhiên, cá giống ương ở bè rất ít phát hiện chúng, điều này cho thấy các loại thủy vực khác nhau sẽ có những nhóm đặc trưng khác nhau gây bệnh cho cá (trích dẫn từ Nguyễn Quang Hưng, 2001)
Theo Brown và Gratzek (1980) (trích dẫn từ Cao Tuấn Anh, 2005) cho rằng bệnh trùng quả dưa thường bộc phát vào mùa mưa, nhiệt độ thấp kéo dài, nơi nuôi
Trang 31Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
không có ánh sáng mặt trời Bệnh rất khó trị nhất là ở giai đoạn bào nang hoặc dưới
da vì thuốc không có tác dụng
* Chẩn đoán
Dựa vào dấu hiệu bệnh lý quan sát bằng mắt thường các điểm trắng trên da
cá và kiểm tra nhớt, mang cá dưới kính hiển vi Cường độ cảm nhiễm 5 - 10 trùng/lá kính là cá trong tình trạng nguy hiểm
* Cách phòng bệnh
Trong trại ương nuôi phải cách ly triệt để giữa cá bệnh và cá khỏe, các dụng
cụ cũng cần được cách ly và tiệt trùng bằng chlorine 15 ppm
Tránh cá tự nhiên vào ao nuôiCải tạo kỹ ao nuôi bằng vôi CaO với liều lượng 15 - 20 kg/100 m2 và phơi đáy ao ít nhất là 3 - 4 ngày
* Cách trị bệnh
Chu kỳ sống của chúng rất phức tạp, không đồng bộ, sinh sản cực nhanh và
cơ thể được bao bọc bởi lớp kitin nên việc điều trị chúng rất khó khăn Để trị bệnh này có kết quả tốt cần phải điều trị thành nhiều đợt nối tiếp nhau Nhìn chung có thể dùng 30 mg hoặc 30 ml Formol trong 1 m3 nước ao, trị 3 lần, mỗi lần cách nhau 3 ngày thì sẽ có hiệu quả Sau mỗi lần điều trị nước trong ao sẽ không được thay trong suốt 40 giờ, do đó trong thời gian điều trị thì số lượng thức ăn phải giảm để tránh nguồn nước trong ao bị ô nhiễm Lịch điều trị như sau:
- Ngày 1: tắm Formol cho cá lần 1
- Ngày 3: thay khoảng 75% nước ao và tắm Formol cho cá lần 2
- Ngày 6: thay 20 - 25% lượng nước ao và tắm Formol lần 3 và giữ nguyên nước trong 2 ngày
- Ngày 8: sau 8 ngày cá bột sẽ khỏe mạnh và không cần tiếp tục điều trị nữa
* Chú ý: Formol không có khả năng diệt được trùng quả dưa đang sống dưới lớp biểu bì da, mang cá cũng như giai đoạn bào nang trong môi trường nuôi
2.5 Bệnh truyền nhiễm thường xảy ra trên cá tra
2.5.1 Bệnh đốm đỏ
* Tình hình xuất hiện bệnh
Trang 32Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bệnh đốm đỏ rất phổ biến kể cả các nước vùng nhiệt đới và ôn đới Bệnh thường phát sinh và phát triển vào cuối xuân đến đầu mùa thu ở miền Bắc ở miền Nam bệnh thường xuất hiện vào đầu mùa mưa (giao mùa) Tỷ lệ tử vong cao từ 30 -70%
* Tác nhân gây bệnh
Bệnh đốm đỏ còn gọi là bệnh xuất huyết, bệnh nhiễm trùng máu, bệnh
sởi,…là bệnh do vi khuẩn Aeromonas hydrophila (theo Bergay, 1957) gây ra Ngoài
ra một số trường hợp phân lập được vi khuẩn Aeromonas sobria, Aeromonas caviae hoặc Pseudomonas sp Trên cá bị bệnh đốm đỏ.
Về hình thái Aeromonas hydrophila là trực khuẩn hình que ngắn, chiều dài 2
- 3µm, hai đầu hơi tròn, đầu có một tiêm mao, không có nha bào, không có giác mạc, di động, gram âm
* Dấu hiệu bệnh lý
Cá ăn ít hoặc bỏ ăn, cá bơi lội lờ đờ, nhô đầu lên khỏi mặt nước Cơ thể cá bị xuất huyết nhiều nhất là ở hậu môn, hai bên lưng và phía dưới bụng Một phần gốc vây, hàm dưới, nắp mang bị tụ máu thành những nốt đỏ có sự hoại tử ở gốc vây Ruột non có thể bị xuất huyết và sưng tấy lên Cá bị bệnh nặng gan có thể bị xuất huyết, có dịch màu vàng hoặc đỏ bầm trong xoang bụng
sẽ mang lại hiệu quả cao và hạ giá thành Đương nhiên đầu tư tốt thì kết quả mang lại sẽ tốt
* Cách trị bệnh
Đối với ao cá thịt bị nhiễm bệnh đốm đỏ cần tiến hành xử lý như sau:
Thay phân nữa nước trong ao 2 ngày 1 lần, bón thêm vôi với liều lượng 4
-6 kg/100 m3 nước
Trang 33Trung tâm Học Liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Trộn thuốc vào thức ăn (nếu cá vẫn còn sử dụng thức ăn) với liều lượng:
+ Doxycyline 0,5 - 1 g hoặc Oxytetracycline 2 - 4 g cho 1 kg thức ăn.+ Vitamin C 1 - 2 g cho 100 kg cá bệnh
- Cho ăn liên tục 5 - 7 ngày Tốt nhất nên trộn thuốc vào thức ăn viên có áo dầu hoặc có chất kết dính
Đối với cá giống hoặc cá hương bị bệnh đốm đỏ trị bằng thuốc kháng sinh có kết quả khi cá mới chớm bệnh Do đó, cần phải theo dõi cẩn thận các hoạt động của
cá và nếu có biểu hiện nhiễm bệnh thì cần điều trị chúng ngay (Từ Thanh Dung, 2005)
2.5.2 Bệnh gan, thận mủ
* Tình hình dịch bệnh
Hiện nay bệnh này gây thiệt hại lớn cho người nuôi cá tra thâm canh ở các tỉnh ĐBSCL Tỷ lệ cá chết khi bị nhiễm bệnh gan thận mủ có thể lên đến 90% Cá tra thường bị nhiễm bệnh vào các tháng cuối năm khi nhiệt độ nước hạ thấp (khoảng tháng 9 đến tháng 1 năm sau) Tuy nhiên, hiện nay bệnh này còn xảy ra ở những thời điểm khác trong năm do việc tăng diện tích và mức độ thâm canh cũng như việc không sát trùng nguồn nước của những ao nuôi bị nhiễm bệnh trước khi thải ra môi trường Bệnh này thường khó được phát hiện sớm do cá bệnh ít có biểu hiện bên ngoài (trích dẫn từ http://www.anova.com.vn/contents/article.asp?)
* Tác nhân gây bệnh
Bệnh gan thận mủ (còn gọi là bệnh mủ gan) là bệnh do vi khuẩn
Edwardsiella ictaluri gây ra, là vi khuẩn gram âm, không di động, lên men, không
oxy hóa, có dạng hình que và có kích thước biến đổi
* Dấu hiệu bệnh lý
Cá bị nhiễm bệnh gan thận mủ thường ăn kém hoặc bỏ ăn tùy theo bệnh nhẹ hay nặng Quan sát bên ngoài có thể thấy bụng hơi sưng to, mắt bị đục Cá bệnh thường bơi lờ đờ gần bề mặt ao Khi mổ bụng cá ta thường thấy những đốm trắng nhỏ trên bề mặt của một số cơ quan như gan, thận và lách
* Chẩn đoán
Bắt khoảng 5 - 10 con kiểm tra các đốm trắng ở gan, thận và tỳ tạng